1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự từ thực tiễn thành phố vĩnh yên, tỉnh vĩnh phúc

77 397 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tranh luận, tranh tụng trong TTHS nói riêng cũng như việc cải cách tư pháp được coi là một bộ phận, một nội dung cơ bản của công cuộc xây dựng

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ TIẾN TRUNG

TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số : 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐINH THỊ MAI

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu

nêu trong Luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn chưa

từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Tiến Trung

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ 7

1.1 Khái niệm, đặc điểm về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự 71.2 Mục đích, phạm vi, nội dung và chủ thể của tranh luận tại phiên tòa xét

xử sơ thẩm hình sự 101.3 Tranh tụng và tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự 121.4 Quy định của pháp luật về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự 16

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC 23

2.1.Khái quát những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự ở địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 232.2.Thực trạng hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm ở địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 28

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ 47

3.1.Nhu cầu nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình

sự 473.2 Các giải pháp nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự 54

KẾT LUẬN 67 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự HĐXX : Hội đồng xét xử

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Bảng số liệu thông kê tình hình xét xử sơ thẩm án hình sự của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Phúc từ năm 2012 đến năm 2016……… 30 Bảng 2.2.Số lượng và tỷ lệ % vụ án nhận được sự bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm từ năm 2012 đến năm 2016……… ……… 35

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm (HSST) là sự biểu hiện tập trung cao độ nhất của quá trình tranh tụng dân chủ giữa bên buộc tội và bên bào chữa,

là nội dung có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự Tranh luận cũng là một thủ tục bắt buộc, là phần trọng tâm của toàn bộ quá trình xét xử vụ

án hình sự, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hành vi phạm tội của bị cáo, tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra Thông qua hoạt động tranh luận, đối đáp được tiến hành một cách dân chủ, công khai và không

bị giới hạn về thời gian tại phiên tòa giữa các chủ thế của bên buộc tội và bên bào chữa từ đó HĐXX có thể nhận định đúng và đầy đủ về các tình tiết khách quan làm căn cứ để giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân

Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tranh luận, tranh tụng trong TTHS nói riêng cũng như việc cải cách tư pháp được coi là một bộ phận, một nội dung cơ bản của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nói chung vì thếtại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, đã xác định:

“Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân sự với Luật sư, người bào chữa, và những người tham gia tố tụng khác Khi xét xử, các Tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, người làm chứng, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản

Trang 7

án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn luật định Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để Luật sư tham gia vào quá trình tố tụng, tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa…”[12]

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị “về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” tiếp tục xác định xác định một trong

những nhiệm vụ cải cách tư pháp của nước ta là “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa

xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây

là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…”[14]

Trước khi có Nghị quyết số 08-NQ/TW thì hoạt động thực hành quyền công tố tại Phiên tòa HSST chỉ chủ yếu tập trung vào đọc bản cáo trạng, trình bầy lời luận tội mà chưa chú trọng đến việc tranh luận cũng như đối đáp với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác Để khác phục tình trạng trên.BLTTHS năm 2003 đã dành hẳn một chương XXI (từ điều 217 đến điều 221) quy định cụ thể và đầy đủ hơn về trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên tòa HSST Vì vậy, hoạt động tranh luận, đối đáp tại phiên tòa nói chung và của KSV nói riêng với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác

đã có những chuyển biến tích cực, rõ nét Hoạt động tranh luận và đối đáp của KSV để bác bỏ các quan điểm không có căn cứ của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không chỉ góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan về các tình tiết của vụ án mà còn phần nào khắc phục được tính trạng xét xử theo kiểu “án bỏ túi” tồn tại trước đây mà dư luận xã hội đã từng phê phán gay gắt

Tuy nhiên, qua hơn 10 năm thi hành BLTTHS năm 2003 và nhìn từ thực tiễn xét xử các vụ án xét xử hình sự những năm gần đây đã bộc lộ một số hạn chế nhất định, hoạt động tranh luận từ các chủ thể có quyền tranh luận vẫn còn

Trang 8

nhiều bất cập và hạn chế Các quy định của pháp luật về trình tự thủ tục tranh luận chưa được đảm bảo Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả xét xử sơ thẩm về hình sự trong thời gian qua chưa cao

Liên quan đến vấn đề tranh luận tại phiên tòa HSST đã có một số công trình khoa học đã quan tâm nghiên cứu ở phạm vi mức độ khác nhau Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ đề cập đến một số khía cạnh nhất định của vấn đề tranh luận phiên tòa HSST Trong phạm vi luận văn tốt nghiệp, học viên chọn nghiên cứu vấn đề này và khảo sát từ thực tiễn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh

Phúc, với đề tài “Tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự từ thực tiễn

thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, đề tài tranh luận trong TTHS được rất nhiều

sự quan tâm của nhiều tác giả am hiểu về lĩnh vực TTHS nói chung và tranh luận tại phiên tòa HSST nói riêng Vấn đề tranh tụng, tranh luận trong TTHS là một định hướng lớn trong chiến lược cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta đến năm 2020 Nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học pháp lý và cán bộ thực tiễn quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ và phạm vi nghiên cứu khác nhau và đã có

nhiều bài viết liên quan đến nội dung này, như cuấn sách “Tranh luận tại phiên

tòa sơ thẩm” của Tiến sỹ Dương Thanh Biểu (nguyên Phó Viện trưởng Viện

kiểm sát nhân dân tối cao), NXB Tư pháp, năm 2007; “Vấn đề tranh tụng trong

Tố tụng hình sự” của Nguyễn Đức Mai(1996); Luận văn thạc sỹ luật học “Thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm” của Nguyễn Hải Ninh,

năm 2003; Luận văn thạc sỹ luật học “Chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên

trong tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm” của Hà Minh Hải, năm 2007;

Luận văn thạc sỹ luật học “Tranh tụng tại phiên tòa theo PLTTHS Việt

Nam” của Bùi Thị Hà, năm 2010; Luận văn thạc sỹ luật học “Thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự” của tác giả Lê Thị Hồng Minh; Luận văn thạc

Trang 9

sỹ luật học “ xét hỏi, tranh luận và vấn đề nâng cao tính tranh tụng của phiên

tòa hình sự sơ thẩm” của tác giả Lê Đức Thọ…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và bài viết trên đã đề cập đến rất nhiều nội dung xung quanh vấn đề tranh luận , tranh tụng trong TTHS Việt Nam và những bài viết, công trình nghiên cứu trên đây là những tài liệu quý giá, giúp cho tác giả luận văn có được các ý tưởng khoa học để xây dựng và hoàn thiện đề tài này Tuy nhiên, vẫn chưa có tài liệu, công trình nào đi xâu nghiên cứu, đánh giá về mặt thực tiễn tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để chỉ ra các nguyên nhân, những tồn tài, vướng mắc và những bất cập gặp phải tại địa phương

Ngày 27/11/2015, Bộ luật TTHS năm 2015 đã được Quốc hội thông qua (đang tạm hoãn thi hành), đã có những bổ sung, sửa đổi tiến bộ, mở rộng nguyên tắc và quy định về trạnh tụng trong TTHS, cũng như hoạt động tranh luận tại phiên tòa Tuy nhiên, việc kế thừa, tiếp tục nguyên cứu có hệ thông, toàn diện , đầy đủ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tranh luận tại các phiên tòa HSST, qua đó đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật TTHS và nâng cao chất lượng tranh luận vẫn là nhiệm vụ cần thiết của khoa học luật TTHS Vì vậy, việc

đi sâu nghiên cứu về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt lý luận cũng như thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, thực trạng và những bất cập trọng tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm hình sự tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để từ đó đề xuất đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cũng như hoàn thiện các quy định về tranh luận tại phiên tòa HSST ở địa bản thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

Trang 10

- Nghiên cứu phân tích một số vấn đề lý luận về tranh luận tại phiên tòa HSST theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam như khái niệm, đặc điểm, phạm

vi, nội dung, chức năng và vai trò của các chủ thể cũng như các yếu tố khác ảnh hưởng đến chất lượng tranh luận tại phiên tòa HSST;

- Nghiên cứu phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về tranh luận tại phiên tòa HSST;

- Nghiên cứu phân tích thực trạng tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn;

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự cũng như nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, luận văn tập trung nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề sau:

