1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vai trò người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố hồ chí minh

86 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh trong bốn năm 2015-2018.. M

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ HỒNG SINH

VAI TRÒ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA

VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Trang 2

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 3

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 4

HÀ NỘI, năm 2019

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “ Vai trò người bào chữa trong giai đoạn điều tra

vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS-TS Võ Khánh Vinh Các số liệu ghi trong luận văn là có thật, kết quả nghiên cứu là trung thực.Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu và tính trung thực của luận văn

Tác giả luận văn

Lê Hồng Sinh

Trang 5

Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 30

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 30 2.2 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh trong bốn năm ( 2015-2018) 31 2.3 Thực trạng tác động đến việc thực hiện quy định của pháp luật Tố tụng hình

sự về vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự tại thành

Trang 6

phố Hồ Chí Minh 42 2.4 Vai trò của người bào chữa là luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự của một số nước trên thế giới 51

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VAI TRÒ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 59

3.1 Hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 59 3.2 Hoàn thiện tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 67 3.3 Các giải pháp khác 68

KẾT LUẬN 72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự

CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng

TTHS : Tố tụng hình sự

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng số liệu về số lượng luật sư và tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn

cả nước trong bốn năm ( 2015 - 2018 )

Kết quả khảo sát hoạt động bào chữa của luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh trong bốn năm ( 2015 - 2018 )

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo vệ quyền con người luôn là nhiệm vụ quan trong của nhà nước Xã hội Chủ nghĩa ở nước ta, ngày nay nhiệm vụ này càng quan trọng hơn bao giờ,trong bối cảnh lịch sử Việt nam đang tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập sâu rộng cùng bạn bè trong khu vực và trên thế giới Song song với nhiệm vụ phát triển

kinh tế Đảng và Nhà nước ta chú trọng xây dựng một nhà nước pháp quyền ” của dân, do dân, vì dân”, xây dựng hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo cho việc phát

triển các quyền tự do, dân chủ của công dân Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là quyền cơ bản quan trọng của công dân khi tham gia vào quá trình tố tụng Đảm bảo quyền bào chữa luôn là nguyên tắc Hiến định được thể chế hoá từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013 Đặc biệt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự thì việc bảo đảm quyền bào chữa thì càng có ý nghĩa quan trọng đối với người bị tạm giữ, bị can Điều tra là giai đoạn trước truy tố trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, chính vì vậy quyền bảo đảm cho quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra sẽ giúp cho việc gỡ tội, chứng minh sự vô tội, làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giữ, bị can Đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các đối tượng này Quy định của pháp luật về tư cách người bào chữa với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là khác nhau Mặc dù vậy, nội dung của Hiến pháp năm 2013 quy định: vai trò người bào chữa tham gia tố tụng với tư cách nào, ở giai đoạn tố tụng nào đều có ý nghĩa

to lớn trong việc bảo vệ công lý, bảo đảm cho các hoạt động tố tụng được tiến hành khách quan, đúng pháp luật

Trang 10

BLTTHS năm 2015 là quan điểm, tư tưởng xuyên suốt quá trình xây dựng,vận hành của cơ chế, trình tự tố tụng hình sự, là nền tảng cho các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng thực hiện đúng chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, nhằm bảo đảm mục tiệu, nhiệm vụ của tố tụng hình sự phù hợp với điều kiện lịch sử,

cụ thể của Việt Nam.Trong các giai đoạn tiến hành tố tụng có nhiều đụng chạm,có thể dẫn đến việc hạn chế quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, nên đòi hỏi giai đoạn điều tra vụ án hình sự phải có sự tham gia của người bào chữa

để các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng tuân thủ đúng pháp luật và các nguyên tắc cơ bản được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự

Những năm gần đây,tình hình vi phạm pháp luật ở nước ta trong lĩnh vực hình sự diễn biến phức tạp về tính chất và mức độ Tuy nhiên, chất lượng công tác cải cách tư pháp vẫn chưa đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong đời sống xã hội, còn bộc lộ nhiều yếu kém, như bỏ lọt tội phạm, làm oan sai người vô tội; xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và công dân,gây nhiều hậu quả đáng tiếc cho người bị kết án oan, người thân của họ và cho xã hội Đây chính là điều kiện để bảo đảm tính hiện thực của quyền con người, quyền công dân, bảo đảm sự cân bằng, minh bạch và lành mạnh giữa các lợi ích trong mối quan hệ giữa Nhà nước với con người, công dân, cá nhân và phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên

Tố tụng hình sự nhằm giải quyết vụ án hình sự mà mục tiêu là đấu tranh phòng và chống tội phạm Trong hoạt động ấy đã hình thành một bên nhân danh nhà nước, gồm có: Cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan có thẩm quyền tiến hành

tố tụng Theo đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm cơ quan tiến hành

Trang 11

tố tụng và cơ quan có chức năng, nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Cơ quan tiến hành tố tụng là: Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát; Tòa án Như vậy, phạm vi chủ thể của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bao hàm cả cơ quan tiến hành tố tụng trong đó

Một bên thực hiện việc buộc tội đối với bị can, bị cáo còn bên kia thực hiện chức năng gỡ tội (gọi chung là người bào chữa bao gồm: Luật sư, BCVND, TGVPL ) Trong hoạt động tố tụng, đều có chung một mục đích là làm rõ sự thật của vụ án, chính xác, khách quan, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, đảm bảo xét xử đúng người đúng tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2-6-2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

Hoạt động bào chữa, vai trò của người bào chữa là không thể thiếu và cần phải

được phát huy có hiệu quả Việc nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn để làm sáng tỏ các hoạt động trong quá trình tố tụng hình sự, thông qua vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra VAHS là cần thiết và cấp bách

