Từ ngày xưa, Cha, ông ta đã có kinh nghiệm vô cùng quí báu trong sản xuất nông nghiệp: “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Khoa học hiện đại ngày nay cũng đã chứng minh bên cạnh các yếu tố ảnh hưởng khác thì nước, phân, giống, chăm sóc vẫn là yếu tố quyết định đến phẩm chất và năng suất cây trồng. Trong một thế kỷ trở lại đây, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học trong sản xuất nông nghiệp đã đem lại những thành tựu hết sức rực rỡ để phục vụ cho nhu cầu của con người. Trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, phân bón được xem như một trong những nhân tố chính giúp tăng năng suất và phẩm chất của cây trồng. Diện tích đất gieo trồng cả nước khoảng 12 triệu hecta, lượng phân bón các loại sử dụng hàng năm khoảng 10 triệu tấn và có xu hướng tăng trong những năm tới. Do đó, hiểu biết và sử dụng phân bón có hiệu quả để phát huy vai trò tích cực của phân bón góp phần tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp và làm giảm thiểu tác hại xấu của phân bón tới môi trường là một yêu cầu đòi hỏi mỗi kỹ sư nông học cần phải nắm vững để ứng dụng vào thực tế sản xuất hay trong quản lý nông nghiệp. Đây cũng là mục tiêu của người viết cuốn giáo trình : “Độ phì nhiêu đất đai và Phân bón” nhằm cung cấp cho người đọc kiến thức cơ bản về phân bón và sử dụng phân bón.
Trang 1LỜI GIỚI THIỆU
Từ ngày xưa, Cha, ông ta đã có kinh nghiệm vô cùng quí báu trong sản xuất nông nghiệp: “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Khoa học hiện đại ngày nay cũng đã chứng minh bên cạnh các yếu tố ảnh hưởng khác thì nước, phân, giống, chăm sóc vẫn là yếu
tố quyết định đến phẩm chất và năng suất cây trồng Trong một thế kỷ trở lại đây, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học trong sản xuất nông nghiệp đã đem lại những thành tựu hết sức rực rỡ để phục vụ cho nhu cầu của con người
Trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, phân bón được xem như một trong những nhân tố chính giúp tăng năng suất và phẩm chất của cây trồng Diện tích đất gieo trồng cả nước khoảng 12 triệu hecta, lượng phân bón các loại sử dụng hàng năm khoảng 10 triệu tấn
và có xu hướng tăng trong những năm tới Do đó, hiểu biết và sử dụng phân bón có hiệu quả
để phát huy vai trò tích cực của phân bón góp phần tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp và làm giảm thiểu tác hại xấu của phân bón tới môi trường là một yêu cầu đòi hỏi mỗi kỹ sư nông học cần phải nắm vững để ứng dụng vào thực tế sản xuất hay trong quản
lý nông nghiệp
Đây cũng là mục tiêu của người viết cuốn giáo trình : “Độ phì nhiêu đất đai và Phân bón” nhằm cung cấp cho người đọc kiến thức cơ bản về phân bón và sử dụng phân bón
Trang 2CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU MÔN HỌC
Bài 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ ĐỘ PHÌ VÀ PHÂN BÓN
Trong canh tác nông nghiệp hiện đại, bón phân là biện pháp kỹ thuật ảnh hưởng quyết định đến năng suất, phẩm chất sản phẩm nông nghiệp, hiệu quả và thu nhập của người nông dân Phân bón cũng chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng chi phí sản xuất nông nghiệp, vì vậy, để đạt được năng suất cây trồng cao, phẩm chất tốt, có hiệu quả kinh tế và không làm ô nhiễm môi trường thì cần phải hiểu và sử dụng phân bón hợp lý
I Những thành tựu trong nghiên cứu về phân bón
1 Những di tích cổ của nền sản xuất nông nghiệp