- Một số vấn đề lý luận về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự;

- Quy định của pháp luật hiện hành về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự;

- Thực trạng hoạt động tranh luận tại các phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự những năm gần đây và những bất cập, vướng mắc;

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tranh luận tại phiên tòa xét xử

sơ thẩm hình sự, số liệu thực tiễn nghiên cứu trường hợp tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đưa ra giải pháp để nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm hình sự

Thời gian nghiên cứu: từ năm 2011 đến năm 2016

Trang 11

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, về cải cách tư pháp trong thời kỳ mới Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể để làm rõ những nội dung cần nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và phương pháp thống kê

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Đề tài góp phần bổ sung và hoàn thiện vấn đề lý luận về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự Trên cơ sở đó tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật về TTHS đối với thủ tục tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự; giúp cho những nhà thực thi pháp luật có cái nhìn toàn diện hơn và đầy đủ hơn

về hoạt động này, từ đó nâng cao chất lượng tranh luận, giúp cho việc giải quyết

vụ án đạt hiệu quả cao nhất

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

3 chương, với cơ cấu như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về tranh luận tại phiên tòa

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRANH LUẬN

TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự

Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự và chưa có một khái niệm thống nhất nào

Trước tiên chúng ta cùng tìm hiểu khái niệm về tranh luận Theo từ điển

tiếng Việt, tranh luận được hiểu là “ Bàn cãi để tìm ra lẽ phải”[23,tr.1024] Như

vậy từ khái niệm này, chúng ta có thể hiểu trang luận chính là sự bàn cãi, đưa ra

lý lẽ giữa các bên về một vấn đề nào đó Từ đó, các bên bảo vệ ý kiến, quan điểm của mình về vấn đề được tranh luận Ở đây, việc tranh luận có thể diễn ra ở bất cứ nơi đâu, giữa bất kỳ chủ thể nào, và về bất kỳ vấn đề gì, mà các bên cảm thấy cần tranh luận, bàn cãi để bảo vệ quan điểm cá nhân, để tìm ra lẽ phải

Đó là về tranh luận nói chung, còn tranh luận trong TTHS được tiến hành theo trình tự quy định của pháp luật Trong đó chủ thể, phạm vi, nội dung tranh luận được pháp luật quy định cụ thể Trước khi có được một khái niệm tổng quát

về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm “ phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự”

Theo ngôn ngữ pháp lý thì phiên tòa chính là “ hình thức hoạt động xét xử

của Tòa án” [19, tr.620] Đây là một hình thức xét xử mang tính đặc thù, được

tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định

Vậy phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự là như thế nào? Theo Bộ luật TTHS hiện hành thì phiên tòa hình sự được phân thành bốn loại: phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, phiên tòa giám đốc thẩm và phiên tòa tái thẩm Trong đó , phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm là hai cấp xét xử của tòa án, còn phiên tòa giám đốc thẩm và tái thẩm là trình tự thủ tục đặc biệt trong TTHS.Phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự là cấp xét xử thứ nhất và là trung tâm của quá trình tố tụng Từ

Trang 13

những vấn đề đã được nêu trên ta tìm hiểu khái niệm về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự là như thế nào ?

Có quan điểm cho rằng Tranh luận tại phiên tòa là “ Hoạt động của

những người tham gia tố tụng(các bên ) tại phiên tòa, trong việc trao đổi, bàn cãi các ý kiến về vụ án”[21, tr.807]

Theo tài liệu tập huấn của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về kỹ năng, đối

đáp, tranh luận của Kiểm sát viên… có đưa ra khái niệm: “ Tranh luận của Kiểm

sát viên tại phiên tòa sơ thẩm về hình sự là sự trả lời, sự bàn cãi giữa Kiểm sát viên với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác nhằm làm rõ sự thật khách quan về mọi tình tiết buộc tội, tăng nặng, giảm nhẹ của vụ

án, giúp cho HĐXX ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật”[42,tr.4] Còn theo tiến sỹ Dương Thanh Biểu thì “ Tranh luận là việc các bên (Kiểm sát viên, Luật sư và những người tham gia tố tụng khác) đưa ra quan điểm về giải quyết vụ án, nhằm làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án Hay nói cách khác, tranh luận không chỉ là “được thua” mà cái quan trọng là thông qua nó

để làm rõ sự thật, làm rõ các tình tiết của vụ án”[1, tr.258]

Phân tích thêm về các chủ thể tham gia tranh luận, để được HĐXX đồng

ý với quan điểm của mình, các bên tham gia tranh luận phải đưa ra những lý lẽ, những ý kiến, những dẫn chứng cụ thể để bảo vệ quan điểm của mình và phản bác lại quan điểm của bên đối lập, để từ đó thuyết phục được HĐXX chấp nhận quan điểm của mình, Căn cư vào mục đích, vai trò, địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tranh luận, chúng ta có thể chia ra thành các nhóm chủ thể sau: Thứ nhất là các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội, bao gồm: Kiểm sát viên, người bị hại và người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự

Thứ hai là các chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội, bao gồm: Bị cáo, người gỡ tội(người bào chữa), bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của bị cáo và bị đơn dân sự

Trang 14

Thứ ba là đối với chủ thể thực hiện chức năng xét xử là HĐXX – gồm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thì không thực hiện việc tranh luận mà chỉ xét hỏi và ngồi nghe lời trình bầy của các bên cùng với những chứng cứ khác để đưa

ra phán quyết cuối cùng

Từ những phân tích, khái quát trên có thể đưa ra khái niệm về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự như sau: Tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự là một thủ tục tố tụng bắt buộc, được quy định trong Bộ luật TTHS Việt Nam;Trong đó các chủ thể tham gia tranh luận đưa ra các quan điểm, lập luận và lý lẽ của mình về việc đánh giá các chứng cứ cũng như tự đưa ra những chứng cứ của riêng mình để đề nghị HĐXX chấp nhận quan điểm của mình và bác bỏ quan điểm của bên đối lập về việc giải quyết vụ án giúp cho HĐXX ra bản án đúng người, đúng tội và đúng pháp luật

Hoạt động tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm hình sự được bắt đầu bằng việc Kiểm sát viên trình bầy lời luận tội và kết thúc trước khi bị cáo trình bầy lời nói sau cùng

Tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự có một số đặc điểm sau đây: Thứ nhất, Tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự không chỉ thể hiện tính minh bạch, công khai và dân chủ của tố tụng hình sự mà còn thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN của dân, do dân và vì dân Việc tranh luận, đối đáp của KSV với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác sẽ làm cho phiên tòa khách quan, sống động hơn nhằm nâng cao uy tín của Tòa án, Viện Kiểm sát cũng như củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý

Thứ hai, Tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự không phải là hoạt động tố tụng không có giới hạn về phạm vi tranh luận Phạm vi tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được giới hạn về mặt không gia và thời gian Về mặt không gian, hoạt động tranh luận của các chủ thể tại phiên tòa xét xử sơ thẩm

vụ án hình sự chỉ được thực hiện tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đó Về

Trang 15

mặt thời gian thì thủ tục tranh luận được bắt đầu ngay sau khi Chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc phần xét hỏi tiếp đến KSV trình bầy lời luận tội

Thứ ba, Cũng như hoạt động tố tụng khác, tranh luận tại phiên tòa xét xử

sơ thẩm hình sự có nội dung nhất định theo quy định của pháp luật TTHS Nội dung tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự bao gồm toàn bộ các quan điểm, lập luận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án hình sự mà các chủ thể của bên buộc tội và bên gỡ tội đưa ra tại phiên tòa đề nghi HĐXX chấp nhận hoặc bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án Nội dung tranh luận của các chủ thể tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự cũng xoay quanh các vấn đề cần chứng minh trong vụ án

1.2 Mục đích, phạm vi, nội dung và chủ thể của tranh luận tại phiên tòa xét

xử sơ thẩm hình sự

Mục đích

Mục đích của tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự là nhằm để tìm ra sự thật khách quan của vụ án Dưới sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa, trên cơ sở các chứng cứ đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, các chủ thể thuộc bên buộc tội và bên gỡ tội đưa ra quan điểm, lập luận của mình về các tình tiết khách quan và hướng giải quyết vụ án nhằm thuyết phục HĐXX chấp nhận quan điểm của mình và bác bỏ quan điểm của phía đối lập

