MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, song cũng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. Đấu tranh phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ thường xuyên được đặt ra đối với Nhà nước và toàn xã hội. Bộ luật Hình sự ra đời, đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (LDTNCĐTS) là tội phạm truyền thống, phổ biến trong sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi nền kinh tế phát triển đã xuất hiện nhiều mặt tiêu cực, trong đó có các vấn đề liên quan đến xâm phạm sở hữu đã kéo theo nhũng hệ luỵ cho đầu tư sản xuất, cho nền kinh tế và cho chính người sở hữu. Tình trạng cho vay vốn với lãi xuất cao do người dân tự huy động, không có sự đảm bảo của pháp luật vẫn diễn ra phức tạp, đã xảy ra nhiều vụ vỡ nợ, mất khả năng thanh toán và có dấu hiệu cấu thành tội LDTNCĐTS. Bên cạnh đó, những sơ hở, thiếu sót trong quản lý Nhà nước về hụi, họ, phường, dịch vụ cầm đồ, dịch vụ cho thuê ôtô, xe máy và thói quen chỉ dựa vào tình cảm, niềm tin để vay, mượn, cho thuê tài sản đã làm cho tội phạm LDTNCĐTS tăng cao. Theo số liệu thống kê của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, từ năm 2009 đến 2015 trên cả nước xảy ra 2.995 vụ án LDTNCĐTS thuộc thẩm quyền điều tra của lực lượng cảnh sát, gây ra thiệt hại cho Nhà nước và cá nhân trên 1.456.8 tỉ đồng và hàng năm có xu hướng gia tăng về số vụ và tính chất nghiêm trọng. Cụ thể, từ năm 2011 đến 2015, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh xảy ra 30.344 vụ án xâm phạm sở hữu. Cụ thể, năm 2011 xảy ra 6057 vụ, năm 2012 xảy ra 6098 vụ, năm 2013 xảy ra 6138 vụ, năm 2014 xảy ra 6301 vụ, năm 2015 xảy ra 5750 vụ. Qua thực tiễn xét xử trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, loại tội phạm về xâm phạm sở hữu đang diễn biến phức tạp. Nghiên cứu các bản án từ thực tiễn xét xử của Toà án hai cấp (sơ thẩm và phúc thẩm) cho thấy còn một số tồn tại, bất cập trong quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự (BLHS).Trong đó vấn đề định tội danh và quyết định hình phạt là hai nội dung chính, có ý nghĩa quan trọng trong việc xét xử đối với loại tội phạm này trong thực tiễn. Nhằm góp phần tích cực trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng trong tình hình mới và đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục hạn chế, tồn tại, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật… Do đó, tác giả chọn đề tài “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận án tiến sĩ Luật học của mình.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƯƠNG THỊ HẢI YẾN
TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số : 9.38.01.04
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS Võ Khánh Vinh
HÀ NỘI, 2018
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 7
1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.3 Đánh giá chung tình hình nghiên cứu 18
1.4 Những vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu 19
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 22
2.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 22
2.2 Các dấu hiệu định khungcủa tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 38
2.3 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội danh khác 44
2.4 Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 50
2.5 Một số vấn đề lý luận vềđịnh tội danh và quyết định hình phạt trong pháp luật hình sựvề tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 59
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 87
3.1 Thực tiễn định tội danh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 88
3.2 Thực tiễn áp dụng hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 116
Trang 3Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG PHÁP LUẬT
VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 123
4.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự 123
4.2 Tổng kết thực tiễn và hướng dẫn áp dụng pháp luật 128
4.3 Nâng cao năng lực của cán bộ bảo vệ pháp luật 142
4.4 Các giải pháp khác 146
KẾT LUẬN 151
CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 153
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 154
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BLHS - Bộ luật Hình sự
BLTTHS - Bộ luật Tố tụng hình sự
CQĐT TP – Cơ quan điều tra tội phạm
LDTNCĐTS – Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
TAND – Tòa án nhân dân
TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh
TTXH: Trật tự xã hội
VKSND – Viện Kiểm sát nhân dân
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, song cũng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp Đấu tranh phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ thường xuyên được đặt ra đối với Nhà nước và toàn xã hội Bộ luật Hình sự ra đời, đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (LDTNCĐTS) là tội phạm truyền thống, phổ biến trong sản xuất, kinh doanh Đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi nền kinh tế phát triển đã xuất hiện nhiều mặt tiêu cực, trong đó có các vấn đề liên quan đến xâm phạm sở hữu đã kéo theo nhũng hệ luỵ cho đầu tư sản xuất, cho nền kinh tế và cho chính người sở hữu Tình trạng cho vay vốn với lãi xuất cao do người dân tự huy động, không có sự đảm bảo của pháp luật vẫn diễn ra phức tạp, đã xảy ra nhiều vụ vỡ nợ, mất khả năng thanh toán và có dấu hiệu cấu thành tội LDTNCĐTS Bên cạnh đó, những sơ hở, thiếu sót trong quản lý Nhà nước về hụi,
họ, phường, dịch vụ cầm đồ, dịch vụ cho thuê ôtô, xe máy và thói quen chỉ dựa vào tình cảm, niềm tin để vay, mượn, cho thuê tài sản đã làm cho tội phạm LDTNCĐTS tăng cao
Theo số liệu thống kê của Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, từ năm 2009 đến 2015 trên cả nước xảy ra 2.995 vụ án LDTNCĐTS thuộc thẩm quyền điều tra của lực lượng cảnh sát, gây ra thiệt hại cho Nhà nước và cá nhân trên 1.456.8 tỉ đồng và hàng năm có xu hướng gia tăng về số vụ và tính chất nghiêm trọng Cụ thể, từ năm 2011 đến 2015, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh xảy ra 30.344 vụ án xâm phạm sở hữu Cụ thể, năm 2011 xảy ra 6057 vụ, năm
2012 xảy ra 6098 vụ, năm 2013 xảy ra 6138 vụ, năm 2014 xảy ra 6301 vụ, năm
2015 xảy ra 5750 vụ
Qua thực tiễn xét xử trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, loại tội phạm về xâm phạm sở hữu đang diễn biến phức tạp Nghiên cứu các bản án từ thực
Trang 6tiễn xét xử của Toà án hai cấp (sơ thẩm và phúc thẩm) cho thấy còn một số tồn tại, bất cập trong quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong Bộ luật Hình sự (BLHS).Trong đó vấn đề định tội danh và quyết định hình phạt là hai nội dung chính, có ý nghĩa quan trọng trong việc xét xử đối với loại tội phạm này trong thực tiễn
Nhằm góp phần tích cực trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm nói chung và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng trong tình hình mới và đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục hạn chế, tồn tại, bất cập trong quá
trình áp dụng pháp luật… Do đó, tác giả chọn đề tài “Tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận án tiến sĩ Luật học của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận, những quy định pháp lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản qua nghiên cứu các bản án đã được định tội danh và quyết định hình phạt của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, với tội phạm này từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện những quy định về tội danh này trong Bộ luật Hình sự
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án đưa ra các vấn đề cần nghiên cứu sau đây:
- Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Làm rõ những vấn đề lý luận về tội LDTMCĐTS theo pháp luật hình sự Việt Nam như khái niệm, các dấu hiệu pháp lý, phân biệt các tội phạm về xâm phạm sở hữu Khái quát lịch sử lập pháp về tội LDTNCĐTS ở Việt Nam
- Đánh giá khách quan, toàn diện về thực trạng áp dụng quy định của pháp luật trong quá trình định tội danh và quyết định hình phạt về tội LDTNCĐTS trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng 10 năm (2006 - 2016)
Trang 7- Luận án đưa ra những vấn đề còn hạn chế, bất cập trong thực tiễn khi áp dụng pháp luật đối với tội LDTNCĐTS Qua đó đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử đối với tội LDTNCĐTS ở Việt Nam trong thời gian tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật hình sự cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội LDTNCĐTS trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của luận án là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo chuyên ngành Luật hình sự từ thực tiễn xét xử tại thành phố Hồ Chí Minh Cụ thể:
Về Nội dung:
Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận, những quy định pháp lý về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tổng kết thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội phạm này từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện những quy định về tội danh này trong BLHS năm 1999 và một số vấn đề về tội LDTNCĐTS tại Điều 175 BLHS năm 2015