Các tài liệu của khảo cổ học cho thấy có một vùng trên thế giới có một nền văn minh cổ nhất
là Mesopotamia, nằm giữa sông Tigris và Euphratws, Iraq ngày nay Có những bút tích cho thấy
vào khoảng năm 2500 trước Công nguyên vùng đất này có độ phì nhiêu rất cao
Herodotus, một nhà lịch sử Hylạp, đã trình bày vấn đề này sau khi khảo sát xuyên qua vùng
Mesopotonia 2000 năm sau đó Khả năng sản xuất cao của vùng đất này có thể là do hệ thống tưới tốt và độ phì nhiêu của đất cao, ngoài ra cũng còn có thể do 1 phần đóng góp của phù sa theo nước lụt hàng năm bởi các con sông này
Theophrastus (300 năm trước Công nguyên) lại cho rằng điều này do độ phì nhiêu cao của
phù sa sông Tigris, và ông cho rằng chính phù sa này chứa hàm lượng đất thịt cao và được bồi đắp trong 1 thời gian dài
Theophrastus (327 – 287 BC) đã khuyến cáo nên bón phân chuồng cho các loại đất có tầng
canh tác mỏng nhưng các loại đất dày bón ít hơn
1.1 Lịch sử nghiên cứu độ phì nhiêu đất đai trước thế kỷ 19 A.D
Thế kỷ 16
Sau công trình của Crescenzi, có rất ít nghiên cứu về nông nghiệp trong nhiều năm liền, mặc dù vào năm 1563 Palissy đã nổi danh nhờ phát hiện hàm lượng tro trong cây trồng là những chất được
cây hút từ đất
Francis Bacon (1561 – 1626) cho rằng chất dinh dưỡng chính của cây là nước, nếu trồng
liên tiếp cùng một loại cây thì đất sẽ bị kiệt quệ chất dinh dưỡng này
Jan Baptiste van Helmont ( 1580 – 1644), đã trình bày những kết quả thí nghiệm chứng
minh rằng nước là chất dinh dưỡng duy nhất của thực vật Ông ta cho 90 kg đất vào một bình chứa,
và trồng lên đó 1 cành liễu nặng 2,3 kg Ông che chắn cẩn thận không cho đất bị nhiễm bụi bẩn,
bình chỉ được cung cấp bằng nước mưa hoặc nước cất sau 5 năm, Van Helmont kết thúc thí
nghiệm Cây liễu cân nặng 77 kg Ông tính toán rằng chỉ có khoảng 0,6g đất được cây sử dụng Do ông chỉ cung cấp nước cho cây nên ông kết luận rằng nước là chất dinh dưỡng duy nhất cho cây trồng, còn 0,6 g đất mất trong thí nghiệm ông ta cho đó là sai số thí nghiệm Mặc dù kết luận của
Van Helmont không đúng nhưng tư tưởng này vẫn còn tồn tại và nghiên cứu sau này để tìm hiểu sự
dinh dưỡng của cây trồng
Thế kỷ 17
Johann Rundolf Glauber (1604 – 1668), một nhà hóa học người Đức cho rằng không phải
nước, mà chính là KNO 3 là chất dinh dưỡng của thực vật
Những tiến bộ trong nghiên cứu nông nghiệp thế kỷ 19
Theodore de Saussure (1767 – 1845) nghiên cứu trên 2 vấn đề :
Ảnh hưởng của không khí đến thực vật
Nguồn gốc của muối trong cây
Kết quả là Saussure khám phá ra rằng thực vật hấp thu O2 và giải phóng CO2, tiến trình chính của sự hô hấp Ngoài ra, Ông cũng khám phá ra thực vật lại hấp thu CO và giải phóng O khi
Trang 3có sự hiện diện của ánh sáng; nhưng thực vật lại bị chết khi bị giữ trong môi trường không có CO2 Đây là quá trình quang hợp của thực vật
De Saussure kết luận rằng đất chỉ đóng góp 1 phần nhỏ trong sự dinh dưỡng của thực vật,
nhưng ông cũng cho rằng đất cung cấp 2 thành phần chính cho thực vật là tro ( Ca, Mg, K và những chất khoáng khác ) và Đạm ( N ) Ông ta loại bỏ ý nghĩ rằng thực vật sinh ra Potash, và rễ thực vật không có tính chất của 1 màng lọc Rễ thực vật có khả năng hấp thu nước nhanh so với chất dinh dưỡng Ông ta cũng trình bày sự khác nhau trong sự hấp thu giữa các muối, và các thành phần muối trong cây tùy thuộc vào đất, tuổi cây và các bộ phận của cây