Như vậy có thể thấy rằng tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự

có ý nghĩa và vai trò rất lớn đối với quá trình xét xử vụ án thể hiện ở một số điểm sau đây:

- Tranh luận tại phiên tòa không chỉ thể hiện tính minh bạch, công khai và dân chủ của tố tụng hình sự mà còn thể hiện bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN của dân, do dân và vì dân

- Việc tranh luận, đối đáp của KSV với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác sẽ làm cho phiên tòa khách quan, sống động hơn

Trang 16

góp phần xóa bỏ tình trạng xét xử theo kiểu “án bỏ túi” đã tồn tại trước đây mà

dư luận xã hội đã từng lên án đồng thời nâng cao uy tín của Tòa án, Viện Kiểm sát cũng như củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý

Nội dung

Cũng như hoạt động tố tụng khác, tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự có nội dung nhất định theo quy định của pháp luật TTHS Nội dung tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự bao gồm toàn bộ quan điểm, lập luận về các vấn đề cần thiết cho việc giải quyết vụ án mà các bên chủ thể đưa ra, để đề nghị HĐXX chấp nhận hoặc bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án Tùy thuộc vào tính chất xét xử các vụ án hình sự (sơ thẩm, phúc thẩm) mà nội dung tranh luận có thể khác nhau Tóm lại, nội dung mà các chủ thể tranh luận với nhau là những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự

Chủ thể

Về phía các chủ thể tham gia tranh luận, để được HĐXX đồng ý với quan điểm của mình, các bên tham gia tranh luận phải đưa ra những lý lẽ, những ý kiến, những dẫn chứng cụ thể để bảo vệ quan điểm của mình và phản bác lại quan điểm của bên đối lập, để từ đó thuyết phục được HĐXX chấp nhận quan điểm của mình, Căn cư vào mục đích, vai trò, địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tranh luận, chúng ta có thể chia ra thành các nhóm chủ thể sau:

Trang 17

Thứ nhất là các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội, bao gồm: Kiểm sát viên, người bị hại và người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự

Thứ hai là các chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội, bao gồm: Bị cáo, người

gỡ tội(người bào chữa), bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của bị cáo và

bị đơn dân sự

Thứ ba là đối với chủ thể thực hiện chức năng xét xử là HĐXX – gồm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân thì không thực hiện việc tranh luận mà chỉ xét hỏi và ngồi nghe lời trình bầy của các bên cùng với những chứng cứ khác để đưa

ra phán quyết cuối cùng

1.3 Tranh tụng và tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự

Trong thời gian gần đây, khái niệm “tranh tụng” được nhắc đến nhiều sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp đến năm 2020 Trong đó đã xác định:

“Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp” Tuy đây là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng khá phổ biến trong khoa học pháp lý Tuy nhiên, trong các văn bản pháp lý nói chung và trong cả Bộ luật TTHS 2003 nói riêng đều không đề cập gì đến thuật ngữ này Vì vậy trong khoa học luật TTHS có rất nhiều quan điểm và nhận thức khác nhau về các khái niệm “tranh luận” và “tranh tụng” tại phiên tòa Từ những quan điểm và nhận thức khác nhau đó có thể phân các quan điểm này thành ba nhóm cơ bản như sau:

- Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng: “Tranh tụng là qua trình tranh luận,

trao đổi giữa các bên Trong tranh tụng các quan điểm pháp lý khác nhau được

cọ xát và chân lý khách quan xuất hiện” [17,tr.126] Hay “Tranh tụng là hoạt động của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, tham gia vào việc làm rõ sự thật của vụ án và cơ sở áp dụng pháp luật, làm căn cứ để HĐXX xem xét, quyết định”[42,tr.6]

Trang 18

Nhìn chung, theo các quan điểm trên thì “tranh tụng” và “tranh luận” có thể

là một, nó diễn ra giữa các chủ thể đối lập với nhau Qua tranh luận, chân lý và

sự thật khách quan trong vụ án hình sự sẽ được làm sáng tỏ, làm cơ sở cho Tòa

án ra phán quyết về vụ án

- Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng: “Tranh luận là một thủ tục – một

phần độc lập của phiên tòa sơ thẩm…Thủ tục tranh luận thể hiện rõ nét nhất, tập trung nhất nội dung của nguyên tắc tranh tụng Tranh luận có nội hàm hẹp hơn tranh tụng, là một phần của tranh tụng” [28,tr.10]

Còn theo quan điểm của Tiến sỹ Dương Thanh Biểu: “ Tranh tụng là hoạt

động của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, tham gia vào việc làm rõ sự thật của vụ án và cơ sở áp dụng pháp luật, làm căn cứ để HĐXX xem xét, quyết định”[3,tr.2]

Như vậy theo quan điểm này thì tranh tụng không chỉ là tranh luận tại phiên tòa, mà tranh tụng còn cả ở các phần khác(xét hỏi, nghị án), tranh luận chỉ

là một phần của tranh tụng Tranh luận công khai tại phiên tòa thể hiện một cách tập trung và rõ nét nhất quá trình tranh tụng

- Nhóm quan điểm thứ ba, đây là nhóm quan điểm đã được “từ điển hóa”,

cho rằng: Tranh tụng có nghĩa là: “Sự kiện cáo nhau giữa haibên (bên nguyên

và bên bị) có lập trường tương phản yêu cầu Tòa án phân xử” [23,tr.1288]

Hay “Tranh tụng là các hoạt động tố tụng được thực hiên bởi các bên tham

gia tố tụng (bên buộc tội và bên vị buộc tội) có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập Tranh tụng tại phiên tòa là những hoạt động tố tụng được tiến hành tại phiên tòa xét xử bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung gian, trọng tài”.[22,tr.807,808]

Trang 19

Quan điểm của tác giả Nguyễn Thái Phúc trong cuấn Dự thảo Bộ luật

TTHS (sửa đổi): “Tranh tụng là quá trình tồn tại, vận động và đấu tranh giữa

hai chức năng đối trọng nhau, có quyền ngang nhau trong việc bảo vệ ý kiến, lập luận, lợi ích của phía bên kia: chức năng buộc tội và chức năng bào chữa”

[28,tr.7]

Có thể xem đây là quan điểm đúng nhất, đầy đủ nhất về tranh tụng Theo

đó, quá trình tranh tụng không chỉ là tranh luận tại phiên tòa, nó được tiến hành trong suốt quá trình giải quyết vụ án Và tại phiên tòa, tranh tụng được đặc chưng bằng hoạt động tranh luận giữa bên buộc tội và bên gỡ tội Ngoài ra, tranh tụng tại phiên tòa không chỉ thể hiện ở tranh luận, mà tranh tụng đã có từ khi khai mạc phiên tòa cho đến khi kết thúc phiên tòa

Còn đối với khái niệm “tranh luận” cũng đã được quy định trong BLTTHS

2015, theo đó có thể hiểu tranh luận là: “Một thủ tục độc lập của Phiên tòa xét

xử sơ thẩm hình sự, trong đó các bên buộc tội và bào chữa thông qua trình bầy bằng lời nói của mình tổng hợp và đánh giá kết quả của phần xét hỏi, phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án, đưa ra những đánh giá chính trị-xã hội và đánh giá pháp lý đối với hành vi bị truy tố của bị cáo, đề nghị hình phạt, mức hình phạt cùng những vấn đề liên quan mà Tòa án phải giải quyết khi nghị án”[28,tr.18]

Từ những phân tích trên ta có thể khẳng định rằng hai khái niệm “tranh tụng” và “tranh luận” tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự là các khái niệm không đồng nhất nhưng giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, trong đó

“tranh tụng tại phiên tòa” là cái chung (tổng thể) và “tranh luận tại phiên tòa” là cái riêng (bộ phận cấu thành) Vì vậy, khái niệm “tranh tụng tại phiên tòa” có nội hàm rộng hơn bao gồm không chỉ phần tranh luận mà cả các phần khác (thủ tục phiên tòa, xét hỏi, nghị án và tuyên án) của quá trình xét xử vụ án hình sự còn “tranh luận tại phiên tòa” chỉ là một bộ phận cấu thành của tranh tụng và là

sự thể hiện một cách tập trung, rõ nét nhất của quá trình tranh tụng Sự khác

Trang 20

nhau giữa hai khái niệm này được thể hiện ở ba tiêu chí: về phạm vi (giới hạn),

về chủ thể và về nội dung

- Về phạm vi: Tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự được bắt

đầu từ thời điểm khai mạc phiên tòa và kết thúc sau khi HĐXX công bố phán quyết về vụ án Còn tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự được bắt đầu bằng lời luận tội hoặc phát biểu của KSV về quan điểm giải quyết vụ án và kết thúc trước khi bị cáo nói lời sau cùng

