TRẦN HÙNG SƠNTên khóa luận: “ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC ĐẾN CÂY CHÈ VÀ SỨC KHỎE NGƯỜI DÂN TRỒNG CHÈ TẠI XÃ BÌNH SƠN, THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN”
Trang 1TRẦN HÙNG SƠN
Tên khóa luận:
“ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC ĐẾN CÂY CHÈ VÀ SỨC KHỎE NGƯỜI DÂN TRỒNG
CHÈ TẠI XÃ BÌNH SƠN, THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG,
TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Địa chính Môi trường
Khóa học : 2011 - 2016
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN HÙNG SƠN
Tên khóa luận:
“ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT VÀ PHÂN BÓN HÓA HỌC ĐẾN CÂY CHÈ VÀ SỨC KHỎE NGƯỜI DÂN TRỒNG
CHÈ TẠI XÃ BÌNH SƠN, THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG,
TỈNH THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Địa chính Môi trường
Khóa học : 2011 - 2016 Giảng viên hướng dẫn : Th.S Dương Thị Thanh Hà
Thái Nguyên, năm 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình điều tra, nghiên cứu để hoàn thành đề tài, ngoài sự nỗ lực
của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các thầy cô giáo và sự giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của cơ quan và nhân dân địa phương
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo - ThS Dương Thị Thanh Hà người đã luôn theo sát, tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình hoàn thành đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy giáo, cô giáo khoa Quản lý Tài Nguyên, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã luôn giúp đỡ tạo mọi điều kiện cho tôi trong thời gian qua
Tôi xin trân trọng cảm ơn Chủ Tịch, Phó Chủ Tịch UBND xã Bình Sơn, Bộ phận một cửa xã, Phòng khuyến nông – thú y xã, Văn phòng xã, cùng các phòng, ban chuyên môn và nhân dân xã Bình Sơn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và cung cấp đầy đủ các thông tin, số liệu trong quá trình nghiên cứu đề tài này
Cuối cùng tôi xin cảm ơn sâu sắc tới gia đình, những người thân và bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Trần Hùng Sơn
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Mối liên hệ giữa mật độ và triệu chứng gây hại của rầy xanh 22
Bảng 2.2 Mối liên hệ giữa mật độ và triệu chứng gây hại của bọ cánh tơ 23
Bảng 2.3 Mối liên hệ giữa mật độ và triệu chứng gây hại của nhện đỏ nâu 20
Bảng 3.1 Loại mẫu, phương pháp phân tích 27
Bảng 4.1: Dân số, lao động và việc làm 38
Bảng 4.2: Tổng hợp dân số xã Bình Sơn năm 2015 38
Bảng 4.3: Hiện trạng lao động 39
Bảng 4.4 Diện tích, năng suất và sản lượng chè của xã Bình Sơn giai đoạn 2013-2015 42
Bảng 4.5 Các loại thuốc mà người dân sử dụng cho cây chè 43
Bảng 4.6 Quy trình dùng thuốc BVTV 44
Bảng 4.7 Thời gian cách ly sau khi sử dụng thuốc BVTV 45
Bảng 4.8 Lượng phân bón sử dụng của khu vực (trung bình/ha) 45
Bảng 4.9 Quy trình bón phân 46
Bảng 4.10 Đánh giá ảnh hưởng của phân hóa học và thuốc BVTV tới cây chè xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên 47
Bảng 4.11 Thực trạng các triệu chứng cơ năng của người dân khi sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học 48
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
MTST : Môi trường sinh thái
IFA : Hiệp hội phân bón quốc tế
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Cơ sở khoa học 5
2.1.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.2 Cơ sở thực tiễn 8
2.1.3 Cơ sở pháp lý 15
2.2 Khái quát về thuốc BVTV và phân bón hóa học 17
2.2.1 Khái niệm về thuốc BVTV và phân bón hóa học 17
2.2.2 Phân loại thuốc BVTV và phân bón hóa học 17
2.2.3 Những nghiên cứu về sâu, bệnh hại chè ở Việt Nam 20
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.2 Phạm vi nghiên cứu 26
3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
3.4 Nội dung nghiên cứu 26
3.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Bình Sơn, thành phố Sông Công 26 3.4.2 Thực trạng sản xuất chè tại xã Bình Sơn, thành phố Sông Công (3 năm gần đây) 26
Trang 73.4.3 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học cho chè tại địa bàn xã
Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên 26
3.4.4 Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học đến cây chè của xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên 26
3.4.5 Sức khỏe người dân trong vùng sản xuất chè 27
3.4.6 Giải pháp hạn chế ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học đến cây chè và sức khỏe người dân 27
3.5 Phương pháp nghiên cứu 27
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 27
3.5.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn 27
3.5.3 Phương pháp lấy mẫu và loại mẫu phân tích 27
3.5.4 Phương pháp trực tiếp thị sát đồng ruộng 28
3.5.5 Phương pháp tổng hợp, đánh giá và so sánh 28
3.5.6 Phương pháp xử lý và thống kê số liệu 28
PHẦN 4 DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
4.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Bình Sơn - Thành Phố Sông Công - Tỉnh Thái Nguyên 29
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên và cảnh quan môi trường 29
4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 33
4.1.3 Nhận xét chung về điều kiện kinh tế - xã hội 43
4.2 Thực trạng sản xuất chè tại xã Bình Sơn - Thành Phố Sông Công - Tỉnh Thái Nguyên 43
4.3 Tình hình sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học cho cây chè tại khu vực điều tra 43
4.3.1 Tình hình sử dụng thuốc BVTV cho cây chè tại khu vực điều tra 43
4.3.2 Tình hình sử dụng phân hóa học cho cây chè tại khu vực điều tra 46
Trang 84.4 Ảnh hưởng của thuốc BVTV và phân hóa học tới cây chè khu vực điều tra
47
4.5 Kết quả điều tra sức khỏe người dân ở vùng trồng chè 48
4.6 Giải pháp nâng cao công tác quản lý và sử dụng thuốc BVTV 50
4.6.1 Giải pháp quản lý 50
4.6.2 Giải pháp xử lý 54
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Đề nghị 57