Jean Baptiste Boussingault (1802 - 1887 ), người được coi là cha đẻ của phương pháp thí
nghiệm đồng ruộng Boussingault đã áp dụng kỹ thuật cân trọng lượng và phân tích, phân hữu cơ
được bón từng lô thí nghiệm trên đồng ruộng, đồng thời xác định trọng lượng và phân tích cây trồng khi thu hoạch
Justus von Liebig (1803 - 1873), nhà hóa học Đức, người đã vén được bức màn bí mật của
mùn trong đất đối với sinh trưởng của thực vật Liebig cho rằng:
1 Phần lớn C có trong cây bắt nguồn từ CO2 trong không khí
2 H và O2 có nguồn gốc từ nước
3 Các kim loại kiềm cần thiết cho sự trung hòa các acids hình thành trong cây và là kết quả của các hoạt động trao đổi chất
4 Phosphorus (P ) cần cho sự hình thành hạt
5 Cây hấp thu tất cả các chất từ đất, nhưng chỉ thải ra từ rễ các chất không cần thiết
Theo ý tưởng của Liebig, rất nhiều thí nghiệm đồng ruộng được thiết lập trong thời gian đó,
nổi tiếng nhất là trạm thí nghiệm Rothamsted (Anh ) của J.B.Lawes và J H Gilbert (1843) Sau
12 năm nghiên cứu trên trạm khí tượng này, họ đưa ra một số kết luận như sau :
1 Cây trồng có nhu cầu cả 2 chất là P và K, nhưng phân tích thành phần tro thực vật không xác định nhu cầu của cây
2 Các cây không thuộc họ đậu cần cung cấp N Không có N, cây sẽ không sinh trưởng, bất
kể hàm lượng P và K Hàm lượng NH3 cung cấp từ không khí không thể thỏa mãn nhu cầu N của cây
3 Độ phì nhiêu đất đai có thể duy trì trong nhiều năm bằng cách bón phân hóa học
4 Bỏ hóa đất là phương pháp tốt nhất để nâng cao hàm lượng dinh dượng hữu dụng trong đất
1.2 Thành tựu nghiên cứu nông nghiệp hiện nay
Bảng 1.1 Hệ thống nông nghiệp qua các thời kỳ
Các hệ thống nông
nghiệp
cốc (tấn/ha)
Dân số thế giới (triệu)
Diện tích /Đầu người (ha)
Thời kỳ săn bắt và hái
lượm
Nông nghiệp du canh Đồ đá mới (10.000
năm trước)
Luân canh thời trung
Phân hóa học/ thuốc
bảo vệ thực vật
Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17, dân số tăng gấp hai lần và năng suất ngũ cốc cũng tăng hai lần,
Từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 20, dân số tăng 3,5 lần và trong thời gian sắp tới dân số thế giới không ngừng gia tăng, nhất là ở những khu vực kém phát triển, trong khi đó chúng ta phải đối mặt với
Trang 4nhiều vấn đề giới hạn năng suất cây trồng như sâu bệnh, trình độ canh tác, hệ thống chính trị, ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu làm cho năng suất cây trồng hay sản lượng lương thực khó có thể tăng được trong thời gian tới
đang phát triển (triệu người)
Số
Châu Mỹ
Latinh
Đông
Nam Á và
Nam Á
Tổng
Số người bị thiếu lương thực không ngừng gia tăng trong những năm vừa qua, mặc dù cuộc cách mạng xanh đã góp phần rất lớn trong việc giảm đói cho các nước nghèo Nhưng chúng ta đang đứng trước thực trạng số người bị đói sẽ không giảm trong những năm tới nhất là ở các nước nghèo
ở Châu Phi, Đông Nam Á, Tây Á của châu Á
(triệu tấn)
Sản phẩm từ
vật nuôi
Như đã trình bày ở phần trên trong thế kỷ tới chúng ta phải đối mặt với vấn đề an ninh lương thực, sản lượng lương thực thực phẩm sẽ không có bước nhảy vọt như trong thế kỷ qua, theo
dự báo trong tương lai để sản xuất ra một đơn vị lương thực, chúng ta phải tốn nhiều năng lượng hơn, đầu tư nhiều vốn hơn và dễ gặp rủi ro hơn