- Về chủ thể: Chủ thể tranh tụng trong TTHS rất đa dạng, có thể phân

+ Các chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội, bao gồm: Luật sư; Người bị tình nghi (người bị tạm giữ); bị can; bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo chưa thành niên; bị đơn dân sự và người bào chữa cho bị đơn dân sự

+ Cùng các chủ thể khác, bao gồm: người làm chứng; người giám định; người định giá; nhà chuyên môn; người phiên dịch; người chứng kiến

“Nhưng có một số quan điểm khoa học thì cho rằng chủ thể Tranh tụng chỉ

có chủ thể của bên buộc tội và chủ thể của bên gỡ tội và theo tác giả thì quan điểm này giống với chủ thể tham gia vào quá trình tranh luận cũng như không thể phân biệt được về tiêu chí chủ thể giữa Tranh tụng và Tranh luận”

So với các chủ thể tham gia tranh tụng, phạm vi các chủ thể tham gia vào quá trình tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự hẹp hơn: chỉ bảo gồm chủ thể của bên buộc tội và chủ thể của bên gỡ tội dưới sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa Chủ tọa phiên tòa và Hội thẩm (HĐXX) không tham gia vào quá trình tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự

Trang 21

- Về nội dung: Nội dung tranh tụng tại Phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự

bao gồm tất cả các vấn đề khác nhau cần giải quyết trong toàn bộ quá trình xét

xử vụ án (từ khi khai mạc đến khi kết thúc phiên tòa) như: đưa ra chứng cứ mới bằng cách yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, đưa ra vật chứng hoặc tài liệu mới, thay đổi thành viên HĐXX, KSV, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch, xem xét giải quyết việc hoãn phiên tòa…(ở phần thủ tục phiên tòa); HĐXX và các bên tham gia vào điều tra quá trình công khai (xét hỏi) nhằm kiểm tra xác minh các chứng cứ và các tình tiết về vụ án dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa (ở phần xét hỏi); các bên đưa ra quan điểm, lập luận của mình

về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án (về đánh giá chứng cứ, về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về áp dụng pháp luật, hình phạt đối với bị cáo, về phần dân sự, về xử lý vật chứng…) đề nghị HĐXX chấp nhận hay bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án (ở phần tranh luận); Các thành viên HĐXX thảo luận về từng vấn đề cần giải quyết trong vụ án, chấp nhận hay bác

bỏ đề nghị cụ thể của các bên và ra phán quyết về vụ án theo quyết định đa số (ở phần nghị án)

So với tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự có nội dung hẹp hơn rất nhiều và chỉ bao gồm các vấn đề mà các bên tranh luận, đối đáp với nhau ở phần tranh luận: quan điểm, lập luận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án (về đánh giá chứng cư, về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về áp dụng pháp luật, hình phạt đối với bị cáo, về phần dân

sự, về xử lý vật chứng…) mà các bên đưa ra đề nghị HĐXX chấp nhận hay bác

bỏ khi ra phán quyết về vụ án

1.4 Quy định của pháp luật về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự

Từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến khi ban hành Bộ luật TTHS Việt Nam đầu tiên (năm 1988), các trình tự thủ tục và hoạt động tranh luận được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau do Nhà nước ban hành như: Tại Điều 5 sắc lệnh số 33/SL ngày 13/09/1945 về thiết lập Tòa án quân sự

Trang 22

quy định: “Ngồi xử có Chánh án và 2 Hội Thẩm…đứng buộc tội là 1 ủy viên

quân sự hay 1 ủy viên khác của các ban trinh sát Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ một người khác bênh vực cho”[4]; Hay tại Điều 2 Sắc lệnh số 7 ngày

15/01/1946 bổ khuyết Sắc lệnh ngày 13/09/1945 như sau: “Đứng buộc tội tùy

quyết định của Bộ trưởng Bộ tư pháp sẽ là một Ủy viên quân sự hay một Ủy viên của Ban trinh sát hoặc một nhân viên của Công tố viện do ông Trưởng lý Tòa thượng thẩm chỉ định”[5]; Còn theo Điều 41 Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 về

tổ chức Tòa án và ngạch Thẩm phán (sửa đổi Sắc lệnh số 85/SL ngày

22/05/1950):”Sau khi nghe các bị can, các người làm chứng, các cáo trạng của

ông Công tố viên, và sau cùng, nghe lời cãi của các bị can, ông Chánh án Tòa

án nhân dân Phúc thẩm khu hoặc thành phố và các ông Hội thẩm chuyên môn, Hội thẩm nhân dân lui vào phòng nghị sự để cùng quyết định về tất cả các vấn

đề thuộc về tội trạng, hình phạt, trường hợp tăng tội và trường hợp giảm tội…”

Ngoài ra, Sắc lệnh còn quy định khá rõ trách nhiệm của Thẩm phán khi làm

nhiệm vụ xét xử tại tòa: “Các Thẩm phán làm đầy đủ bổn phận, dự đều các

phiên tòa, xét xử thật nhanh tróng và thật công minh”[6]

Trong Sắc lệnh số 51/ST ngày 17/04/1946 về ấn định thẩm quyền các Tòa

án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án cũng có quy định thể hiện nội dung thủ tục tranh luận tại phiên tòa thời kỳ đó Tại điều 26 sắc lệnh này quy

định: “Ông Công tố viên Tòa án nhân dân tỉnh hoặc thành phố bắt buộc phải có

mặt tại các phiên tòa hình và hộ Khi ra phiên tòa, ông Công tố viên cũng như bên bị cùng bên dân sự nguyên cáo, có quyền yêu cầu Tòa thi hành mọi phương sách cần thiết để chứng tỏ sự thật Khi cuộc thẩm vấn ở phiên tòa xong rồi, ông Công tố ủy viên thay mặt xã hội buộc tội bị can Bao giờ ông Công tố ủy viên cũng nói sau dân sự nguyên cáo Bên bị can được nói sau cùng, trước khi tòa tuyên án Tòa không bắt buộc phải xử theo lời yêu cầu của ông Công tố ủy viên”[7] Thủ tục tại phiên tòa còn được quy định trong Sắc lệnh số 190 ngày

01/10/1946 quy định về thẩm quyền truy tố của Tòa án; Sắc lệnh số 163 ngày

Trang 23

23/08/1946 về tổ chức Tòa án binh lâm thời; Sắc lệnh số 19 ngày 16/02/1947 quy định về tổ chức Tòa án Binh trên toàn cõi Việt Nam…

Nhìn chung, các quy phạm tố tụng trong thời kỳ này chủ yếu điều chỉnh về quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan, vị trí của các chủ thể tiến hành tố tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật trong việc tiến hành và tổ chức các phiên tòa…, còn quy định về thủ tục tranh luận tại phiên tòa thì chỉ mang tính tượng trưng và chưa rõ nét

Đến đầu những năm 1960, sau khi Hiến pháp 1959 ra đời, cùng với đó là

sự ra đời của Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 14/07/1960 đã quy định cụ thể

về chức năng và nhiệm vụ của Tòa án trong TTHS Cụ thể như sau:

Tại Điều 1, Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1960 quy định: “Các Tòa

án nhân dân là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tòa án nhân dân xét xử những vụ án hình sự và dân sự để trừng trị những kẻ phạm tội và giải quyết những việc tranh chấp về dân sự trong nhân dân Mục đích của việc xét xử là bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, trật tự xã hội, tài sản công cộng và quyền lợi hợp pháp của nhân dân, góp phần bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh nhằm thực hiện thông nhất nước nhà được tiến hành thắng lợi Trong mọi hoạt động của của mình, Tòa án nhân dân giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, với chế

