CHƯƠNG IV: VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC TRONG SỰ PHÁT TRIỂNThời đại ngày nay là thời đại cách mạng khoa học – kỹ thuật, cách mạngkhoa học và công nghệ, mọi chuyển biến của đời sống xã hội đều gắ
Trang 1CHƯƠNG IV: VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC TRONG SỰ PHÁT TRIỂN
Thời đại ngày nay là thời đại cách mạng khoa học – kỹ thuật, cách mạngkhoa học và công nghệ, mọi chuyển biến của đời sống xã hội đều gắn liền với khoahọc, công nghệ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
Tốc độ phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc rất lớn vào tiềm lực khoa học – kỹthuật và công nghệ của đất nước
Bằng việc nhận thức đúng đắn cách mạng khoa học và công nghệ mới có thể lýgiải nhiều hiện tượng khác nhau của đời sống xã hội của mỗi quốc gia cũng nhưcủa quốc tế
Trên cơ sở hiểu biết khoa học về khoa học và công nghệ mới có căn cứ để dựbáo tương lai, chiều hướng phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc giacũng như của nhân loại
Mặt khác, việc nhận thức đúng những mặt trái trong sự phát triển của khoa học
và công nghệ, của sản xuất công nghiệp để hạn chế những tác động tiêu cực của nóđối với sự phát triển là một yêu cầu khách quan
Như vậy, việc nhận thức đúng khoa học, công nghệ, vai trò của chúng và củacách mạng khoa học và công nghệ là đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa cấp thiếttrên các phương diện khác nhau của đời sống xã hội
1 Khoa học, sự ra đời và phát triển của khoa học
a Khái niệm khoa học
Sự ra đời và phát triển của khoa học là thành quả vĩ đại của trí tuệ conngười Khoa học giữ một vai trò đặc biệt trong hoạt động của con người vàvai trò đó ngày càng tăng lên trong đời sống xã hội Trong thời đại ngày nay,mọi bước tiến quan trọng của lịch sử đều xuất phát từ tri thức khoa học vàvai trò của khoa học trở nên to lớn đến mức có thể gọi thời đại ngày nay làthời đại khoa học, công nghệ
Khoa học ra đời trong quá trình lao động chinh phục giới tự nhiên vàthế giới nói chung, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của con người Khoahọc là một hiện tượng đặc biệt của đời sống xã hội, là một lĩnh vực hoạtđộng của con người, bao gồm nhiều mặt khác nhau Khoa học là toàn bộnhững hiểu biết (tri thức) về tự nhiên, xã hội và tư duy tồn tại dưới các hìnhthức lý thuyết, định lý, quy luật, nguyên tắc, luận điểm Hay có thể định
nghĩa về khoa học như sau: khoa học là một hệ thống những tri thức được
Trang 2khái quát từ thực tiễn và được kiểm nghiệm bởi thực tiễn phản ánh dưới dạng logic trừu tượng những thuộc tính, kết cấu, những mối liên hệ bản chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và bản thân con người Khoa
học là một hình thái đặc thù của ý thức xã hội
b Đặc điểm của khoa học
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học có nhiều đặcđiểm khác biệt với các hình thái ý thức xã hội khác về nội dung, phươngthức biểu hiện, về quy luật phát triển và về chức năng xã hội
Khoa học đóng vai trò to lớn trong quá trình nhận thức hiện thực và
là cơ sở trí tuệ cho các hình thái ý thức xã hội khác
Phạm vi phản ánh của khoa học hết sức rộng lớn Bằng hệ thống phạm trù,qui luật của mình, khoa học phản ánh các hiện tượng, quá trình của thế giới,
từ những đối tượng vô cùng nhỏ đến những đối tượng vô cùng lớn, từ giới
vô sinh đến giới hữu sinh, từ sinh vật đến con người và xã hội Khoa học tồntại dưới dạng tương đối cụ thể của các tri thức chuyên ngành
Tri thức khoa học thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội khác hìnhthành nên các khoa học tương ứng với từng hình thái đó, ví dụ: đạo đức vàđạo đức học, chính trị và chính trị học, tôn giáo và chủ nghĩa vô thần khoahọc, nghệ thuật và các khoa học nghiên cứu nghệ thuật
Khoa học đối lập với tôn giáo về bản chất Tôn giáo phản ánh hư ảođối với hiện thực và dựa vào lòng tin về một lực lượng siêu nhiên; còn khoahọc là sự phản ánh chân thực về thế giới dựa vào lý trí của con người
Khoa học không chỉ khác với các hình thái ý thức xã hội khác mà cònkhác với nhận thức thông thường và khác với tri thức tiền khoa học donhững đặc trưng riêng biệt của mình
Tri thức khoa học có tính đối tượng và tính khách quan Khoa họcnghiên cứu các khách thể của tự nhiên, xã hội và bản thân con người nhưnhững đối tượng vận động và phát triển theo các quy luật khách quan.Đặc điểm này phân biệt khoa học vớinhững hình thức khác của hoạt độngnhận thức, chẳng hạn với nghệ thuật Trong nghệ thuật, sự phản ánh thếgiới quan được thực hiện thông qua quan hệ đánh giá của con người.Khoa học nghiên cứu hiện thực, kể cả hiện thực tư tưởng, như nhữngkhách thể tồn tại độc lập với chủ thể Dĩ nhiên, các yếu tố cá nhân vànhững định hướng giá trị của nhà khoa học có vai trò quan trọng trong
Trang 3sáng tạo khoa học; song kết quả nghiên cứu lại không phụ thuộc vào ýmuốn của người nghiên cứu.
Tri thức khoa học phải có tính hệ thống và có tính căn cứ Đây là đặctrưng quan trọng phân biệt khoa học với những sản phẩm của hoạt độngnhận thức thông thường Khoa học là một chỉnh thể các khái niệm, phạmtrù, qui luật có liên hệ nội tại với nhau mang tính chân thực Tính chânthực này được chứng minh không chỉ bằng việc kiểm nghiệm trong thựctiễn mà khoa học còn tạo ra những phương thức chứng minh riêng củamình
Để mô tả và nghiên cứu các khách thể của mình, khoa học không thểchỉ sử dụng ngôn ngữ thường ngày mà còn phải sử dụng ngôn ngữ “nhântạo”, chuyên môn hóa.Ngôn ngữ của khoa học là công cụ cần thiết của tưduy khoa học; nó không ngừng được phát triển tùy theo sự đi sâu củakhoa học vào các lĩnh vực mới của thế giới khách quan Ngôn ngữ khoahọc không ngừng bổ sung làm cho ngôn ngữ thông thường ngày càngphát triển
Cùng với ngôn ngữ chuyên môn hóa, khoa học còn cần một hệ thốngcác công cụ chuyên môn và các bộ máy nghiên cứu khoa học chuyênmôn
Đương nhiên, hoạt động khoa học đòi hỏi các nhà khoa học, bên cạnhviệc nắm vững các phương tiện và phương pháp nghiên cứu, có địnhhướng giá trị đúng đắn, còn cần có những tư chất phù hợp với hoạt độngđặc thù của mỗi lĩnh vực nhận thức khoa học Sứ mệnh cao cả của hoạtđộng khoa học là tìm kiếm, phát hiện chân lý khách quan, coi chân lýkhách quan như là giá trị cao nhất của khoa học Sứ mệnh này được thểhiện trong các lý tưởng và chuẩn mực của nhận thức khoa học
Khi xem xét khoa học với tư cách là một hình thái ý thức xã hộikhông thể tách rời xem xét nó như một hiện tượng xã hội Nhờ tri thứkhoa học, con người không ngừng vươn tới cái mới “sáng tạo ra một thếgiới mới” và ngày càng làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bảnthân mình
c Lịch sử hình thành và phát triển của khoa học
Khoa học bắt nguồn từ sản xuất và chỉ ra đời khi xã hội có sự phân cônglao động thành lao động chân tay và lao động trí óc Vì vậy, trong xã hộicộng sản nguyên thủy chưa có khoa học, phải đến thời cổ đại khoa họcmới xuất hiện
Trang 4Có thể chí lịch sử phát triển của khoa học thành các giai đoạn lớn sauđây:
- Khoa học trong thời kỳ cổ đại và trung đại
Nhu cầu của thủy lợi, xây dựng, hàng hải đã làm xuất hiện toán học,
cơ học, thiên văn học và Ănghen trong tác phẩm “Biện chứng của tựnhiên” đã chỉ rõ “trong suốt thời kỳ cổ đại, sự nghiên cứu khoa học thật
sự vẫn chỉ đóng khung trong ba ngành khoa học đó” Thời kỳ này, trồngtrọt, chăn nuôi, nghề thủ công, xây dựng, chủ yếu dựa vào công cụ thủcông và tri thức kinh nghiệm nên sự vận dụng khoa học vào sản xuất cònrất ít ỏi Cho nên có thể nói, đây là thời kỳ “trứng nước” sơ khai của khoahọc
Trong thời kỳ trung đại, sự thống trị của chế độ chuyên chế phongkiến, của thần quyền và tôn giáo đã kìm hãm sự phát triển của khoa họclàm cho khoa học rơi vào tình trạng trì trệ, đình đốn kéo dài Lúc bấy giờmọi tìm tòi và sáng tạo khoa học đều bị lên án và trừng trị bởi tòa án tôngiáo
- Khoa học trong thời kỳ hình thành chủ nghĩa tư bản ở Phương Tây
Thời kỳ này kéo dài từ thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII, bắt đầu từthời kỳ văn hóa Phục Hưng Đây là thời kỳ chế độ chuyên chế phongkiến suy tàn, tan rã,là thời kỳ các cuộc cách mạng tư sản nổ ra ở tây Âu
để đánh đổ chế độ phong kiến, xác lập chế độ tư bản chủ nghĩa tiến bộhơn
Việc phá vỡ quan hệ phong kiến gắn với sự chuyên chính về tinh thầncủa giáo hội, sự phát triển những quan hệ tư bản chủ nghĩa đã thúc đẩykhoa học phát triển mạnh mẽ Do đó, trong thời kỳ này, theo sự đánh giácủa Ănghen, các ngành khoa học đột nhiên sống lại với một sức mạnhkhông ngờ và phát triển nhanh chóng một cách kỳ diệu “có thể nói là tỷ
lệ với bình phương của khoảng cách (tính theo thời gian) kể từ khởiđiểm” khoa học lúc này đã thể hiện như một lực lượng cách mạng; nóđược xây dựng trong không khí cách mạng và bản thân nó cũng có tínhcách mạng Khoa học phát triển theo hướng chông lại các tín điều tôngiáo và quan hệ phong kiến; đề cao lý trí, sự tự do của con người, khảnăng nhận thức và cải tạo thế giới bởi con người Khoa học thông quacuộc đấu tranh chống phong kiến, thần học và chủ nghĩa kinh viện đãgiành quyền sống của mình và phát triển qua cuộc đấu tranh đó Thời kỳnày được mở đầu bởi Coopecnic, Galile, Kêpơle và kết thúc với Bêcon,Đềcáctơ và Huyghen, Niuton
Trang 5Chống lại chủ nghĩa kinh viện, khoa học thời kỳ này đã đi sâu vàothực nghiệm và phân tích, nghiên cứu từng sự vật, từng bộ phận của hiệnthực Khoa học thực nghiệm bắt đầu hình thành một cách phổ biến màGalilê được coi là ông tổ của ngành khoa học này Phương pháp qui nạp
và thực nghiệm của beacon, phương pháp diễn dịch và toán giải tích củaĐề-các-tơ được sử dụng rộng rãi, bổ sung cho nhau Lúc này các nhàkhoa học có xu hướng đề cao thực nghiệm và tư duy duy lý, gạt bỏ dầnchúa trời và mọi thứ giáo điều ra khỏi khoa học, hoài nghi tất cả những gìchưa có cơ sở thực nghiệm và duy lý chắc chắn
Thời kỳ này, chỉ có cơ học cổ điển được coi là môn học đã hoànchỉnh, phát triển nhất, còn các ngành khoa học khác như vật lý học, hóahọc, địa chất học … còn ở trình độ thấp, thậm chí mới manh nha Nóichung, khoa học chủ yếu còn dừng lại ở trình độ sưu tập và mô tả Thủyđộng học và nhiệt động học vào cuối thời kỳ này mới được nghiên cứusâu hơn Vật lý chỉ có ngành quang học phát triển ít nhiều do nhu cầu bứcbách của thực tiễn thiên văn Hóa học thoát khỏi thuật luyện kim, nhưngđang bị chi phối bởi thuyết nhiên tố Địa chất học chưa vượt qua giaiđoạn phôi thai là khoáng vật học Trong lĩnh vực sinh vật học chủ yếumới gom góp, phân loại các tài liệu về thực vật và động vật
Tương ứng với trình độ trên đây của khoa học thì quan điểm thống trịtrong triết học và khoa học tự nhiên thời bấy giờ là quan điểm siêu hình,máy móc, mà “điểm trung tâm là cái quan niệm về tính tuyệt đối khôngthay đổi của giới tự nhiên” “ phủ nhận mọi sự biến đổi, mọi sự phát triểntrong giới tự nhiên” Mặt khác, khoa học thời kỳ này cũng chưa đoạntuyệt hoàn toàn khỏi thần học
- Khoa học trong thời kỳ cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất
Thời kỳ này kéo dài từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX và được mở đầuvới giả thuyết của Canto về sự hình thành thái dương hệ và kết thúc vớinhững phát minh về thuyết tế bào, thuyết tiến hóa của các loài sinh vật,định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng
Trong thời kỳ này, khoa học phát triển theo hướng phá vỡ quan niệmsiêu hình về tính bất biến, cô lập của tự nhiên và tiếp tục gạt bỏ sự sángtạo của Chúa ra khỏi khoa học Với cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứnhất, khoa học đã tạo ra bước nhảy vọt lớn lao trong LLSX
Đột phá khẩu vào quan niệm siêu hình về tính bất biến của giới tựnhiên là giả thuyết của Canto về sự hình thành các thiên thể từ nhữngđám tinh vân nguyên thủy trong thời gian Địa chất học phát hiện ra quá
Trang 6trình hình thành các lớp đất, đá và các hóa thạch của động vật và thực vật
cổ xưa Và như vậy, khoa học đã đi đến quan niệm cho rằng, khôngnhững toàn bộ quả đất mà cả những loài động vật, thực vật đang có trênquả đất cũng có lịch sử trong thời gian Từ Lavoadie, Đanton hóa học bắtđầu phát triển mạnh, lấp dần hố ngăn cách trong nhận thức giữa vô cơ vàgiới hữu cơ Với việc phát hiện ra ôxy, quan niệm của thuyết nguyên tố(phlôgittôn thuyết này do nhà hóa học người Đức Sowtan sáng lập ra) bịđánh đổ Sinh vật học đã sử dụng phổ biến kính hiển vi, phát hiện ra tếbào, thu thập, giải phẫu, so sánh được nhiều tài liệu về giới hữu sinh ĐếnĐácuyn thì quan niệm về sự tiến hóa tự nhiên của các giống loài đượchình thành một cách hoàn chỉnh Vật lý học đã có những bước tiến lớn,nhất là phát hiện về sự bảo toàn và chuyển hóa năng lượng đã vạch rabức tranh chung của thế giới trong sự liên hệ chuyển hóa giữa các lĩnhvực của vật chất vận động
Lúc bấy giờ, khoa học đã tích lũy khá nhiều tài liệu phong phú; từ đó
đã nảy sinh đòi hỏi ức bách là sắp xếp những tri thức ấy lại một cách có
hệ thống dựa vào mối liên hệ nội tại của chúng trong từng lĩnh vực cũngnhư giữa các lĩnh vực khác nhau Nhu cầu đó đòi hỏi phải phát triển tưduy lý luận Để phát triển tư duy lý luận, cần phải có quan điểm triết họcđúng đắn Ở thời kỳ này, sự phát triển của khoa học cụ thể đã tạo ra điềukiện, tiền đề cho sự ra đời của hệ thống triết học mới làm cơ sở thế giớiquan và phương pháp luận khoa học cho sự khái quát lý luận khoa học
Đó là triết học duy vật biện chứng do Mác và Ănghen sáng lập ra vàogiữa thế kỷ XIX
Cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất, gắn liền với nó là cuộc cáchmạng công nghiệp, đã đưa nền sản xuất tư bản chủ nghĩa từ công trườngthủ công lên đại công nghiệp cơ khí Sau khi máy hơi nước ra đời (năm1784) thì hang loạt các máy móc khác cũng xuất hiện như máy dệt vải(1785), máy cưa (1807), máy tiện (1818), máy điện tự động (1879), nhàmáy điện (1884) Quá trình điện khí hóa bắt đầu, luyện kim và côngnghiệp hóa học xuất hiện tạo ra nhiều vật liệu nhân tạo và thâm nhập vàomọi ngành công nghiệp, nông nghiệp Công nghiệp khai thác than, quặngđược trang bị lại một cách cơ bản và đặc biệt là ngành chế tạo máy móc
Trang 7chế tạo máy hơi nước cũng như những động cơ đốt trong đòi hỏi pháttriển và vận dụng lý thuyết về nhiệt; chế tạo máy dệt và các máy kim loạikhác đòi hỏi cơ học; công nghiệp luyện kim, thủy tinh đòi hỏi hóa học;khai thác quặng đòi hỏi địa chất học; trồng trọt, chăn nuôi và y tế đòi hỏithực vật học và động vật học, giải phẫu và sinh lý học
Sản xuất phát triển mạnh bao nhiêu thì càng đòi hỏi và tạo điều kiệnphát triển, ứng dụng, khoa học mạnh bấy nhiêu, ngược lại, khoa học pháttriển làm cho sản xuất có điều kiện phát triển với những tốc độ kỳ diệu CMác cho rằng: “cùng với sản xuất tư bản chủ nghĩa, nhân tố khoa học lầnđầu tiên được phát triển, vận dụng và tạo ra một cách có ý thức trongnhững phạm vi mà các thời đại trước đó chưa hề có ý thực được.”
Với tất cả những yếu tố trên, khoa học phát triển mạnh mẽ, đã tácđộng nhanh chóng đến sản xuất, làm cho sản xuất TBCN phát triển rấtnhanh
Cuộc cách mạng kỹ thuật lúc này đã dẫn đến những biến đổi sâu xa vềkinh tế và xã hội Nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng kỹ thuật
mà giai cấp tư sản trong vòng chưa đầy một thế kỷ đã tạo ra một lựclượng sản xuất đồ sộ bằng tất cả các thế hệ trước kia cộng lai Phươngthức sản xuất TBCN hoàn toàn đánh bại phương thức sản xuất tiến tiến;kết cấu xã hội cũng thay đổi theo; đấu tranh xã hội diễn ra chủ yếu giữahai giai cấp tư sản và vô sản
Về khoa học xã hội, trong thời kỳ này nhiệm vụ chủ yếu là thanh toánchế độ phong kiến trung cổ Khi giai cấp tư sản là giai cấp đang lên,trong các môn học về xã hội của giai cấp tư sản đã có những mần mốngkhoa học về xã hội Đến khi giai cấp vô sản đã lớn mạnh tiến hành đấutranh với trật tự tư sản thì khoa học triết học và khoa học xã hội thực sựhình thành Đó là triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoahọc do mác và Ănghen sáng lập và các ngành khoa học xã hội khác lấychủ nghĩa Mác làm cơ sở lý luận chung Từ đấy mở ra một thời đại mới
là con người cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội đều bằng tri thức khoa học.Chủ nghĩa Mác ra đời đánh dấu bước ngoặt cách mạng trong khoa học xãhội, đặt cơ sở khoa học cho các học thuyết xã hội, biến chủ nghĩa xã hội
từ không tưởng trở thành khoa học
- Khoa học trong điều kiện cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại thế kỷ XX
Trong thế kỷ XX, nhất là trong điều kiện cách mạng khoa học-kỹthuật hiện đại, khoa học phát triển cực kỳ mạnh mẽ và nhanh chóng; vai
Trang 8trò của khoa học đối với đời sống xã hội cũng như mối quan hệ giữa khoahọc và thực tiễn, sản xuất biến đổi to lớn;khoa học đã thâm nhập vào mọilĩnh vực, mọi quá trình và mọi mặt của đời sống xã hội.
Khoa học Mác – Lênin và các khoa học xã hội khác không còn chỉ là
hệ thống lý thuyết mà đã thành cơ sở lý luận trực tiếp của những biến đổicách mạng nhằm lật đổ CNTB và xây dựng CNXH Khoa học xã hội, lýluận cách mạng đã đến giai đoạn chuyển thành phong trào cách mạng vôsản trên qui mô toàn thế giới
Đặc điểm cơ bản nhất, nổi bật nhất của sự phát triển khoa học trongđiều kiện cách mạng khoa học – kỹ thuật là khoa học đã trở thành lựclượng sản xuất trực tiếp
Sự phát triển khoa học đã trở thành tiền đề, điểm xuất phát trực tiếpcho những biến đổi to lớn trong kỹ thuật – công nghệ sản xuất và đã tạo
ra những ngành sản xuất mới Sự phát triển khoa học đã dẫn đến tự độnghóa từng phần và toàn bộ quá trình sản xuất, làm biến đổi sâu sắc vai tròcủa khoa học đối với sản xuất cũng như vị trí con người trong sản xuất.Khoa học hiện đại đã phân ngành rất mạnh mẽ và thâm nhập lẫn nhau,kết hợp với kỹ thuật và công nghệ thành một thể thống nhất không thểtách biệt được Khoa học hiện đại đã đi sâu vào thế giới vi mô, tìm rahang loạt các hạt cơ bản có cấu trúc, thuộc tính và tương tác theo nhữngquan hệ rất khác nhau so với những vật thể vĩ mô
Khoa học hiện đại đã mở rộng phạm vi nghiên cứu vào vũ trụ bao la
Từ đó đã vẽ ra một bức tranh chi tiết , chính xác hơn về vũ trụ, mở đườngcho con người bay vào vũ trụ, mở ra những triển vọng to lớn để hiểu biết,khám phá, chinh phục vũ trụ
Khoa học hiện đại cũng đã đi sâu tìm ra bí mật của sự sống, mật mã ditruyền, từ đó tạo ra những ứng dụng kỹ thuật mới để lai tạo giống mới, đềphòng và chữa bệnh, mở ra khả năng kỳ diệu là con người có thể sẽ chủđộng điều chỉnh quá trình sống của thực vật và động vật
Khoa học hiện đại cũng đã phát hiện và đề ra những phương phápkhai thác những nguồn năng lượng mới chế tạo, những vật liệu nhân tạovới những thuộc tính đặc biệt không có sẵn trong tự nhiên (như siêucứng, siêu bền, siêu sạch, siêu dẫn …) Đồng thời khoa học đã tạo ra hàngloạt phương tiện kỹ thuật và quá trình công nghệ mới về chất trong sảnxuất (như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệumới …)
Trang 9Cùng với khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội cũng
có sự phát triển mạnh mẽ Nhiều ngành khoa học xã hội như kinh tế học,luât học, xã hội học, tâm lý học, … đã trở thành chỗ dựa cho việc quản lýkinh tế, xã hội Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin đã trở thành cơ sởkhoa học trực tiếp cho nhiều ngành khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội.Hiện nay mặc dù gặp khó hăn và thử thách nghiêm trọng song lý luậnMác – Leenin với những nguyên tắc căn bản đúng đắn của nó vẫn làngọn cờ tư tưởng của quá trình đổi mới chủ nghĩa xã hội và của phongtrào cách mạng trên toàn thế giới
d Phân loại khoa học
Dựa vào sự khác nhau giữa các hình thức vận động của vật chất, người taphân loại các khoa học Khoa học càng phát triển thì quá trình chuyênmôn hóa càng sâu, phân ngành khoa học càng nhiều, xuất hiện thêmnhiều ngành khoa học mới Đồng thời, sự thâm nhập, sự giao thoa lẫnnhau giữa các khoa học dễ dẫn đến sự hình thành nhiều ngành khoa họctrung gian mang tính tổng hợp, liên ngành (như Xibécnêtích) Đó là kếtquả tác động đồng thời của hai quá trình trái ngược nhau – phân ngành vàhợp ngành khoa học
Phân loại khoa học theo đối tượngta có:
- Khoa học tự nhiên: nghiên cứu các sự vật, hiện tượng và quy luật vậnđộng nhằm tìm cách chinh phục, sử dụng chúng
- Khoa học xã hội và nhân văn: nghiên cứu các hiện tượng, quá trình, cácquy luật vận động, phát triển của xã hội nhằm tổ chức quản lý và thúcđẩy xã hội phát triển Nghiên cứu con người, các khía cạnh khác nhaucủa đời sống con người, vạch ra quy luật hình thành nhân cách, xây dựngcác giải pháp hoàn thiện nhân cách con người như tâm lý học, ngôn ngữhọc
Các dạng khoa học lại được phân loại nhỏ hơn theo đối tượng, thànhcác bộ môn khoa học như toán, lý hóa, sinh, xã hội học, ịch sử, kinh tếhọc Các môn đó lại có thể được tiếp tục phân nhỏ thành các chuyênngành
Các khoa học chung – đây là một hiện tượng mới trong thời đại ngàynay Chung trên hai nghĩa: chung trong một dạng khoa học, chung giápranh và chung cả hai dạng
Phân loại theo cách thức tổ chức hoạt động nghiên cứu:
Trang 10-Khoa học cơ bản: nghiên cứu các hiện tượng, quy luật, phương hướng
và phương pháp lý thuyết chung để khoa học ứng dụng triển khai, ở tầmcao hơn, xa sản xuất và kỹ thuật hơn
-Khoa học ứng dụng:Nghiên cứu các quy tắc, nguyên tắc và phương pháp
cụ thể nhằm ứng dụng khoa học cơ bản vào hoạt động cải biến các đốitượng cụ thể, gần gũi với kỹ thuật và sản xuất hơn, là sự triển khai cáckết quả của nghiên cứu cơ bản
Tốc độ phát triển của khoa học diễn ra nhanh chóng không chỉ thểhiện ở sự tăng nhanh về khối lượng kiến thức, mà còn cả việc tăng nhanhcác ngành, hợp ngành và phân ngành, đặc biệt ở tác động xã hội của khoahọc
Ngày nay, đã hình thành trên 2000 môn khoa học được phân loại theonguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng (khách quan và phối thuộc)với nhiều nhóm ngành được các tổ chức quốc tế như UNESCO chấpnhận: nhóm khoa học tự nhiên; nhóm khoa học nông nghiệp; nhóm khoahọc y học; nhóm khoa học kỹ thuật và nhóm khoa học xã hội các ngànhkhoa học này tuy có đối tượng nghiên cứu riêng, có những hình thức liên
hệ khác nhau với thực tiễn …, song chúng đều là sản phẩm của đời sống
xã hội, do đời sống xã hội qui định về mục đích và phương hướng pháttriển, đều nhằm tìm ra những quy luật vận động của hiện thực
2 Những chức năng xã hội của khoa học hiện đại
Các chức năng xã hội của khoa học không phải không thay đổi mà trái lạichúng cũng biến đổi và phát triển theo lịch sử cũng như bản thân khoahọc Hơn nữa, sự phát triển các chức năng xã hội cũng là mặt quan trọngcủa sự phát triển bản thân khoa học
Khoa học hiện đại về nhiều mặt đã khác xa với khoa học đã tồn tại cáchđây một thế kỷ hoặc thậm chí nửa thế kỷ về trước Tất cả diện mạo củakhoa học cũng như tính chất mối liên hệ lẫn nhau của nó với xã hội đãbiến đổi
Có thể chia ra thành ba chức năng xã hội của khoa học hiện đại như sau:
- Chức năng văn hóa – thế giới quan
Trong thời kỳ phục hung và cận đại, tức thời kỳ khủng hoảng của chủnghĩa phong kiến và hình thành chủ nghĩa tư bản, ảnh hưởng của khoahọc được biểu hiện ra trước hết trong lĩnh vực thế giới quan Ở đó trongsuốt thời gian này đã diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt và lâu dài giữa thầnhọc và khoa học, bởi vì trước đó trong thời kỳ Trung cổ, thần học giữ địa
vị tối cao trong thế giới quan
Trang 11Nhưng với bước ngoặt do Copécníc (1475-1543) tạo nên bằng tác phẩm
đầu tiên Về sự xoay chuyển của các thiên cầu bắt đầu từ 450 năm trước
đây, khoa học lần đầu tiên đã bác bỏ vai trò độc quyền của thần học trong
sự hình thành thế giới quan
Lịch sử khoa học đã phải trải qua không ít những tấn thảm kịch như việcthiêu sống Brunô, đầy ải Galilê, những xung đột tư tưởng xung quanhthuyết Đácuyn về nguồn gốc các loài trước khi khoa học có thể trở thànhcái quyết định trong những vấn đề có ý nghĩa thế giới quan hàng đầu, liênquan đến kết cấu của vật chất và cấu tạo của vũ trụ, nguồn gốc và bảnchất của sự sống, nguồn gốc loài người … Những câu trả lời của khoahọc về những vấn đề mà cuộc sống đặt ra phải trở thành những yếu tố củanền giáo dục phổ thông Thiếu điều đó, những quan niệm khoa học khôngthể biến thành bộ phận cấu thành của nền văn hóa xã hội Trình độ pháttriển của khoa học nói lên trình độ văn hóa, dân trí của xã hội, do đó khoahọc tồn tại với tư cách là văn hóa khoa học
- Chức năng lực lượng sản xuất trực tiếp
Trong thời kỳ cổ đại, việc sử dụng khoa học vào sản xuất còn ít ỏi, trồngtrọt, chăn nuôi và nghề thủ công chủ yếu dựa vào tri thức kinh nghiệm
Từ thế kỷ XVIII, khoa học phát triển, vai trò của khoa học ngày càngquan trọng đối với sản xuất và đời sống Nền công nghiệp cơ khí lớn sẽ
tự nhiên do khoa học khám phá ra Mác viết: “cùng với sản xuất tư bảnchủ nghĩa, nhân tố khoa học lần đầu tiên đượcphát triển, vận dụng và tạo
ra một cách có ý thức trong những phạm vi mà các thời đại trước đó chưa
hề có ý thức được,”
Tuy nhiên, khi đó quan hệ giữa tri thức khoa học và thực tiễn vấn cònmang tính chất một chiều Một số vấn đề nảy sinh trong quá trình pháttriển kỹ thuật đã trở thành đối tượng của nghiên cứu khoa học và thậmchí đã tạo ra cơ sở cho những ngành khoa học mới ra đời: chẳng hạn nhưnhiệt động học, thủy lực học Mặt khác, bản thân khoa học lúc này cũng
đã cung cấp được nhiều tri thức làm cơ sở cho hoạt động thực tiễn – chocông nghiệp, nông nghiệp, y tế …
Càng về sau, khoa học càng tác động mạnh mẽ đến sản xuất, khoa học trởthành một lực lượng cách mạng, biến đổi căn bản diện mạo và tính chấtcủa nền sản xuất xã hội
Trang 12Vấn đề khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp lần đầu tiên đượcMác đề cập vào giữa thế kỷ XIX Mặt quan trọng của việc biến khoa họcthành lực lượng sản xuất trực tiếp là việc tạo ra và cũng cố các mối liên
hệ thường xuyên để áp dụng tri thức khoa học trong thực tiễn, là sự xuấthiện những ngành hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, xây dựng nhữngmạng lưới thông tin khoa học – kỹ thuật … và cả trong các ngành sảnxuất vật chất khác Tất cả điều đó kéo theo những kết quả đáng kể đối vớikhoa học và thực tiễn
Khoa học ngày càng thu nhận được những xung động lực mới mạnh mẽcho sự phát triển của mình, bởi vì bản thân việc áp dụng khoa học vàosản xuất trực tiếp, đối với nó, đã trở thành một trong những yếu tố quyếtđịnh và thúc đẩy khoa học tiếp tục phát triển Về phía mình, thực tiễnngày càng liên hệ thường xuyên và không ngừng mở rộng với khoa học.Đối với sản xuất hiện đại, việc áp dụng tri thức khoa học ngày càng rộngrãi là điều kiện thiết yếu của sự tồn tại và tái sản sinh nhiều dạng hoạtđộng mà trước đây đã xuất hiện ở ngoài mối liên hệ với khoa học
- Chức năng lực lượng xã hội
Khoa học trong mọi thời đại xét cho cùng là do sản xuất qui định TheoĂnghen, khi xã hội có nhu cầu về kỹ thuật thì nó thúc đẩy khoa học pháttriển hơn chục trường đại học Chính nhu cầu của thực tiễn sản xuất, của
xã hội là cơ sở, là động lực phát triển của khoa học Tuy nhiên, khoa học
có tính độc lập tương đối của nó, sự tăng lên tính độc lập tương đối vàtăng lên vai trò xã hội của khoa học là tính qui luật quan trọng nhất trong
sự phát triển khoa học
Khoa học mặc dù phụ thuộc vào thực tiễn, song nó có logic bên trong của
nó, có những nguồn gốc,những đông lực, mâu thuẫn riêng của mình.Khoa học phát triển theo hướng khái quát, trừu tượng hóa ngày càng cao
và từ đấy tạo ra được một sự vận động tương đối độc lập của tư duy lýluận so với các sự kiện kinh nghiệm trực tiếp Khoa học ngày càng “táchrời” sản xuất, ít lệ thuộc một cách trực tiếp vào sản xuất như trước đây,thậm chí còn vượt trước sản xuất, cách mạng hóa thực tiễn Dự báo khoahọc để chỉ đạo thực tiễn là chức năng nhận thức quan trọng vốn có củakhoa học
Ngày nay, trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệphát triển như vũ bảo, khoa học không chỉ tham gia trực tiếp vào quá
Trang 13trình sản xuất mà còn tham gia trực tiếp vào các quá trình phát triển xãhội Khoa học đã trở thành một thiết chế xã hội, một sức mạnh, một lựclượng xã hội Không thể hiểu được gương mặt của xã hội hiện đại nếuthiếu khoa học và xã hội hiện đại không thể phát triển được nếu không cókhoa học Khoa học, kể cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đangđược sử dụng để khởi thảo các kế hoạch và chương trình phát triển kinh
tế và xã hội Khoa học đã làm tăng sức mạnh của con người trong việccải tạo hiện thực Khoa học Mác – Lênin trở thành vũ khí đấu tranh cáchmạng của giai cấp vô sản và của nhân loại tiến bộ Khoa học tác độngtổng hợp đến đời sống xã hội, hướng đi vào chiều sâu sự phát triển kinh
tế - kỹ thuật và quản lý xã hội
Sự tăng lên vai trò của khoa học trong đời sống xã hội còn thể hiện ở sựtăng nhanh số lượng các nhà khoa học, sự tăng chi phí nghiên cứu khoahọc, sự phát triển hệ thống các cơ quan khoa học Cùng với điều đó thìvai trò xã hội của giới trí thức khoa học cũng tăng lên mạnh mẽ
II Khoa học công nghệ động lực sự phát triển của xã hội
1 Cách mạng khoa học công nghệ
a Các khái niệm
Công nghệ: là hệ thống các phương tiện dung để thực hiện quá trình sản
xuất, chế tạo sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho xã hội và con người Đểnhấn mạnh phần cứng, phần vật chất thì sử dụng thuật ngữ kỹ thuật, cònkhi nói công nghệ là nhấn mạnh phần mền (kinh nghiệm, thói quen, bíquyết, phương cách … được sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm
Là hoạt động tìm kiếm, phát hiện các
quy luật và phương pháp sử dụng qui
Là áp dụng những kết quả của khoahọc vào thực tiễn lao động sản xuất