Tác giả tập trung tiến hành đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng việc áp dụng pháp luật hình sự về tội LDTNCĐTS xem xét 2 cấp của Toà án là cấp sơ thẩm và phúc thẩm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Việc áp dụng pháp luật không chỉ có định tội danh và quyết định hình phạt, nhưng tác giả chỉ xem xét định tội danh và quyết định hình phạt trong xét xử tội LDTNCĐTS trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để từ đó phát hiện những vấn đề còn tồn tại, đưa ra các kiến nghị, giải pháp cụ thể cho việc áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội LDTNCĐTS
Về không gian, thời gian:
Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự, việc áp dụng tội LDTNCĐTS trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ
Trang 82006-2016 Cụ thể từ khi Luật hình sự 1999, (sửa đổi 2009) có hiệu lực đến khi Luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017) có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, nghiên cứu sinh đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp lôgíc lịch sử cụ thể được sử dụng trong nghiên cứu tài liệu, đọc và tìm hiểu về lịch sử của vấn đề nghiên cứu; nghiên cứu một cách có hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định, Nghị định, các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các Bộ, Ban, Ngành có liên quan về các vấn đề tội LDTNCĐTS (Chương 1, 2)
- Phương pháp khảo sát, thống kê gần 500 vụ án được xét xử trong thời gian
từ 2006 đến 2016 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; thông qua các Báo cáo tổng kết của Cục Cảnh sát Điều tra tội phạm về trật tự xã hội; Nghiên cứu hồ sơ vụ án LDTNCĐTS ở Cơ quan lưu trữ tại Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh
- Phương pháp nghiên cứu điển hình, nghiên cứu các vụ án tiêu biểu trong số các bản án đã được Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử, trong đó có sự lựa chọn các vụ án phân tích theo mức độ, tính chất, số người bị xét xử trên địa bàn các quận, huyện Tỷ lệ vụ án xảy ra đa phần là ở các địa phương có nền sản xuất, kinh tế phát triển hơn
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Nghiên cứu, phân tích các vụ án
để có đánh giá chung về tình hình, mức độ và thực tiễn xét sử, định tội danh và quyết định hình phạt tội LDTNCĐTS (Chương 2, 3) để từ đó rút ra những ưu điểm,
Trang 9hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế để từ đó đề xuất các giải pháp (Chương 4)
- Phương pháp hệ thống hoá được sử dụng nhằm trình bày luận án theo một bố cục, trình tự các vấn đề một cách hợp lý, chặt chẽ, có sự gắn kết về nội dung và hình thức; có sự kế thừa và phát triển về quá trình định tội danh và quyết định hình phạt
5 Những điểm mới của luận án
Đây là công trình khoa học ở cấp độ tiến sỹ tiếp cận một cách toàn diện và có hệ thống về tội LDTNCĐTS Đề tài nghiên cứu đóng góp những điểm mới như sau:
- Khái quát hóa các quan điểm về tội LDTNCĐTS
- Làm sáng tỏ những điểm còn hạn chế, bất cập chưa được phù hợp với thực tiễn khi áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Nêu ra những vấn đề còn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định của luật hình sự đối với tộiLDTNCĐTS, đồng thời chỉ ra những hạn chế thiếu xót chưa phù hợp trong quy định của pháp luật đối với những vướng mắc đó
- Đề xuất, kiến nghị một số vấn đề còn hạn chế để hoàn thiện quy định của luật hình sự Việt Nam đối với tội LDTNCĐTS và xây dựng khái quát mô hình lý luận đối với nhóm tội này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận
Luận án góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và pháp lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Vì vậy, công trình này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong các trường đại học, học viện đào tạo chuyên về luật
Bên cạnh đó luận án cũng đánh giá và chỉ ra một số vướng mắc, bất cập khi áp dụng pháp luật để từ đó đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật Luận án cũng cung cấp thông tin hữu ích cho việc nghiên cứu thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, có giá trị trong việc nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện Bộ luật Hình sự hiện hành
Trang 106.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng để thống nhất về nhận thức các quy định của pháp luật về tội LDTNCĐTS góp phần khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật, qua đó giúp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Luận án được kết cấu thành 4 Chương, cụ thể:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản
Chương 3: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật hình sự về tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Chương 4: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật về tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Vấn đề về LDTNCĐTS cho đến nay đã có không ít các công trình khoa học, các bài viết đề cập và nghiên cứu về vấn đề này Mỗi công trình nghiên cứu đều đề cập dưới một góc độ nhất định và đều có ý nghĩa đóng góp vào quá trình nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng, đồng thời góp phần tích cực trong công cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm trong giai đoạn hiện nay
1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Theo Báo cáo của Cục điều tra Liên bang Hoa Kỳ (FBI), phát hành tháng
9/2011 thì tội phạm xâm phạm sở hữu được các nước gọi là “Property crime”- (các tội xâm phạm tài sản) Theo định nghĩa của FBI thì, Tội phạm xâm phạm sở hữu bao gồm các cấp độ Ở cấp độ 1 là các tội phạm về đột nhập, trộm cắp, trộm ôtô, phóng hoả; Cấp độ 2 là các tội bao gồm: Hối lộ, làm hàng giả, giả mạo giấy tờ, tống tiền, tham ô, phá hoại tài sản công và lừa đảo.Trong nghiên cứu này, FBI đã đưa ra định nghĩa về tội xâm phạm sử hữu, nhưng cụ thể trong đó chưa có tội LDTNCĐTS Ở cấp độ 1, là các tội phạm thuộc vào nhóm xâm phạm sở hữu tài sản, nhưng ở cấp độ 2 thì khái niệm mở rộng hơn ra với cả tội hối lộ, làm hàng giả, giả mạo giấy tờ, tống tiền, tham ô, phá hoại tài sản Ở cấp độ 2, chỉ có tội lừa đảo là giống với quy định của BLHS Việt Nam Và báo cáo này, chưa nêu lên được định nghĩa về tội xâm phạm sở hữu
Theo Viện nghiên cứu Tội phạm học quốc gia của Australia định nghĩa: “Tội
phạm xâm phạm tài sản là một trong những tội phạm phổ biến nhất tại Australia, liên quan tới việc phá hoại hoặc làm hư hỏng nhà cửa, công xưởng và đất đai cũng như các tội về đánh cắp ôtô và trộm cắp đột nhập nhà”.Như vậy, các khái niệm nêu trên đã góp phần làm rõ nội hàm và những bộ phận hợp thành của hành vi xâm phạm sở hữu, có thể thấy những nét tương đồng trong tiếp cận, khái quát vấn đề
Trang 12của những quan điểm đề cập.Tuy đã đưa ra định nghĩa về tội xâm phạm sở hữu, nhưng trong tội xâm phạm sử hữu trên mới chỉ đưa ra các tội trộm cắp, phá hoại tài sản mà chưa đưa ra hành vi lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản
Chuyên khảo “Tội phạm xâm phạm tài sản” (Crime ofpropertyinfringement)
của tác giả Jacques Parry, nhà xuất bản Waterlow, London 1989 Tác giả Jacques Parry đã đưa ra một số vụ án đã xảy ra và phân tích một số tội phạm liên quan đến
sở hữu và tài sản theo luật hình sự Vương quốc Anh.Trong đó, các tài sản này thuộc phạm vi quản lý hoặc không thuộc phạm vi quản lý của người phạm tội và tài sản bị xâm phạm sở hữu dưới các hình thức sử dụng các mánh khoé để lừa gạt hoặc
đe doạ trong các giao dịch Tác giả dành hai chương phân tích giải quyết các vấn đề liên quan đến xâm phạm sở hữu thông qua thủ đoạn lừa gạt, đe doạ, trong đó có nhấn mạnh đến thủ đoạn lừa gạt tài sản Chuyên khảo chủ yếu mới đề cập đến vấn
đề lừa gạt tài sản, cụ thể là vấn đề lừa đảo, chưa có những nội dung về tội lạm dụng tín nhiệm để lừa gạt tài sản [70]
Tác giả Stijin Van Deale Organnised property crimes in Belgium: the case
of the “itierant crime groups”, Global Crime, Vol 0, No 3 241- 247, Ghent University, Belgium, August 2008 (Stijin Van Deale, Tội phạm xâm phạm sở hữu
có tổ chức tại Bỉ: Trường hợp “Các băng nhóm tội phạm hoạt động lưu động”, Tạp chí Tội phạm toàn cầu, Tập 9, số 3 trang 241-247, Đại học Ghent, Bỉ, 2008) Bài viết phân tích về hiện tượng các băng nhóm tội phạm hoạt động lưu động đang được các cơ quan thực thi pháp luật tại Bỉ và các nước Tây Âu chú ý trong thời gian gần đây Mối quan tâm này bắt nguồn từ sự nhận thức nhiều hơn về tình trạng tội phạm xâm phạm sở hữu gia tăng trong xã hội và dẫn đến nhiều quan điểm nghiên cứu trên các phương diện: tội phạm học, chính sách phòng chống tội phạm Trong nghiên cứu đề cập cụ thể đến tội cướp giật, cưỡng đoạt tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu, nhưng trong đó chưa đề cập đến hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản [72]
Chuyên khảo “Property crime in townhouse developments: An assess of physical design and crime rate” - (Tội xâm phạm sở hữu trong phát triển nhà ở đô