độ dân chủ nhân dân, tôn trọng tài sản công cộng, tự giác tuân theo pháp luật,

kỷ luật lao động và quy tắc sinh hoạt xã hội Tòa án nhân dân xử phạt về hình

sự không những chỉ trừng trị phạm nhân mà còn nhằm giáo dục và cải tạo họ; Các Tòa án nhân dân gồm có Tòa án nhân dân Tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương và các Tòa án quân sự”[32]

Theo những quy định trên đã xác định, Tòa án các cấp là cơ quan xét xử duy nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Còn tại điều 7 Luật tổ chức Tòa án năm 1981 có quy định: “Quyền bào

chữa của bị cáo được đảm bảo Ngoài việc tự bào chữa ra, bị cáo có thể nhờ

Trang 24

Luật sư bào chữa cho mình Bị cáo cũng có thể nhờ người công dân được đoàn thể nhân dân giới thiệu hoặc được Tòa án nhân dân chấp nhận bào chữa cho mình Khi cần thiết, Tòa án nhân dân chỉ định người bào chữa cho bị cáo”[32]

Có thể thấy pháp luật nước ta thời kỳ này đã quan tâm đến quyền bào chữa của

bị cáo, nó được xem là một quyền đối trọng với quyền buộc tội của Viện kiểm sát Đây là những quy định làm cơ sở cho hoạt động tranh luận tại phiên tòa HSST sau này Trong khi đó Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 quy định, Viện kiểm sát nhân dân được thành lập một hệ thông độc lập (thay thế Viện công tố trước đây) để thực hiện chức năng buộc tội (truy tố và thực hành quyền công tố)

Đến năm 1988, Bộ luật TTHS đầu tiên của nước ta ra đời và đã quy định tương đối đầy đủ và cụ thể trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên tòa Tuy nhiên sau gần 15 năm thực hiện và cũng đã được sửa đổi bổ sung 3 lần vào các năm

1990, 1992 và 2000 nhưng các quy định của Bộ luật TTHS năm 1988 nói chung

và các quy định liên quan đến tranh luận tại phiên tòa nói riêng đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế không đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp của nước ta trong thời kỳ mới Đến lần sửa đổi năm2003, BLTTHS năm 2003 đã dành hẳn một chương XXI (từ điều 217 đến điều 221) quy định cụ thể và đầy đủ hơn về trình

tự, thủ tục tranh luận tại phiên tòa HSST Vì vậy, hoạt động tranh luận, đối đáp tại phiên tòa nói chung và của KSV nói riêng với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đã có những chuyển biến tích cực, rõ nét

1.4.1 Các quy định trong BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015(đang tạm hoãn) liên quan đến tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự

Các qui định trong BLTTHS 2003 liên quan đến tranh luận tại phiên tòa HSST bao gồm một số qui định mang tính nguyên tắc của TTHS, một số qui định chung và các qui định cụ thể tại chương XXI (điều 217 – 221)

- Đối với những qui định mang tính nguyên tắc bảo đảm việc tranh luận tại phiên tòa HSST, các nguyên tắc đó bao gồm: Bảo đảm quyền bình đẳng trước

Trang 25

Tòa án (Điều 19 BLTTHS); Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11 BLTTHS); Xác định sự thật của Tòa án (Điều 10 BLTTHS); Suy đoán vô tội (Điều 9 BLTTHS) Ngoài ra, các nguyên tắc khác của TTHS (như: Bảo đảm pháp chế XHCN; Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS;…) cũng chi phối ở phạm vi và mức độ nhất định đến quá trình xét

xử vụ án nói chung và tranh luận tại phiên tòa HSST nói riêng

- Một số qui định chung liên quan đến việc tranh luận tại phiên tòa HSST, các qui định này bao gồm các qui định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tranh luận tại phiên tòa hình sự, cụ thể là những điều sau:

Điều 37 BLTTHS qui định về quyền hạn và trách nhiệm của KSV tham gia phiên tòa…; Điều 39 và 40 qui định về quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán và Hội thẩm tham gia xét xử các vụ án hình sự, tiến hành các hoạt động tố tụng thuộc thẩm quyền của HĐXX; Các điều 50 - 54, 58 và 59 BLTTHS qui định về quyền của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người

có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, hoặc người đại diện; Các điều 63 –

78 BLTTHS (Chứng cứ và chứng minh); Điều 98 và Điều 99 BLTTHS (án phí

và trách nhiệm án phí)

- Các qui định cụ thể tại chương XXI BLTTHS (qui định tại các điều 217 –

221), cụ thể như sau: Điều 217 Trình tự phát biểu khi tranh luận: “ 1.Sau khi kết

thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận với tội nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố

và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không có tội…

…,Nếu có người bảo vệ quyền lợi cho họ thì người này có quyền trình bày,

bổ sung ý kiến”; Điều 218 Đối Đáp: “Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về luận tội của Viện kiểm sát và đưa ra đề nghị của mình;…Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên

Trang 26

phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận”; Điều 219 Trở lại việc xét hỏi: “Nếu qua tranh luận mà thấy cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử có thể quyết định trở lại việc xét hỏi, xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận”; Điều 221 Xem xét việc rút quyết định truy tố

hoặc kết luận với tội nhẹ hơn: “1 Khi Kiểm sát viên rút một phần quyết định

truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án…Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng tại phiên tòa trình bày ý kiến về việc rút truy tố đó”

Tổng kết thực tiễn hơn 10 năm thi hành đã khẳng định vai trò quan trọng của BLTTHS năm 2003 trong việc giải quyết các vụ án hình sự nói chung và trong hoạt động tranh luận tại phiên tòa hình sự nói riêng Mặc dù vậy, thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003 cũng bộc lộ những vướng mắc, bất cập, thêm vào

đó việc chủ động hội nhập quốc tế đã trở thành nhu cầu nội tại của Việt Nam Việt Nam đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế và trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tối phạm cũng như những điều ước quốc tế về việc bảo đảm quyền con người

Từ những lý do trên, việc sửa đổi BLTTHS là khách quan, là cần thiết BLTTHS năm 2015 ra đời gồm có 36 chương, 510 điều, nội dung sửa đổi, bổ sung rất lớn (176 điều mới, 317 điều sửa đổi, 26 điều bị bãi bỏ, 17 điều giữ nguyên) Tuy nhiên, vì một số lý do khách quan cũng như vẫn có nhiều điểm chưa thật sự hợp lý mà BLTTHS 2015 hiện nay vẫn đang bị tạm hoãn thi hành, BLTTHS 2003 (đã sửa đổi, bổ sung) vẫn đang có hiệu lực

Kết luận chương 1

Trong nội dung chương 1 của luận văn, tác giả tập trung phân tích một số vấn đề lý luận chính sau: Đưa ra khái niệm, đặc điểm về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự; Mục đích, phạm vi, nội dung và chủ thể của tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự;Phân biệt giữa tranh luận và tranh tụng

Trang 27

Ngoài ra trong trương 1, tác giả cũng đã nêu ra các quy định của pháp luật

từ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 đến các quy định trong BLTTHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện về những vấn đề liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự

Trang 28

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA

XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

2.1 Khái quát những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

2.1.1 Tổng quan tình hình chính trị, kinh tế và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung ở thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

Thành phố Vĩnh Yên là thành phố trực thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, là trung tâm đầu não của một tỉnh trọng điểm của miền bắc, trong những năm vừa qua Vĩnh Yên ngày càng phát triển đi lên, gia tăng cả về lượng và chất như diện tích được

mở rộng, dân số phát triển, đời sống người dân ngày càng được cải thiện và tăng lên Theo thông tin từ trang Wikipedia (Bách khoa toàn thư mở) thì Vĩnh Yên là thành phố đô thì loại II, thủ phủ của tỉnh Vĩnh Phúc, ở miền bắc Việt Nam; là trung tâm kinh tế trọng điểm là đầu mối giao thông quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đây cũng là một trong những thành phố cấp tỉnh có diện mạo thay đổi nhanh nhất của miền Bắc Là thành phố có nhiều công trình mang những điểm nhấn rất riêng.Thành phố Vĩnh Yên có diện tích: 50,0128 km2 và 160.801 nhân khẩu (tháng 9 năm 2015) Do địa bàn rộng lớn cộng với lượng dân

số ngày càng gia tăng đã dấn đến nhiều thách thức đến với thành phố Vĩnh Yên trong đó có vấn đề tội phạm, thực tiễn ở Thành phố Vĩnh Yên trong những năm gần đây cho thấy tình hình tội phạm đang ngày một phức tạp tỉ lệ thuận với sự phát triển của thành phố, số lượng các vụ án hình sự ngày càng gia tăng, với tính chất ngày càng phức tạp hơn, đòi hỏi đội ngũ cán bộ tư pháp phải luôn nỗ lực, phấn đấu trong công tác điều tra, giải quyết vụ án và xử lý tội phạm, góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện ổn định cho sự phát triển của đất nước nói chung và thành phố Vĩnh Yên nói riêng