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây nền sản xuất nông nghiệp của nước ta đã có những bước chuyển biến tích cực tăng cả về mặt năng suất và sản lượng cây trồng Cơ cấu cây trồng đã ngày càng đa dạng và phong phú Trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp của nước ta hiện nay chè là một loại cây trồng đem lại nhiều giá trị kinh tế cũng như giá trị tiêu dùng Đã từ lâu sản phẩm chè trở thành loại thức uống bổ dưỡng không thể thiếu của người dân đồng thời chè cũng là một loại dược liệu có thể chữa được nhiều bệnh.Trong thời gian gần đây sản phẩm chè không những được tiêu thụ mạnh mẽ trong nước mà còn là một mặt hàng quan trọng xuất khẩu ra nước ngoài đem lại lợi nhuận cho nền kinh tế nước nhà Kết thúc năm 2015 sản lượng chè búp tươi đạt 1,2 triệu tấn, sản lượng chè búp khô đạt 260.000 tấn, trong đó xuất khẩu 200.000 tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu 440 triệu USD, giá xuất khẩu bằng với giá bình quân của thế giới (2.200 USD/tấn)
Việt Nam có điều kiện thiên nhiên và đất đai thuận lợi để phát triển ngành chè Chè ở Việt Nam được trồng chủ yếu trên đất đồi núi ở nhiều tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, miền Trung là Hà Tĩnh và miền Nam là Lâm Đồng và Gia Lai dưới hai hình thức chủ yếu là nông trường và hộ gia đình Hiện nay, diện tích đât trồng chè của Việt Nam có khoảng 136.000 ha Tuy nhiên ở nước ta việc phát triển cây chè gặp rất nhiều khó khăn, trong đó sâu bệnh hại là nguyên nhân quan trọng, làm tổn thất sản lượng từ 15- 30%, chất lượng cũng giảm sút Trong quá trình canh tác đã xuất hiện nhiều loại sâu bệnh hại chè như: rầy xanh, bọ xít muỗi, bọ cánh tơ, nhện đỏ nâu… Vì vậy việc phòng trừ các loại sâu bệnh là nhân tố quan trọng để qui định sự phát triển, duy trì và tăng năng suất cây trồng Cũng như một số vùng trồng chè
Trang 10khác Thái Nguyên có vị trí nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và cây chè được chuyên canh cao nên rất đa dạng về lượng cũng như loại sâu bệnh hại Trong công tác BVTV hiện nay ở cây chè cũng như các loại cây trồng khác, chúng ta tập trung chủ yếu phòng chống sâu bệnh hại bằng các biện pháp đơn lẻ và lấy biện pháp hóa học làm chủ đạo Biện pháp này có lợi là thuận tiện, dập tắt các đợt dịch nhanh chóng và làm tăng năng suất cây trồng
rõ rệt Tuy nhiên nó cũng mang lại nhiều tiêu cực là tiêu diệt thiên địch của sâu hại, dễ phát sinh dịch mới, phá vỡ cân bằng sinh thái trong nông nghiệp
Do nhận thức không đầy đủ, việc sử dụng thuốc BVTV của bà con nông dân còn chưa hiệu quả và không tuân thủ theo đúng nguyên tắc qui định, cũng đã gây ra những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng, gây ô nhiễm môi trường hệ sinh thái Không chỉ vậy mà nó còn làm ảnh hưởng đến chất lượng chè do lượng tồn dư thuốc BVTV còn tồn tại trong sản phẩm chè vượt quá tiêu chuẩn Do đó trực tiếp gây ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ của chè
Phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật là một trong những chất hóa học
do con người tạo ra ngoài những mặt lợi nó cũng gây ra những ảnh hưởng và khó khăn do quá lạm dụng gây ảnh hưởng trầm trọng đến môi trường Việc lạm dụng và thói quen thiếu khoa học trong việc bón phân hóa học và sử dụng thuốc BVTV của người dân đã gây nên tác động lớn đến môi trường Nhiều nhà nông do thiếu hiểu biết đã thực hiện theo phương châm “phòng hơn chống” đã sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học theo kiểu phòng ngừa định
kì vừa tốn kém lại tiêu diệt nhiều loài có ích, gây kháng thuốc với sâu bệnh, càng làm cho sâu bệnh hại phát triển thành dịch và lượng thuốc BVTV được
sử dụng càng tăng Đây là vấn đề cần được quan tâm vì phần lớn nước ta là vùng sản xuất nông nghiệp, mỗi năm sử dụng lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật là không nhỏ, những hệ lụy tới môi trường là không tránh khỏi
Trang 11Xuất phát từ lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học đến cây chè và sức khỏe của người dân trồng chè tại xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên ”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
1.3 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học:
+ Kết quả nghiên cứu sẽ là cảnh báo về việc sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học không đúng kỹ thuật tại vùng sản xuất chè tại xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
+ Đưa ra các giải pháp phù hợp góp phần vào việc quản lý môi trường tỉnh Thái Nguyên
Trang 12+ Củng cố kiến thức cơ sở cũng như kiến thức chuyên ngành, tạo điều
kiện tốt hơn cho công tác bảo vệ môi trường
+ Nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cơ quan, nhà nước trong việc quản
lý thuốc BVTV tăng cường công tác khuyến nông nhằm nâng cao ý thức người dân sản xuất chè
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Cơ sở lý luận
* Khái niệm chất độc
Là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật một lượng nhỏ cũng có thể gây biến đổi sâu sắc về cấu trúc hay chức năng trong cơ thể sinh vật, phá hủy nghiêm trọng chức năng của cơ thể làm cho sinh vật ngộ độc hoặc chết [6]
*Khái niệm liều lượng
Là lượng chất độc cần thiết tính bằng gam hay mg để gây tác động nhất định lên trên cơ thể sinh vật trong nghiên cứu độc lý
Liều lượng sử dụng: là liều lượng cần thiết dùng để phun trên diện tích nhất định, được chia ra:
- Liều lượng hoạt chất: là lượng thuốc nguyên chất cần thiết dùng cho một đơn vị diện tích (g, kg) a.i với thuốc ở thể rắn, hoặc (ml) a.i với thuốc ở thể lỏng ( a.i là đơn vị hoạt chất)
- Liều lượng thuốc thương phẩm: là lượng thuốc thương phẩm cần thiết cho một đơn vị diện tích, được tính bằng g, kg, lít, ml thuốc thương phẩm trên một đơn vị diện tích nào đó [6]
*Ô nhiễm môi trường do phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật:
Trang 14tương đối nhỏ, đại bộ phận còn lưu lại trong đất, qua phân giải chuyển hoá, biến thành muối nitrat trở thành nguồn ô nhiễm cho mạch nước ngầm và các dòng sông Cùng với sự tăng lên về số lượng sử dụng phân hoá học, độ sâu và