Sản lượng phân bón của thế giới luôn tăng để đáp ứng nhu cầu sử dụng phân bón trong những thập kỷ qua Để đáp ứng nhu cầu lương thực cho cả hành tinh, các nước đang phát triển sản xuất và sử dụng rất nhiều phân bón vào nền nông nghiệp của mình Do hiệu quả sử dụng phân bón thấp nên kéo theo đó là hàng loạt vấn đề liên quan đến môi trường và xã hội cần giải quyết trong tương lai như ô nhiễm môi trường, phú dưỡng hóa, dịch hại trong nông nghiệp, tình trạng thoái hóa đất, và kéo theo là nạn đói
Trang 5Bảng 1.4 Sản lượng phân bón trên thế giới
Các nước đang phát triển
Các nước phát triến
Toàn thế giới
1.3 Tình hình sử dụng phân bón hóa học ở Việt Nam
Trước 1970 việc sử dụng phân hóa học ở Việt Nam chưa cao Tổng lượng NPK sử dụng khoảng 30 kg/ hecta, đồng thời hiệu quả sử dụng phân bón cũng chưa cao Thập niên 1970 – 1980 lượng phân bón sử dụng tăng đáng kể, nhưng lượng phân bón trên một đơn vị diện tích không tăng
do thời kỳ chúng ta mở rộng diện tích canh tác quá lớn
Thập niên 1980 đến nay lượng phân bón sử dụng ở Việt Nam gia tăng rất mạnh, nhất là phân đạm Hiệu quả sử dụng phân bón cũng tăng, nhưng sử dụng các loại phân N, P, K không cân đối
- Nhập khẩu
2000 1100
2100 0
2200 0
- Nhập khẩu
300 300
400 400
500 500
Lân + lân nung
chảy
- Nhu cầu
- Nhập khẩu
1400 0
1600 0
2000 0
- Nhập khẩu
2000 0
2500 0
3000 0 Phân vi sinh, phân
hữu cơ, phân bón lá
- Nhu cầu
- Nhập khẩu
1000 20
1300 30
1500 50 Trong thời gian sắp tới, với sự hình thành các nhà máy sản xuất phân bón, lượng phân bón nhập khẩu để phục vụ cho nông nghiệp giảm dần, nhưng nhu cầu phân bón vô cơ (hóa học) vẫn tăng Hiện tại, chúng ta đang xây dựng một nền nông nghiệp theo hướng bền vững nên việc sử dụng quá nhiều phân bón hóa học là một vấn đề cần phải giải quyết trong tương lai
Trang 6II Các khái niệm cơ bản
1 Độ phì nhiêu đất đai
Độ phì nhiêu của đất hay còn gọi là khả năng sản xuất của đất là tổng hợp các điều kiện, các
yếu tố để đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt Độ phì nhiêu của đất là khả năng
cung cấp đủ nước, oxi và chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng bảo đảm năng suất cao, đồng
thời không chứa các chất có hại cho cây trồng Độ phì nhiêu của đất là một trong những yếu tố
quyết định năng suất cây trồng
2 Phân bón
Phân bón là các chất, hợp chất vô cơ hay hữu cơ tự nhiên hay tổng hợp được bón vào trong đất, phun qua lá để cung cấp các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng đồng thời duy trì độ phì nhiêu của đất Phân bón được dùng để tăng tốc độ sinh trưởng, năng suất , chất lượng hay giá trị dinh dưỡng của cây trồng; Gián tiếp hay trực tiếp duy trì
và làm tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đất Nhiều thập niên vừa qua, ý nghĩa của từ phân bón được hiểu là các loại phân hóa học (phân vô cơ) Tuy nhiên, trong những năm gần đây người ta chú
ý đến các loại phân bón hữu cơ và vi sinh, chúng cũng là các loại phân bón chứa các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng
3.1 Phân loại
3.1.1 Về mặt hóa học
Phân bón được chia làm các nhóm: phân vô cơ, phân hữu cơ, phân vi sinh
Phân vô cơ, khoáng: phân vô cơ là phân bón mà thành phần cấu tạo phân tử không có
nguyên tố carbon, chất dinh dưỡng ở dạng muối vô cơ được tạo thành do công nghệ vật lý hay hoá học, trong nhóm này gồm có:
Phân hóa học: là phân bón sản xuất theo công nghệ thường có phản ứng hóa học xảy
ra Tuy nhiên, trong một số trường hợp các sản phẩm có thể được sản xuất từ công nghệ tinh tuyển (làm giàu) vật lý những khoáng vật có sẵn trong tự nhiên cũng coi là phân hóa học