Trang 29

Chất lượng và hiệu quả của hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó vị trí địa lý, mật độ dân số, số lượng Thẩm phán, Kiểm sát viên và luật sư chỉ có sự ảnh hưởng phần nào đó đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động tranh luận tại phiên tòa, ngoài ra còn những yếu tố quan trọng khác như là: sự hoàn thiện của pháp luật; trình độ chuyên môn; kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư; trình độ dân trí và sự hiểu biết pháp luật của những chủ thể khác tham gia tranh luận

2.1.2 Trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư ở địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

Trước tiên, chúng ta phân tích đánh giá một số đặc điểm, trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của các chủ thể bao gồm có Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư trong phần tranh luận phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự thành phố Vĩnh Yên để thấy được vai trò của các chủ thể ảnh hưởng như thế nào đối với hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự

Trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự

Xét xử, thực hành quyền công tố, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ là nghề nghiệp của Thẩm phán, Kiểm sát viên và Luật sư- các chủ thể giữ vai trò quan trọng trong tranh luận tại phiên tòa Vì vậy để nâng cao chất lượng tranh tụng nói chung và chất lượng hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét

xử sơ thẩm hình sự nói riêng các chủ thể này phải nắm vững kỹ năng nghề nghiệp Tuy nhiên, mỗi chủ thể này có chức năng, nhiệm vụ khác nhau nên kỹ năng cụ thể của họ trong tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự cũng khác nhau, cụ thể là:

-Kỹ năng điều khiển hoạt động tranh luận của Chủ tọa phiên tòa;

-Kỹ năng trình bầy lời luận tội và đối đáp của Kiểm sát viên trong hoạt động tranh luận

Trang 30

- Kỹ năng trình bầy lời bào chữa (hoặc bảo vệ quyền lợi cho đương sự) và tranh luận với Kiểm sát viên và các chủ thể khác

Tuy nhiên, các kỹ năng nêu trên đều bao gồm hai yếu tố:

- Những hành vi tố tụng: là những hành vi mà pháp luật quy định bắt buộc

chủ thể phải thực hiện tại phiên tòa theo một trình tự nhất định (ví dụ: sau khi kết thúc phần xét hỏi, Chủ tọa yêu cầu KSV trình bầy lời luận tội) mà không được thêm bớt hoặc thay đổi

- Những thao tác nghiệp vụ là những tác nghiệp cụ thể của chủ thể nhằm cụ

thể hóa các hành vi tố tụng (làm như thế nào) để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình Ví dụ: trình bày lời luận tội

là hành vi tố tụng bắt buộc đối với KSV còn trình bày lời luận tội như thế nào là thao tác nghiệp vụ của KSV

Hai yếu tố trên liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình hình thành và phát triển kỹ năng của chủ thể trong đó các hành vi tố tụng là cơ

sở, nền tảng để phát triển các thao tác nghiệp vụ và ngược lại các thao tác nghiệp vụ là sự cụ thể hóa hành vi tố tụng trong từng trường hợp cụ thể Mặt khác, kỹ năng của mỗi chủ thể trên lại phụ thuộc vào trình độ chuyên môn (nhận thức pháp luật nội dung và tố tụng liên quan) của chủ thể đó Ngoài các yếu tố

đã phân tích bên trên, chất lượng hoạt động tranh luận của phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự còn bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố khác như: đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp của Kiểm sát viên, Thẩm phán, Luật sư; chế độ đãi ngộ đối với họ; điều kiện làm việc; trình độ dân trí của những người tham gia tố tụng;… Trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp có ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm cũng như trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa nói chung Vì vậy, đội ngũ cán bộ Tòa án và VKS cũng như lực lượng Luật sư trên địa bàn đã có những biện pháp nâng cao trình độ chuyện môn và kỹ năng nghề nghiệp để tạo ảnh hưởng tích cực như tăng cường chất lượng và hiệu quả lên hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự

Trang 31

2.1.3 Quy định của pháp luật cũng như sự hoàn thiện của pháp luật ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động tranh luận ở địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

Hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự được tiến hành

theo một trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật TTHS quy định Nói cách khác các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên tòa là cơ sở để các chủ thể tiến hành các hoạt động tố tụng khi tham gia vào quá trình tranh luận tại Phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự Các quy định này bao gồm không chỉ các quy định cụ thể về trình tự phát biểu khi tranh luận, đối đáp (điều 217 và 218) mà cả một số quy định mang tính nguyên tắc (các điều 9 -11, 14, 19,…) và các quy định chung (các điều 37, 39, 40,…) của BLTTHS liên quan đến tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự Tác giả cho rằng các quy định của BLTTHS hiện hành liên quan đến trình tự, thủ tục tranh luận, đối đáp tại Phiên tòa xét xử

sơ thẩm hình sự có nhiều điểm không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể trong TTHS (ví dụ: quy định về việc Hội đồng vẫn tiến hành xét xử toàn

bộ vụ án trong trường hợp tại phiên tòa Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố) hoặc chưa đầy đủ, cụ thể và rõ ràng (ví dụ: Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội khi nào ? sau Kiểm sát viên hay sau Luật

sư hoặc Bị cáo ?.Vì cậy, trong thực tiễn áp dụng các quy định này có nhiều bất cập và vướng mắc (Tác giả sẽ đề cập đầy đủ ở phần thực trạng – những hạn chế, bất cấp) Điều đó không chỉ trực tiếp tác động đến hoạt động tranh tụng mà cụ thể ở đây là hoạt động tranh luận tại phiên tòa của các chủ thể mà còn ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả xét xử các vụ án nói chung

Còn một yếu tố quan trọng cũng có ảnh hưởng đến hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự đó là việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết các vụ án hình sự nói chung và riêng về hoạt động tranh luận nói riêng đã đáp ứng được yêu cầu về chất lượng cũng như tính hiệu quả

Trang 32

Trong công tác giải quyết các vụ án hình sự cũng như các hoạt động tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên và Tòa án được phân công thường xuyên có sự trao đổi nghiệp vụ , nhằm khắc phục, hạn chế những thiếu sót có thể xảy ra khi đang tham gia hoạt động tranh luận tại phiên tòa Đối với các vụ án phức tạp, có nhiều quan điểm khác nhau thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đã chủ động họp liên ngành nhằm tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, thống nhất quan điểm và đường lối xử lý nhằm đảm bảo việc thực hiện hoạt động tranh luận cũng như tranh tụng được nhuần nhuyễn, khởi tố, truy tố, xét xử đúng người đúng tội, tránh bỏ lọt tội phạm hay oan sai

Việc phối hợp giữa VKS và Tòa án cũng giúp cho các Kiểm sát viên chủ động trong việc xét hỏi bị cáo và thẩm vấn những người tham gia tố tụng, đảm bảo việc tranh luận có hiệu quả nhằm làm sáng tỏ nội dung vụ án Tăng cường họp bàn thống nhất và tổ chức được các phiên tòa xét xử rút kinh nghiệm cho Kiểm sát viên, Thẩm phán và nâng cao chất lượng tranh tụng nói chung và hoạt động tranh luận nói riêng theo tinh thần Nghị quyết 08 và 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp

Tuy nhiên có nhiều quan điểm cho rằng việc phối hợp của Viện Kiểm sát

và Tòa án hoặc nói đúng hơn là bên buộc tội và bên xét xử (trọng tài) đã có sự thống nhất với nhau về hướng giải quyết vụ án làm cho gây ra một ảnh hưởng rất lớn đến phiên tòa xét xử, làm phiên tòa mất đi tính khách quan vốn có của nó

và làm cho hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử chỉ là hình thức, Luật sư tham gia bào chữa chỉ cho có và việc ghi nhận ý kiến của Luật sư bào chữa vào bản án còn rất qua loa, sơ sài Đặc biệt là tại các biên bản phiên tòa, thì việc ghi nhận lại các diễn biến của phiên tòa còn rất chung chung Phân tranh luận giữa các chủ thể bên buộc tội và bên gỡ tội không được thể hiện cụ thể trong bản án, cũng như trong biên bản phiên tòa

Ta không thể phủ nhận rằng là vai trò của công tác phối hợp giữa các cơ quan tố tụng trong giải quyết các vụ án hình sự là rất quan trọng và cần thiết

Trang 33

nhất là trong các vụ án lớn và phức tạp nhưng ta cũng có thể nhận thấy việc phối hợp như vậy cũng có ảnh hưởng rất lớn đến tính khách quan của vụ án cũng như trong hoạt động tranh luận tại phiên tòa, việc tranh luận tại phiên tòa chỉ còn là hình thức, thủ tục Hầu hết các vụ án đã khảo sát, thì Tòa án đều chấp nhận theo cáo trạng, cũng như quan điểm của Viện kiểm sát đã truy tố, còn ý kiến của Luật

sư đưa ra đều không được chấp nhận Bên canh đó, việc đối đáp giữa các bên tại phiên tòa còn rất mờ nhạt, kém phần sôi nổi, được thể hiện qua việc ghi nhận trong biên bản phiên tòa Các bên chỉ đối đáp tối đa đến vòng 2, hầu hết sự đối đáp xuất phát từ Luật sư, các bị cáo và chủ thể tham gia tố tụng khác thì gần như

là không có ý kiến đối đáp

Từ những cơ sở đã được phân tích bên trên, có thể thấy được sự phối hợp trong công tác xét xử, tranh luận giữa Tòa án và VKS thành phố Vĩnh Yên có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự Mặc dù, việc phối hợp có ảnh hưởng như vậy nhưng thiết nghĩ nếu đối với những vụ án lớn mang tính phức tạp và đặc biệt nghiêm trọng mà không có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng thì sẽ rất khó cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án

2.2 Thực trạng hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm ở địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

Theo Báo cáo tổng kết công tác của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên

từ năm 2012 đến năm 2016, tình hình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên nhìn chung thì số lượng vụ án hàng năm đều gia tăng, tỉ lệ giải quyết án hàng năm đều khá tốt tuy nhiên chất lượng các bản án còn chưa được tốt lắm như là vẫn cón một số án bị kháng cáo, sửa án và hủy án mặc dù tỷ lệ là không nhiều Cụ thể:

- Năm 2012 Tòa thụ lý mới cùng với án tồn là 174 vụ/ 314 bị cáo, đã giải quyết 164 vụ/ 301 bị cáo, đạt tỷ lệ 94,25% vụ/ 95,85% bị cáo; Số vụ án còn chưa được giải quyết lại 10 vụ/ 13 bị cáo.[36]

Trang 34

- Năm 2013 Tòa thụ lý mới cùng án tồn là 199 vụ/ 330 bị cáo, đã giải quyết

184 vụ/ 286 bị cáo, đạt tỷ lệ 92,46% vụ/ 86,6% bị cáo; có 1 vụ/ 2 bị cáo là trả hồ

sơ cho Viện kiểm sát; Số vụ án còn lại chưa được giải quyết là 14 vụ/ 42 bị cáo.[37]

- Năm 2014 Tòa thụ lý mới cùng án tồn là 224 vụ/ 345 bị cáo, đã giải quyết

176 vụ/ 287 bị cáo, đạt tỷ lệ 78,6% vụ/ 83,2% bị cáo; Trả hồ sơ cho Viện kiểm sát là 30 vụ/ 33 bị cáo trong đó có 14 vụ trả hồ sơ nhưng Viện kiểm sát không chấp nhận yêu cầu của Tòa án; Số vụ án còn lại chưa được giải quyết là 18 vụ/

25 bị cáo.[38]

- Năm 2015 Tòa thụ lý mới cùng án tồn là 178 vụ/ 318 bị cáo, đã giải quyết

160 vụ/ 284 bị cáo, đạt tỷ lệ 89,9% vụ/ 89,3% bị cáo; Số vụ án còn lại chưa được giải quyết là 18 vụ/ 34 bị cáo.[39]

- Năm 2016 Tòa thụ lý mới cùng án tồn là 172 vụ/ 274 bị cáo, đã giải quyết

164 vụ/ 258 bị cáo, đạt tỷ lệ 95,34% vụ/ 94,2% bị cáo; Trả hồ sơ cho Viện kiểm sát là 3 vụ/ 11 bị cáo trong đó có 1 vụ trả hồ sơ nhưng Viện kiểm sát không chấp nhận yêu cầu của Tòa án; Có 1 vụ/ 1 bị cáo bị đình chỉ; Số vụ án còn lại chưa được giải quyết là 4 vụ/4 bị cáo.[40]

Đến cuối năm 2016, Theo báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên thì số lượng KSV trên địa bàn thành phố là: 12, còn theo báo cáo của Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Phúc thì số lượng luật sư trực thuộc Đoàn là 23 Luật sư, trong khi tổng dân số của thành phố Vĩnh Yên tính đến tháng 9 năm 2015 là 160.801 người Như vậy, tỷ lệ Luật sư so với dân số trên địa bàn thành phố là 0,014% Số lượng luật sư tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự trong đó bao gồm cả số vụ Luật sư tham gia bào chữa theo chỉ định của cơ quan tiến hành

tố tụng cũng không nhiều, chỉ chiếm khoảng 05% đến 15% Tuy vậy nhưng theo khảo sát những vụ án từ năm 2012 đến năm 2016 thì có nhiều vụ án luật sư tham gia còn mang tính hình thức, chưa thực sự thể hiện hết được vai trò trong hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự, đây cũng là một trong

Trang 35

những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự

Bảng 2.1 Bảng số liệu thông kê tình hình xét xử sơ thẩm án hình sự của Tòa

án nhân dân thành phố Vĩnh Phúc từ năm 2012 đến năm 2016

Trang 36

số lượng không nhiều nhưng vẫn nói lên những bất cập, hạn chế cần được khắc phục và hoàn thiện trong thời gian tời

2.2.1.Những kết quả đạt được và nguyên nhân

Thực tiễn tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2016 cho thấy tại phần tranh luận của hầu hết các vụ án trong khoảng thời gian này thì HĐXX giữ vai trò trọng tài và không tham gia vào quá trình tranh luận cảu bên buộc tội và bên bào chữa Nếu ở phần xét hỏi Chủ tọa phiên tòa thể hiện vai trò tích cực của mình trong việc xét hỏi cũng như trong việc điều khiển quá trình xét hỏi nhằm làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án, thì trong phần tranh luận Chủ tọa phiên tòa chỉ giữ vai trò là người trọng tài điều khiển quá trình tranh luận, đối đáp của các bên bảo đảm tuân thủ trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định và hướng hoạt động tranh luận tập trung vào các vấn đề cần giải quyết trong vụ án, đặc biệt là những vấn đề mà các bên có quan điểm khác nhau

Theo quy định của pháp luật và trong thực tế thì Chủ tọa phiên tòa không hạn chế thời gian tranh luận, đối đáp của các bên nhưng một số phiên tòa xét xử

sơ thẩm hình sự có một phần nội dung các bên tranh luận không liên quan đến

vụ án thì Chủ tọa đã cắt những nội dung đó và yêu cầu các bên tranh luận tập trung vào những nội dung cần tranh luận của vụ án, đồng thời Chủ tọa phiên tòa cũng chấn chỉnh thái độ ứng xử không đúng hoặc thiếu văn hóa của những người tham gia tranh luận

Đối với hoạt động của Kiểm sát viên trong hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự từ thực tiễn xét xử trong những năm gần đây mà cụ thể từ năm 2012 đến 2016, tác giả nhận thấy rằng hoạt động tranh luận của KSV đã có những chuyển biến tích cực Với tư cách là chủ thể chính của bên buộc tội KSV đã phát huy được vai trò, vị trí của mình góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm thể hiện cụ thể ở một số điểm sau:

Trang 37

Thực tiễn tranh luận tại phiên tòa cho thấy, KSV đã nhận thức đúng và đầy

đủ về bản chất, ý nghĩa của tranh luận đối với quá trình xét xử vụ án hình sự và vai trò của mình trong việc thực hiện chức năng công tố tại phiên tòa Vì vậy, khi được phân công tham gia phiên tòa, KSV đã dành thời gian nghiên cứu chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ để nắm vững nội dung vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nguyên nhân, điều kiện phạm tội cũng như hôn nhân của bị cáo;…để từ đó xây dựng dự thảo bản luận tội, đề cương xét hỏi, dự kiến những tình huống có thể xây ra tại phiên tòa và hướng xử lý khi tranh luận, đối đáp phù hợp với diễn biến tại phiên tòa

Thực tiễn tranh luận tại phiên tòa cũng cho thấy, KSV đã chủ động và tích cực hơn khi tham gia xét hỏi để kiểm tra các chứng cứ, tài liệu và các tình tiết về

vụ án; ghi chép ý kiến, đề nghị của bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác và kịp thời bổ sung dự thảo luận tội Vì vậy, hoạt động tranh luận, đối đáp và đề xuất của KSV về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án phù hợp với diễn biến tại phiên tòa, có sức thuyết phục không chỉ đối với HĐXX mà cả với những người tham dự phiên tòa

Chất lượng tranh luận, đối đáp của KSV có những chuyển biến tích cực như: KSV đã chú ý ghi chép ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác về nội dung luận tội, đặc biệt là những ý kiến khác với quan điểm của VKS Khi tranh luận, KSV đã bình tĩnh phân tích, lập luận có sức thuyết phục trên cơ sở các chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa và các quy định pháp luật đề làm sáng tỏ sự thật khách quan về vụ án, bảo vệ quan điểm truy tố của VKS

Ngoài ra phương pháp tranh luận của KSV cũng có nhiều tiến bộ, linh hoạt thể hiện ở thái độ bình tĩnh, khiêm tốn, khách quan, bình đẳng và tôn trọng ý kiến của những người tham gia tố tụng; sử dụng thuật ngữ chính xác, lập luận ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và có sức thuyết phục nên từng bước đã khắc phục được hiện tượng “đao to, búa lớn” trong tranh luận, đối đáp

Trang 38

Đối với những vụ án xét xử lưu động, án trọng điểm, khi tranh luận, đối đáp, KSV đã biết kết hợp giữa chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước về xử

lý tội phạm với đặc điểm tình hình thực tế của địa phương; chú ý phân tích kỹ về tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội; phê phán thủ đoạn, động cơ, mục đích cũng như các nguyên nhân và điều kiện dẫn đến phạm tội,…Vì vậy, hoạt động này của KSV đã góp phần tích cực trong đấu tranh phòng chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác; tuyên truyền giáo dục để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của quần chúng nhân dân trên thành phố Vĩnh Yên

Trong thời gia qua, các KSV đã có nhiều cố gắng trong việc đối đáp với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác trình bày ý kiến về luận tội, Kiểm sát viên đã ghi chép đầy đủ từng vấn đề để chủ động đối đáp với các ý kiến đó Kiểm sát viên trả lời, đối đáp với các ý kiến của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có thể hiện tính khách quan, cầu thị Những ý kiến của người tham gia tố tụng đưa ra nếu có căn cứ, thì Kiểm sát viên nghiên cứu và đề nghị HĐXX xem xét quyết định, bảo đảm đúng quy định của pháp luật

Đối với các phiên tòa có sự tham gia của người bào chữa, các hoạt động tại phần tranh luận như đưa ra chứng cứ mới; yêu cầu triệu tập người làm chứng; đưa ra vât chứng; việc phát biểu đánh giá chứng cứ; về đề nghị áp dụng pháp luật; đề xuất ý kiến và lập luận trên cơ sở chứng cứ và quy định của pháp luật…được thực hiện tương đối đầy đủ; trong phạm vị nhất định, đã giúp Tòa án xác định sự thật khách quan của vụ án để ra một phán quyết khách quan, toàn diện và đúng pháp luật

Thực tiễn xét xử cho thấy đa số các luật sư đã nhân thức đúng vị trí, vai trò của mình tại phiên tòa và đã tích cực tham gia vào quá trình xét xử nói chung và khi tranh luận tại phiên tòa nói riêng Vì vậy, trong nhiều trường hợp, các luật sư bào chữa đã đưa ra được các chứng cứ thuyết phục, các quy định pháp luật phù hợp cần áp dụng để giải quyết vụ án; các quan điểm bào chữa và

Ngày đăng: 30/05/2017, 16:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ tư pháp ( 1957), Thông tư số 22- ngày 8/12/1957 của Bộ tư pháp trả lời một số điểm về quyền bào chữa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 22- ngày 8/12/1957 của Bộ tư pháp trả lời một số điểm về quyền bào chữa
2. Dương Thanh Biểu (2007), Bàn về tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, Tạp chí Kiểm sát, (số 13) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Năm: 2007
3. Dương Thanh Biểu (2007), Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
4. Chủ tịch nước (1945), Sắc lệnh số 33 ngày 13/09/1945 về thiết lập Tòa án quân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 33 ngày 13/09/1945 về thiết lập Tòa án quân sự
Tác giả: Chủ tịch nước
Năm: 1945
5. Chủ tịch nước (1946), Sắc lệnh số 07 ngày 15/01/1946 bổ khuyết sắc lệnh ngày 13/09/1945, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 07 ngày 15/01/1946 bổ khuyết sắc lệnh ngày 13/09/1945
Tác giả: Chủ tịch nước
Năm: 1946
6. Chủ tịch nước (1946), Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 về tổ chức các Tòa án và ngạch Thẩm phán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 về tổ chức các Tòa án và ngạch Thẩm phán
Tác giả: Chủ tịch nước
Năm: 1946
7. Chủ tịch nước (1946) , Sắc lệnh số 51 ngày 17/04/ 1946 ấn định thẩm quyền của Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 51 ngày 17/04/ 1946 ấn định thẩm quyền của Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án
8. Chủ tịch nước (1946), Sắc lệnh số 190 ngày 01/10/1946 quy định về thẩm quyền truy tố của Tòa án, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 190 ngày 01/10/1946 quy định về thẩm quyền truy tố của Tòa án
Tác giả: Chủ tịch nước
Năm: 1946
9. Chủ tịch nước (1946), Sắc lệnh số 163 ngày 23/08/1946 quy định về tổ chức Tòa án binh lâm thời, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 163 ngày 23/08/1946 quy định về tổ chức Tòa án binh lâm thời
Tác giả: Chủ tịch nước
Năm: 1946
10. Chủ tịch nước (1947), Sắc lệnh số 19 ngày 16/02/1947 quy định về tổ chức Tòa án binh trong toàn cõi Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 19 ngày 16/02/1947 quy định về tổ chức Tòa án binh trong toàn cõi Việt Nam
Tác giả: Chủ tịch nước
Năm: 1947
11. Lê Tiến Châu (2003), Một số vấn đề về tranh tụng trong tố tụng hình sự, Tạp chí khoa học pháp lý, (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tranh tụng trong tố tụng hình sự
Tác giả: Lê Tiến Châu
Năm: 2003
12. Đảng Cộng sản Việt Nam(2002), Nghị quyết 08-NQ/TW, ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 08-NQ/TW, ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết 48-NQ/TW, ngày 24/05/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 48-NQ/TW, ngày 24/05/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
14. Đảng Cộng sản Việt Nam(2005), Nghị quyết 49-NQ/TW, ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW, ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
16. Trần Văn Độ (2004), Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa, Tạp chí khoa học pháp lý, (số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2004
17. Phạm Hồng Hải (2004), Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
18.Nguyễn Thị Thúy Hằng (2014) “ Một số kiến nghị góp phần thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Một số kiến nghị góp phần thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa hình sự”
19. Học viện pháp lý thuộc Bộ Tư pháp(2006), Từ điển Luật học, Nxb từ điển Bách khoa – Nxb Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Học viện pháp lý thuộc Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb từ điển Bách khoa – Nxb Tư pháp
Năm: 2006
20. Võ Thị Hồng Luyến (2011), Một số vấn đề về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm, Tạp chí kiểm sát, (số 18) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm
Tác giả: Võ Thị Hồng Luyến
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w