độ rộng của loại ô nhiễm này ngày càng nghiêm trọng Sự tích lũy cao các chất hóa chất dạng phân bón cũng gây hại cho MTST đất về mặt cơ lý tính Khi bón nhiều phân hóa học làm đất hở nên chặt hơn, độ trương co kém, kết cấu vững chắc, không tơi xốp mà nông dân gọi là đất trở nên “chai cứng”, tính thoáng khí kém hơn đi, vi sinh vật ít đi vì hóa chất hủy diệt vi sinh vật.[4]
- Phân hữu cơ:
Phần lớn nông dân bón phân hữu cơ chưa được ủ và xử lí đúng kĩ thuật nên gây nguy hại cho môi trường đất Nguyên nhân là do trong phân chứa nhiều giun sán, trứng giun, sâu bọ, vi trùng và các mầm bệnh khác khi bón vào đất, chúng có điều kiện sinh sôi nảy nở, lan truyền môi trường xung quanh, diệt một số vi sinh vật có lợi trong đất Bón phân hữu cơ quá nhiều trong điều kiện yếm khí sẽ làm quá trình khử chiếm ưu thế; sản phẩm của nó chứa nhiều acid hữu cơ làm môi trường sinh thái đất chua, đồng thời chứa nhiều chất độc như H2S, CH4, CO2 Sự tích lũy cao các hóa chất dạng phân hóa học sẽ gây hại cho môi trường sinh thái đất về mặt cơ lý tính, đất nén chặt, độ trương co kém, không tơi xốp, tính thoáng khí kém, vi sinh vật cũng
ít đi vì hóa chất hủy diệt sinh vật.[4]
- Thuốc trừ sâu:
Nông dược chiếm một vị trí nổi bật trong các ô nhiễm môi trường Khác với các chất ô nhiễm khác, nông dược được rải một cách tự nguyện vào môi trường tự nhiên nhằm tiêu diệt các ký sinh của động vật nuôi và con người hay để triệt hạ các loài phá hại mùa màng Bản chất của nó là những chất hóa học diệt sinh học nên đều có khả năng gây ô nhiễm môi trường đất Đặc tính của thuốc trừ sâu bệnh là tính bền trong môi trường sinh thái nên nó
Trang 15tồn tại lâu dài trong đất, sau khi xâm nhập vào môi trường, thời kì “nằm” lại
đó, các nhà môi trường gọi là “thời gian bán phân giải”, “nữa cuộc đời này”được xác định như là cả thời gian nó trốn vào trong các dạng cấu trúc sinh hóa khác nhau hoặc các dạng hợp chất liên kết trong môi trường sinh thái đất Mà các hợp chất mới này thường có độc tính cao hơn nó.Tiêu diệt hệ động vật làm mất cân bằng sinh thái, thuốc trừ sâu bị rửa trôi xuống thủy vực làm hại các động vật thủy sinh như ếch, nhái…Như vậy vô tình chúng ta làm tăng thêm số lượng sâu hại vì đã diệt mất thiên địch của chúng ,vì vậy nó làm cho hoạt tính sinh học đất bị giảm sút.[11]
Sơ đồ 2.1 Sự phân tán thuốc BVTV khi Sử dụng vào cây trồng
Hóa chất bảo vệ thực
vật
Cây trồng Hấp Thụ Và Phân Giải
Phân giải hóa học
trong đất
Hấp thụ bởi hạt đất
Phân hủy sinh học trong đất
Quang hóa
Bay hơi
Chảy tràn
Rò rỉ xuống nước ngầm
Trang 16Trong 10 năm gần đây tổng lượng thuốc BVTV tiêu thụ có xu hướng giảm, nhưng giá trị của thuốc tăng không ngừng Nguyên nhân là cơ cấu thuốc thay đổi: Nhiều loại thuốc cũ, giá rẻ, dùng với lượng lớn, độc với môi sinh môi trường được thay thế dần bằng các loại thuốc mới hiệu quả, an toàn
và dùng với lượng ít hơn, nhưng lại có giá thành cao
Tuy vậy, mức đầu tư về thuốc BVTV và cơ cấu tiêu thụ của nhóm thuốc tuỳ thuộc trình độ phát triển và đặc điểm canh tác của từng nước Ngày nay, biện pháp hoá học BVTV được phát triển theo các hướng chính sau:
- Nghiên cứu tìm ra các hoạt chất mới có cơ chế tác động mới, có tính chọn lọc và hiệu lực trừ dịch hại cao hơn, lượng dùng nhỏ hơn, tồn lưu ngắn,
ít độc và dễ dùng hơn Thuốc trừ sâu tác dụng chậm (điều khiển sinh trưởng côn trùng, pheromon, các chất phản di truyền, chất triệt sản) là những ví dụ điển hình Thuốc sinh học được chú ý nhiều hơn
-Tìm hiểu các phương pháp và nguyên liệu để gia công thành các dạng thuốc mới ít ô nhiễm, hiệu lực dài, dễ dùng, loại dần dạng thuốc gây ô nhiễm môi trường
- Nghiên cứu công cụ phun rải tiên tiến và cải tiến các loại công cụ hiện
có để tăng khả năng trang trải, tăng độ diệt trừ, giảm đến mức tối thiểu sự rửa
Trang 17trôi của thuốc Chú ý dựng các phương pháp sử dụng thuốc khác bên cạnh phun thuốc còn đang phổ biến Thay phun thuốc sớm, đại trà và định kỳ bằng phun thuốc khi dịch hại đạt đến ngưỡng [11]
* Phân hóa học
+ Đối với urê
Theo Hiệp hội Phân bón quốc tế (IFA), tổng công suất amoniăc toàn cầu thông báo tăng 20%, từ 180,9 triệu tấn NH3 năm 2008 lên đến 217,8 triệu tấn NH3 năm 2013 Một phần ba của mức tăng này là do các hoạt động cải tạo sửa chữa các nhà máy cũ Hai phần ba còn lại là do 55 nhà máy amoniăc mới
đi vào vận hành trong trên toàn thế giới
Các nước Đông Á, Tây Á, châu Mỹ La tinh và châu Phi đóng góp nhiều nhất vào mức tăng trưởng công suất amoniăc toàn cầu (7 triệu tấn/ năm) Đối với amoniăc thương mại, trong thời gian 2009 - 2013 có 6,5 triệu tấn công suất mới được đưa vào vận hành Theo IFA, khối lượng giao dịch amoniăc qua đường biển sẽ tăng mạnh từ 3 triệu tấn năm 2008 lên 20,6 triệu tấn năm 2013, tất cả các dự án đều được hoàn thành đúng tiến độ Thị trường kinh doanh amoniăc qua đường biển chuyển từ tình trạng dư thừa trong thời gian 2008 – 2009, cung cầu sít sao trong thời gian 2010 - 2011 Nhưng từ thời gian 2012 - 2013 lại có tình trạng dư thừa khoảng 5 - 6% nguồn cung amoniăc qua đường biển
Trong cán cân cung cầu các sản phẩm chứa N trên toàn cầu, năm 2009
đã có mức dư thừa 6,6 triệu tấn N (5% nguồn cung toàn cầu) Mức dư thừa này tăng đến 13 triệu tấn N (8% nguồn cung toàn cầu) vào năm 2013 Trong các năm 2008 - 2009, một số ít dự án urê trên thế giới đã bị trì hoãn, nhưng không có dự án nào bị hủy bỏ Theo đánh giá của IFA, trong thời gian 2009 -
2013 khoảng 50 nhà máy urê mới đi vào vận hành trên toàn thế giới, trong đó
Trang 18có 20 nhà máy ở Đông Á Công suất urê toàn cầu tăng 46,8 triệu tấn trong thời gian 2008 - 2013, đạt 210,3 triệu tấn trong năm 2013
+ Đối với phân lân
Công suất quặng phốtphat trên thế giới năm 2013 sẽ đạt 248 triệu tấn, tăng 30% so với năm 2008 Trong thời gian qua, một số dự án mở rộng hoặc khai thác mới đã bị trì hoãn do chi phí tăng cao và sự chậm trễ trong việc kết hợp với sản xuất cuối dòng Nhưng nhìn chung nguồn cung quặng phốtphat