Trang 13thị: Đánh giá về thiết kế tự nhiên và tỷ lệ tội phạm) của tác giả Sandro Basennese, Đại học Guelph, Canada 1999 Chuyên khảo đã đánh giá mối quan hệ giữa các thiết
kế tự nhiên ở khu nhà đô thị với tình hình tội phạm liên quan đến xâm phạm tài sản tại Waterloo (Canada) để minh chứng cho giả thuyết về sự tác động của không gian
đô thị, với các thiết kế tự nhiên thấp thì nguy cơ các loại tài sản bị xâm phạm sở hữu nhiều hơn, nhưng nghiên cứu này chủ yếu đánh giá đến các tội phạm liên quan đến chiếm đoạt tài sản như trộm cắp, đột nhập nhà ở, không có nhiều liên quan đến tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản [73]
Chuyên khảo“Investigation and Prevention of financial Crime: Knowledge Management, Intelligencestrategy and Executive Leadership” (phòng ngừa và điều tra tội phạm tài chính, kiến thức quản lý, chiến lược thu thập thông tin và lãnh đạo) của tác giả Peter Gottschalk, Nhà xuất bản Ashgate Publishing Ltd, Hoa Kỳ 2010 Chuyên khảo tập trung vào các loại tội phạm kinh tế: lừa đảo, trộm cắp, đầu cơ, tham nhũng Tác giả đi sâu vào việc làm rõ tội phạm có tổ chức, tội phạm qua mạng iternet, tham nhũng và đề ra các giải pháp sử dụng thông tin cũng như công tác quản lý, điều hành trong quá trình điều tra Chuyên khảo chủ yếu để phục vụ cho đối tượng là cảnh sát, nhân viênan ninh mạng, nhân viên quản lý rủi ro trong ngân hàng Trong chuyên khảo tập trung chủ yếu vào nghiên cứu việc sử dụng công nghệ vào để chiếm đoạt tài sản, chủ yếu là lừa đảo, đầu cơ… nên không nghiên cứu
về tội lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản nhưng tác giả đã cho bạn đọc một cách tiếp cận, quản lý và tiến hành điều tra đối với một số tội xâm phạm sở hữu đã nêu ở trên [76]
Công trình: “DNA and Property Crime Scene Investigation: Forensic Evidence and Law Enforcement” của tác giả David A Makin, nhà xuất bản: Ruotledge; xuất bản lần đầu năm 2014 Tác giả đã đưa vấn đề Điều tra về hiện trường và chứng cứ Trong nội dung cuốn sách xem xét các kinh nghiệm của các nhân viên tuần tra, chỉ huy nhân viên, thám tử và các nhà lãnh đạo khi họ tìm kiếm các bằng chứng pháp y trong các vụ án hình sự, đặc biệt là các vụ tội phạm về tài sản Điều tra hiện trường về tội phạm bằng DNA và tài sản xem xét tình trạng hiện
Trang 14tại của công nghệ pháp y, và sử dụng các cuộc phỏng vấn với cảnh sát, nhân viên chỉ huy, kỹ thuật viên pháp lý và công tố viên, làm sáng tỏ những người đang làm công việc điều tra pháp y Nó khám phá cách thức đào tạo tốt hơn có thể làm giảm tình trạng quá tải trong việc xử lý chứng cứ pháp y và ngăn ngừa những sai sót quan trọng Kết luận với quan điểm của một cảnh sát trưởng về phương pháp tiếp cận, DNA và Điều tra tội phạm tài sản cung cấp cái nhìn sâu sắc về một cách tiếp cận mới và quan trọng đối với việc điều tra hiện trường tội phạm [74]
Công trình “Cultural Property Crime: An Overviwe and Analysis and Analysis on Contempoary Perspectives and Trends” của các tác giả Joris D Marc Balcells, nhà xuất bản: Brill Academic Pub (16/10/2014)…Trong tội phạm về tài sản văn hoá (Cultural Property Crime), các chuyên gia trong lĩnh vực tội phạm học, luật nghệ thuật, nghiên cứu di sản, thực thi pháp luật, tâm lý pháp y, khảo cổ học, lịch sử nghệ thuật và báo chí cung cấp những quan điểm đa ngành về khái niệm tội phạm về tài sản văn hoá hiện nay, bao gồm tội phạm nghệ thuật Ngoài ra, công trình đề cập đến sự phát triển quốc tế, luật pháp và thực tiễn về việc hình sự hóa các hành động chống lại tài sản văn hoá ngày càng tăng trong thời điểm xung đột Trong đó, đặc biệt chú ý đến tình trạng thay đổi và sự thẩm định bất thường về tài sản văn hoá như là đối tượng của các tội phạm nghệ thuật Cuốn sách bao gồm nhiều chủ đề như giả mạo, tội phạm cổ trắng, cướp bóc khảo cổ và ảnh hưởng của chiến tranh đối với di sản văn hoá Các tác giả đã tiếp cận trên việc tổng hợp tri thức đa ngành từ lĩnh vực tội phạm học, luật nghệ thuật, nghiên cứu di sản, thực thi pháp luật, tâm lý pháp y, khảo cổ học, lịch sử nghệ thuật và báo chí để xem xét về tội phạm xâm phạm tài sản trong văn hoá (các tác phẩm nghệ thuật, khâu thẩm định, sự thay đổi bất thường về giá trị…) [75]
Từ các nghiên cứu trên, tác giả bước đầu đưa ra một số kết luận:
Tội xâm phạm sở hữu là loại tội phạm phổ biến trong đấu tranh phòng chống tội phạm các nước.Có nhiều công trình khoa học đề cập đến từ lĩnh vực nghiên cứu, điều tra, truy tố, xét xử Tuy nhiên, theo tiếp cận của tác giả,các công trình này hầu như mới chỉ dừng lại ở việc phân tích, đánh giá thực trạng của việc điều tra, truy tố,
Trang 15xét xử tội phạm xâm phạm sở hữu Những công trình mà tác giả tiếp cận được mới chỉ đề cập đến tội phạm sở hữu nói chung mà chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, các nghiên cứu trên chỉ đề cập chung về tội phạm sở hữu mà thôi
Các công trình nêu trên đã tiếp cận những vấn đề liên quan đến đặc điểm, phương thức, thủ đoạn phạm tội xâm phạm sở hữu nói chung Các nghiên cứu cũng
đã đưa các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn.Nhưng chủ yếu các tác giả lại tiếp cận
ở góc độ tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, ít đề cập về vấn đề lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nên ít có giá trị về phương pháp luận và hướng giải quyết
có liên quan đến đề tài này Tuy vậy, việc tiếp thu, kế thừa, chắt lọc những yếu tố phù hợp trong nghiên cứu đề tài và sự phù hợp vào điều kiện thực tế của Việt Nam cũng như ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Do không có sự tương thích về quy định nội dung các tội danh trong pháp luật hình sự của các quốc gia trên thế giới, vì vậy chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào ở nước ngoài mà tác giả tiếp cận theo hướng nghiên cứu các vụ án đã được xét xử
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về các nội dung thuộc nhóm các tội xâm phạm sở hữu Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài nghiên cứu
mà tác giả sẽ tiếp thu để làm rõ những nội dung trong luận án của mình, cụ thể:
Nhóm các công trình giáo trình, sách chuyên khảo như:
Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự; Võ Khánh Vinh (Ch.b),
Phạm Hồng Hải, Hồ Trọng Ngũ: Nxb: Công an nhân dân; H: 2004 Trong đó các tác giả bình luận về nội dung của từng điều luật và những điều luật mới được bổ sung trong Bộ luật Tố tụng hình sự đã được sửa đổi năm 2003 gồm: những quy định chung, khởi tố, điều tra vụ án hình sự và quyết định việc truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, thi hành bản án và quyết định của Toà án, xét lại bản án
và quyết định đã có hiệu lực pháp luật, pháp luật đặc biệt và hợp tác quốc tế
Trang 16Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (Thực hiện từ 01/7/2016),
Cao Thị Oanh, Lê Đăng Doanh (Ch.b); Nxb: Lao động, H: 2016 Cuốn sách ra đời với mục đích giải thích, làm sáng tỏ các quy định của pháp luật hình sự, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn Bình luận khoa học mang tính chuyên sâu các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 là tài liệu bổ ích, thiết thực cho những người thực thi pháp luật và giảng dạy, nghiên cứu Trong phần Các tội xâm phạm sở hữu đã nêu vấn đề đã nêu lên một số vấn đề chung và các tội phạm cụ thể, trong đó có Điều 175, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, với các dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt
Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Việt Nam 1999, t2, q1; Phần các tội
phạm cụ thể: Từ điều 78 đến điều 201; Uông Chu Lưu (Ch.b), Trần Đình Nhã, Võ Khánh Vinh; Nxb: CTQG; H: 2003 Tác giả giới thiệu Bộ luật Hình sự Quốc hội khoá X thông qua các tội xâm phạm anh ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người, xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân, xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, trật tự quản lý kinh tế, tội phạm về môi trường, ma tuý Trong đó làm rõ các tội phạm cụ thể từ Điều 78 đến Điều 201.Trong Điều 140 BLHS năm 1999, các tác giả đi sâu vào làm rõ 5 khoản trong điều luật
Giáo trình sau đại học; Phần các tội phạm; Võ Khánh Vinh (Ch.b); Nxb:
Khoa học xã hội; H: 2014 Giáo trình trình bày khái niệm, đối tượng và hệ thống các tội phạm của luật hình sự Việt Nam Các tội xâm phạm an ninh quốc gia; xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người; xâm phạm quyền
tự do dân chủ của công dân, Các tội phạm về môi trường, ma tuý, chức vụ, hoạt động tư pháp
Lý luận chung về định tội danh, Giáo trình sau đại học; Võ Khánh Vinh;
Nxb: Công an nhân dân; H: 2014 Giáo trình nêu các khái niệm, ý nghĩa, cơ sở phương pháp luận và cơ sở pháp lý của định tội danh.Các giai đoạn của quá trình định tội danh Định tội danh theo các yếu tố cấu thành tội phạm, hành vi tội phạm chưa hoàn thành, trong trường hợp đồng phạm và trong trường hợp có nhiều tội