Phân khoáng: là phân có nguồn gốc khoáng vật, được khai thác từ lòng đất và qua quá trình làm giàu hoặc chế biến
Phân hữu cơ:có nguồn gốc từ động thực vật là phân gia súc, gia cầm, than bùn, phân xanh,
phân rác, phân ủ dư thừa thực vật, bùn ao, bùn cống, chúng có thể cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng và cải thiện lý tính của đất Phân hữu cơ thường được bón vào đất với số lượng lớn để thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng Sử dụng phân hữu cơ là một phần quan trọng trong các chu kỳ biến đổi các chất dinh dưỡng trong tự nhiên Ngoài phần chính là chất hữu cơ, mùn phân hữu cơ chứa hầu hết các nguyên tố khoáng nhưng với nồng độ rất thấp so với các loại phân vô cơ
Phân chelate: là hợp chất giữa chất hữu cơ (acid hữu cơ) và các nguyên tố kim loại
Phân vi sinh: là loại phân có chứa các nhóm vi sinh vật khác nhau, được đưa vào bằng
nhiều phương pháp, nhằm nâng cao khả năng hữu dụng của các chất dinh dưỡng cho cây trồng từ các nguồn dinh dưỡng mà tự bản thân cây trồng không thể hấp thu được Như Rhizobium (cho cây
họ đậu), tảo lục lam, Azospirillium, Azotobacter, Frankia (các cây không thuộc họ đậu) là những loại có khả năng cố định đạm Các loại phân lân sinh học được sản xuất bởi các loại vi khuẩn và nấm có khả năng hòa tan lân không hữu dụng, biến đổi chúng thành các dạng hữu dụng Các dòng
vi khuẩn hữu hiệu trong việc chuyển hóa lân gồm Pseudomonas striata, Pseudomonas rattonics,
và một số loại vi khuẩn Bacillus khác Trong số các loại nấm Aspergillus và Penecillium có thể hòa tan P trong đất và phân bón hữu hiệu Nấm vùng rễ (mycorrhizae) là một nhóm phân sinh học khác
có thể kích thích cây trồng gia tăng khả năng hấp thụ P trong đất và trong phân bón
Vi sinh vật trong phân phải còn sống trong quá trình sản xuất, bảo quản, vận chuyển và chúng phải phát huy tác dụng khi bón ra đồng ruộng
Trang 7Phân sinh hoá: là phân được sản xuất bằng công nghệ sinh học và hoá học Trong đó công
nghệ sinh học có sự tham gia của vi sinh vật với vai trò xúc tác quá trình phân giải nguyên liệu, công nghệ hoá học để tạo nên sản phẩm cụ thể
Phân lỏng
Là một chất dinh dưỡng hoặc hổn hợp chất dinh dưỡng ở dạng lỏng dùng để bón cho cây (gồm phân lỏng trong suốt và phân lỏng dạng huyền phù)
Phân bón lá
Phân chuyên dùng để hòa với nước phun lên thân, lá cây trồng nhằm bổ sung chất dinh dưỡng cho cây, có thể là các nguyên tố đa, trung, vi lượng và các chất điều hoà sinh trưởng
3.1.2 Về mặt nông học
Phân bón được chia làm hai nhóm: nhóm có tác dụng trực tiếp cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng và nhóm có tác dụng gián tiếp thông qua việc cải thiện tính chất đất Phân bón có tác dụng trực tiếp hầu hết là các loại phân vô cơ, chelate Phân bón có tác dụng gián tiếp như vôi, thạch cao, bột lư huỳnh, hầu hết các loại phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh
Tuy nhiên sự phân loại này cũng có tính chất tương đối, vì phân bón có tác dụng trực tiếp cũng gián tiếp ảnh hưởng đến tính chất đất Ngược lại phân bón có tác dụng gián tiếp cũng cung cấp một phần chất dinh dưỡng cho cây trồng như vôi, thạch cao, phân hữu cơ…
Chất cải tạo đất: là những chất được đưa vào đất để hoàn thiện tính chất vật lý, hoá học và sinh học của đất
3.1.3 Theo phương pháp sản xuất