dự kiến sẽ tăng tại Đông Á, Châu Phi, châu Mỹ La tinh, Tây Á và châu Đại dương Trong tổng số quặng phốtphat được khai thác, khoảng 15 triệu tấn sẽ được xuất khẩu Công suất axit phốtphoric toàn cầu tăng từ 44,5 triệu tấn
P2O5 năm 2008 lên đến 55,3 triệu tấn P2O5 năm 2013 Khoảng 88% mức tăng này là nhờ tăng công suất xử lý cuối dòng nội địa, chủ yếu ở Trung Quốc, ảrập Xê-út và Marốc
+ Đối với phân kali
Điều kiện thị trường trong những năm qua và triển vọng nhu cầu mạnh
về trung hạn đã khuyến khích nhiều nhà sản xuất đầu tư vào các chương trình khai thác và mở rộng công suất phân kali Hiện có hơn 65 dự án liên quan đến phân kali đang được lập kế hoạch hoặc đã triển khai tại 20 nước trên thế giới Nhưng sẽ chỉ có 5 dự án sẽ được hoàn thành và đi vào vận hành trong 5 năm tới Tổng công suất phân kali toàn cầu tăng từ 40,4 triệu tấn K2O năm 2008 lên 54,7 triệu tấn K2O vào năm 2013 Những nước đóng góp chủ yếu vào mức tăng 14,3 triệu tấn này là Canađa, Nga, Trung Quốc Ngoài ra, một số nước khác như Israen, Gioocđani, Achentina và Cônggô cũng có những dự án phân kali lớn.Công suất phân kali được bổ sung một cách hạn chế trong năm 2009, nhưng sau đó tốc độ xây dựng mới sẽ tăng nhanh hơn Phần lớn đó là các nhà máy sản xuất KCl dạng hạt.Nguồn cung phân kali trên thế giới sẽ tăng từ 38 triệu tấn K2O năm 2009 lên đến 47 triệu tấn K2O năm 2013, với tốc độ tăng
Trang 19trưởng 5,9%/ năm Nhu cầu toàn cầu về phân kali ước đạt 28,4 triệu tấn năm
2008, 28,5 triệu tấn năm 2009 và dự kiến đến năm 2013 sẽ đạt 35 triệu tấn, tăng trung bình 5,6%/ năm
2.1.2.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học ở Việt Nam
+ Thuốc BVTV
Theo số liệu của cục BVTV trong giai đoạn 1981 - 1986 số lượng thuốc
sử dụng là 6,5 - 9,0 ngàn tấn thương phẩm, tăng lên 20 - 30 ngàn tấn trong giai đoạn 1991 - 2000 và từ 36 – 75,8 ngàn tấn trong giai đoạn 2001 – 2010 Lượng hoạt chất tính theo đầu diện tích canh tác (kg/ha) cũng tăng từ 0,3kg (1981 – 1986) lên 1,24 – 2,54kg (2001 – 2010) Giá trị nhập khẩu thuốc BVTV cũng tăng nhanh, năm 2008 là 472 triệu USD, năm 2010 là 537 triệu USD Số loại thuốc đăng ký sử dụng cũng tăng nhanh, trước năm 2000 số hoạt chất là 77, tên thương phẩm là 96, năm 2000 là 197 và 722, đến năm
2011 lên 1202 và 3108 Như vậy trong vòng 10 năm gần đây (2000 – 2011)
số lượng thuốc BVTV sử dụng tăng 2,5 lần, số loại thuốc nhập khẩu tăng khoảng 3,5 lần Trong năm 2010 lượng thuốc Việt Nam sử dụng bằng 40% mức sử dụng trung bình của 4 nước lớn dùng nhiều thuốc BVTV trên thế giới (Mỹ, Pháp, Nhật, Brazin) trong khi GDP của nước ta chỉ bằng 3,3% GDP trung bình của họ Số lượng hoạt chất đăng ký sử dụng ở Việt Nam hiện nay xấp xỉ 1000 loại trong khi của các nước trong khu vực từ 400 – 600 loại, như Trung Quốc 630 loại, Thái Lan 400 – 600 loại, Malasia 400 – 600 loại Sử dụng thuốc BVTV bình quân đầu người ở Trung Quốc là 1,2 kg, ở Việt Nam
Trang 20Từ năm 1985 đến nay, mức tiêu thụ phân đạm tăng trung bình 7,2%/năm; phân lân tăng 13,9%/năm; riêng phân kali có mức tăng cao nhất là 23,9%/năm Tổng lượng sử dụng N + P2O5 + K2O trong 15 năm qua tăng trung bình 9,0%/năm và trong thời gian tới có xu hướng tăng mỗi năm khoảng 10% Trong 15 năm qua, ở các giai đoạn: 1985-1990; 199 -1995 và 1996-
2001 lượng tiêu thụ phân kali ở Việt Nam tăng rất nhanh và liên tục Ở các giai đoạn 1985-1990; 1991- 1995 và 1996-2001 mức tiêu thụ phân đạm tăng hàng năm là 10,3%; 16,7% và 8,2% tương ứng Như vậy trong 5 năm trở lại đây mức tăng tiêu thụ phân đạm đã giảm dần Ở 3 giai đoạn trên, mức tiêu thụ phân lân tăng hàng năm là 13,4%; 26,8%; 21,1% tương ứng và cũng có xu hướng giảm mức tăng như phân đạm
Hiện nay, ngành sản xuất phân hóa học nước ta mới đáp ứng được khoảng 45% nhu cầu của nông nghiệp, còn lại phải nhập khẩu gần như toàn
bộ phân đạm urê, kali và phân phức hợp DAP, một lượng khá lớn phân hỗn hợp NPK với tổng số trên 3 triệu tấn/năm Riêng đối với phân khoáng kali, do phải nhập khẩu hoàn toàn nên tiêu thụ kali ở nước ta bị phụ thuộc thị trường nước ngoài
2.1.2.3 Tình hình sử dụng thuốc BVTV và phân bón ở Thái Nguyên
Ngành chè Việt Nam trong đó có cộng đồng doanh nghiệp chè Thái Nguyên thời gian qua đau đầu với sản phẩm trà xuất khẩu bị trả lại do tồn dư thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và phân bón hóa học, gây mất uy tín đối với các sản phẩm trà, làm giảm niềm tin của thị trường quốc tế Nhiều lô hàng chè
bị trả lại do các doanh nghiệp không có vùng nguyên liệu ổn định, mua sản phẩm trà xanh trôi nổi từ tiểu thương và người dân Vấn đề đặt ra là người làm chè, trong đó có số ít người làm chè Thái Nguyên hãy còn dùng thuốc và phân bón hóa học lung tung, không đúng chủng loại, liều lượng, thời gian cách ly nên việc tồn dư thuốc BVTV trên chè là khó tránh khỏi
Trang 21Cục trưởng Cục bảo vệ thực vật cũng khẳng định rằng, không khuyến khích kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật Do đó, càng hạn chế sử dụng thuốc BVTV trên cây chè có độ độc cao càng tốt, trước chính là để bảo vệ môi trường và sức khỏe giống nòi cho dân tộc, sau là tạo tiền đề để nông sản Việt Nam có đủ điều kiện ATVSTP xuất khẩu sang những thị trường khó tính nhưng giá bán cao… Việt Nam hội nhập sâu rộng vào thế giới qua TPP, nếu như không hạn chế thuốc bảo vệ thực vật, làm sao xuất khẩu sang các thị trường này được
Để hạn chế sử dụng thuốc BVTV trên cây chè, cơ quan quản lí cần siết chặt và rút gọn lại danh mục các hoạt chất thuốc BVTV trên chè hiện nay Cần có các nghiên cứu khoa học để đưa ra được danh mục tối ưu nhất, chỉ khoảng 15 – 20 hoạt chất Lưu ý loại bỏ những hoạt chất có ảnh hưởng cực xấu đến sức khỏe con người nếu bị phơi nhiễm Đồng thời, loại bỏ hẳn khỏi danh mục những hoạt chất mà những nước nhập khẩu chè Thái Nguyên, chè Việt Nam đang sử dụng làm hàng rào kỹ thuật Có như vậy giá chè Thái Nguyên xuất khẩu mới lên cao, người dân mới có thu nhập, lại bán được chè
ổn định
Bên cạnh đó, thuốc BVTV và phân bón hóa học được coi là một trong những vũ khí “giết người hàng loạt”, do đó cần cấm người dân tự ý sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học chứ không chỉ hạn chế sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học trên cây chè Hạn chế dùng thuốc BVTV và phân bón hóa học theo ranh giới hộ gia đình như tại Việt Nam mà nên những bệnh viên cây trồng, thành lập những HTX và tổ hợp tác chuyên dùng thuốc BVTV
và phân bón hóa học theo vùng sinh thái Xét tới đạo đức kinh doanh trong thế giới phẳng như hiện nay, chúng ta không thể sản xuất ra những thứ độc hại rồi bán cho người dân nước khác dùng Làm chè phải có tâm, thế nên cần
Trang 22tuyên truyền để người dân hạn chế sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học trên cây chè Thái Nguyên, đặc biệt là thuốc cấm, không rõ nguồn gốc [5]
2.1.2.4 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sức khỏe con người
Bên cạnh những lợi ích mà thuốc bảo vệ thực vật đem lại cho ngành nông nghiệp thì những ảnh hưởng của nó đến sức khỏe con người và môi trường cũng là một vấn đề cấp bách
Theo điều tra của Cục Y tế dự phòng và môi trường Việt Nam, hằng năm có trên 5000 trường hợp nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật phải cấp cứu tại bệnh viện và có trên 300 trường hợp tử vong (do ngộ độc cấp tính ) vì lượng hóa chất tồn đọng quá cao trong thực phẩm Nếu liều lượng ít, được đưa gián tiếp vào cơ thể thông qua thực phẩm, về lâu dài từ 3-5 năm sẽ phát bệnh ( Tim Mạch, Ung Thư…) Tác động của thuốc bảo vệ thực vật với con người và môi trường xung quanh
Đối với con người : cơ thể con người bị nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học biểu hiện ở nhiều mức độ như là giảm sức khỏe, gây rối loạn hoạt động ở hệ thần kinh, tim mạch, tiêu hóa hô hấp, bài tiết, gây các tổn thương bệnh lý ở các cơ quan từ mức độ nhẹ đến nặng thậm chí tàn phế hoặc tử vong
Đối với môi trường xung quanh : thuốc bảo vệ thực vật diệt cả những côn trùng hữu ích cho con người, có thể làm biến đổi thế cân bằng tự nhiên
của hệ sinh thái gây ô nhiễm đất , nước, không khí Các thuốc trừ sâu tồn dư
lâu, không bị phân hủy trong đất và trong nước có thể làm cho động vật, cây trồng sống ở đó bị nhiễm thuốc lâu dài, con người ăn các sản phẩm trồng trọt
và chăn nuôi bị nhiễm thuốc trừ sâu hàng ngày một cách gián tiếp, lâu ngày sẽ
có hại cho sức khỏe
Trong tự nhiên có rất nhiều loại sâu hại khác nhau nên phải dùng nhiều loại thuốc khác nhau để tiêu diệt chúng, việc này gây khó khăn cho người sử
Trang 23dụng, nhất là những người nông dân có trình độ văn hóa thấp Nhiều người chỉ thích mua thuốc rẻ để phun không cần biết phạm vi, tác dụng của thuốc ra sao Có người hay phun quá liều chỉ dẫn để cho “chắc ăn”, làm tăng lượng thuốc tích đọng trong đất và nước [17]
- Quyết định số 89/2006/QĐ – BNN ngày 02/10/2006 của Bộ NN & PTNT về việc ban hành quy định quản lý thuốc BVTV
- Quyết định số 63/2007/QĐ – BNN ngày 07/02/2007 của bộ NN & PTNT về việc sử đổi bổ sung một số điều của quy định về quản lý thuốc BVTV ban hành theo quyết định số 89/2006/QĐ – BNN ngày 02/10/2006 của
Bộ trưởng Bộ NN & PTNT
- Nghị định số 58/2002/NĐ – CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ bảo vệ thực vật, Điều lệ kiểm dịch thực vật và Điều lệ quản lý thuốc bảo vệ thực vật
- Nghị định số 199/2013/NĐ – CP ngày 26/11/2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn
- Thông tư số 21/2015/TT – BNNPTNT ngày 8/06/2015 của Bộ NN &
PTNT về việc quản lý thuốc bảo vệ thực vật
Trang 24- Thông tư số 12/2011/TT – BTNMT ngày 14/04/2011 của Bộ Tài
Nguyên & Môi Trường về việc ban hành quy định về quản lý chất thải nguy hại
- Thông tư 36/2011/TT – BNNPTNT ngày 20/05/2011 của Bộ NN & PTNT về việc ban hành danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn chế
sử dụng và cấm sử dụng ở Việt Nam
- Thông tư số 10/2012/TT – BNNPTNT ngày 20/02/2012 của Bộ NN
& PTNT về việc ban hành danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn
TCVN 6705:2009 Chất thải rắn thông thường Phân loại;
TCVN 6706:2009 Chất thải nguy hại Phân loại;
TCVN 6707:2009 Chất thải nguy hại Dấu hiệu cảnh báo;
TCVN 8568:2010 Chất lượng đất – Xác định dung lượng cation trao đổi (CEC)
TCVN 6132:1996 Chất lượng đất – Xác định dư lượng lindan trong đất TCVN 6134:2009 Chất lượng đất – Xác định hợp chất không bay hơi
có thể chiết trong dung môi
TCVN 6135:2009 Chất lượng đất – Xác định dư lượng fenvalerat
Trang 25TCVN 8061:2009 Chất lƣợng đất – Xác định hóa chất bảo vệ thực vật clo hữu cơ và polyclorin biphenyl- QCVN 15: 2008/BTNMT - Dƣ lƣợng hóa chất BVTV
QCVN 03: 2008/BTNMT - Giới hạn kim loại nặng trong đất
QCVN 05:2009/BTNMT - QCKT quốc gia về chất lƣợng không khí xung quanh;
QCVN 06:2009/BTNMT - QCKT quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh
QCVN 07: 2009/BTNMT - QCKT quốc gia về ngƣỡng chất thải nguy hại; QCVN 15:2008/BTNMT – QCKT quốc gia về dƣ lƣợng hoá chất bảo
vệ thực vật trong đất;
2.2 Khái quát về thuốc BVTV và phân bón hóa học
2.2.1 Khái niệm về thuốc BVTV và phân bón hóa học
* Thuốc BVTV:
Thuốc BVTV là yếu tố bảo vệ cây hay những sản phẩm bảo vệ mùa màng (chủ yếu là hóa chất) là những chất đƣợc tạo ra để chống lại và tiêu diệt loài gây hại hay các vật mang mầm bệnh virut hay vi khuẩn Chúng cũng gồm các chất để đấu tranh với các loài sống cạnh tranh với cây trồng
* Phân bón hóa học:
Phân bón hóa học là những hóa chất có chứa nguyên tố dinh dƣỡng dùng để bón cho cây trồng nhằm nâng cao năng xuất của cây trồng cung cấp những nguyên tố cần thiết cho cây trồng gồm những nguyên tố đa lƣợng nhƣ
N, P, K và những nguyên tố vi lƣợng nhƣ Ca, Cu, Zn….để đáp ứng nhƣ cầu
phát triển, ra hoa kết trái và tăng năng xuất của cây trồng
2.2.2 Phân loại thuốc BVTV và phân bón hóa học
* Thuốc BVTV:
Theo yêu cầu nghiên cứu và sử dụng có thể phân loại thuốc BVTV thành các loại sau:
- Dựa vào đối tƣợng phòng chống:
+) Thuốc trừ sâu (Insecticide): gồm các chất hay hỗn hợp các chất có tác dụng tiêu diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kì loại côn trùng nào có mặt
Trang 26trong môi trường Chúng được dùng để diệt trừ hoặc ngăn chặn tác hại của côn trùng đến cây trồng cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người
+) Thuốc trừ bệnh: bao gồm các chất có nguồn gốc vô cơ, hưu cơ, sinh học (vi sinh vật và các sản phẩm của chúng, nguồn gốc thực vật) có tác dụng diệt trừ hoặc ngăn ngừa các loài vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản
+) Thuốc trừ chuột (Rodenticide hay raticide): là những hợp chất vô cơ, hữu cơ hoặc nguồn gốc sinh học được dùng để diệt chuột và các loài gặm nhấm
+) Thuốc trừ nhện ( Acricide hay Miticide): là những hợp chất chủ yếu trừ nhện hại cây trồng, đặc biệt là nhện đỏ
+) Thuốc trừ cỏ (Herbicide): các chất được dùng để trừ các loài thực vật cản trở sự sinh trưởng của cây trồng, các loài thực vật hoang dại mọc trên đồng ruộng, quanh các công trình kiến trúc, sân bay đường sắt…và gồm các thuốc trừ rong rêu trên đồng ruộng kênh mương Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất vì vậy khi sử dụng thuốc trong nhóm này cần đặc biệt thận trọng
+) Thuốc trừ tuyến trùng (Nematode): các chất xông hơi và nội hấp được dùng để sử lý đất trừ tuyến trùng trong đất, trong cây
- Dựa vào con đường xâm nhập đến dịch hại: tiếp xúc, xông hơi và nội hấp: +) Thuốc có tác dụng tiếp xúc: là những loại thuốc gây độc cho cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập qua biểu bì của dịch hại
+) Thuốc có tác dụng vị độc: là những loại thuốc gây độc cho cơ thể sinh vật khi chúng xâm nhập qua đường tiêu hóa của dịch hại
+) Thuốc có tác dụng xông hơi: Là loại thuốc có khả năng bốc hơi, đâu độc bầu không khí xung quanh cơ thể dịch hại và được xâm nhập vào cơ thể dịch hại qua bộ máy hô hấp Thuốc sẽ phá hủy chức năng hô hấp hút khí O2
và thải ra khí CO2 cho cơ thể dịch hại và tiêu diệt dịch hại
+)Thuốc có tác dụng nội hấp: là những loại thuốc khi chúng xâm nhập
và cây rồi được vận chuyển tích lũy trong hệ thống nhựa cây, tồn tại trong đó một thời gian và làm chết cơ thể sinh vật khi chúng xâm hại đến cây
Trang 27+) Thuốc thấm sâu: Là những loại thuốc được xâm nhập vào cây qua tế bào thực vật chủ yếu theo chiều ngang, thuốc không có khả năng di chuyển trong mạch dẫn của cây, nó chỉ có tác dụng tiêu diệt dịch hại khi chúng sống
ẩn nấp hoặc làm tổ trong tế bào thực vật
- Dựa vào nguồn gốc hóa học:
+) Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: bao gồm các loại thuốc BVTV làm
từ cây cỏ hay các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại
+) Thuốc có nguồn gốc sinh học (Chiếm khoảng 2,5%): gồm các loài sinh vật, các loài thiên địch ký sinh, các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật có khả năng tiêu diệt dịch hại
+) Thuốc có nguồn gốc vô cơ: bao gồm các hợp chất vô cơ (như dung dịch Boocdo, lưu huỳnh và lưu huỳnh vôi…) có khả năng tiêu diệt dịch hại
+) Thuốc có nguồn gốc vô cơ: gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp có khả năng tiêu diệt dịch hại như các hợp chất lân hữu cơ, cacbamat…
* Phân bón hóa học:
Phân đạm: Là những hợp chất cung cấp nitơ cho cây Phần lớn thực vật không có khả năng đồng hóa nguyên tố N dưới dạng khí là N2 mà chủ yếu dưới dạng muối nitrat Phân đạm cung cấp N hóa cho cây dưới dạng ion NO3-
và ion amoni NH4
+ Phân đạm có tác dụng kích thích các quá trình sinh trưởng làm tăng tỉ lệ protein thực vật Do đó, phân đạm giúp cho cây phát triển nhanh, cho nhiều hạt, củ, quả…Độ dinh dưỡng của phân đạm được đánh giá bằng hàm lượng % N trong phân
Phân lân: Là những hợp chất cung cấp P cho cây trồng dưới dạng ion photphat Phần lớn thực vật hấp thụ P dưới dạng muối đihidrophotphat Loại phân này cần cho cây trồng ở thời kì sinh trưởng, thúc đấy các quá trình sinh hóa, trao đổi chất và năng lượng của cây Độ dinh dinh dưỡng của phân lân
Trang 28được đánh giá bằng hàm lượng %P2O5 tương ứng với lượng photpho có trong thành phần của nó Nguyên liệu để sản xuất phân lân là quặng photphorit và apatit
Phân kali: Là những hợp chất cung cấp cho cây trồng nguyên tố K dưới dạng ion K+ Phân K giúp cho cây hấp thu được nhiều đạm hơn, cần cho việc tạo ra chất đường, chất bột, chất xơ và chất dầu, tăng cường sức chống chịu cho cây Độ dinh dưỡng của phân K được đánh giá bằng hàm lượng % K2O tương ứng với lượng K có trong thành phần của nó Hai muối KCl và K2SO4được sử dụng nhiều nhất để làm phân K Tro thực vật cũng là một loại phân K
vì có chứa K2CO3
2.2.3 Những nghiên cứu về sâu, bệnh hại chè ở Việt Nam
Theo tác giả Nguyễn Khắc Tiếp[16] Những nghiên cứu về sâu hại chè
ở Việt Nam được tiến hành ngay từ khi Pháp thành lập trạm nghiên cứu Nông Lâm Nghiệp Phú Hộ Những kết quả nghiên cứu ở Việt Nam và các nước trong khu vực đã được Du Pasquier đăng trên tạp san Đông Dương (1931- 1932) trong này Du.Pasquier đã khảo sát thành phần sâu bọ hại chè ở Việt Nam và các nước Đông Dương Từ những nghiên cứu của Du.Pasquier đã mô
tả sâu bệnh chủ yếu của cây chè và cây cà phê, đồng thời nói lên tác hại và tầm quan trọng của sâu bệnh đưa ra các biện pháp phòng trừ sâu bệnh ban đầu cho chè và xây dựng bảng tra cứu sâu bệnh dựa vào các đặc điểm hình thái bên ngoài Ông cho biết danh mục sâu bệnh hại chè ở Việt Nam có 38 loài thì trong đó có 25 loài sâu hại Đồng thời Du.Pasquier đã phân loại tầm quan trọng sâu hại như sau:
- Loài có hại thường xuyên thấy: Rầy xanh, nhện đỏ, nhện trắng
- Loài có hại không thường xuyên thấy: Sâu cuốn lá, rệp đen, rệp trắng,
bọ nẹt
- Loài có hại nhưng hiếm thấy: Bệnh nấm sợi, bệnh thối rễ đỏ
- It hại nhưng thường xuyên thấy: Sâu kén, ốc sên, bọ ngứa
Trang 292.2.3.1 Những nghiên cứu về rầy xanh hại chè
Năm 1931- 1932 Du.Pasquier, nghiên cứu và kết luận rầy xanh
(Empoasca flavescens fabricus) gây hại nặng từ giữa tháng 4 - 6 Sau này
Nguyễn Khắc Tiến và Nguyễn Thanh Hường đã nghiên cứu quy luật phát sinh, phát triển của rầy xanh và biện pháp phòng trừ đã kết luận: rầy xanh phát sinh quanh năm tuy có hai thời kỳ chính là tháng 4, 5 và tháng 11, 12 Việc phòng trừ rầy xanh phụ thuộc vào hai loại thuốc là Ofatox và Selecron với nồng độ 0,1% Điều kiện thích hợp cho rầy xanh là 18- 25 oC, ẩm độ 80%, ánh sáng ít Tập quán sinh sống, rầy sợ ánh sáng trực xạ và có xu tính ánh sáng đèn yếu, có đặc tính bò ngang, đẻ trứng rải rác vào mô non của búp gân chúng của lá non Mức độ gây hại còn phụ thuộc vào điều kiện sinh thái Điều kiện thuận lợi cho rầy xanh sinh sôi nảy nở là lúc điều kiện thời tiết chuyển từ lạnh sang nóng và nắng mưa xen kẽ
Rầy xanh trưởng thành dài 2,5- 3 mm, màu xanh lá mạ Rầy xanh trải qua 3 pha phát dục là trứng- sâu non- sâu trưởng thành Qua nghiên cứu cho thấy rầy xanh phát sinh quanh năm trên nương chè, số lượng tăng giảm tùy vào từng giai đoạn nhưng có 2 cao điểm trong năm Cao điểm thứ nhất vào tháng 5 và thứ hai vào tháng 10, có những lúc có thể điều tra được hàng trăm con rầy/khay (30 x 30 x 30 x 10cm)
Theo Lê Thị Nhung và Nguyễn Thái Thắng[10] trong năm rầy xanh phát sinh gây hại nặng nhất vào thời điểm tháng 3-5, đa số các vùng chè bị cháy rầy ở thời điểm cuối tháng 4 và đầu tháng 5 Một đỉnh cao gây hại thứ hai nhưng mức độ thấp hơn là tháng 10- 11 Trong các giống đang trồng hiện nay, giống PH1 bị hại nặng nhất, tiếp đến là giống Trung du và 777
Trang 30Bảng 2.1 Mối liên hệ giữa mật độ và triệu chứng gây hại của rầy xanh
Mật độ (con/khay) Tỷ lệ búp bị hại
(%)
Triệu chứng hại trên búp chè
Dưới 2 Dưới 10 Búp xanh bóng, hầu như
không có biểu hiện hại 3- 4 20- 30 Búp xanh bình thường, lác
đác có búp chè bị hại 5- 10 40- 80 Búp xanh hơi vàng, đa số
búp chè bị hại 11- 15 90- 100 Lá chè xanh vàng, thô cứng,
cong hình thuyền và búp chè cằn lại
16- 25 100 Búp cằn thô cứng, mép lá
non chuyển nâu, chè bị cháy khi trời nắng nóng
(Nguồn: Lê Thị Nhung và Nguyễn Thái Thắng, 2007)[10]
2.2.3.2 Những nghiên cứu về bọ cánh tơ hại chè
Hàng năm bọ trĩ phát sinh thành dịch từ cuối mùa xuân, đầu mùa hè sang thu, có thể kéo dài đến cuối năm Đặc biệt vào những thời kỳ khô hạn bọ trĩ phát sinh nhanh chóng và gây hại nghiêm trọng Bọ trĩ ăn và sinh sản ở ngay búp chè và lá non, những búp ở trên tán chè là nơi bọ trĩ ưa thích nhất
Bọ cánh tơ là đối tượng gây hại nguy hiểm trên nhiều loại cây trồng từ vùng nhiệt đới đến vùng ôn đới Đặc điểm sinh học của bọ cánh tơ, tác giả nói: Bọ cánh tơ trưởng thành có màu vàng nhạt, dài 0,7 - 0,9mm, sâu non màu vàng nhạt chúng sống chủ yếu ở các lá và búp non, gây hại ở cuống búp và mặt dưới lá non, các vết hại rất dễ nhận thấy khi có hai vết sần sùi chạy song với gân chính Vòng đời của bọ cánh tơ từ 25 - 30 ngày, bọ cánh tơ gây hại
Trang 31nặng vào giai đoạn từ tháng 6 - 9 Các tác giả cho biết: cùng với rầy xanh, bọ cánh tơ cũng là đối tượng dễ kháng thuốc (Sổ tay sử dụng thuốc trừ sâu Sài gòn, 1998)[4]
Theo Lê Thị Nhung và Nguyễn Thái Thắng[10] bọ cánh tơ gây hại muộn, mức độ gây hại nặng nhất khoảng tháng 6- 7 Giống Trung du và 777
là đối tượng bị hại nặng nhất Sau một thời gian nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra được mối liên hệ giữa mật độ và triệu chứng gây hại của bọ cánh tơ qua bảng 2.2
Bảng 2.2 Mối liên hệ giữa mật độ và triệu chứng gây hại của bọ cánh tơ
triệu chứng ở 20% búp 3- 5 50- 100 Búp hơi thô cứng, sần sùi, nhiều lá
nổi rõ 2 đường song song 6-10 100 Búp xanh vàng, thô cứng, sần sùi, 2
đường song song sần lên màu nâu 10- 20 100 Búp cằn biến vàng, thô cứng, mặt
dưới lá chừa chuyển màu nâu, cháy bọ cánh tơ trên toàn lá
(Nguồn: Lê Thị Nhung và Nguyễn Thái Thắng, 2007)[10]
2.2.3.3 Những nghiên cứu về bọ xít muỗi hại chè
Theo tài liệu của Du.Pasquies (tập san kinh tế Đông Dương, 1932) thì
bọ xít muỗi phát sinh gây hại ở Trung Bộ, loài phổ biến nhất Helopeltis theivora nhưng thiệt hại ít, các nước hầu hết bị bọ xít muỗi phá hại Theo tác
Trang 32giả thì tác hại của sâu tuổi 2 đến tuổi 5 lớn hơn sâu trưởng thành Trong bọ xít muỗi gây hại vào tháng 7 - 9 Về tập quán sinh sống thì bọ xít muỗi ưa ánh sáng tán xạ, thích điều kiện độ ẩm thấp , nhiệt độ ôn hoà sâu non quá 5 lần lột xác trở thành sâu trưởng thành (Sổ tay sử dụng thuốc trừ sâu Sài gòn, 1998) [4]
Theo Lê Thị Nhung và Nguyễn Thái Thắng[10] bọ xít muỗi gây hại mạnh vào tháng 8- 9 và đặc biệt gây hại nặng cho hai giống chè 777 và 1A Sau thời gian nghiên cứu cho thấy bọ xít muỗi tập trung chích hút búp chè vào lúc sáng sớm và chiều tối Khi có ánh nắng mặt trời thì cả bọ xít non lẫn trưởng thành đều lẩn trốn, ẩn mình dưới tán chè Vết châm lúc đầu trong như giọt dầu sau đó nhanh chóng chuyển thành mầu nâu
2.2.3.4 Những nghiên cứu về nhện đỏ nâu hại chè
Nhện hại chè, hiện nay nhện hại chè đang là đối tượng nguy hiểm chúng không chỉ trực tiếp gây hại trên các bộ phận lá non và búp chè mà còn gây hại trên cả lá già và bánh tẻ, làm cho cây chè mất khả năng quang hợp Nhện đỏ nâu trưởng thành có hình cầu hơi dẹt, nhện có màu nâu đỏ, mình được phủ một lớp lông dài, nhện non có 3 đôi chân và khi trưởng thành có 4 đôi chân Nhện trưởng thành được 1 - 2 ngày bắt đầu đẻ trứng Nhện đẻ 60 -
80 quả trên đợt, dải dác trên mặt lá chè chúng phát sinh gây hại nặng vào tháng 4 - 6 Theo tác giả Hoàng Thị Hợi[7] thì giống chè Trung Du, PH1, bị nhện đỏ nâu hại nặng nhất, giống bị phá hoại ít nhất là 1A và LDP1
Trong những năm gần đây tại các cùng chè thuộc vùng trung du phía Bắc, trong nhiều năm sử dụng thuốc trừ sâu hóa học đã nổi lên 4 loài sâu hại chính gây hại nghiêm trọng thên chè đó là: Rầy xanh, bọ cánh tơ, bọ xit muỗi, nhện đỏ nâu Các loài gây hại này đã được các nhà khoa học nghiên cứu Xuất phát từ thực tế trên, nghề kinh doanh chè muốn có lãi thì không thể chỉ dừng
ở việc chăm sóc đơn thuần như: làm cỏ, bón phân mà phải biết sử dụng các loại thuốc BVTV để nhằm nâng cao năng suất một cách nhanh nhất
Trang 33Theo Lê Thị Nhung và Nguyễn Thái Thắng[10] song song với rầy xanh, nhện đỏ nâu cũng phát sinh sớm từ tháng 3, nhưng đỉnh cao gây hại là tháng 4- 6 Giống chè bị hại nặng là giống PH1 và Trung du Nhện đỏ nâu thường tập trung gây hại trên các lá bánh tẻ và lá già Khi cây chè bị nhện hại nặng, mật độ nhện nâu tăng cao, các lá chưa bị rụng nhiều, chúng có thể gây hại lên các lá non và rảirác cả mặt dưới lá
Cũng như các loại sâu hại khác, trong quá trình nghiên cứu các tác giả cũng đưa ra được mối liên hệ giữa mật độ và triệu chứng gây hại của nhện đỏ nâu qua bảng 2.3
Bảng 2.3 Mối liên hệ giữa mật độ và triệu chứng gây hại của nhện đỏ nâu
Mật độ
(con/khay)
Tỷ lệ búp bị hại
(%) Triệu chứng hại trên búp chè
2- 3 10 Từng ổ riêng lẻ trên đồi chè,
toàn lô chè vẫn xanh bình thường
4- 5 20- 30 Đa số lá có màu xanh bình
thường, lác đác có lá chuyển thành hơi vàng đỏ
6- 10 40- 70 Từng đám chè bị biến đỏ, xác
nhện rải khắp mặt lá 11- 20 80- 100 Khắp đồi chè bị nhện hại, lá chè
biến màu đồng đỏ 21- 50 100 Lá chè biến màu đỏ thẫm, cháy
nhện trên toàn diện tích
(Nguồn: Lê Thị Nhung và Nguyễn Thái Thắng, 2007)[10]
Trang 34PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tình hình sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học tại vùng trồng chè xã Bình Sơn, thành Phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
- Cây chè của xã Bình Sơn, thành Phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
- Người dân sản xuất chè của xã Bình Sơn, thành Phố Sông Công, tỉnh
Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Ảnh hưởng của thuốc BVTV và phân bón hóa học đến cây chè và sản phẩm chè xã Bình Sơn, thành Phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
3.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: khu vực sản xuất chè xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, Tỉnh Thái Nguyên
- Thời gian thực hiện: từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2016
3.4 Nội dung nghiên cứu
3.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Bình Sơn, thành phố Sông Công
– Điều kiện tự nhiên của khu vực xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
– Điều kiện kinh tế, xã hội của khu vực xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
3.4.2 Thực trạng sản xuất chè tại xã Bình Sơn, thành phố Sông Công (3 năm gần đây)
3.4.3 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học cho chè tại địa bàn
xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
3.4.4 Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học đến cây chè của xã Bình Sơn, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
Trang 35- Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV
- Ảnh hưởng của việc sử dụng phân bón hóa học
3.4.5 Sức khỏe người dân trong vùng sản xuất chè
3.4.6 Giải pháp hạn chế ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV và phân bón hóa học đến cây chè và sức khỏe người dân.
3.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, lao động địa phương
- Thu thập số liệu về tình hình sản xuất chè ở địa phương
3.5.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn
- Phát 30 phiếu điều tra cho 30 hộ gia đình sản xuất chè và sống trong
khu vực sản xuất chè
- Phát 20 phiếu điều tra cho 20 hộ gia đình không sản xuất chè nhưng
sống trong khu vực sản xuất chè
3.5.3 Phương pháp lấy mẫu và loại mẫu phân tích
- Loại mẫu: 3 mẫu chè tươi từ 3 điểm khác nhau, mỗi 1 mẫu là tổng hợp
từ 5 điểm ở 4 góc vườn chè và 1 điểm ở trung tâm vườn chè đó Trộn đều lấy 0,5 kg/1mẫu Lấy mẫu vào sáng sớm, trực tiếp xin mẫu từ người dân tại vườn
- Phân tích mẫu tại Viện Khoa học Sự sống ĐH Nông Lâm Thái Nguyên
Bảng 3.1 Loại mẫu, phương pháp phân tích
Chỉ tiêu phân tích Phương pháp phân tích
Trang 363.5.4 Phương pháp trực tiếp thị sát đồng ruộng.
- Quan sát vệ sinh khu vực đồi chè thu thập bao bì thuốc BVTV xem mức độ ô nhiễm từ cách thức vệ sinh của người dân khi sử dụng thuốc BVTV
và phân bón
3.5.5 Phương pháp tổng hợp, đánh giá và so sánh
Số liệu sau khi đã được tổng hợp thành các bảng thông tin, bảng số liệu tiến hành nghiên cứu, phân tích, đánh giá căn cứ vào những tiêu chuẩn môi trường Việt Nam hiện hành, từ đó so sánh với các tiêu chuẩn môi trường cho phép hiện hành và rút ra nhận xét, đánh giá để từ đó đề xuất một số giải pháp
phù hợp với điều kiện thực tế của người dân khu vực nghiên cứu
3.5.6 Phương pháp xử lý và thống kê số liệu
Liệt kê những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài
từ các tài liệu, số liệu thu thập được trong quá trình điều tra, phỏng vấn, khảo sát thực địa, tìm hiểu trên mạng, sách báo… các tài liệu sơ cấp khác để thống kê, tổng hợp lại và tính toán, xử lý bằng các phương pháp thủ công và trên máy vi tính bằng các phần mềm Microsoft (Word và Excel) tạo số liệu thứ cấp phục vụ quá trình đánh giá dễ dàng, thuận lợi hơn
Trang 37PHẦN 4
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Bình Sơn - Thành Phố
Sông Công - Tỉnh Thái Nguyên
4.1.1 Điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên và cảnh quan môi trường
4.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Phía Nam giáp xã Vinh Sơn - thị xã Sông Công
Phía Tây giáp với xã Phúc Thuận và xã Phúc Tân - huyện Phổ Yên
Vị trí địa lý của xã Bình Sơn có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, đặc biệt là cây chè và mở rộng giao lưu kinh tế, khoa học kỹ thuật và tiếp nhận thông tin để phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống cho nhân dân trong xã
- Địa hình, địa mạo:
Xã Bình Sơn mang đặc điểm của địa hình vùng trung du miền núi Trên bản đồ địa hình, xã Bình Sơn có địa hình bán sơn địa, dốc dần từ Tây Nam xuống Đông Bắc, Phía Tây - Tây Nam có đồi núi cao với đỉnh cao nhất khoảng 290 ÷ 300 m, phía Đông - Đông Bắc là những đồi thấp xen kẽ đồng bằng với độ cao trung bình 24 ÷ 25m Đất đai ở đây được sử dụng hầu hết vào sản xuất nông - lâm nghiệp
- Khí hậu:
Xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa nóng mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 Mùa nóng từ tháng 4