Trang 17phạm Cạnh tranh quy phạm pháp luật hình sự và định tội danh, những vấn đề về thay đổi định tội danh.Cuốn sách đã nêu những vấn đề lý luận cơ bản nhất về định tội danh, nhưng còn chủ yếu là lý thuyết chung, chưa có những nội dung cụ thể của phần các tội phạm, trong đó có tội LDTNCĐTS
Cung cấp những vấn đề thực tiễn xét xử của Toà án trong những năm qua
Bình luận các vụ án đã được xét xử, kiến nghị một số nội dung cần sửa đổi bổ sung cho Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự để phù hợp với thực tiễn Đinh Văn Quế; Nxb: Đà Nẵng; Đà Nẵng 1999 Trong đó, tác giả đã đưa ra những vấn đề trong thực tiễn xét xử, lấy đó là căn cứ để bình luận các vụ án đã được xét xử Từ thực tiễn xét xử, những vấn đề nảy sinh được tác giả bình luận, đánh giá các vụ án, trong đó, phần đánh giá về tội xâm phạm sở hữu chưa nhiều.Điểm nhấn của cuốn sách là tác giả đã đưa ra kiến nghị cho một số nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho Bộ luật Hình sự để phù hợp với thực tiễn
Kỹ năng xét xử vụ án hình sự Nguyễn Văn Huyên (ch.b.), Trần Văn Độ,
Đinh Văn Quế…; Nxb: Thống kê, H: 2006 Trong cuốn sách, các tác giả nêu khái niệm định tội danh, cơ sở pháp lý của việc định tội danh Định tội theo các yếu tố của cấu thành tội phạm Quyết định hình phạt.Những nguyên tắc cơ bản của luật
tố tụng hình sự Việt Nam.Kỹ năng xét xử một số loại tội phạm cụ thể, trong đó
có tội LDTNCĐTS.Ngoài phần lý luận chung, công trình đi sâu vào hướng dẫn các kỹ năng xét sử các vụ án hình sự Trong đó, có tội phạm xâm phạm sở hữu,
từ việc xem xét các yếu tố cấu thành tội phạm, việc định tội danh và quyết định hình phạt khi xét xử các vụ án hình sự nói chung và tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng Công trình còn đang nặng về lý luận, chưa đưa ra nhiều ví dụ cụ thể cho quá trình xét xử vụ án hình sự và chưa có nhiều quan điểm, ý kiến trong vụ
án cụ thể Nội dung phần các tội xâm phạm sở hữu, nhất là tội LDTNCĐTS chưa phong phú
Tập bài giảng: Chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử, phần kỹ năng giải
quyết vụ án hình sự của Học viện Toà án, do tập thể tác giả: Trần Văn Độ, Nguyễn
Trí Tuệ, Mai Văn Bộ… biên soạn Tập bài giảng gồm hai phân là Phần kỹ năng
Trang 18chung giải quyết các vụ án hình sự và phần chuyên sâu, gồm 18 bài giảng gồm các
kỹ năng từ thụ lý vụ án, định tội danh và quyết định hình phạt Công trình chủ yếu
để trang bị cho thẩm phán nên phần chuyên sâu khá phong phú về nội dung từ việc thụ lý vụ án, định tội danh và quyết định hình phạt được chỉ dẫn trong các nội dung
cụ thể về các loại tội phạm
Sách chuyên khảo: Các tội xâm phạm sở hữu của tác giả Nguyễn Ngọc Hoà,
Hà Nội (1991) đã nêu ra và giải quyết một số vấn đề về lý luận và thực tiễn đối với các tội xâm phạm sở hữu như đã làm rõ khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của hành
vi chiếm đoạt tài sản và phân biệt nó với hành vi đặc trưng của các tội xâm phạm
sở hữu khác theo căn cứ của BLHS năm 1985 Đời sống xã hội luôn có sự phát triển, trong đó có pháp luật cũng sẽ thay đổi theo sự phát triển đó Tuy nhiên, đây cũng là tài liệu quan trọng để tác giả nghiên cứu và thấy được sự thay đổi về lý luận
và thực tiễn của các tội xâm phạm sở hữu
Sách chuyên khảo: Các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS năm 1999 (bổ
sung, sửa đổi năm 2009) của Mai Văn Bộ, Nxb: CTQG, Hà Nội (2010), đã tiếp cận
và làm rõ những vấn đề về quyền sở hữu tài sản và các tội xâm phạm sở hữu Trong
đó, tác giả đã làm rõ khái niệm về tài sản, khái niệm các tội xâm phạm sở hữu, các yếu tố cấu thành tội phạm Cụ thể, Chương II, Chương III tác giả đã các tội phạm xâm phạm sở hữu và một số vấn đề thực tiễn áp dụng quy định của BLHS về các tội xâm phạm sở hữu Trong đó, ở nội dung về tội phạm LDTNCĐTS, tác giả mới nêu khái quát một số vấn đề lý luận và hình phạt trong Điều 140 BLHS
Sách chuyên khảo: Nghiên cứu, so sánh pháp luật hình sự của một số nước
Asean của Phạm Văn Lợi, Nxb Tư pháp, Hà Nội (2010) Tác giả cuốn sách đã tập
trung nghiên cứu, phân tích pháp luật của 5 quốc gia trong khu vực: Thái Lan, Malaisia, Philippines, Indonesia và Singapore để từ đó đưa ra những kiến giải chung về pháp luật hình sự các quốc gia này Tác giả cũng đã tiến hành so sánh những điểm tương đồng và khác biệt về nội dung, hình thức, kỹ thuật lập pháp trong các BLHS các nước Qua đó, tác giả đưa ra những nhận xét và kiến nghị liên quan đến nguồn của pháp luật hình sự, về một số tội phạm cụ thể và lưu ý những
Trang 19nội dung, những điểm mà pháp luật hình sự Việt Nam có thể tham khảo, vận dụng Luận án có thể tiếp cận với cách phân tích, đánh giá của tác giả để đưa ra các kiến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng xét xử, cụ thể về vấn đề định tội danh và quyết định hình phạt
Cẩm nang pháp luật và nghiệp vụ dành cho hội thẩm trong xét xử các vụ án hình sự; Vũ Hoài Nam (Ch.b), Lê Ngọc Thạch; Nxb: Tư pháp; H: 2005 Cuốn sách
trình bày vị trí, vai trò, quyền hạn của hội thẩm và những vấn đề cơ bản cần quan tâm khi xét xử các vụ án hình sự Phân tích kỹ năng nghiên cứu hồ sơ và kỹ năng tham gia xét xử tại phiên toà của hội thẩm khi tham gia xét xử các vụ án hình sự
Kỹ năng tham gia xét xử các loại tội phạm cụ thể như: tội xâm phạm an ninh quốc gia; xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người; các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ công dân, LDTNCĐTS
Một số vấn đề cơ bản về pháp luật hình sự và những tình huống trong thực tiễn;
Nguyễn Minh Đức (Ch.b), Khổng Hà, Trần Văn Đượm; Nxb: CTQG; H: 2002 Trong sách giới thiệu một số vấn đề cơ bản về pháp luật hình sự và các tình huống thực tiễn xét xử ở Việt Nam Nguyên tắc hiệu lực của Bộ luật Hình sự 1999, tội phạm và những trường hợp không phải là tội phạm, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự và hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam
Hỏi đáp về các thủ tục điều tra - truy tố - xét xử vụ án hình sự; Võ Hưng
Thanh; Nxb: Tp Hồ Chí Minh; Tp Hồ Chí Minh: 2002 Cuốn sách viết dưới dạng hỏi đáp điều tra truy tố, xét xử vụ án hình sự, xét xử sơ thẩm, xét lại bản án; Sự thi hành bản án và quyết định của toà án; Các vấn đề về biên bản, thời hạn, án phí, việc tạm giữ, tạm giam, khám xét, làm chứng, những người tham gia tố tụng; Nguyên đơn, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành: Câu hỏi, tình huống thực tiễn và gợi ý trả lời; Đỗ Đức Hồng Hà (Ch.b); Nxb: Hồng Đức; Thanh Hoá: 2012 Gồm những
câu hỏi, tình huống thực tiễn và gợi ý trả lời các kiến thức cơ bản của luật hình sự
về thời điểm phát sinh tội phạm, về xác định tội danh, khung hình phạt, giai đoạn phạm tội, đồng phạm
Trang 20Một số quy định hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự; Đức Hiển (BS); Nxb:
Tư pháp; H: 2011 Gồm các Thông tư, Nghị quyết của Quốc hội, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Bộ luật Hình sự, quy định về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, quản lý lâm sản, xuất khẩu lao động, hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình
Vũ Nguyên: Chỉ dẫn áp dụng Bộ luật Hình sự: Được sửa đổi, bổ xung năm
2009, Nxb: Tư pháp; H:2011; Nghị quyết số 33/2009/NĐ- QH12 ngày 19 tháng 6
năm 2009; Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009: Phần chung/ Nguyễn Đức Mai (ch.b.), Đỗ Thị Ngọc Tuyết - Nxb: Chính trị Quốc gia, 2012; Hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam/ Trần Minh Hưởng (ch.b.), Nguyễn Đức Phúc, Lê Trung Kiên - Nxb: Hồng Đức; Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự: Đã được sửa đổi, bổ sung 2011; Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi,
bổ sung năm 2009 - Nxb: Chính trị Quốc gia, 2015; Giáo trình luật hình sự: Dùng cho đào tạo cao học, chuyên ngành tội phạm học và điều tra tội phạm, Trịnh Văn
Thanh (ch.b) - Nxb: Công an nhân dân, 2015;
Nhóm các công trình khoa học, các tạp chí
Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2003 “Tội phạm lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm,
trốn thuế trong các Công ty trách nhiệm hữu hạn” Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Tiến
Lực, đã nêu bật lên được tình hình tội phạm lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội phạm trốn thuế xảy ra tại các Công ty trách nhiệm hữu hạn từ
1991 đến 2001 Qua đó, đề tài đã đưa ta được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm và trốn thuế
Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản qua một vụ án; Hoàng Quảng Lực; Tạp chí Toà án Nhân dân, số 10,tr
21- 22 tháng 5 năm 2009 Tác giả Hoảng Quảng Lực đã đưa ra những tiêu chí, yếu
Trang 21tố để phân biệt hai tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội LDTNCĐTS Từ đó đặt ra một số vấn đề trong việc xét xử hai tội này
Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật Hình sự năm 1999 của tác giả
Trương Quan Vinh, Tạp chí Luật học số 4/2000 đã phân tích lịch sử lập pháp hình
sự đối với các tội xâm phạm sở hữu, những điểm mới về nội dung và kỹ năng lập pháp được thể hiện trong BLHS 1999 so với BLHS 1985 Tác giả cũng đã kiến giải một số vấn đề về tội phạm, phi tội phạm, hình sự, dân sự hoá…
Trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu có giá trị xâm phạm dưới mức tối thiểu của tác giả Nguyễn Văn Trượng, Tạp chí Toà
án nhân dân số 01 (1/2005) đã tiến hành làm rõ mức giá trị tài sản tối thiểu để truy tố trách nhiệm hình sự quy định trong cấu thành tội phạm cơ bản của các tội xâm phạm sở hữu trong luật Hình sự Tác giả đã minh chứng bằng thực tiễn xét
xử các hành vi xâm phạm tài sản tối thiểu để từ đó tìm ra những bất cập trong các văn bản quy phạm pháp luật và đưa ra những kiến nghị nhằm giải quyết vấn
đề này
Nhóm các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ
Luận án tiến sĩ Các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa trong Luật hình
sự Việt Nam của Trịnh Hồng Dương, Hà Nội (1980) Tác giả đã đề cập đến một số
vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu trên cơ sở bình luận Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa năm 1970 và thực tiễn các quy định đó Từ các vấn đề trên, tác giả có những kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật và hướng dẫn áp dụng Pháp lệnh trong thực tiễn Tuy mới chỉ là bình luận Pháp lệnh, các vấn đề đã cũ nhưng luận án có ý nghĩa và cách thức áp dụng pháp luật và từ đó cho thấy được sự phát triển của Luật hình sự Việt Nam
Luận án tiến sĩ Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của tác
giả Nguyễn Ngọc Chí, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội (2000) Tác giả đã nghiên cứu khía cạnh tội phạm học của các tội xâm phạm sở hữu gồm đặc điểm tình hình, thiệt hại, hậu quả của loại tội phạm này Tác giả cơ bản đã làm
Trang 22sáng tỏ chính sách hình sự, phân tích quy định thông qua minh chứng bằng các vụ
án trong thực tế Trong đó, tác giả chưa đề cập sâu đến tội LDTNCĐTS Tuy đã rút
ra những điểm hạn chế nhưng tác giả chưa đưa ra được những kiến nghị, giải pháp cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự
Luận văn Quy định về định lượng giá trị tài sản đối với các tội xâm phạm sở
hữu trong BLHS 1999 của Phạm Thế Anh, Đại học Luật Hà Nội (2011) đã trình
bày một số vấn đề pháp lý về định lượng, làm rõ ý nghĩa quy định về định lượng giá trị tài sản đối với các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS 1999 nhằm làm phân biệt với các hành vi vi phạm pháp luật Tác giả đánh giá thực tiễn và nêu lên một số kiến nghị, tuy nhiên, chưa làm rõ các căn cứ quy định định lượng tài sản, chưa có các tiêu chí đánh gía cụ thể và cách xác định giá trị tài sản mà thông thường, theo quy định của Toà án, có các cơ quan, tổ chức chuyên về thẩm định giá sẽ đánh giá Trong khi đó, đối với tội LDTNCĐTS quyết định hình phạt chủ yếu căn cứ vào giá trị tài sản, vì thế, luận văn này còn một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Luận văn Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trong Luật hình
sự Việt Nam của tác giả Đặng Quang Vũ, Viện Nhà nước và Pháp luật (2010) đã
tiếp cận và làm rõ khái niệm sở hữu tài sản, sở hữu tài sản, xâm phạm sở hữu và xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, trong đó có Tội LDTNCĐTS Tác giả đã phân tích tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, nguyên nhân, điều kiện và dự báo tình hình tội phạm Từ thực tiễn, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự Chủ yếu tác giả mới nói chung về các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt một cách khái quát, chung chung, chưa làm rõ các tội cụ thể
1.3 Đánh giá chung tình hình nghiên cứu
Qua nghiên cứu các công trình khoa học tội xâm phạm sở hữu nói chung
và về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như đã nêu, tác giả đưa ra những đánh giá, nhận xét như sau:
Các đề tài đã đề cập đến vấn đề về các tội xâm phạm sở hữu, trong đó có tội LDTNCĐTS trong Bộ luật Hình sự nhưng mới ở mức độ khái quát, phân
Trang 23tích các điều khoản.Trong đó chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu, tổng kết từ thực tiễn xét xử các vụ án, nhất là ở thành phố Hồ Chí minh, một trung tâm kinh tế lớn nhất đất nước
Những kết quả nghiên cứu đã đạt được
- Các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên đã đề cập, nghiên cứu dưới những góc độ và mức độ khác nhau về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam
- Các công trình nghiên cứu đã phân tích một số dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam hiện hành
- Ở những mức độ khác nhau, các công trình nghiên cứu đã đưa ra một số bất cập, vướng mắc trong thực tiễn xét xử của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản để thấy sự bất hợp lý trong một số quy định của pháp luật
- Một số công trình nghiên cứu đã phân tích và đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.4 Những vấn đề đặt ra cần đƣợc nghiên cứu
Khảo sát tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài trong và ngoài nước cho thấy, vẫn còn một số hạn chế mà các công trình nghiên cứu chưa giải quyết hoặc giải quyết chưa triệt để, như:
- Chưa phân tích hết tất cả các loại tội chiếm đoạt sở hữu mà chỉ dừng lại ở một tội điển hình là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là chủ yếu
- Một số các kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật mới mang tính nhỏ lẻ, thiếu hệ thống và chưa xây dựng được mô hình pháp lý cho loại tội phạm có sự đề xuất sửa đổi
- Các công trình nghiên cứu chưa làm nổi bật được sự kế thừa và tiếp thu một số quy định của một số nước trên thế giới về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản để góp phần hoàn thiện pháp luật
Trang 24- Chưa phân tích rõ nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn xét xử xuất phát từ đâu và chưa đánh giá rõ mức độ phạm tội và việc áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành với thực tiễn áp dụng luật
- Ở Việt Nam, chưa có công trình nghiên cứu nào ở cấp độ một luận án tiến sỹ nghiên cứu tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sảntheo pháp luật hình sự Việt Nam
- Các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên đã đề cập, nghiên cứu dưới những góc độ và mức độ khác nhau về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về tội LDTNCĐTS trong Điều 140 BLHS, và nhất là từ thực tiễn xét xử để đưa ra những vấn đề cần thay đổi trong Bộ luật cho phù hợp với thực tiễn xét xử tội danh LDTNCĐTS tại thành phố Hồ Chí Minh
Từ tổng thể những hạn chế trên, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu, kế thừa những giá trị mà các công trình nghiên cứu nêu trên đã mang lại, đồng thời tiếp tục phát triển, nghiên cứu có tính hệ thống và toàn diện hơn về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Kết luận Chương 1
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là một hành vi đã có từ lâu, có ảnh hưởng đến quyền sở hữu của người có tài sản và gây ảnh hưởng đến tình hình kinh
tế, sản xuất kinh doanh
Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, sách báo, bài viết trong và ngoài nước về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Trong phần Tổng quan, tác giả đã chia ra hai phần: Một là tình hình nghiên cứu nước ngoài và tình hình nghiên cứu ở trong nước
Phần tình hình nghiên cứu ngoài nước, tác giả đã nêu ra một công trình có liên quan đến tội xâm phạm sử hữu, trong đó có các định nghĩa, khái niệm về tội xâm phạm sở hữu Trong đó, bao gồm các tội cướp giật tài sản, trộm cắp tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản để làm căn cứ cho việc xây dựng khung lý luận ở chương sau
Trang 25Phần tình hình nghiên cứu trong nước, tác giả không phân theo nhóm vấn đề nghiên cứu mà phân theo mục, cấp độ nghiên cứu, để từ đó có cái nhìn bao quát hơn cho phần tội LDTNCĐTS ở từng loại, từng cấp độ nghiên cứu Ở cấp độ công trình cấp Nhà nước, cấp bộ còn ít công trình, đa phần là các bài báo, tạp chí và luận căn thạc sĩ luật học nghiên cứu để từ đó cho thấy được tội này cần được nghiên cứu nhiều hơn Việc không chia theo nhóm vấn đề sẽ gây một số khó khăn trong cách tiếp cận, tuy vậy viêc chia theo công trình sẽ dễ thấy được những vấn đê còn đặt ra đối với các công trình khi được phân chia theo cấp độ
Các tài liệu tiếp cận ở các giác độ khác nhau, chủ yếu là về các tội xâm phạm
sở hữu Tuy nhiên việc tiếp cận vấn đề dưới dạng một nghiên cứu chuyên sâu về một điều luật cụ thể thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, chi tiết và đưa ra các kiến nghị toàn diện để hoàn hiện các quy định của pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Đặc biệt là việc tổng kết lý luận từ việc nghiên cứu thực tiễn 500 bản án đã xét xử có liên quan đến tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để đưa ra lý luận nhằm hoàn thiện hơn nữa quy định của pháp luật Hình sự về vấn đề này Từ
thực trạng như vậy, việc nghiên cứu đề tài “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn góp phần cung cấp cứ liệu, luận chứng khoa học cho việc hoàn thiện các quy định về các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật Hình sự
Trang 26Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN
NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
2.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
2.1.1 Khái niệm
Theo Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ biên soạn (2002) thì Lạm dụng
là “dùng, sử dụng quá mức hoặc quá giới hạn đã được quy định” [56; tr 52]
Theo Thông tư số 03/BTP/TT tháng 4/1976 giải thích hành vi bội tín đã định nghĩa “Bội tín (hoặc lạm dụng tín nhiệm) khác với lừa đảo… Sau khi đã nhận được một công việc nào đó (qua thoả thuận miệng, hoặc qua ký kết hợp đồng…) kẻ được giao tài sản đã không thực hiện được nghĩa vụ cam kết, lại lợi dụng sự tín nhiệm nào đó để chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản”[44]
Lạm dụng là “sử dụng quá quyền hạnh, quá phạm vi cho phép” [27; tr 1016] Tín nhiệm là “tin tưởng mà giao phó, trông cậy vào nhiệm vụ, sự việc cụ thể nào đó” [59; tr 1646]
Chiếm đoạt được định nghĩa “là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài
sản đang thuộc quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình” [45; tr 368] Chiếm đoạt là “chiếm của người làm của mình bằng cách dựa vào vũ lực, quyền thế” [56;
tr 151]
Theo quan điểm của GS TS Võ Khánh Vinh thì, chiếm đoạt tài sản (xã hội chủ nghĩa hoặc của công dân) và biến nó thành tài sản của mình hoặc chuyển cho người khác, được thực hiện bằng những hình thức quy định trong luật với mục đích
vụ lợi [56; tr 69]
Còn tác giả Đinh Văn Quế thì cho rằng, chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển dịch một cách trái phép tài sản thuộc sở hữu của người khác thành của mình [43; tr 18]
Trên thực tế có nhiều trường hợp chủ tài sản không phải là người đang quản
lý tài sản nên dù là người sở hữu hay người quản lý, theo Điều 172 Bộ luật Dân sự
Trang 27năm 1995: “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ giá trị được bằng tiền và các quyền tài sản”; theo Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể hiểu như “bội tín” Bội tín là “Phản lại sự tin cậy của người khác; Làm không đúng như điều đã cam kết” [27; tr 176]
Ngay từ thời phong kiến, tại Điều 588 Quốc triều hình luật của Triều Lê quy định “Mắc nợ quá hạn không trả thì xử tội trượng, tuỳ theo việc nặng nhẹ; Nếu cự tuyệt không trả, thì xử biếm hai tư, bồi thường gấp đôi” [57; tr 205]
Trong bộ Luật Hồng Đức, Điều 579 cũng đã quy định “Những người nhận của ai súc vật hay của cái mà đem dùng hết hay tiêu đi, thì phải phạt 80 trượng và đền tiền theo như số tổn thất Nói dối là chết hay mất thì phải giáng hạ một bậc và đền tiền gấp đôi” [33; tr36]
Như vậy có thể nói, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là một hiện tượng
xã hội có từ lâu trên thế giới Để nhận diện đúng ranh giới giữa giao dịch dân sự, thương mại với hành vi phạm tội hình sự từ đó có biện pháp điều chỉnh bằng pháp luật một cách hữu hiệu, có một ý nghĩa to lớn, nhằm làm lành mạnh hoá các quan
hệ xã hội, bảo vệ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của chủ thể tham gia gao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, loại bỏ tình trạng được gọi là “hình sự hoá” Các giao dịch dân sự, kinh tế hay “dân sự hoá” các hành vi phạm tội Muốn vậy cần phải tìm hiểu, nghiên cứu kỹ khái niệm tội LDTNCĐTS
Trên phương diện pháp luật, từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự quy định về việc trừng trị các tội xâm phạm sở hữu nói chung, nhưng chưa đưa ra được khái niệm đầy đủ để mô tả dấu hiệu pháp lý của tội phạm LDTNCĐTS một cách cụ thể Chỉ đến khi Nhà nước ban hành hai Pháp lệnh: Pháp lệnh trừng trị các tội phạm tài sản
xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm hại tại sản riêng của công dân (Theo lệnh số 149 và 150 ngày 23/10/1970 của Chủ tịch nước công bố), thì các hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mới được quy định tại các điều lệnh cụ thể Lần đầu tiên khái niệm LDTNCĐTS đã được đưa ra với các đặc trưng
Trang 28của nó và được quy định tại các Điều 11 của hai Pháp lệnh “Điều 11- Tội phạm LDTN để chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa: 1 Kẻ nào nhận tài sản xã hội chủ nghĩa để giữ, vận chuyển, gia công, sửa chữa hoặc để làm một việc gì khác mà lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt, bớt xén, hoặc đánh tráo tài sản đó thì bị phạt…” Tội LDTN để chiếm đoạt tài sản riêng của công dân cũng có khái niệm tương tự
Khái niệm tội LDTNCĐTS được quy định trong hai pháp lệnh ngày 23/10/1970 tồn tại cho đến khi ban hành BLHS năm 1985
BLHS được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VII thông qua ngày 27/6/1985 tại kỳ họp thứ 9 và có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 Trong BLHS, khái niệm tội LDTNCĐTS được quy định tại các Điều 135 và Điều 158
Điều 135.Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa
1- Người nào lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm
2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:
a) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;
c) Tái phạm nguy hiểm;
3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm
Điều 158 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân
1- Người nào lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm
2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười hai năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;
b) Tái phạm nguy hiểm;
Trang 29Như vậy, đến BLHS năm 1985 các nhà làm luật đã không mô tả lại hành vi như trong hai pháp lệnh năm 1970 nữa mà chỉ nêu tội danh và hình phạt BLHS năm 1985 được sửa đổi, bổ sung 4 lần vào các năm: 1989, 1991, 1992, 1997, nhưng khái niệm về hai tội LDTNCĐTS xã hội chủ nghĩa và tội LDTNCĐTS vẫn giữ nguyên
BLHS năm 1999 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X thông qua ngày 21/12/1999 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2000.Trong bộ luật này,LDTNCĐTS được quy định tại Điều 140 như sau:
Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
Ở BLHS năm 1999 các nhà làm luật đã quy định các dấu hiệu pháp lý trong cấu thành tội LDTNCĐTS cụ thể hơn, chính xác hơn, tránh được các cách hiểu khác nhau hoặc sự tuỳ tiện trong việc áp dụng pháp luật Đây chính là những tình tiết đặc trưng về tội LDTNCĐTS có ý nghĩa trong việc xác định ranh giới phân biêt hành vi phạm tội với hành vi chưa phải là tội phạm, giữa tội này và tội khác.Tội LDTNCĐTS quy định tại Điều 140 của BLHS năm 1999 là tội được nhập từ tội LDTNCĐTS xã hội chủ nghĩa quy định tại Điều 135 và tội LDTNCĐTS công dân quy định tại Điều 158 của BLHS năm 1985
Việc nhà làm luật quy định các dấu hiệu định tội trong điều luật là xuất phát từ thực tiễn xét sử loại tội phạm này trong hơn 10 năm thi hành BLHS năm
Trang 301985, đặc biệt vào những năm cuối thập kỷ 90 (1997- 1999) tình trạng các cơ quan pháp luật ở nhiều địa phương đã “hình sự hoá” các quan hệ dân sự, kinh tế, làm cho nhiều người bị kết án oan về tội LDTNCĐTS mà lẽ ra họ chỉ là bị đơn trong các vụ án dân sự.Trước một thực trạng như vậy đòi hỏi các nhà lập pháp phải đưa vào cấu thành những dấu hiệu đặc trưng của tội LDTNCĐTS” [41; tr 274]
Như vậy, tội LDTNCĐTS có các đặc điểm sau:
- Người phạm tội vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn:
+ Gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
+ Sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
- Tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng (như chiếm đoạt tiền cứu trợ của đồng bào lũ lụt…), hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt, hoặc đã bị kết
án về tội CĐTS, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực từ 01/01/2018, tội LDTNCĐTS được quy định tại Điều 175 như sau:
Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác giá trị từ 4.000.000 đồng trở lên đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168,
169, 170, 171, 172, 173 và Điều 290 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến
03 năm Các dấu hiệu đó là:
- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm
đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn phải trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng
Trang 31nhưng cố tình không trả; So với BLHS năm 1999 thì đây là trường hợp điều luật bổ
sung theo hướng bất lợi cho người phạm tội Về hành vi này, tương đối khó xác định “có điều kiện, khả năng về tài sản” nên cần có văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể hơn
- Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
Khoản 1 Điều 175 BLHS năm 2015 quy định sau khi nhận được tài sản thì việc thực hiện hành vi bỏ trốn hoặc dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt; hoặc sau khi nhận được tài sản và sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
Về xác định một người có hành vi “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” là thực hiện bởi việc bỏ đi khỏi nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nơi ở, tạm trú, nơi làm việc một cách bí mật, không cho ai biết để không phải trả lại tài sản đã vay, mượn, nhận được Những căn cứ để xác định người đó bỏ trốn là tài liệu xác minh người đó không có mặt tại địa phương, không khai báo việc chuyển đến nơi ở khác với Cơ quan nơi đăng ký hộ khẩu tường trú, tạm trú; tài liệu xác minh, lời khai của bố, mẹ, vợ, con, người thân khác không biết người đó trốn đi đâu, làm gì…
Khi đến hạn trả lại tài sản theo giao kết, người vay, mượn, nhận tài sản không trả lại tài sản và thực hiện việc bỏ trốn, điều đó chứng tỏ ý thức không có ý định trả lại tài sản của người thực hiện nên có đủ căn cứ xác định người vay, mượn, nhận được tài sản theo Điều 175 BLHS.Trường hợp cho vay tài sản, nhưng không thoả thuận thời hạn phải trả tiền gốc mà chỉ thoả thuận tiền lãi phải trả hàng tháng Trường hợp này cần căn cứ vào việc đến hạn phải trả lãi hoặc khi người cho vay yêu cầu phải trả lãi mà người vay không trả và bỏ trốn, thì có căn cứ để xác định ý thức không muốn trả tài sản theo giao kết và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
đã vay của người thực hiện
Trang 32Về thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản Đó là khi đối tượng nhận tài sản, hoặc sau khi sử dụng hoặc đến thời điểm phải thanh toán, trả tài sản theo giao kết nhưng đó có ý định chiếm đoạt tài sản nên người phạm tội đã sử dụng thủ đoạn gian dối như là một cách thức để thực hiện việc chiếm đoạt Đây là điểm cần để phân biệt với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Thủ đoạn gian dối ở đây thông thường
là người vay, mượn sau khi nhận được tài sản đã ghi số lượng tài sản ít đi, sửa chữa nghĩa vụ phải thanh toán trong giấy tờ giao kết… hoặc lập ra tài liệu, chứng từ khống… về sử dụng tài sản; Cụ thể “để chiếm đoạt tài sản” tức là hành vi gian dối tạo ra các chứng từ, giấy tờ, tài liệu giả… và dùng nó để quyết toán, thanh toán với chủ sở hữu tài sản, hoặc việc sửa chữa giấy tờ vay mượn… thì mới có căn cứ để xác định người có hành vi gian dối đó đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Cũng có trường hợp hành vi gian dối đó nhằm che dấu, quyết toán số tiền đã bị sử dụng trái phép, chi tiêu cá nhân
Trong trường hợp người thực hiện nhận được tài sản, nhưng sử dụng tài sản không đúng mục đích đã thoả thuận trong giao kết và không có khả năng trả lại tài sản Quá trình xem xét không chứng minh họ đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp và họ cũng không bỏ trốn, chỉ chứng minh được tài sản họ đã sử dụng bị thất thoát, không thu hồi được và họ không trả lại tài sản thì có dấu hiệu phạm tội LDTNCĐTS hay không? Nếu coi đây không phải là dấu hiệu phạm tội thì xử lý như thế nào khi họ sử dụng tài sản bị thất thoát, không thu hồi được
Hành vi LDTNCĐTS thường xuất phát từ việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán, trả lại tài sản trong hợp đồng vay, mượn, nhận của đương sự Vì vậy, để xác định hành vi của một người có yếu tố chiếm đoạt hay không, trước hết cần phải xác định khối lượng tài sản trong vụ án, từ đó kết hợp với các yếu tố cấu thành tội phạm để định tội danh và quyết định hình phạt
Đánh giá tổng thể các dấu hiệu đặc trưng khách quan của tội phạm, mối liên
hệ nhân quả của các hành vi khách quan đó như xác định đối tượng bỏ trốn với ai, vắng mặt hay bỏ trốn, sử dụng tài sản trái phép như thế nào, tránh hình sự hoá các quan hệ dân sự, không oan sai, bỏ lọt tội phạm Như vậy, về cơ bản lạm dụng tín
Trang 33nhiệm là việc của một người đã lợi dụng lòng tin của người khác để thực hiện hành
vi chiếm đoạt tài sản.Từ những đánh giá, nhận xét trên, theo tác giả, có thế hiểu Tội
LDTNCĐTS như sau: Tội LDTNCĐTS là hành vi vay, mượn, thuê hoặc nhận được
tài sản của người khác bằng các hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn
để chiếm đoạt tài sản đó; hoặc đến thời hạn trả mặc dù có điều kiện, khả năng trả nhưng cố tình không trả, hoặc đã sử dụng tài sản đó bất hợp pháp dẫn đến không
có khả năng trả lại tài sản
2.1.2 Các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
2.1.2.1 Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Khách thể của tội phạm là một trong những vấn đề trung tâm của khoa học hình sự Khách thể - yếu tố thể hiện bản chất giai cấp của tội phạm [18; tr 46] Việc xác định đúng khách thể của tội phạm cho phép xác định đúng bản chất của tội phạm, định đúng tội danh, góp phần áp dụng hình phạt chính xác
Trong các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS năm 1999, khách thể tội phạm
là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại.Theo Luật hình
sự Việt Nam, những quan hệ xã hội được coi là khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ đã được xác định trong Điều 8 BLHS
Khách thể của tội LDTNCĐTS là quan hệ sở hữu.Quan hệ sở hữu là quan hệ
xã hội trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản được tôn trọng và bảo vệ Hành vi gây thiệt hai cho quan hệ sở hữu là hành vi xâm phạm các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của chủ sở hữu
Cũng như trong các hành vi phạm tội khác, hành vi LDTNCĐTS cũng có đối tượng tác động cụ thể, đó là tài sản - đối tượng vật chất mà nhờ đó tồn tại quan hệ
sở hữu Theo pháp luật Việt Nam, tài sản gồm: Vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền về tài sản Vật và tiền nói chung luôn là đối tượng tác động của tội LDTNCĐTS
Tài sản được pháp luật nói chung cũng như luật hình sự nói riêng và được pháp luật bảo vệ, về nguyên tắc phải là tài sản hợp pháp Điều đó không
Trang 34có nghĩa là những hành vi xâm phạm tài sản bất hợp pháp của công dân là không phải hành vi phạm tội Hành vi xâm phạm tài sản khác, dù là tài sản bất hợp pháp vẫn bị coi là trái pháp luật và có thể cấu thành tội LDTNCĐTS và có thể bị xử lý hình sự
Tài sản là đối tượng xâm phạm của tội LDTNCĐTS phải là những tài sản hữu hình, tài sản vô hình không là đối tượng xâm phạm của tội phạm này
Mức độ gây thiệt hại cho tài sản là một căn cứ để xác định cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm? Theo quy định tại Khoản1 Điều 140 của BLHS thì tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ một triệu đồng trở lên hoặc nếu dưới một triệu đồng thì phải gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì mới cấu thành tội
2.1.2.2 Mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Bất cứ tội phạm nào khi xảy ra đều có những biểu hiện ra bên ngoài hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể nhận biết được, đó là:
Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
và hậu quả
Công cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian, điạ điểm phạm tội
Tổng hợp những mặt trên đây tạo thành mặt khách quan của tội phạm Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Trong các yếu tố hợp thành mặt khách quan của tội phạm trên đây, hành vi khách quan gây nguy hiểm cho xã hội là nội dung cơ bản nhất Những biểu hiện khác của mặt khách quan chỉ có ý nghĩa khi có hành vi khách quan Không thể nói tới hậu quả của tội phạm cũng như những yếu tố khác (công cụ, phương tiện…), khi không có hành vi khách quan Hành vi khách quan là nguyên nhân gây ra sự biến đổi tình trạng của đối tượng bị tác động của tội phạm và do vậy, chính nó là nguyên nhân gây thiệt hại cho quan hệ xã hội và cho khách thể của tội phạm Hành vi khách quan là cầu
Trang 35nối giữa khách thể và chủ thể tội phạm, không có chủ thể tội phạm thì không có hành vi khách quan
Trong Luật hình sự, hành vi được hiểu là những biểu hiện của con người được thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể nhằm đạt được những mục đích có chủ định và mong muốn của chủ thể
Tội LDTNCĐTS là tội có cấu thành vật chất, tức hậu quả thiệt hại về tài sản
do hành vi phạm tội gây ra là dấu hiệu bắt buộc Hành vi khách quan của tội phạm được thể hiện ở hành vi chiếm đoạt tài sản mà người chủ tài sản đã tín nhiệm giao cho một cách ngay thẳng, hợp pháp Việc giao tài sản thường thông qua một hợp đồng, hợp đồng có thể bằng văn bản hoặc bằng miệng Sau khi có tài sản trong tay, chủ thể thực hiện hành vi tiếp theo như gian dối, bỏ trốn để chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản của chủ tài sản hoặc sử dụng tài sản đó vào một mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản Bên cạnh đó cũng phải xét đến tình tiết ý thức chiếm đoạn có trước hay sau khi được giao tài sản để định tội danh
Tuy nhiên, hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi lạm dụng tín nhiệm gây
ra không được phản ánh một cách trực tiếp mà được phản ánh thông qua đối tượng tác động của tội phạm, tài sản Ở đây, quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ đã
bị tội phạm xâm hại chính là quan hệ sở hữu Do cấu thành và đặc điểm của Điều
140 BLHS năm 1999, nên hành vi khách quan của tội này có các đặc điểm sau:
Việc chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội xuất phát từ một hợp đồng hợp pháp và ngay thẳng, nghĩa là quan hệ giữa hai bên lúc này là quan hệ dân sự hoặc kinh tế với mong muốn mỗi bên đều đạt được lợi ích của mình
từ việc giao dịch đó
Giao dịch hợp pháp, ngay thẳng là giao dịch luôn có sự phù hợp giữa ý chí
và sự bày tỏ ý chí Các bên tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự Mục đích và nội dung giao dịch không trái pháp luật, đạo đức xã hội Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật, thông qua giao dịch dân sự đó phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự Nghĩa vụ dân sự theo quy định tại Điều 285 Bộ luật Dân sự là việc mà theo quy
Trang 36định của pháp luật thì một hoặc nhiều chủ thể phải làm một công việc vì lợi ích của chủ thể khác
Trong tội LDTNCĐTS, giữa bị hại và người phạm tội có quan hệ tài sản để làm một việc gì đó, trong đó người phạm tội có nghĩa vụ thực hiện xong hợp đồng phải hoàn trả tài sản cho chủ sử hữu nhưng người phạm tội đã không thực hiện đúng nghĩa vụ hoàn trả tài sản của mình một cách cố ý, bằng các thủ đoạn gian dối,
bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản, hoặc đã sử dụng tài sản đó một cách bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả tài sản
Việc giao nhận tài sản giữa người bị hại và người phạm tội thông qua hình thức hợp đồng có thể là hợp đồng viết hoặc thoả thuận miệng, có thể là hợp đồng dân sư hoặc hoặc hợp đồng kinh tế
Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay thế đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự(Điều 388 Bộ luật Dân sự năm 2005), nay là Điều 385 Khái niệm hợp động (Luật Dân sự năm 2015).Hợp đồng dân sự có thể giao kết dưới nhiều hình thức Theo Điều 404(Bộ luật Dân sự 2005), nay là Điều
400 Bộ luật Dân sự 2015.Thời điểm giao kết hợp đồng, thì hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải được giao kết hợp đồng bằng hình thức nhất định Khi các bên thoả thuận giao kết hợp đồng bằng một hình thức nhất định thì hợp đồng được coi là đã giao kết khi tuân theo hình thức đó
Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình Chủ thể của hợp đồng kinh tế chỉ bao gồm pháp nhân và cá nhân, như vậy so với hợp đồng dân sư, phạm vi chủ thể của hợp đồng kinh tế hạn hẹp hơn Bản chất hợp đồng là sự thoả thuận của các bên, vì vậy tách riêng thành hợp đồng dân sự, mặt khác, khái niệm kinh tế rất rộng, rất khó phân biệt với các quan hệ thuần tuý dân sự.Về thực tiễn, nếu
Trang 37chúng ta tách ra thành các loại hợp đồng như kinh tế, thương mại… thì rất phức tạp trong vận dụng
Hợp đồng chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội có thể
là hợp đồng vay, mượn, thuê tài sản hoặc các hình thức hợp đồng khác
Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền hoặc vật; khi đến hạn trả, bên vay phải trả hoặc hoàn tiền hoặc theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi, nếu có thoả thuận hoặc luật pháp quy định
Theo Bộ luật Dân sự Việt Nam thì Hợp đồng mượn tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, còn bên cho mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được
Hợp đồng thuê tài sản là sự thoả thuận là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, còn bên cho thuê phải trả tiền
Các hình thức hợp đồng khác có thể là hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng
ký gửi, vận chuyển…
Sau khi nhận được tài sản của người bị hại bằng hình thức hợp đồng thì người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đang do mình quản lý như xoá dấu tích việc nợ, huỷ bỏ các tài liệu, chứng cứ chứng minh nghĩa
vụ thanh toán như giấy vay nợ, các cam kết hoặc che dấu hành vi chiếm đoạt bằng hiện trường giả như tạo hiện trường bị mất, để quên, bị cướp, bị người khác chiếm đoạt…
Nếu người phạm tội không có hành vi gian dối mà sau khi đã nhận được tài sản một cách hợp pháp rồi bỏ trốn với ý thức không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý thì cũng là hành vi chiếm đoạt tài sản Khi đánh giá hành vi bỏ trốn của người phạm tội cũng phải xem xét một cách khách quan, toàn diện, nếu người phạm tội bỏ trốn mà không có ý thức chiếm đoạt thì không cấu thành tội phạm
Trang 38Như vậy trong điểm a Khoản 1 Điều 140 BLHS năm 1999, nhà làm luật đã
đã dự liệu 2 trường hợp chứng minh được một trong hai trường hợp đó trong thực
tế là phản ánh được ý thức chiếm đoạt tài sản của người phạm tội
Trường hợp thứ ba cũng bị coi là phạm tội LDTNCĐTS khi người phạm tội
có được tài sản một cách hợp pháp, đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản Ở điều khoản này không cần chứng minh ý thức chiếm đoạt của người phạm tội, chỉ cần chứng minh được người phạm tội đã sử dụng tài sản một cách “bất hợp pháp” và đã mất khả năng thanh toán cho chủ sở hữu
Điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự tội LDTNCĐTS: Tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên Nếu trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới 1 triệu đồng thì phải có các điệu kiện:
+ Gây hậu quả nghiêm trọng: gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triển đồng đến dưới 500 triệu đồng;
+ Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt;
+ Đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn
vi phạm
Tội phạm được coi là hoàn thành khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản
hoặc hoàn toàn không có khả năng trả lại tài sản
2.1.2.3 Chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Theo khái niệm tội phạm thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách một cách có lỗi do cố ý hoặc vô ý Do vậy, chỉ những người có đủ điều kiện để có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mới có thể là chủ thể của tội phạm
Người đủ điều kiện có thể trở thành chủ thể của tội phạm phải có năng lực trách nhiệm hình sự Đó là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện và có khả năng điều khiển hành vi đó
Trang 39Người có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam phải
là người đạt độ tuổi nhất định và không mất năng lực trách nhiệm hình sự Trong đó Điều 12 BLHS quy định: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm
2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Và Điều 13 trong BLHS năm 1999 quy định: Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự:
1 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
2 Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại Khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự
Theo quy định tại Điều 140 BLHS năm 1999 thì bất cứ ai đạt độ tuổi nhất định và có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể là chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Khoản 1, 2 Điều 140 BLHS có mức án cao nhất đến 7 năm tù, theo sự phân loại tội phạm tại Điều 8 BLHS năm 1999 thì những hành vi phạm tội LDTNCĐTS được quy định tại khoản này là tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng nên theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 1999 thì chủ thể của tội phạm phải đủ 16 tuổi trở lên Nhưng theo quy định tại Khoản 3,4 Điều 140 BLHS là những khoản có khung hình phạt mà mức án cao nhất đến mười lăm năm tù và tù chung thân, đây là trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, chủ thể của tội phạm theo quy định tại Điều 12 BLHS phải là người từ đủ 14 tuổi trở lên
Trang 40Ngoài các chủ thể thường nêu trên, tại điểm d, Khoản 2 Điều 140 BLHS năm
1999 quy định tình tiết định khung tăng nặng đối với chủ thể có chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức
Chủ thể có chức vụ, quyền hạn là chủ thể thông thường và có thêm dấu hiệu đặc biệt là người có chức vụ quyền hạn Theo Điều 277 BLHS năm 1999, khái niệm tội phạm về chức vụ: “Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của Cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ
Người có chức vụ nói trên đây là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ” Người trở thành người có chức vụ quyền hạn là người qua quyết định bổ nhiệm của lãnh đạo Cơ quan nhà nước, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện công vụ nhất định và có quyền hạn trong khi thực hiện công vụ
Trong trường hợp này chủ thể phải có quyền hạn trong khi thực thi công vụ.Người phạm tội có thể được giao một công vụ thường xuyên, lâu dài hoặc chỉ trong một thời gian nhất định.Người phạm tội đã lợi dụng, lạm dụng quyền hạn gây thiệt hại về lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trong tội LDTNCĐTS, chủ thể đã sử dụng chức vụ, quyền hạn như một phương tiện để dễ dàng tiếp cận tài sản sở hữu của người bị hại để thực hiện hành vi phạm tội
2.1.2.4 Mặt chủ quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Mặt chủ quan của tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi Người phạm tội nhận thức rõ hành vilợi dụng lòng tin của người khác để chiếm đoạt tài sản là trái pháp luật và nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện và mong muốn hậu quả xảy ra
Mặt chủ quan của tội phạm là những diễn biến tâm lý bên trong của tội phạm, bao gồm: lỗi, động cơ và mục đích phạm tội, trong đó lỗi là yếu tố được