Vì lý do đó tác giả chọn đề tài: “Vai trò của người của người bào chữa

trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự từ thực tiễn thanh phố Hồ Chí Minh“ để làm luận văn Thạc sĩ của tác giả

2 Tình hình nghiên cứu :

Tác giả chọn đề tài “Vai trò của người của người bào chữa trong giai

đoạn điều tra vụ án hình sự từ thực tiễn thanh phố Hồ Chí Minh“ trong luật

thực định Việt nam

Trang 12

Thông qua đó tìm ra những tồn tại, hạn chế về mặt thự tiễn so với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, chỉ ra đượng những nguyên nhân của vấn đề, từ đó nêu ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Qua đó nhằm bảo đảm quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can trong giai đoạn điều tra Tạo điều kiện cho các đối tượng này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước cơ quan tiến hành tố tụng

và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu :

Nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn, bản chất, nội dung về vấn đề vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra VAHS Đồng thời nêu ra những bất cập của các quy định trong BLTTHS, các cơ quan THTT trong hoạt động giai đoạn điều tra VAHS và những bất cập về vai trò của người bào chữa trong thực tiễn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, thông qua đó đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động vai trò của người bào chữa nhằm hướng tới xây dựng một nền tố tụng hình sự Viêt nam thực sự công bằng, dân chủ góp phần thực hiện quá trình cải cách tư pháp

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của luận văn được đặt ra là: Nghiên cứu cơ sở lý luận của hoạt động của các cơ quan THTT trong hoạt động giai đoạn điều tra VAHS và vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra: Khái niệm, đặc điểm, điều kiện, yêu cầu, ý nghĩa; Cơ sở pháp lý quy định về vai trò người bào chữa trong giai đoạn điều tra VAHS

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu :

Trang 13

Từ những nội dung trên tìm hiểu về vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra VAHS trong thực tiễn áp dụng theo luật định hiện hành,trên cơ sở kết quả nghiên cứu và những đánh giá về thực trạng tranh hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp về vai trò của người bào chữa nhằm nâng cao hiệu quả vai trò người bào chữa trong giai đoạn điều tra VAHS ở nước ta trước yêu cầu cải cách tư pháp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu tập trung ở đề tài ” Vai trò của người của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự”theo quy định của Bộ luật tố tụng

hình sự năm 2015 ( BLTTHS ) và Thông tư 70/2011/TT/BCA ngày 10 tháng 10 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ công an quy định chi tiết thi hành các quy định của

Bộ luật tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và một số van bản Quy phạm pháp luật khác

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu, phân tích làm rõ nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra, các biện pháp bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra Một số tồn tại, hạn chế trong thực tiễn bảo đảm quyền bào chữa đến

từ phía cơ quan điều tra, người bào chữa, người bị tạm giữ, bị can Nguyên nhân

và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra

vụ án hình sự

Để cho hoạt động của người bào chữa có hiệu quả thì nhiều vấn đề cả về

Trang 14

pháp lý, lý luận và thực tiễn cần phải được làm rõ,đó là vấn đề lớn.Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ không thể xem xét và giải quyết hết mọi vấn đề mà chỉ

dừng lại nghiên cứu một vấn đề: “Vai trò của người của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh“

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1.Phương pháp luận nghiên cứu

Vận dụng quan điểm Duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh thần, nội dung nghị quyết các thời kỳ đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam để giải quyết các vấn đề đặt ra trong luận văn

5.2.Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu: Phân tích luật viết, phân tích, so sánh, tổng hợp, liệt kê, thống kê số liệu Dựa vào việc nghiên cứu các văn bản pháp luật trong lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật hiện hành trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Về lý luận:

Thông qua nội dung nghiên cứu trong luận văn góp một phần vào việc hoàn chỉnh thêm những qui định hiện hành trong pháp luật tố tụng hình sự về vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra VAHS để hướng tới yêu cầu trọng tâm của cải cách tư pháp theo tinh thần của Nghị Quyết 49/NQ-TW của Bộ chính

trị về công cuộc cải cách tư pháp cho đến năm 2020

Trang 15

6.1 Về thực tiễn:

Thông qua những kiến nghị cụ thể trong luận văn hy vọng góp một phần vào hoạt động của người bào trong các giai đoạn tố tụng hình sự , đặc biệt là vai trò người bào chữa trong giai đoạn đầu của tố tụng: “giai đoạn điều tra vụ án hình sự” nhằm nâng cao hiệu quả theo tinh thần cải cách tư pháp của Bộ chính trị Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, trong các giai đoạn tố tụng hình sự, thì giai đoạn khởi tố, điều tra là giai đoạn dễ xâm phạm quyền con người nhất Vì vậy, trong giai đoạn này, nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình điều tra vụ án, bảo đảm bất cứ hành vi phạm tội nào xâm phạm đến quyền con người đều phải được phát hiện, xử lý trước pháp luật và các hoạt động điều tra Vai trò của người bào chữa rất cần thiết,

để đảm bảo các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người bị bắt, bị tạm giữ, bị can được tuân thủ đúng quy định của pháp luật

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, danh mục các chữ viết tắt, bảng biểu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và lịch sử pháp luật về vai trò người bào

chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Chương 2: Thực trạng vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra

vụ án hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Các giải pháp bảo đảm vai trò của người bào chữa là Luật sư

trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Trang 17

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm người bào chữa

1.1.1 Khái niệm người bào chữa

Vấn đề định nghĩa người bào chữa: xung quanh khái niệm này có nhiều ý kiến khác nhau, cho rằng “Người bào chữa là người tham gia tố tụng để giúp đỡ tòa án” hay“Người bào chữa là người giúp đỡ tòa án trong việc xác định các tình tiết cần thiết về vụ án để cuối cùng tòa án ra một bản án có căn cứ pháp luật”, thậm chí có quan điểm còn cho rằng Người bào chữa tham gia tố tụng là nhằm để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội, chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo

Những người không được bào chữa gồm: Người dịch thuật, người định giá tài sản, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người đã bị kết án chưa được xóa án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc ( khoản 4 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình

sự 2015)

1.1.2 Khái niệm người bào chữa là luật sư

Hoạt động tham gia tố tụng/tranh tụng của Luật sư luôn gắn liền với hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước; ảnh hưởng trực tiếp đến tự

do, tài sản, các quyền nhân thân, thậm chí cả tính mạng của khách hàng

Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động xét xử của Toà án là độc

Trang 18

lập, công khai, các bên (bên buộc tội và bên gỡ tội) trong vụ án hình sự Đối với VAHS, Luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị buộc tội, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, đương sự Luật sư tham gia tố tụng VAHS xác định tư cách tố tụng một cách độc lập, có các quyền

và nghĩa vụ tương ứng theo quy định tại các luật, bộ luật tố tụng liên quan

Khái niệm người bào chữa là luật sư như sau:“ Tham gia tố tụng là hoạt động của luật sư trong việc cung cấp dịch vu pháp lý với tư cách người bào chữa, người đại diện hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho khách hàng“ Hoạt

động tố tụng của Luật sư là hoạt động có tính đối kháng cao, đặc biệt là này luôn diễn ra trong không gian và thời gian theo quy định tại các luật, bộ luật tố tụng liên quan [20, tr 26]

1.1.3 Sự khác nhau giữa người bào chữa là luật sư với người bào chữa khác

Tính chất của nghề Luật sư:

Hiến pháp năm 2013 có những tác động lớn và quan trọng đến vai trò, vị trí của luật sư trong xã hội, trong hệ thống chính trị và trong hoạt động nghề nghiệp

Điều 3 của Luật luật sư (sửa đổi năm 2012) quy định như sau : “Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”

Luật sư là một nghề tự do được xã hội tôn trọng,hoạt động độc lập, chịu trách nhiệm cá nhân Uy tín và thương hiệu của mỗi luật sư là cơ sở quan trọng nhất để luật sư phát triển nghề nghiệp và đóng góp cho xã hội Nó gắn liều uy tín

Trang 19

và danh dự nghề nghiệp Luật sư là một nghề dịch vụ có tính đặc thù vì có liên quan đến quyền và lợi ích của khách hàng và pháp luật của Nhà nước - các cơ quan THTT, các cơ quan nhà nước khác Vì vậy luật sư một mặt phải bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho khách hàng, mặt khác phải ứng xử và phối hợp với các cơ quan nhà nước để cùng nhau góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế Nghề luật

sư va chạm với nhiều mặt trái xã hội, những vấn đề kinh tế và thể chế xã hội Luật luật sư: “ Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn,điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức “ Tiêu chuẩn người hành nghề luật sư: Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc Nghề luật sư trước hết là một nghề luật, nền tảng hoạt động phải dựa trên pháp luật và các quy chế trách nhiệm nghề nghiệp Pháp luật về luật sư được coi là

hệ thống các quy phạm pháp luật xác định vị trí, vai trò của luật sư trong xã hội, quy định các quyền và nghĩa vụ của luật sư trong hành nghề, phạm vi quản lý nhà nước đối với hoạt động luật sư, tính tự quản trong tổ chức nghề nghiệp Trong lĩnh vực tố tụng, luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự [23]

Năm 2018 số luật sư thành viên của cả nước là: 13.081 luật sư, số luật sư hoạt động chuyên về tham gia tố tụng chiếm đa số so với các luật sư hoạt động chuyên về tư vấn pháp luật cũng như cung cấp các dịch vụ pháp lý khác Việc luật

sư tham gia tố tụng không những bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền được bảo vệ lợi ích hợp pháp của các đương sự, mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa những thiếu sót, sai lầm, hạn chế oan

Trang 20

sai, làm rõ sự thật khách quan của vụ án

Về người bào chữa là Bào chữa viên nhân dân:

Đây là một diện chủ thể mang tính đặc thù vai trò người bao chữa là Bào chữa viên nhân dân ở Việt Nam, được hình thành trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Pháp (theo Sắc lệnh 69-SL ngày 18 tháng 6 năm 1949) Theo Nghị định số

01 ngày 12 tháng 1 năm 1950 của Bộ Tư pháp thì điều kiện trở thành bào chữa viên chỉ bao gồm: người có quốc tịch Việt Nam, ít nhất 21 tuổi, hạnh kiểm tốt và chưa can án, được Chánh án lựa chọn (hàng năm)

BLTTHS năm 2015 quy định: Bào chữa viên nhân dân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình Bào chữa viên nhân dân tham gia tố tụng để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong 2 trường hợp sau:

Thứ nhất: nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không

mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đề nghị Mặt trận

tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình (điểm c khoản 2 điều 76 BLTTHS 2015)

Thứ hai: Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của mặt

trận tự cử Bào chữa viên nhân dân tham gia TTHS Theo quy định tại khoản 4 điều 75 BLTTHS năm 2015, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên

Trang 21

TTHS để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình.” [11]

Về người bào chữa là Trợ giúp viên pháp lý:

Trợ giúp pháp lý theo BLTTHS năm 2015: Trợ giúp viên pháp lý là một dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định

Do tính chất của vụ việc trợ giúp pháp lý liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý và không thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại, nên TGPL là trách nhiệm của Nhà nước Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện TGPL, khuyến khích tạo điều kiện để MTTQVN

và các tổ chức thành viên, các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia thực hiện ( Điều 8 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017)

Về người bào chữa là “ người đại diện hợp pháp “

Là người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là bố mẹ

đẻ, bố mẹ nuôi, người đỡ đầu, anh, chị em ruột và những người theo quy định của pháp luật đối với bị can bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần

Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can nếu tham gia bào chữa thì họ cũng có những quyền như người bị tạm giữ, bị can

Đối với Pháp nhân Thương mại: BLTTHS năm 2015 quy định người bị tạm giữ, bị can là người hoặc Pháp nhân“Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi

tố về hình sự Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này”;

Trang 22

Pháp nhân thương mại :Với tư cách là chủ thể của pháp luật tố tụng hình sự, pháp nhân thông qua người đại diện theo pháp luật có quyền và nghĩa vụ tham gia đầy

đủ vào các giai đoạn tố tụng hình sự được quy định tại Điều 434 Bộ luật tố tụng hình sự Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật

1.2 Vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

1.2.1 Vai trò người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Vai trò người bào chữa là tổng hòa các hành vi tố tụng hướng tới bãi bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc nhằm làm giảm nhẹ trách nhiệm của

bị can”,“Bào chữa trong tố tụng hình sự không chỉ là tổng hoà các hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm mà còn là tổng hoà các mối quan hệ tố tụng nhằm tới mục đích làm cho tình trạng của người bị buộc tội tốt hơn và bảo đảm các quyền và lợi ích của người đó trong vụ án

1.2.2 Sự khác nhau giữa vai trò người bào chữa trong giai đoạn điều tra VAHS với vai trò người bào chữa trong giai đoạn khác :

Vai trò người bào chữa giai đoạn tranh tung trong tố tụng hình sự : Kiểm sát viên khi luận tội phải căn cứ vào những chứng cứ,tài liệu đồ vật đã được kiểm tra tại phiên toà và ý kiến của bị cáo , người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà Người bào chữa có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng

cứ, tài liệu và những lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ buộc tội, gỡ tội Mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn hiện nay ở Việt nam, cho phép mở rộng khả năng tranh tụng ( người bào chữa ), đối kháng giữa một

Trang 23

bên buộc tội và một bên gỡ tội Đề cao vai trò của Toà án như một trọng tài khách quan là hoàn toàn phù hợp với chủ trương nêu trong Nghị quyết số 08-NQ/TW và

NQ số 49-NQ/TW của Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt nam khoá IX

Phát huy tính kế thừa của Bộ Luật Tố tụng hình sự Việt nam qua các thời

kỳ, khái quát chung về vai trò người bào chữa như sau:

”Quyền bào chữa là trong những quyền cơ bản và đặc trưng của mỗi công dân, bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là nguyên tắc quan trọng của tố tụng hình sự xã hội chủ nghĩa.Việc thực hiện nguyên tắc quyền bào chữa không những thể hiện tính dân chủ mà còn thể hiện tính nhân đạo

xã hội chủ nghĩa trong hoạt động tư pháp xã hội chủ nghĩa “Người bào chữa trong tố tụng hình sự là người tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội, giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, thông qua

đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”

1.2.3 Mối quan hệ giữa vai trò và địa vị pháp lý của Luật sư trong giai đoạn điều vụ án hình sự

Bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho các đương sự là một trong những hoạt động quan trọng, và trong nhiều trường hợp là quy định bắt buộc không thể thiếu trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; người bị hại; người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự Thực tiễn cho thấy, không phải người bị tạm giữ, bị can,

bị cáo, đương sự nào cũng có khả năng tự bào chữa, tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình Để thực hiện được tốt nhiệm vụ bào chữa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp

Trang 24

cho người bị tạm giữ, bị can bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, người bào chữa cần được tham gia vào giai đoạn điều tra VAHS Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự

2015 quy định như sau: Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can

Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ

Vai trò người bào chữa trong giai đoạn điều tra VAHS là việc dùng lý lẽ , đưa ra tài liệu, chứng cứ để xác định tình trạng vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm của bị can trong giai đoạn điều tra của vụ án.Với tính chất là một giai đoạn quan trọng trong quá trình tố tụng, giai đoạn điều tra là giai đoạn quan trọng của tố tụng hình sự, nhằm thu thập, củng cố, đánh giá chứng cứ để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án bởi theo quy định của BLTTHS

1.2.4 Các nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật TTHS:

Đặc điểm chung của mô hình tố tụng hình sự tồn tại 3 chức năng cơ bản: Chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử Sự ra đời của Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị khóa XI đã đặt cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục đổi mới và cải cách tư pháp Hoạt động tố tụng hình sự, nhất là giai đoạn điều tra VAHS được quan tâm hàng đầu trong vấn đề cải cách tư pháp không chỉ tại Việt Nam mà còn cả ở các nước trên thế giới Mục tiêu là bảo đảm việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh oan sai cho người vô tội gắn với việc đảm bảo quyền con người Trong quá trình hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam, các nhà nghiên cứu và lập pháp quan tâm đến pháp điển hoá chế định các nguyên tắc cơ bản nhằm bảo đảm quy định về nguyên tắc

Trang 25

cơ bản đúng nghĩa là những tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng và thực hiện Bộ luật TTHS, trên cơ sở bổ sung một số nguyên tắc Hiến pháp năm 2013