Phân bón được chia làm hai dạng phân bón sản xuất tại chỗ và phân bón sản xuất công nghiệp Phân sản xuất tại chỗ, còn được gọi là phân địa phương, được sản xuất theo quy trình đơn giản và nguyên liệu sử dụng có sẵn tại địa phương
Phân công nghiệp phần lớn là các loại phân vô cơ, phân vi sinh và chelate Ngoài ra còn một
số loại phân hữu cơ khác được sản xuất theo quy trình công nghiệp như phân rác
3.1.4 Về phương pháp sử dụng
Phân bón được chia thành phân bón vào đất và phân bón qua lá; phân bón vào đất thường là các loại phân bón đa lượng, trung luợng vi lượng, phân hữu cơ, một số loại phân vi sinh, chelate Đặc điểm chung của loại phân này thường được sử dụng với liều lượng rất cao
Phân bón qua lá thường gồm các loại phân vi lượng, phân bón có chứa các kích thích tố sinh trưởng , một số phân vi sinh, chelate, và phân hữu cơ khác Các loại phân này thường sử dụng với liều luợng rất thấp
3.1.5 Về thành phần
Phân bón được chia thành phân đơn giản và phân phức hợp
Phân đơn giản, trong phân bón chỉ chứa một nguyên tố dinh dưỡng chính Ví dụ, phân urea, super lân, KCl…
Phân phức hợp trong phân có chứa nhiều chất dinh dưỡng, như NPK, DAP Phân phức hợp
có thể được sản xuất bằng cách pha trộn các loại phân đơn giản hay hình thành từ các phản ứng hóa học của các chất dinh dưỡng
Trên quan điểm cây trồng và cải tạo đất, có thể nói hầu hết các loại phân bón đều chứa nhiều chất dinh dưỡng Ví dụ, phân amonium sulfate vừa chứa NH4+ vừa chứa SO42-, KNO3 chứa K+ và
NO3-, lân chứa H2PO4- và Ca2+…, xu hướng hiện nay sản luợng phân chứa nhiều yếu tố dinh dưỡng tăng rất mạnh, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng phân bón
Phân đơn
Phân chỉ cung cấp một ngyên tố dinh dưỡng cho cây trồng.
Trang 8Phân hỗn hợp
Phân cung cấp nhiều nguyên tố dinh dưỡng cho cây trồng, trên nguyên tắc phối trộn các phân đơn lại với nhau (về mặt cơ học) mà không có phản ứng hoá học (Phân hỗn hợp trộn là phối trộn các hạt nguyên liệu riêng lẽ với nhau; phân hỗn hợp một hạt được sản suất từ các nguồn nguyên liệu khác nhau bằng công nghệ vật lý tạo thành hạt đồng nhất)
Phân phức hợp
Một loại phân cung cấp nhiều nguyên tố dinh dưỡng cho cây trồng, trên cơ sở các phản ứng hóa sinh như MAP, DAP
3.2 Các chất dinh dưỡng trong phân bón
Các dinh dưỡng chủ yếu mà cây trồng hấp thu từ đất là đạm (N), lân (P),kali (K), calcium (Ca), magnesium (Mg), sulfua (S), sắt (Fe), manganese (Mn), kẽm (Zn), đồng (Cu), trong đó N, P,
K là ba nguyên tố chính thường được gọi là các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng và là các nguyên tố cây trồng có nhu cầu cao nhất nên thường bị thiếu nhất so với các nguyên tố khác Phân bón có chứa N, P, K gọi là phân đa lượng Tương tự, phân bón có chứa các nguyên tố trung và vi lượng gọi
là phân trung và vi lượng Trong đất, các nguyên tố đa lượng thường được cây trồng lấy đi với hàm lượng tương đối lớn nên tốc độ kiệt quệ trong đất rất nhanh Ngoài ra, các chất này còn bị mất do các quá trình tự nhiên như rửa trôi, bay hơi hay xói mòn
Ngày nay phần lớn các loại đất ở Việt Nam chúng ta đều có nhu cầu phân bón ít nhất là một trong các nguyên tố N, P, K Khi cung cấp cho đất các nguyên tố này thông qua phân bón thì chúng được gọi là dinh dưỡng trong phân bón Dinh dưỡng này được cây trồng hút, hấp thụ bỡi rễ hay lá ở dạng ion hoặc phức trong dung dịch Các dạng phân bón khác biệt bởi cấu tạo hoá học và khả năng
hoà tan, chỉ những chất mà cây trồng có khả năng sử dụng mới gọi là dinh dưỡng hữu hiệu.
