1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

triết học thạc sỹ Chương III, chương IV

23 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 132 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ giữa triết học và khoa học trong lịch sử phát triển - Về mặt lịch sử, sự ra đời của triết học trùng hợp với sự xuất hiện nhữngmầm mống đầu tiên của tri thức khoa học, nên các

Trang 1

Chương 3 MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ CÁC KHOA HỌC

I Sự tác động của khoa học đối với sự phát triển của triết học

1 Mối quan hệ giữa triết học và khoa học trong lịch sử phát triển

- Về mặt lịch sử, sự ra đời của triết học trùng hợp với sự xuất hiện nhữngmầm mống đầu tiên của tri thức khoa học, nên các nhà triết học đầu tiên ở Hy Lạpđồng thời cũng là các nhà khoa học, như Thalets, Pithagore,

- Trong nền triết học tự nhiên ở Hy Lạp cổ đại, các khoa học bị đẩy xuống vịtrí thứ yếu và bị chi phối bởi triết học Triết học tự nhiên là dòng triết học mangtính tư biện, những giải thích của nó về thế giới chủ yếu là dựa trên những phỏngđoán và giả định

- Thời kỳ Phục hưng, đặc biệt thế kỷ XVII - XVIII, khoa học tự nhiên pháttriển mạnh, quá trình phân ngành diễn ra nhanh, lần lượt hình thành các khoa họcđộc lập Mỗi khoa học tự xác định đối tượng nghiên cứu riêng Do đó, sự phát triểncủa khoa học tự nhiên thời kỳ này đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy triết học, nênphương pháp tư duy thống trị trong thời kỳ này là phương pháp tư duy siêu hình

- Các phát minh vĩ đại của khoa học tự nhiên thế kỷ XIX như định luật bảotoàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết cấu tạo tế bào và thuyết tiến hóa đã cungcấp những bằng chứng chứng minh rằng giới tự nhiên là thống nhất, có mối liên hệvới nhau Đó là cơ sở để xuất hiện chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biệnchứng duy vật

- Lưu ý: Ảnh hưởng của khoa học đến sự phát triển của triết học có thể đưađến những kết luận tích cực, nhưng cũng có thể đưa đến những kết luận tiêu cực,phản khoa học Chẳng hạn, những phát minh khoa học những năm cuối thế kỷ XIX,đầu thế kỷ XX về sóng, về phóng xạ, về điện tử đã khiến không ít nhà khoa họchoài nghi về khái niệm “vật chất” - nền tảng của chủ nghĩa duy vật; rằng, cần từ bỏchủ nghĩa duy vật và thay thế chủ nghĩa duy vật bằng “chủ nghĩa kinh nghiệm phêphán”

Trang 2

Tóm lại, các khoa học không có triết học định hướng phát triển sẽ dễ rơi vào

mò mẫm, tự phát, chệch hướng, thậm chí lâm vào khủng hoảng Các khoa học cụthể là cơ sở, nền tảng để xây dựng các luận điểm, học thuyết triết học, do đó, có thểkhẳng định không có các khoa học thì sẽ không thể có triết học Các tư tưởng triếthọc không được kiểm chứng bằng thành tựu của các khoa học thì sẽ rơi vào duytâm, bịa đặt, hoặc chỉ dừng lại ở dự báo, phỏng đoán

2 Khoa học là động lực thúc đẩy triết học phát triển

- Thành tựu trong phát triển của khoa học là sự xác minh, chứng thực, bác bỏhoặc phản biện những quan điểm triết học, thúc đẩy triết học phát triển Chẳng hạn,khoa học thực nghiệm xuất hiện (XV – XVI) phản biện và cáo chung triết học kinhviện trước đó, chuẩn bị cho sự ra đời của triết học duy vật XVII – XVIII Ba phátminh trong khoa học tự nhiên thế kỷ XIX (học thuyết tiến hóa, học thuyết tế bào,định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng) đã phản biện và bác bỏ chủ nghĩaduy vật siêu hình (XVII – XVIII), tạo tiền đề ra đời triết học mới – chủ nghĩa duyvật biện chứng

- Các thành tựu khoa học đạt được bác bỏ những quan điểm sai trái củaCNDT dưới mọi hình thức, bảo vệ, phát triển CNDV, do đó thúc đẩy cuộc đấutranh giữa CNDV và CNDT, thúc đẩy triết học phát triển

- Mỗi khi có những phát minh mang tính chất vạch thời đại trong lĩnh vực

khoa học tự nhiên tạo nên sự phát triển đột biến của khoa học, CNDV không tránhkhỏi sự thay đổi về mặt hình thức, làm cho CNDV phát triển lên trình độ mới caohơn Chẳng hạn:

+ N.Cô – péc – ních với thuyết nhật tâm đã làm nên “cuộc cách mạng trêntrời, báo hiệu cuộc cách mạng dưới đất”, chấm dứt kiếp tôi đòi, nô tỳ của khoa học

và triết học đối với nhà thờ và giáo hội

+ Đác - uyn với thuyết tiến hóa của các loài đã giáng một đòn chí tử vào mục

đích luận duy tâm, còn là cơ sở lịch sử tự nhiên cho sự ra đời triết học mới (cùngvới lý thuyết bảo toàn và chuyển hóa năng lượng và thuyết tế bào của các cơ thểsống)

Trang 3

+ Cuộc cách mạng trong lĩnh vực vật lý học cuối XIX, đầu XX đã đẩy chủnghĩa duy vật vào cuộc khủng hoảng (do các nhà duy vật còn bị cầm tù bởi phươngpháp tư duy siêu hình), mở ra thời kỳ mới, cơ hội mới phát triển CNDV lên hìnhthức mới cao hơn đầy đủ hơn, hoàn bị hơn, đó là CNDVBC.

+ Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã và đang làm thay đổisâu sắc đời sống con người, góp phần làm bộc lộ những hạn chế của tư duy siêuhình Con đường duy nhất để khắc phục những giáo điều, trì trệ trong nhận thức vàhành động là phải nắm chắc và vận dụng đúng phép biện chứng duy vật, vì phépbiện chứng duy vật là phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học vàthực tiễn cách mạng

Như vậy, sự phát triển của khoa học đã đem lại cho triết học sức sống và sựphát triển Thiếu tri thức khoa học, triết học trở nên vô vị, nhạt nhẽo trống rỗng vàbịa đặt Thành tựu khoa học đã, đang, và sẽ mãi mãi là “người bạn đường” của triết

học duy vật biện chứng Sự liên minh giữa các nhà triết học duy vật và các nhà

khoa học là tất yếu của sự phát triển của cả triết học và khoa học

II Vai trò thế giới quan, phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển của các khoa học

1 Thế giới quan và phương pháp luận

* Thế giới quan

- Khái niệm thế giới quan: Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm, quanniệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về vị trí, vai trò của conngười trong thế giới đó Thế giới quan triết học phản ánh thế giới bằng một hệthống tri thức biểu hiện thông qua các khái niệm, phạm trù, quy luật

- Nguồn gốc của thế giới quan: Thế giới quan ra đời từ cuộc sống hiện thựccủa con người Bởi vì trong quá trình tồn tại và phát triển, con người phải quan hệvới thế giới, muốn vậy, con người phải hiểu biết về tự nhiên, xã hội và bản thânmình Từ đó, con người phải lý giải nhiều vấn đề của thế giới như thế này do đâu

mà có? Sự biến đổi của nó tác động gì tới con người? Những câu hỏi đó được conngười đặt ra và giải quyết, từ đó các quan niệm thế giới quan được hình thành

Trang 4

- Về cấu trúc: Thế giới quan được cấu thành từ hai yếu tố cơ bản là tri thức

và niềm tin Tuy nhiên, bản thân tri thức chưa phải là thế giới quan, chỉ khi nào trithức biến thành niềm tin của con người thì tri thức đó mới gia gia nhập vào thế giớiquan

- Các hình thức cơ bản của thế giới quan: Thế giới quan thần thoại; thế giớiquan tôn giáo; thế giới quan triết học Thế giới quan triết học phản ánh thế giớibằng một hệ thống tri thức biểu hiện thông qua các khái niệm, phạm trù, quy luật.CNDV và CNDT là cơ sở lý luận của hai thế giới quan cơ bản đối lập nhau:TGQDV, khoa học và TGQDT, tôn giáo Trong đó, CNDV là thế giới quan củagiai cấp tiến bộ, cách mạng góp phần vào cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ xã hội.CNDT là thế giới quan của các giai cấp thống trị, lỗi thời, phản động

* Phương pháp luận:

- Khái niệm phương pháp luận: Phương pháp luận là lý luận về phương pháp,

là hệ thống các quan điểm, nguyên tắc xuất phát, chỉ đạo con người tìm tòi, xâydựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp

- Nguồn gốc của phương pháp luận: Trong thực tiễn, con người có thể ápdụng nhiều phương pháp khác nhau để giải quyết công việc đã định, quá trình lựachọn phương pháp có thể đúng hoặc sai, có thể phù hợp hay không phù hợp? Vậylàm thế nào để xác định được phương pháp đúng đắn, khoa học,… Từ đó xuất hiệnnhu cầu phải nhận thức khoa học về phương pháp, đó là lý do để khoa học vềphương pháp hay phương pháp luận ra đời

- Phương pháp luận có chức năng định hướng, gợi mở cho hoạt động nhậnthức và thực tiễn (thuần túy về lý luận), còn phương pháp là cách thức, thao táchoạt động cụ thể mà chủ thể phải tuân thủ và thực hiện nhằm đạt được kết quả nhấtđịnh (có sự kết hợp cả lý luận và thực tiễn)

2 Vai trò thế giới quan, phương pháp luận của triết học đối với sự phát triển của các khoa học

- Vai trò thế giới quan, phương pháp luận của triết học đối với các khoa họctrước hết thể hiện ở vai trò nhận thức của nó, làm gia tăng tri thức mới Sự phân

Trang 5

tích, lý giải triết học đối với các dữ liệu khoa học cũng chính là sự nghiên cứu cáchiện tượng ở mức độ khái quát chung và sâu sắc hơn Triết học không đi sâu giảiquyết các vấn đề khoa học cụ thể, mà đi sâu giải quyết các vấn đề thuộc về lý luậnnhận thức phổ quát.

- Vai trò thế giới quan, phương pháp luận của triết học đối với các khoa họccòn là ở sự tổng kết các thành tựu đã đạt được của khoa học và làm sáng tỏ cácnguyên lý chung của chúng Các khoa học cụ thể cũng có những tổng kết nhưngnhững tổng kết, khái quát trong mỗi khoa học cụ thể chỉ được giới hạn trong lĩnhvực mà nó nghiên cứu Đặc điểm của khái quát triết học là những khái quát chungnhất, có liên quan đến các hiện tượng và các quá trình của tự nhiên, xã hội và tinhthần

- Triết học còn giữ vai trò là công cụ tổng hợp tri thức, hiện nay cùng với xuhướng xuất hiện chuyên ngành mới, chuyên sâu là xu hướng liên ngành Bởi vậy,triết học đóng vai trò là hạt nhân lý luận kết nối các ngành khoa học, là trung tâmphương pháp luận đem lại khả năng thâm nhập vào các xu hướng đó một cách chủđộng và tích cực

- Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và vai trò ngày càng tăng của nótrong đời sống xã hội, mối liên hệ hữu cơ của nó với các nhân tố, điều kiện pháttriển xã hội và con người khiến cho vấn đề quản lý các thiết chế khoa học, ứngdụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất và đời sống trở nên cần thiếthơn Việc quản lý và định hướng ấy chắc chắn cần đến một thế giới quan nóichung, đến những quan điểm triết học nhất định

- Khi đề cập đến mối quan hệ giữa triết học và khoa học cần chống 2 quanđiểm cực đoan: quan điểm tuyệt đối hóa vai trò của triết học, hạ thấp, coi thườngvai trò của các khoa học và quan điểm tuyệt đối hóa vai trò của các khoa học, hạthấp hoặc gạt bỏ vai trò của triết học Cả hai cách tiếp cận về mối quan hệ giữa triếthọc và khoa học là biểu hiện của lối tư duy cực đoan, siêu hình Sự ra đời chủ nghĩaduy vật biện chứng đã đem đến một quan điểm mới, tích cực về mối quan hệ giữatriết học và khoa học

Trang 6

- Mối quan hệ giữa triết học và các khoa học là mối quan hệ biện chứng,thống nhất của các mặt đối lập Tính đặc thù của mối quan hệ này nằm ở chỗ, tùytừng giai đoạn phát triển cụ thể mà mặt này hay mặt kia nổi trội, tác động của mặtnày lên mặt kia không phải chỉ theo một hướng duy nhất Các kết luận triết họcđược rút ra từ khoa học có thể là tích cực, nhưng cũng có thể là tiêu cực Điều đóphụ thuộc vào lý luận nhận thức của các nhà khoa học được định hướng bởi thếgiới quan triết học nào Như vậy, nhà khoa học không thể thiếu phương pháp luận

triết học sáng suốt dẫn đường Thiếu tư duy triết học sáng suốt dẫn đường, nhà

khoa học khó có thể xác định tốt những định hướng nghiên cứu đúng đắn, tối ưu để

đi tới những phát minh, sáng chế Anhxtanh, nhà vật lý học vĩ đại của nhân loại thế

kỷ XX đã chỉ ra: “Khoa học, mà trước hết là vật lý học càng phát triển bao nhiêu,các nhà khoa học càng cần được trang bị phép biện chứng duy vật bấy nhiêu”

Trang 7

CHƯƠNG 4 VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC TRONG SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

I Ý thức khoa học

* Khoa học và đặc điểm của khoa học

- Khái niệm khoa học: Khoa học là một hệ thống những tri thức được kháiquát từ thực tiễn và được kiểm nghiệm bởi thực tiễn phản ánh dưới dạng logic trừutượng những thuộc tính, kết cấu, những mối liên hệ bản chất, những quy luật của tựnhiên, xã hội và bản thân con người Khoa học là một hình thái đặc thù của ý thức

xã hội

- Đặc điểm của khoa học:

+ Thứ nhất: Phạm vi phản ánh của khoa học hết sức rộng lớn: TN, XH, tưduy, con người

+ Thứ hai: Đối tượng nghiên cứu của khoa học rất đa dạng: từ những đốitượng vô cùng nhỏ đến những đối tượng vô cùng lớn, từ giới vô sinh đến giới hữusinh, từ sinh vật đến con người và xã hội

+ Thứ ba: Khoa học tồn tại dưới dạng cụ thể của các tri thức chuyên ngành

Nó thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội khác để hình thành nên các khoa họctương ứng với từng hình thái đó như đạo đức - đạo đức học, chính trị – chính trịhọc, nghệ thuật và các khoa học nghiên cứu nghệ thuật…

+ Thứ tư: Khoa học đối lập với tôn giáo về bản chất, khoa học đóng vai trò tolớn trong quá trình nhận thức hiện thực và là cơ sở trí tuệ cho các hình thái ý thức

xã hội khác

* Lịch sử hình thành và phát triển của khoa học

- Khoa học trong thời kỳ cổ đại và trung đạ: Thời kỳ cổ đại: Nhu cầu củathủy lợi, xây dựng, hàng hải đã làm xuất hiện toán học, cơ học, thiên văn học Đếnthời kỳ trung đại, sự thống trị của chế độ chuyên chế phong kiến và tôn giáo đã kìmhãm sự phát triển của khoa học làm cho khoa học rơi vào tình trạng trì trệ, khôngphát triển

- Khoa học trong thời kỳ hình thành chủ nghĩa tư bản ở Phương Tây:

Trang 8

+ Sự phát triển của PTSX TBCN đã thúc đẩy khoa học phát triển mạnh mẽ,

đề cao lý trí, sự tự do của con người, chống lại các tín điều tôn giáo và quan hệphong kiến, tiêu biểu là Côpecnic, Galilê, Bêcơn, Đềcáctơ, Niutơn, v.v

+ Khoa học đi sâu vào thực nghiệm và phân tích, nghiên cứu từng sự vật,từng bộ phận của hiện thực -> Đề cao thực nghiệm và tư duy duy lý, gạt bỏ dầnChúa trời và mọi thứ giáo điều ra khỏi khoa học

+ Quan điểm thống trị trong khoa học là quan điểm siêu hình, máy móc,khoa học chưa đoạn tuyệt hoàn toàn với thần học

- Khoa học trong thời kỳ cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất (XVIII - XIX) + Mở đầu bằng giả thuyết về sự hình thành thái dương hệ của Kant (các thiênthể được hình thành từ những đám tinh vân nguyên thủy), phá vỡ quan niệm siêuhình và gạt bỏ sự sáng tạo của Chúa ra khỏi khoa học), kết thúc bằng 3 phát minh

có tính chất vạch thời đại Các phát hiện trong địa chất học về quá trình hình thànhcác lớp đất đá, các hóa thạch của động, thực vật, v.v lịch sử hình thành và pháttriển của chúng

+ Triết học duy vật biện chứng của Mác và Ănghen ra đời vào giữa thế kỷXIX

+ Sự phát triển của khoa hoc dẫn tới:

-> Cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất dẫn đến cuộc cách mạng côngnghiệp đã đưa nền sản xuất tư bản chủ nghĩa từ công trường thủ công lên đại côngnghiệp cơ khí: máy hơi nước ra đời (năm 1784); máy dệt vải (1795), máy cưa(1807), máy tiện (1862), máy điện tự động (1879), nhà máy điện (1884), v.v

-> Sự phát triển của công nghiệp đã dẫn đến những biến đổi sâu xa về kinh tế

và xã hội: phương thức sản xuất phong kiến hoàn toàn bị đánh bại; xuất hiện GCTS

và GCVS, mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp làm xuất hiện tiền đề cho sự ra đời củamột xã hội mới

-> CNXHKH ra đời đánh dấu bước ngoặt cách mạng trong khoa học xã hội,biến chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học

Trang 9

- Khoa học trong điều kiện cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại thế kỷ

XX Khoa học phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng trở thành lực lượng sản xuấttrực tiếp:

+ Khoa học phát triển làm thay đổi kỹ thuật – công nghệ sản xuất dẫn tớixuất hiện những ngành sản xuất mới: tự động hóa từng phần và toàn bộ quá trìnhsản xuất, làm biến đổi sâu sắc vai trò của khoa học đối với sản xuất cũng như vị trícon người trong sản xuất

+ Khoa học hiện đại phân ngành mạnh mẽ, thâm nhập lẫn nhau, kết hợp với

kỹ thuật và công nghệ thành một thể thống nhất không thể tách biệt được

+ Mở rộng phạm vi nghiên cứu vào vũ trụ bao la: Tìm ra bí mật của sự sống,mật mã di truyền, tạo ra những ứng dụng kỹ thuật mới để lai tạo giống mới, phòng

và chữa bệnh, mở ra khả năng kỳ diệu để con người có thể chủ động điều chỉnh quátrình sống của thực vật và động vật Đưa ra những phương pháp khai thác nhữngnguồn năng lượng mới, những vật liệu nhân tạo với những thuộc tính đặc biệtkhông có sẵn trong tự nhiên (như siêu cứng, siêu bền, siêu sạch, siêu dẫn …) Tạo

ra hàng loạt phương tiện kỹ thuật và quá trình công nghệ mới về chất trong sản xuất(như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới …)

+ Khoa học xã hội phát triển mạnh mẽ, nhiều ngành khoa học xã hội nhưkinh tế học, luật học, xã hội học, tâm lý học, v.v đã trở thành chỗ dựa cho việcquản lý kinh tế, xã hội

* Phân loại khoa học

- Phân loại khoa học theo đối tượng:

+ Khoa học tự nhiên và công nghệ: Nghiên cứu các sự vật, hiện tượng và quyluật vận động nhằm tìm cách chinh phục, sử dụng chúng

+ Khoa học xã hội và nhân văn: Nghiên cứu các hiện tượng, quá trình, cácquy luật vận động, phát triển của xã hội nhằm tổ chức quản lý và thúc đẩy xã hộiphương Tây

Trang 10

Các dạng khoa học lại được phân loại nhỏ hơn: toán, lý, hóa, từ đó có thểphân nhỏ thành các chuyên ngành: toán: số học, đại số, hình học, lượng giác, tíchphân, xác xuất thống kê …; xã hội học đại cương, xã hội học gia đình, giới, v.v

- Phân loại theo cách thức tổ chức hoạt động nghiên cứu: Hiện nay, trên thếgiới đã hình thành trên 2000 môn khoa học

+ Khoa học cơ bản: Nghiên cứu các hiện tượng, quy luật, phương hướng vàphương pháp lý thuyết chung để khoa học ứng dụng triển khai

+ Khoa học ứng dụng: Nghiên cứu các quy tắc, nguyên tắc và phương pháp

cụ thể nhằm ứng dụng khoa học cơ bản vào hoạt động cải biến các đối tượng cụthể, là sự triển khai các kết quả của nghiên cứu cơ bản: tin học ứng dụng, lai tạogiống, kỹ thuật lai tạo gen …

+ Tổ chức quốc tế UNESCO chia khoa học thành các nhóm: Nhóm khoa học

tự nhiên; nhóm khoa học nông nghiệp; nhóm khoa học y học; nhóm khoa học kỹthuật và nhóm khoa học xã hội

II Cách mạng khoa học công nghệ - Động lực của sự phát triển xã hội

* Lịch sử ra đời và phát triển của cách mạng khoa học công nghệ

- Cách mạng kỹ thuật lần I (giữa thế kỷ XVIII – giữa thế kỷ XIX): Diễn ratrước hết ở nước Anh vào những năm 60 của thế kỷ 18, do nhu cầu phát triển củaCNTB với khát vọng có nhiều giá trị thặng dư Đặc điểm nổi bật: Máy móc ra đờithay thế công cụ thủ công Thành tựu cơ bản: Đầu tiên trong ngành dệt sợi bông:năm 1733, phát minh ra thoi bay; năm 1767, ra đời máy kéo sợi Gien-ny; Năm

1769, máy kéo sợi đầu tiên chạy bằng sức nước Ác-rai; Năm 1779, máy Mu-lơ cóthể kéo cùng lúc 300-400 cọc sợi; năm 1784 Giêm-oát đã chế tạo ra máy hơi nước:được ứng dụng trong ngành kéo sợi, dệt Năm 1785, máy dệt đầu tiên ở Anh, năngsuất gấp 40 lần, chạy máy bơm nước hầm lò, chạy máy đào hầm lò, máy vậnchuyển bằng cáp treo Trong lĩnh vực giao thông vận tải Năm 1807, chiếc tàu thủyđầu tiên trên thế giới chạy bằng hơi nước Phơn-tơn ra đời Năm 1804, Xti-phen-xơn chế tạo ra chiếc đầu máy xe lửa đầu tiên chạy bằng hơi nước Đến năm 1829,vận tốc xe lửa đã lên tới 14 dặm/giờ Thành công này đã làm bùng nổ hệ thống

Trang 11

đường sắt ở châu Âu và châu Mĩ Đến 1858, thế giới đã có 40.000 km đường sắt,trong đó Mỹ chiếm 40% Ý nghĩa: Đã tạo ra bước đột biến trong sự phát triển củaLLSX dưới CNTB, tạo tiền đề cho sự phát triển giai đoạn tiếp theo của KH KT vàCNTB

- Cuộc cách mạng kỹ thuật lần II (Bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX đến chiến tranhthế giới lần II):

+ Hoàn cảnh ra đời: Xuất phát từ yêu cầu phát triển của công nghiệp, quátrình cạnh tranh khốc liệt, khủng hoảng kinh tế, xuất hiện độc quyền; CNTBchuyển sang giai đoạn ĐQCN dẫn đến 2 cuộc chiến tranh thế giới Các lĩnh vực:Chế tạo máy, giao thông – liên lạc, vật liệu, năng lượng… Đặc điểm: chuyển sangsản xuất trên cơ sở điện – cơ khí và sang giai đoạn tự động hoá cục bộ trong sảnxuất, biến khoa học thành một ngành lao động đặc biệt

+ Thành tựu: Năm 1860 thử nghiệm động cơ đốt trong, năm 1862, xe chạybằng động cơ đốt trong; máy điện thoại (1876), phát triển liên lạc bằng sóng điện từgiữa hai bờ biển Manche (1897); năm 1878 – 1879, J.Suan và T.Edison phát minh

ra bóng điện; năm 1895 động cơ diesel ra đời, năm 1898 kỷ nguyên ô tô xuất hiện;năm 1903 – 1909, từ máy bay của anh em nhà Wringt (Mỹ) đến máy bay củaBlériot (Pháp), đã mở ra thời đại hàng không, năm 1930 Ph Watt (Anh) Phát minh

ra động cơ phản lực, 1939 Hãng Heinkel (Đức) chế tạo thành công chiếc máy bayđầu tiên… Năm 1923 J Berd (Scốtlen) phát minh ra vô tuyến truyền hình, năm

1932 Hãng BBC chương trình truyền hình đầu tiên Năm 1943, những viên thuốckháng sinh Penicilin H.Becquerel (năm 1896) và Mary Quyry (năm 1898) pháthiện ra hiện tượng phóng xạ

+ Cuộc khủng hoảng trong vật lý học: Hiệu ứng quang điện, tia X, phóng xạ,không giải thích bằng lý thuyết cũ được Cuộc khủng hoảng được giải quyết bởiM.Planck thông qua Thuyết Lượng tử (năm 1900), Einstein đưa ra thuyết quangđiện tử (giải thích quang điện), thuyết tương đối hẹp tìm ra mối quan hệ giữa nănglượng và khối lượng, thuyết tương đối rộng là cơ sở cho các ngành vật lý hiện đại:

Ngày đăng: 23/08/2018, 10:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w