Bộ luật TTHS năm 2015 đã quy định 26 nguyên tắc cơ bản, trong đó có 03 nguyên tắc liên quan trực tiếp đến việc khẳng định, nâng cao vi thế, vai trò của

người bào chữa trong TTHS đó là:”Nguyên tắc suy đoán vô tội”- Đ13 - BLTTHS

năm 2015: “ Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được

chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Khi không đủ và không thể làm sáng

tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị

buộc tội không có tội“ Khoản 2 Điều 14 Công ước về các quyền dân sự và chính

trị năm 1966 của Liên hơp quốc (Việt Nam gia nhập ngày 24 tháng 9 năm 1982)

quy định : “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật” Điều 72

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) thể hiện tư tưởng suy đoán vô

tội qua nội dung quy định : “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” Điều 9- Điều 10 Bộ

luật TTHS năm 2003 ghi nhận tư tưởng về suy đoán vô tội, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định “ Người bị buộc tội” [19]

1.2.5 Các chức năng cơ bản trong Bộ luật TTHS:

Bộ luật TTHS năm 2015 quy định tại Điều 16 “ Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội ”

Trang 26

Chủ trương nhằm nâng cao vị trí, vai trò của người bào chữa, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, người bị bắt,bị tạm giữ,bị can, bị cáo trong

giai đoạn TTHS thể hiện trong các nghị quyết của Đảng và Hiến pháp năm 2013

chính là nền tảng cho việc bảo đảm dân chủ hoá hoạt động tố tụng, tạo thế độc lập, bình đẳng với các chủ thể có chức năng buộc tội Điều này có nghĩa ở đâu có việc buộc tội thì ở đó quyền bào chữa phải được thực hiện và tôn trọng nhằm chứng minh bị can, bi cáo không phạm tội hoặc giảm tội, giảm mức hình phạt .xâm phạm đến quyền tự do bào chữa thì không thể nào thực hiện các quyền tự do dân chủ khác Điều 31- Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định “ quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc nhờ người khác bào chữa là quyền con người”

Tội phạm là một hiện tượng xã hội có tính khách quan TTHS là hoạt động

cụ thể trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm, giai đọan điều tra VAHS là một khâu quan trọng trong hoạt động TTHS [9, tr 33]

Chức năng bào chữa là chức năng gỡ tội:

Buộc tội trong TTHS: là hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng nhằm xác

định trách nhiệm hình sự đối với người bị buộc tội trên cơ sở các chứng cứ về vụ

án hình sự đã được xác định Chính thời điểm này trong TTHS xuất hiện sư tranh tụng giữa bên buộc tội và bên bào chữa Tố tụng hình sự không được coi là dân chủ khi chức năng buộc tội không có đối tượng của nó là chức năng bào chữa

Sự đấu tranh nhằm phủ định giữa hai chức năng này chính là động lực làm cho hoạt động TTHS vận động và phát triển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác làm thay đổi bản chất của vụ án hình sự, từ chỗ chưa xác định được sư thật khách

Trang 27

quan của vụ án đến chỗ sự thật đó được làm sáng tỏ [8, tr 26-38]

Quyền của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Quyền bào chữa hướng tới ba mục đích:

Bãi bỏ sự buộc tội; Làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của bị can Các quyền và lợi ích ấy không trực tiếp liên quan tới việc làm giảm nhẹ trách nhiệm của bị can trong vụ án Đối tượng của quyền bào chữa có thể là: bị can; bị cáo; vừa là bị can vừa là bị cáo; người bị nghi thực hiện tội phạm; những công dân khác trong đó có cả người bị hại; người bị truy cứu trách nhiệm hình sự (người đang bị điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) Trong tố tụng hình sự, quyền bào chữa chỉ xuất hiện ở chỗ mà ở đó có sự buộc tội và quyền bào chữa thuộc về người nào khi người đó bị buộc tội, buộc tội trong tố tụng hình

sự là hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng nhằm xác định trách nhiệm hình sự đối với người bị buộc tội trên cơ sở các chứng cứ về vụ án hình sự đã xác định được tại thời điểm đó Do giá trị pháp lý của các chứng cứ khác nhau nên giá trị của sự buộc tội cũng khác nhau trong mỗi giai đoạn và tất yếu hậu quả pháp lý của sự buộc tội của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng cũng khác nhau [22, tr 41]

“Quyền im lặng” của người bị tạm giữ, tạm giam là “quyền con người” nhằm thể hiện sự đối xử công bằng giữa điều tra viên, các cơ quan tiến hành tố tụng có nhiều phương tiện, biện pháp đối với người bị tạm giữ, tạm giam Người bào chữa

do người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ lựa chọn Khoản 2 quy định mới về trách nhiệm của cơ quan đang quản lý người bị tạm giam phải chuyển đơn yêu cầu người bào chữa cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ Khoản 3 quy định mới về trường hợp người đại

Trang 28

diện hoặc người thân thích của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam

mà có đơn yêu cầu nhờ người bào chữa thì cơ quan đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có trách nhiệm giải quyết phải thông báo ngay cho người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam biết về việc người đại diện hoặc người thân thích của họ nhờ người bào chữa để có ý kiến đồng ý hay không đồng về việc nhờ người bào chữa

Quyền bào chữa của Luật sư :Trong giai đoạn điều tra, luật sư tham gia tố tụng để thực hiện chức năng bào chữa trong TTHS với mục tiêu là chứng minh sự

vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can, giúp bị can về mặt pháp lý trong việc bảo vệ quyền lợi của họ Để thực hiện chức năng của mình, luật sư sử dụng mọi biện pháp hợp pháp, kỹ năng, nghiệp vụ, kinh nghiệm, quyền và nghĩa

vụ của mình Vai trò của luật sư trong giai đoạn điều tra thể hiện ở các hoạt động

mà luật sư tham gia tố tụng trong giai đoạn này Hoạt động của luật sư và cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hướng tới mục đích là xác định sự thật khách quan của vụ án, bảo đảm các chứng cứ của vụ án được điều tra, thu thập một cách chính xác và khách quan, bảo đảm cho bị can thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình

Sự tham gia của luật sư trong giai đoạn điều tra không làm cản trở hoạt động điều tra VAHS của Điều tra viên, trái lại hoạt động của hai bên lại có mối quan hệ thúc đẩy, bổ sung cho nhau Trong giai đoạn này, luật sư phải thực hiện thủ tục để được tham gia với tư cách là người bào chữa của người bị tạm giữ, bị can Theo đó:

“Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ quy định, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra giấy tờ và thấy không thuộc trường hợp từ chối việc đăng ký bào chữa thì vào sổ đăng ký người bào chữa, gửi ngay văn bản thông báo người bào chữa cho người đăng ký bào chữa, cơ sở giam giữ và lưu các giấy

Trang 29

tờ liên quan đến việc đăng ký bào chữa trong hồ sơ vụ án; nếu xét thấy không đủ

điều kiện thì từ chối việc đăng ký bào chữa và phải nêu rõ lý do bằng văn bản”

Quyền bào chữa của Bào chữa viên nhân dân:

Người bào chữa là BCVND mang tính đặc thù riêng ở Việt Nam Được hình thành trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Pháp (theo Sắc lệnh số 69-SL, ngày

18 tháng 6 năm 1949) Theo Nghị định số 01 ngày 12 tháng 1 năm 1950 của Bộ

Tư pháp thì điều kiện trở thành BCVND chỉ bao gồm : có quốc tịch Việt Nam, ít nhất 21 tuổi, hạnh kiểm tốt và chưa can án Sau khi giành được chính quyền dân chủ nhân dân năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan niệm quyền bào chữa là một trong những quyền tự do cơ bản của công dân, nên cần thiết phải duy trì tổ chức luật sư cũ do Pháp thiết lập, có sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu mới của Cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10-10-1945, trong đó tạm thời cho duy trì các tổ chức đoàn thể luật sư.Với việc ban hành Sắc lệnh số 46/SL, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quán triệt tư tưởng về tính kế thừa cách mạng, trong đó có sự vận dụng linh hoạt các quy định pháp luật cũ, miễn là nội dung không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa

Hiến pháp năm 1946, để thiết kế bộ máy chính quyền cách mạng dân chủ nhân dân, đã quan tâm ghi nhận “Quyền tự bào chữa hoặc mượn luật sư” thành một nguyên tắc Hiến định trong lĩnh vực tư pháp

Bào chữa viên nhân dân được quy đinh trong BLTTHS năm 1988, năm 2003

và BLTTHS năm 2015 đều quy định :”Bào chữa viên nhân dân là công dân Việt

Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt,

có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao,

Trang 30

được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình”

Quyền của người bào chữa Trợ giúp viên pháp lý: Quy định tư cách của Trợ giúp viên pháp lý trong tham gia tố tụng hình sự: ghi nhận Trợ giúp viên pháp lý

là người bào chữa (Điều 72 Bộ luật TTHS), là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố (Điều 83 Bộ luật TTHS), là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự (Điều 84 Bộ luật TTHS) Quy định trách nhiệm cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng: Các cơ quan tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền được TGPL Đối với người thuộc diện được TGPL là: bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù,tù chung thân, tử hình; Người TGVPL phải có nghĩa vụ giám sát người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi để bảo đảm sự có mặt của họ khi có giấy triệu tập của cơ quan

có thẩm quyền tiến hành tố tụng; theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó theo quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một

số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án (khoản 1 Điều 418) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi thì Trung tâm TGPL Nhà nước phải cử người bào chữa cho họ theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Điều

76 Bộ luật TTHS)

Quyền của người đại diện người bị buộc tội : Pháp luật TTHS hiện hành quy

Trang 31

định quyền bào chữa thuộc về người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo và quyền này chỉ giới hạn trong việc bác bỏ một phần hay toàn bộ lời buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo Đối với việc bảo vệ các quyền và lợi ích các chủ thể đó không trực tiếp liên quan tới việc bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ trong vụ án không thuộc về giới hạn của quyền bào chữa

1.3 Nghĩa vụ của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

1.3.1 Nghĩa vụ bào chữa của Luật sư :

BLTTHS năm 2015 quy định về nghĩa vụ của người bào chữa tại khoản 2 Điều 73 như sau :

” sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định NBBT vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can; giúp NBBT về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ khi tham gia TTHS với vai trò là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật, luật sư có trách nhiệm phải thực hiện chức năng của mình”

Trong giai đoạn điều tra luật sư có nghĩa vụ giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can về mặt pháp lý như giải thích cho họ về quyền và nghĩa vụ, giải thích những quy định của pháp luật có liên quan đến trách nhiệm hình sự của họ, giúp bị can thực hiện một số yêu cầu với CQĐT, giúp bị can khai báo hoặc trao đổi thống nhất với bị can về hướng bào chữa Mặt khác trong giai đoạn điều tra, khi thực hiên quyền của mình luật sư giữ vai trò bảo vệ quyền lợi cho bị can không bị xâm phạm bởi các hoạt động sai trái, tiêu cực của CQĐT bằng việc tham gia hỏi cung

Trang 32

bị can cùng CQĐT để tránh việc ép cung, mớm cung gây bất lợi cho bị can và tham gia các hoạt động điều tra khác Không được từ chối bào chữa cho NBBT

mà mình đã đảm nhận việc bào chữa Luật sư thể hiện trách nhiệm, không tiết lộ thông tin về vụ án, về người buộc tội mà mình biết khi bào chữa, không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước

1.3.2 Nghĩa vụ của Bào chữa viên nhân dân:

Bào chữa viên nhân dân là một chủ thể tư pháp có tư cách của người bào chữa trong tố tụng hình sự Tuy nhiên, trong thực tiễn tố tụng hình sự ở Việt Nam, việc xem xét thủ tục chứng nhận tư cách người bào chữa, các nguyên tắc, phạm vi hành nghề lại chưa được hướng dẫn và quy định chi tiết, dẫn đến các cơ quan tiến hành tố tụng các cấp gặp rất nhiều khó khăn trong việc đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụ của bào chữa viên nhân dân

Ngoài những thực tế vướng mắc tại thành phố Hồ Chí Minh về các quy định liên quan đến chế định và thủ tục cấp Giấy chứng nhận người bào chữa cho bào chữa viên nhân dân trong quá trình tham gia vụ án từ giai đoạn điều tra Chế định bào chữa viên nhân dân được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) tuy là sự kế thừa mang yếu tố lịch sử, nhưng đã chuyển hóa “nội hàm” khái niệm này từ chỗ bất kỳ là “công dân nào không phải là luật sư”, thành bào chữa viên nhân dân do Mặt trận, tổ chức thành viên mặt trận cử ra bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình Tuy nhiên, các quy định pháp lý có liên quan, cũng như từ thực tiễn trong giai đoạn điều tra VAHS thì hầu hết không có vai trò của bào chữa viên nhân dân Mặc dù có tham gia với tư cách Bào chữa viên nhân dân nhưng nhìn chung chất lượng hành nghề vướng mắc do

Trang 33

những hạn hẹp về kiến thức pháp luật

1.3.3 Nghĩa vụ của Trợ giúp viên pháp lý

Trong lĩnh vực tư pháp được Nhà nước bảo vệ, bảo đảm thực hiện thông qua các quy định của pháp luật trong cả quá trình tố tụng, giải quyết vụ án, từ giai đoạn điều tra, truy tố đến xét xử, thi hành án… Nhà nước đã đề cao và bảo vệ quyền con người trong hoạt động tố tụng bằng cách đặt vị thế của trợ giúp viên pháp lý, trong quá trình giải quyết vụ án

1.3.4 Nghĩa vụ của người đại diện người bị buộc tội

Người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, người bị hại là một trong những điểm rất mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) Điểm mới đầu tiên là người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, khi nhận được giấy triệu tập của cơ quan điều tra có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình theo điều 57 BLTTHS 2015.Phù hợp với quy định này, điều 83 BLTTHS 2015 quy định diện chủ thể mới là “người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố”

1.4 Lịch sử hình thành và phát triển địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam

Một trong những quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người đó là quyền

Trang 34

công dân trong hoạt động tư pháp mà cụ thể là quyền bào chữa trong TTHS Để thực hiện nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, pháp luật TTHS quy định cho họ quyền được nhờ người khác bào chữa, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chỉ có thể thực hiện được quyền này Vai trò người bào chữa và người đại diện hợp pháp là hai tư cách độc lập Người bào chữa trong TTHS là người tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội Quan điểm này nó làm rõ mục đích người bào chữa tham gia tố tụng, phân biệt được người bào chữa với Người tiến hành tố tụng Nhằm đảm bảo chặt chẽ về thủ tục, trình tự bào chữa đối với người bào chữa

Người chưa thành niên (Đ-422- BLTTHS 2015) quy định: Việc bào chữa như sau: “Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Người đại diện của người dưới 18 tuổi bị buộc tội có quyền lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho người dưới 18 tuổi bị buộc tội Nếu họ không có người bào chữa hoặc người đại diện của họ không lựa chọn người bào chữa thì CQĐT, VKS, TA phải chỉ định người bào chữa” Đối với các trường hợp chỉ định người bào chữa đối với bị can, bị cáo được quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tủ, tù chung thân, tử hình, bắt buộc phải

có người bào chữa.Như vậy, so với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 mở rộng phạm vi bắt buộc phải có người bào chữa để đảm bảo quyền con người ngày càng

được tôn trọng bảo đảm, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội

1.5 Những yếu tố tác động đến vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Trang 35

1.5.1 Vai trò của cơ quan THTT, người THTT trong giai đoạn điều tra VAHS

Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó cơ quan điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dưới sự kiểm soát của Viện Kiểm sát tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự Phát hiện tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự, trên

cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình sự, chuyển toàn bộ tài liệu của vụ

án đó cho Viện Kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can

1.5.2 Các yếu tố tác động vai trò người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Thực tiễn cho thấy, không phải người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự nào cũng có khả năng tự bào chữa, tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình BLTTHS

2015 đã mở ra và ghi nhận việc đảm bảo quyền bào chữa cho người bị bắt được đảm bảo quyền bào chữa của mình nhưng trên thực tế, việc áp dụng quy định này gặp khó khăn nhất định

Kết luận chương 1

Trang 36

Bào chữa là một trong những quyền cơ bản của người bị tạm giữ, bị can được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 BLTTHS 2015đã mở rộng quyền bào chữa cho chính họ Với tính chất là một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự, giai đoạn điều tra vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để chứng minh việc thực hiện tội phạm và người phạm tội, xác định rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đồng thời kiến nghị các cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng đầy đủ các biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm Giai đoạn điều tra vụ án hình

sự là chức năng quan trọng trong hoạt động tư pháp hình sự của cơ quan (người) tiến hành có thẩm quyền đối với mỗi hành vi phạm tội nhằm trực tiếp chứng minh hành vi phạm tội và người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm thông qua các chứng cứ đã thu thập được, đồng thời cũng là một trong những phương tiện cơ bản để thực hiện tốt nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự, tránh bỏ lọt tội phạm Vai trò người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự cũng góp phần loại trừ, ngăn chặn kịp thời việc thông qua quyết định khởi tố bị can một cách không thận trọng, thiếu chính xác và

do vậy, có thể sẽ kéo một loạt hậu quả tiêu cực tiếp theo xảy ra trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự ở các giai đoạn tố tụng hình sự Tuy nhiên trong thực tiễn, người bị tạm giữ, bị can rất mong muốn được mời người bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, khi tiến hành thủ tục theo quy định thì cơ quan điều tra từ chối Thực tế còn gặp rất nhiều nơi cơ quan điều tra áp dụng tùy nghi, cảm tính Trong giai đoạn này các điều tra viên là người nắm quyền chủ động, thiên về hướng buộc tội, người bị buộc tội thường có tâm lý hoang mang giao động, không ổn định trong lời khai đó đó dẫn đến có những lời khai không

Trang 37

giống nhau Do đó khi người bào chữa tham gia vào quá trình điều tra có những lời khai không thống nhất, mâu thuẫn, không chính xác, trung thực Đặc biệt quá trình tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự ngay từ giai đoạn điều tra, nhận thấy rằng, các quy định của pháp luật hiện hành vẫn còn nhiều bất cập trong thực tiễn, gây khó khăn cho người bào chữa trong giai đoạn điều tra VAHS thực hiện công việc của mình.Quá trình thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra, mọi việc đều được làm theo đúng quy định của pháp luật và kết quả thu được từ hoạt động này hoàn toàn có đủ cơ sở pháp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết công việc tiếp theo được chuẩn mực, trên thực tế việc còn rất nhiều hạn chế

Xuất phát từ cơ sở lý luận cũng như thực tiễn như vậy, việc nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân của thực trạng, từ đó có giải pháp nhằm bảo đảm vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là vô cùng cần thiết

Trang 38

mình vô tội trước các cáo buộc của các cơ quan tiến hành tố tụng

Thứ nhất, về chủ thể của quyền bào chữa : Theo quy định của Hiến pháp năm

2013, chủ thể của quyền bào chữa bao gồm: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử” Người bị buộc tội gồm “Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”

Chủ thể của quyền bào chữa gồm cả luật sư, trợ giúp viên pháp lý và những chủ thể khác được pháp luật quy định vì họ được thực hiện quyền bào chữa trong TTHS Bộ luật TTHS 2015 khẳng định: “Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa”

Thứ hai, Hiến pháp năm 2013” Quyền bào chữa là một quyền đặc biệt của

người bị buộc tội bảo vệ mình trước các hành vi của các cơ quan tiến hành tố

Trang 39

tụng trong quan hệ pháp luật hình sự”, nên quyền này phát sinh từ thời điểm

quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân bị hạn chế bởi các hoạt động tố tụng và kết thúc khi có quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng khẳng định người này có tội hoặc không có tội

Thứ ba, về nội dung của quyền bào chữa.Trong TTHS, quyền bào chữa luôn song hành với nguyên tắc suy đoán vô tội: “Người bị buộc tội được coi là không

có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Nội dung của quyền bào chữa không phải là chống lại sự buộc tội mà phải khẳng định quyền bào chữa là quyền để chống lại sự

vi phạm pháp luật của các chủ thể tiến hành tố tụng hay quyền buộc những chủ thể tiến hành tố tụng phải thực hiện đúng quy định của pháp luật

Hiến pháp 1946, 1959, 1980 đều xếp “Quyền” bào chữa trong chương về cơ

quan Tư pháp Hiến pháp năm 2013 mở rộng Quyền bào chữa đối với “Người bị

bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra Đó là” Quyền cơ bản của công dân, quyền con người”

Thực hiện chiến lược cải cách tư pháp, nhiều văn bản luật ra đời nhằm tạo cơ

chế pháp lý bảo đảm thực hiện quyền bào chữa như: Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật

Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát, Luật Luật sư, Luật Trợ giúp pháp lý và nhiều văn bản dưới luật khác

2.2 Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 40

2.2.1 Thực tiễn thực hiện việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Những vi phạm trong bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, nhất là quyền được nhờ người khác bào chữa dẫn đến vi phạm thủ tục tố tụng hình

sự như :

Thứ nhất: Hiện nay, vai trò người bào chữa khi tham gia TTHS còn gặp khó

khăn trong việc tiếp cận vụ án trong giai đoạn điều tra ngay từ đầu do sự chậm trễ về thủ tục cấp văn bản thông báo người bào chữa của CQĐT là vi phạm phổ biến Vai trò người bào chữa trong giai đoạn điều tra với thực tiễn tại thành phố Hồ Chí Minh tập trung chủ yếu vai trò bào chữa là luật sư Tuy nhiên còn gặp khó khăn trong việc tiếp xúc với người bị tạm giữ, bị can; có mặt trong các cuộc hỏi cung bị can, trong việc thu thập chứng cứ, việc nghiên cứu và ghi chép, sao chụp hồ sơ, tài liệu của vụ

án

Thứ hai: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không yêu cầu cử luật sư cho bị can là

người chưa thành niên; cho bị can bị khởi tố, truy tố về tội có khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình Các quan niệm trên đều không chính xác Theo quy định của pháp luật TTHS trước khi ban hành BLTTHS năm 1988, thì chỉ Tòa án mới phải có trách nhiệm chỉ định người bào chữa trong trường hợp bị can, bị cáo chưa thành niên, bị cáo có thể bị xử phạt tử hình

Vì thế, việc CQĐT, VKS không yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử luật sư cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận tổ quốc, tổ chức thành viên

Ngày đăng: 21/06/2019, 10:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w