3.2.1 Công thức phối trộn
Tỉ lệ phần trăm các chất dinh dưỡng trong hỗn hợp phối trộn
3.2.2 Công thức phân bón
Lượng phân (nguyên chất) để bón cho một đơn vị diện tích ( thường là 1 hecta)
3.3 Bón phân hợp lý và cân đối ( 5 đúng + 1 cần)
- Đúng loại phân: bón theo nhu cầu của cây trồng, phù hợp với từng loại đất
- Đúng thời điểm: phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây
- Đúng thời cơ: phân bón phải thúc đẩy được sự phát triển của các tác nhân có lợi cho cây trồng
- Đúng vụ và đúng thời tiết
- Đúng phương pháp
- Bón phân cân đối
3.4 Yêu cầu khi sử dụng phân bón đồng bộ và hợp lý
- Chủ động bón phân hợp lý nhưng có sự kết hợp với các yếu tố khác như giống, nước, kỹ thuật canh tác, để tăng năng suất cây trồng mà không áp đặt theo ý kiến chủ quan của con người
- Bón phân phải phù hợp với sự phát triển tự nhiên của cây trồng
- Phải theo dõi các biểu hiện của cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển
4 Nghiên cứu độ phì nhiêu đất đai và sử dụng phân bón trong tương lai.
Sự tiến bộ trong nông nghiệp phụ thuộc vào sự tiến bộ trong nghiên cứu khoa học Mỗi vấn
đề được giải quyết hôm nay sẽ có nhiều vấn đề phát sinh ra từ đó Các nhà khoa học nông nghiệp
phải trả lời được câu hỏi cơ bản là tại sao? Hơn là trả lời câu hỏi cái gì?
Trang 9III Các qui định trong quản lý và sản xuất phân bón hiện nay
1Hàm lượng dinh dưỡng được chấp nhận và định lượng bắt buộc đối với các yếu tố trong phân bón
Bảng 1.6 Hàm lượng dinh dưỡng bắt buộc trong phân bón
Trang 10STT Chỉ tiêu Hàm lượng không
thấp hơn * (%)
1 Phân Urê, DAP, MAP, KNO3, SA
2 Phân DAP, MAP, Supe phốt phát, Lân nung chảy
3 Phân KCl, K2SO4, KNO3,
4 Phân SA, K2SO4
5
Phân trộn (NPK, NP, NK, PK), phân bón lá có hàm lượng một yếu tố Nts
hoặc P2O5hh hoặc K2Ohh hoặc có tổng hàm lượng hai hoặc cả ba yếu tố Nts,
P2O5hh và K2Ohh ≥ 18%
- Một yếu tố Nts hoặc P2O5hh hoặc K2Ohh 90
- Tổng hai hoặc cả ba yếu tố Nts, P2O5hh và K2Ohh 93
6 Phân bón lá có hàm lượng một yếu tố Nts hoặc P2O5hh hoặc K2Ohh hoặc có
tổng hàm lượng hai hoặc cả ba yếu tố Nts, P2O5hh và K2Ohh < 18%
- Một yếu tố Nts hoặc P2O5hh hoặc K2Oht 87
- Tổng hai hoặc cả ba yếu tố Nts, P2O5hh và K2Oht 90
7 Phân trung lượng (Ca, Mg, S, SiO2 hữu hiệu)
7.1
Phân trung lượng bón rễ
- Tổng hai hoặc cả bốn yếu tố trung lượng 90
7.2
Phân trung lượng bón lá, phân đa lượng bón rễ, phân hữu cơ bổ sung trên
1% cho một nguyên tố trung lượng
- Tổng từ hai tới bốn yếu tố trung lượng 85
8 Phân vi lượng (Fe, Zn, Cu, B, Mo, Mn, Co)
8.1
Phân vi lượng bón rễ, phân bón lá, phân đa lượng bón rễ, phân hữu cơ bổ
sung trên 1000 ppm cho một nguyên tố vi lượng
- Tổng các yếu tố vi lượng 85
8.2
Phân bón lá, phân đa lượng bón rễ, phân hữu cơ bổ sung dưới 1000 ppm
cho một nguyên tố vi lượng
8.3 Phân bón lá, phân đa lượng bón rễ, phân hữu cơ bổ sung vi lượng ở dạng vết không định lượng (TE)
9 Phân bón có chứa chất hữu cơ
- Hàm lượng hữu cơ
- Hàm lượng một yếu tố đa lượng Nts hoặc P2O5hh hoặc K2O hh đối với
phân bón hữu cơ khoáng
80
90
10 Phân bón có chứa axít amin, vitamin, các chất sinh học khác
- Tổng hàm lượng các chất sinh học 85
Ghi chú: * So với mức Công bố tiêu chuẩn áp dụng, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng hoặc quy định
trong Danh mục phân bón
1 Ví dụ đối với phân urê 46% N, khi phân tích kiểm tra chất lượng: