Quan điểm về con người trong triết học phương Đông - Từ buổi sơ khai, con người đi tìm nguồn gốc của mình, con người đã thờ trời, đất, núi sông, muông thú, nhiều lúc đã coi những thứ ấ
Trang 1CHUYÊN ĐỀ TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI
Trang 2• I KHÁI LƯỢC CÁC QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC
VỀ CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ
• II QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NIN VỀ CON NGƯỜI
• III VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH
• IV VẤN ĐỀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON
NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 3• I KHÁI LƯỢC CÁC QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC VỀ CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ
1 Quan điểm về con người trong triết học phương đông
2 Quan điểm về con người trong triết học Phương Tây
Trang 41 Quan điểm về con người trong triết học phương
Đông
- Từ buổi sơ khai, con người đi tìm nguồn gốc của
mình, con người đã thờ trời, đất, núi sông, muông thú, nhiều lúc đã coi những thứ ấy là nguồn gốc, là
tổ tiên của mình, ví dụ: người Trung hoa cổ đại thờ con ngựa, Đạo Bàlamon Ấn Độ thờ con bò, Đạo giáo thờ con Rồng đỏ, VN: con rồng, cháu tiên (nguồn gốc con chim Lạc và con Rồng)
- Quan điểm về con người trong triết học Phương
Đông được hình thành rất sớm từ thế kỷ VI tr.CN, tập trung vào: nguồn gốc, bản chất, tính người, đạo làm người và mẫu hình con người lý tưởng thể hiện
rõ nhất trong triết học Phật giáo và Nho giáo.
Trang 5a Quan điểm về con người trong triết học Phật giáo
• Nguồn gốc con người: Chịu ảnh hưởng tư tưởng của kinh Vêđa
và Upanisad (Ấn Độ), song Phật giáo phủ nhận vai trò của Đấng Sáng tạo, phủ nhận cái Tôi của con người Con người do luật nhân quả sinh ra, chết đi do luân hồi.
• Sắc, Danh hội tụ tạo nên con người (sắc là vật chất là cái bị
biết, danh là tâm là cái biết) Bản chất của thế giới là vô thường
nên sự hội tụ của sắc và danh mang tính chất tạm thời
• Bản chất của con người: có tâm và có thức- Trong quá trình tồn tại, người nào cũng có trần tục tính và Phật tính Trần tục tính là
tính tham, sân, si; là vô minh ái dục Phật tính là tính giác ngộ
về cõi niết bàn, về cõi chân như
• - Cuộc đời con người do chính bản thân con người quyết định
qua quá trình tạo nghiệp Tạo nghiệp thiện là từng bước xóa bỏ
tham, sân, si; vô minh, loại trừ ái dục để trở thành người trong suốt về tâm linh, không bị tác động bởi các cám dỗ của cuộc đời
và sau khi chết thoát khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo
• Con đường tu luyện để trở thành La Hán, Bồ Tát hay là Phật được coi là đạo làm người
Trang 6• b Quan điểm về con người trong triết học Nho giáo
• Triết học Nho giáo chịu ảnh hưởng tư tưởng của Kinh Dịch
• Nguồn gốc con người: duy vật, con người và vạn vật được tạo thành từ
sự hỗn hợp giữa khí thanh và khí trọng, thanh khí là trời, trọng khí là đất
• Khổng Tử: Con người cũng như vạn vật chịu sự chi phối của mệnh trời,
nhưng con người có thể cải thiện nó qua hoạt động tu dưỡng mình trong cuộc sống (đức năng thắng số) Hiểu mệnh trời, sống theo mệnh trời và
tự tu dưỡng mình là đạo làm người.
• Bản chất con người: tính trời nên là thiện.
• Bản chất của con người được thể hiện ở phương diện đạo đức và tính hợp quần, Khổng Tử: đạo đức chính là giá trị cao nhất của con người
• Theo thuyết Chính danh, tương ứng với từng danh, từng cặp danh là một
hệ thống những yêu cầu mà con người phải thực hiện Những yêu cầu cơ
bản nhất của danh “người” (nhân) là ngũ thường, gồm: nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín
• Sống chính danh và giúp người khác chính danh là quân tử - mẫu người
lý tưởng có cuộc sống tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ để giúp đời.
Trang 7• Mạnh Tử: bẩm sinh của con người là thiện, do ảnh hưởng của phong tục, tập quán xấu mà con người bị nhiễm cái xấu, xa rời cái tốt nên phải tu dưỡng, rèn luyện để giữ được đạo đức của mình Khổng Tử, Mạnh Tử: lòng nhân ái, quan hệ đạo đức để dẫn dắt con người hướng tới các giá trị đạo đức tốt đẹp.
• Tuân Tử: bản chất con người khi sinh ra là ác, nhưng có thể cải biến được, phải chống lại cái ác
ấy thì con người mới tốt được.
• Hàn Phi Tử: Tính người là ích kỷ, cá nhân, vụ lợi
Trang 8c Quan điểm của đạo gia
- Lão Tử: mọi sự sinh thành, biến hóa của vạn vật đều từ “đạo”, con người sinh ra từ “Đạo’’từ tính qui luật khách quan Do vậy, cần phải sống “vô vi’’, theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không hành động một cách giả tạo, gò ép, trái với tự nhiên
Vì “người theo qui luật của đất, đất theo qui luật của trời, trời theo qui luật của “đạo”, “đạo” theo qui luật của tự nhiên” “đạo” là một thứ rất huyền
bí, thoát trần, vượt ra ngoài nhận thức của loài người Bản chất của con người được thần bí hóa Đây là tư tưởng duy tâm chủ quan
Trang 9• Triết học phương Đông biểu hiện tính đa dạng và phong phú:
• Nguồn gốc con người: điểm duy tâm: do thần thánh, lực lượng siêu nhiên tạo ra, cuộc sống con người do trời sắp đặt, an bài; duy vật: mọc mạc, ngây thơ, chưa có cơ sở khoa học
• Bản chất của con người: thiên về quan hệ chính trị, đạo đức
Các quan điểm về tính người khác nhau, nhưng có thể cải biến
để giữ được cái tốt, điểm khác nhau là ở chỗ con đường cảm
hóa con người: bằng đạo đức hoặc bằng pháp luật
• Trong triết học phương Đông còn có quan điểm “thiên nhân
hợp nhất” tức là trời và người hòa hợp với nhau, có thuyết “con người là một tiểu vũ trụ”, tức con người là một bộ phận của tự nhiên, mang các tính chất của tự nhiên và chịu sự chi phối của
tự nhiên Đây là quan điểm đúng đắn có giá trị khoa học, tuy nhiên do trình độ khoa học còn hạn chế mà quan điểm này chưa được lý giải đầy đủ và sâu sắc.
Trang 10• 2 Quan điểm về con người trong triết học Phương Tây
• a Thời cổ đại
• - Triết học duy vật:
• Ở Hy Lạp: các nhà triết học coi con người là một bộ phận cấu thành thế giới, con người được bắt nguồn từ một hay một số chất Ví dụ: Talets - nước; Anaximen - không khí; Hetaclit - lửa; Xênôphan - đất và nước; …
• Empêđôclơ: nguồn gốc của thế giới là lửa, không khí, đất
và nước Những yếu tố này hòa hợp với nhau, trải qua bốn thời kỳ tiến hóa đã sinh ra sự sống Mọi sự sống đều có lý tính nhưng con người là sự sống có lý tính cao nhất, thông minh nhất và đặc biệt con người có đôi tay để thực hiện lý tính của mình
• Đêmôcrít: bản nguyên của thế giới là nguyên tử, con người
là sự kết hợp các nguyên tử Con người có linh hồn, linh hồn do các nguyên tử tạo nên Yếu tố của linh hồn: nhu cầu
và tưởng tượng đã dạy bảo bàn tay con người hoạt động
Trang 11• - Triết học duy tâm:
• Xôcrát: thế giới do thần tạo ra và thần đã an bài cho thế giới Con người không nên tìm hiểu thế giới vì như thế là xúc phạm thần
• Platôn: ý niệm có trước tất cả, là nguồn gốc của tất cả Ý niệm tồn tại vĩnh viễn và bất biến Con người gồm hai phần độc lập với nhau là thể xác và linh hồn Thể xác được tạo thành từ đất, nước, lửa, không khí nên có thể mất đi Khi con người chết, linh hồn thoát khỏi thể xác về với thế giới ý niệm, sau đó linh hồn lại nhập vào một thể xác mới tạo ra một người mới Nhận thức của con người là sự hồi tưởng lại những gì mà ý niệm đã có
• Linh hồn bất tử gồm lý tính, lý trí và tình cảm Tương ứng với ba bộ phận này là ba đẳng cấp người: các nhà triết học
và các nhà cầm quyền – binh sĩ – dân tự do Nô lệ không có linh hồn
Trang 12• b, Thời trung cổ
• Thời trung cổ hệ tư tưởng Cơ đốc giáo giữ vai trò thống trị nên vai trò toàn năng của Chúa Trời giữ vai trò thống trị
• Tômat Đacanh: thế giới do Chúa Trời tạo ra từ hư vô và con
người là hình ảnh của Chúa, được Chúa đặt sống ở trung tâm vũ trụ Linh hồn và thể xác con người do Chúa tạo ra và bất tử
• Chúa sắp xếp thế giới theo trật tự: các sự vật không có linh hồn, con người, thần thánh và cao nhất là Chúa Đây là trật tự chặt chẽ, bất biến Con người được Chúa chia thành những đẳng cấp, bất cứ một biểu hiện nào muốn vượt lên đẳng cấp cao hơn đều mang tội với Chúa.
• Quan điểm về con người và triết học của Tômat Đacanh được Giáo hội Thiên Chúa giáo sử dụng làm tư tưởng chính thống
• Con người đã bị tước đoạt hết tính tự nhiên, năng lực và sức
mạnh Hình ảnh con người trở nên nhỏ bé, yếu đuối, vật vờ, tạm
bợ Hệ tư tưởng thời trung cổ đã bóp chết ý chí muốn vươn lên
tự khẳng định mình, tự giải phóng mình của con người
Trang 13• c, Thời Phục hưng và cận đại
• Triết học duy tâm và thần học: vẫn bắt nguồn từ ý niệm,
tinh thần tuyệt đối, cái tôi,…
• Triết học duy vật:
• Ở Italia, “con người hãy thờ phụng chính bản thân
mình, hãy chiêm ngưỡng vẻ đẹp của chính mình”; đề cao vai trò của trí tuệ, tự do, bình đẳng thể hiện trong quan điểm của Brunô, Galilê, Tômađô Campanenla v.v
• Ở Anh:Tômát Morơ, Bêcơn: thể xác con người là sản
phẩm của tự nhiên, là thực thể vật chất, còn tinh thần là thứ vật chất tồn tại trong óc người vận động theo thần kinh và mạch máu và chính thứ vật chất ấy đã đem lại cho con người sức mạnh tiềm tàng và tri thức.
• Hốpxơ gọi con người là “vật thể tự nhiên” – lực lượng
đã làm ra”vật thể nhân tạo” là xã hội.
Trang 14• Ở Pháp, Rútxô quan niệm bản tính con người là tự do và lịch sử nhân loại là kết quả hoạt động của con người mang bản tính tự do Điđrô coi con người là đỉnh cao nhất trong quá trình tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên; coi trí tuệ và đạo đức là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội và coi sức mạnh của con người nằm trong tri thức khoa học.
• Ở Hà Lan, Xpinôda: giới tự nhiên là thực thể duy nhất, tồn tại theo chính mình, con người là sản phẩm của giới tự nhiên Triết học có nhiệm vụ giúp con người có học thức
để nhận thức giới tự nhiên, làm theo giới tự nhiên và làm theo những lý tưởng đạo đức cao đẹp v.v
• Triết học thời Phục hưng và cận đại: phủ nhận quyền lực của Đáng Sáng tạo, đề cao sức mạnh của con người, đề cao vai trò của lý trí, đề cao các giá trị và đề cao tư tưởng vì con người
Trang 15• d Triết học cổ điển Đức
• Luytvic Phơiơbắc: giải thích nguồn gốc bản chất con
người theo quan điểm duy vật “ không phải chúa đã tạo ra con người theo hình ảnh của chúa mà chính con người đã tạo ra chúa theo hình ảnh của con người”
• Ý thức, tư duy của con người là sản phẩm của bộ óc (vật chất), tinh thần là sản phẩm tối cao của vật chất
• Con người của Phơiơbắc là con người trừu tượng Ông chỉ coi con người là “đối tượng cảm tính” mà không phải là “hoạt động cảm tính”, tức những thực thể đang hoạt động không biết đến những quan hệ giữa người với người nào khác ngoài tình yêu, tình bạn (được lý tưởng hóa)
Trang 16• Cantơ: Con người là chủ thể, đồng thời là kết quả quá
trình hoạt động của mình
• Khẳng định hoạt động thực tiễn cao hơn lý luận Bản thân lịch sử là phương thức tồn tại của con người Mỗi cá nhân hoàn toàn làm chủ vận mệnh của mình
• Hê ghen: khẳng định con người là sản phẩm của một thời
đại lịch sử nhất định, vì vậy, mang bản chất xã hội
• Các nhà triết học cổ điển Đức: đề cao sức mạnh trí tuệ và
hoạt động con người tới mức cực đoan Họ thần thánh hóa con người tới mức coi con người là chúa tể của tự nhiên, thậm chí: bản thân giới tự nhiên cũng chỉ là kết quả hoạt động của con người
• Thành tựu cơ bản: khẳng định tư duy và ý thức chỉ có thể phát triển trong chừng mực con người nhận thức và cải tạo thế giới Con người là chủ thể, đồng thời là kết quả của toàn bộ nền văn minh do chính mình tạo ra;
Trang 17• e Quan điểm về con người trong một số trào lưu triết học
phương Tây hiện đại
• + Triết học nhân bản: Arthur Schopenhauer, Helmuth
Plessner
• Nhân bản là điểm xuất phát và là vấn đề cơ bản của tư duy triết học
• Con người cũng như mọi động vật khác mang bản chất tự
nhiên sinh học – nhân bản của nó, do đó phải tìm bản chất
của con người ở cái bản thể sinh học, lịch sử XH loài
người là lịch sử sinh học – tự nhiên
• Con người mang bản chất vĩnh viễn không biến đổi trong lịch
sử, đòi hỏi mọi lý luận khoa học đều phải xuất phát từ nhân bản và quay trở về nhân bản
• Con người là sinh vật tiêu cực, hoạt động của con người là hoạt động bản năng, hoạt động xã hội là hoạt động bầy đàn.
Trang 18• + Triết học hiện sinh: Gabriel Marcel, Karl Jaspers, Jean Paul
Sartre, Kierkegaard…
• Con người như một chủ thể cô độc, bị tha hóa bởi chính sản phẩm
họ làm ra và những lo toan, bất hạnh của đời sống thường ngày.
• Con người – một thực thể - cá nhân chứa đựng hai phạm trù: “cái bản sắc” và cái “phi bản sắc”, tính cô đơn của con người là cái phi bản sắc.
• Sự hiện sinh – là phạm trù cơ bản nhất của triết học, biến thể của phút sống thực – phi bản sắc, sự giải thoát bằng cách tìm đến cái bản sắc
• Tuyệt đối hóa sự sợ hãi tương lai và phủ nhận quá khứ, thừa nhận
sự tồn tại của phút sống thực, nên phải tìm bản chất con người ở phạm trù cái hiện sinh, mà sự hiện sinh thực sự phải là sự hiện sinh của từng người riêng lẻ, thoát ra khỏi cộng đồng
• Quan điểm: chỉ có cá nhân con người mới hiểu được sự tồn tại của mình nên chỉ có cá nhân mới “hiện sinh”, con người cần thoát khỏi sự ràng buộc của xã hội, của những cá nhân khác để thể hiện giá trị hiện sinh của mình;
Trang 19• + Chủ nghĩa thực chứng mới: Hermam Broch,
Robert Musil, Rudolf Carnap, Karl Popper …
• Chỉ thừa nhận kinh nghiệm trực tiếp, phủ nhận
mọi suy lí khoa học
• Quan niệm về con người dựa trên 4 luận điểm cơ bản: - con người tồn tại trong sự cô lập; hiện
tượng hóa về con người (nhìn thấy con người
trong sự tha hóa); đề cao sự hiểu biết tùy tiện về con người và xã hội; triết học, khoa học không có khả năng nhận thức các quy luật phát triển xã hội.
• Giải thích xã hội và con người bằng các luận
điểm có tính chất tự nhiên chủ nghĩa, phi lịch sử
Trang 20• + Thuyết nhân bản trong tôn giáo hiện đại
• Phủ nhận bản chất của con người – cho rằng đây
là ẩn số bí ẩn của vũ trụ
• Mọi khoa học đều phải bó tay trước vấn đề bản chất con người
Trang 21• + Chủ nghia Frued và chủ nghĩa Frued mới (duy tâm chủ quan)
• Đề cao bản năng của con người, trong đó quan trọng nhất là bản năng tính dục, giải phóng con người là giải phóng bản năng tính dục
• Tuyệt đối hóa cái vô thức thành phạm trù triết học, cho rằng cái vô thức có chức năng điều
chỉnh mọi hành vi của con người
Trang 22• Tóm lại, triết học Phương Tây hiện đại coi những yếu tố như nhu cầu bản năng, vô thức, tri thức, tình cảm, v.v là bản chất của con người
• Con người thường được tuyệt đối hóa về mặt cá nhân Mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, cá nhân với xã hội thường được đề cập ở góc độ hoài nghi, bi quan, bế tắc, v.v phản ánh sự khủng hoảng về mặt giá trị của con người trong xã hội
Trang 23• II QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊ NIN VỀ CON NGƯỜI
• 1 Khái niệm về con người
• 2 Các phương diện tiếp cận nguồn gốc, bản
chất con người
Trang 24• 1 Khái niệm về con người
Con người là một sinh vật có tính xã hội, vừa là sản
phẩm cao nhất trong quá trình tiến hóa của tự nhiên và lịch sử xã hội, vừa là chủ thể sáng tạo mọi thành tựu văn hóa trên trái đất.
- Yếu tố cấu thành con người
Mặt tự nhiên Mặt xã hội
Hệ thống
(năng động, phức tạp, luôn biến đổi và phát triển)
- Vai trò của con người: Chủ thể hoạt động thực tiễn sáng tạo ra mọi của cải vật chất, sáng tạo ra bộ óc và tư duy của con người
Trang 25• 2 Các phương diện tiếp cận nguồn gốc, bản chất
con người
• a Sự hình thành phát triển con người là một quá
trình gắn liền với lịch sử sản xuất vật chất
• - Lao động là điều kiện quyết định sự hình thành, phát triển con người
• + Cải tạo bản năng sinh học của con người
• + Hình thành và phát triển phẩm chất xã hội của con người
• - Lịch sử SX VC là lịch sử con người cải tạo TN
• + Con vật dựa vào tặng phẩm của TN
• + Con người cải tạo tự nhiên phù hợp với nhu cầu tồn tại và phát triển của mình.
• + Làm cho tự nhiên – tác phẩm TN có tính người, tự nhiên được nhân loại hóa.
Trang 26- Vai trò của LĐ SX
+ Một sinh vật mới ra đời Homo sapiens –con người thông thái, có lí tính, mang tính chất xã hội LĐ đã biến đổi BC
TN của tổ tiên loài người
+ Cải tạo bản năng sinh học của con người, bắt bản năng phục tùng lí trí, PT bản năng thành trạng thái mới về chất + Hình thành và phát triển phẩm chất xã hội của con người: (LĐSX – giao tiếp – QHXH – ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm, ý chí, PP tư duy …)
+ Con người tách khỏi TN, khỏi loài vật, hòa nhập với TN thành thực thể sáng tạo – hoạt động lịch sử đầu tiên mang
ý nghĩa sáng tạo là sáng tạo ra công cụ LĐ (bắt đầu lịch sử
XH loài người)
+ Biến TN thứ nhất thành TN thứ hai, thứ ba …
Sáng tạo là thuộc tính tối cao của con người