Con đường hình thành của tri thức triết học Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầusống, song với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học
Trang 1Chương III MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀ CÁC KHOA HỌC
(Dự kiến 8 tiết)
I KHÁI QUÁT CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT HỌC VÀCÁC KHOA HỌC
1 Triết học
a Khái niệm triết học và đặc trưng của tri thức triết học
- Khái niệm triết học
Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh
cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học
có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( j); người Trung Quốc hiểu triết học không phải là sự miêu
tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người.
Ở Ấn Độ, thuật ngữ dar'sana (triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.
Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp Triết học có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: philos- yêu thích, sophia –sự thông thái Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sang tiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái Với người
Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người.
Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội.
Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của
Trang 2xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý.
Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy.
- Đặc trưng của tri thức triết học
Từ cách hiểu về Tri thức Triết học là hệ thống những tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới và về vai trò của con người trong thế giới ấy”, có thể rút ra đặc trưng của tri thức triết học là lý luận chung nhất về thế giới Thông qua đó thấy được đặc trưng
của tri thức triết học và so sánh với tri thức các khoa học khác, bước đầu thấy được mối quan hệ giữa triết học với các khoa học Trên cơ sở lý luận chung nhất đó các khoa học khác ra đời và phát triển, lý giải các vấn đề của mình
b Con đường hình thành của tri thức triết học
Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầusống, song với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học không thểxuất hiện cùng sự xuất hiện của xã hội loài người, mà chỉ đến khi xã hội loài ngườiphát triển đến một giai đoạn nhất định, khi trình độ nhận thức của con người đã đạtđến một mức độ nhất định, triết học mới ra đời
Ngay từ khi mới xuất hiện loài người, để tồn tại con người đã tiến hành cáchoạt động lao động sản xuất và những hoạt động khác Điều này đem lại cho conngười những tri thức nhất định về thế giới xung quanh và về bản thân mình, nhưngđây mới chỉ là những tri thức rời rạc, phản ánh bề ngoài của đối tượng Hệ thốngtri thức lý luận chung nhất chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sauđây:
Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút rađược cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ Tức là xã hội
đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc Họ đã nghiên cứu, hệ
Trang 3thống hóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận vàtriết học ra đời.
Tất cả những điều đó cho thấy: triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu củathực tiễn; nó có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội
- Nguồn gốc nhận thức: đấy là lúc con người đã đạt đến trình độ trừu tượnghóa, khái quát hóa, hệ thống hóa để xây dựng nên các học thuyết, các lý luận
- Nguồn gốc xã hội: đấy là lúc lao động phải phát triển đến mức có sự phânchia thành lao động chân tay và lao động trí óc, tức là xã hội đã phát triển đến mứcchế độ Công xã nguyên thủy bị thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ - chế độ xãhội có giai cấp đầu tiên của nhân loại Vì vậy, từ khi ra đời, triết học, tự nó đãmang trong mình tính giai cấp, nghĩa là nó phục vụ cho lợi ích của những giai cấp,những lực lượng xã hội nhất định
Sau khi ra đời, thông qua tổng kết thực tiễn và khái quát thành tựu các khoahọc, tri thức triết học ngày càng sâu sắc hơn, đầy đủ hơn
Triết học thời cổ đại được xem là hình thái cao nhất của tri thức; nhà triếthọc được coi là nhà thông thái có khả năng tiếp cận chân lý, có thể làm sáng tỏ bảnchất của mọi vật Nên triết học thời cổ đại không có đối tượng riêng, mà được coi
là “khoa học của các khoa học”, bao gồm toàn bộ tri thức của nhân loại
Trong suốt đêm dài Trung cổ ở Châu Âu, triết học không còn là một khoahọc độc lập mà chỉ là một bộ phận của thần học Nền triết học tự nhiên thời cổ đại
đã bị thay thế bởi triết học kinh viện
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào thế kỷ XV – XVI đã tạo một cơ sởtri thức vững chắc cho sự phục hưng triết học Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn,đặc biệt yêu của sản xuất công nghiệp, các bộ môn khoa học chuyên ngành nhất làcác khoa học thực nghiệm đã ra đời với tính cách là những khoa học độc lập Sựphát triển xã hội được thúc đẩy bởi sự hình thành và củng cố quan hệ SX TBCN,bởi những phát hiện lớn về địa lý và thiên văn cùng những thành tựu khác của cả
Trang 4khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn đã mở ra một thời kỳ mới cho sự pháttriển triết học Triết học duy vật chủ nghĩa dựa trên cơ sở tri thức của khoa họcthực nghiệm đã phát triển nhanh chóng trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm
và tôn giáo đã đạt tới đỉnh cao mới trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII ởAnh, Pháp, Hà lan với những đại biểu tiêu biểu như: Bê cơn, Hốp Xơ (Anh), Điđrô, (Pháp), Spi nô da (Hà Lan) …Ngoài ra, tư duy triết học cũng được phát triểntrong các học thuyết triết học duy tâm, mà đỉnh cao là triết học Hêghel (Đức)
Sự phát triển của các bộ môn khoa học độc lập chuyên ngành cũng từngbước làm phá sản tham vọng của triết học muốn đóng vai trò “khoa học của cáckhoa học” Triết học Hêghel là học thuyết triết học cuối cùng mang tham vọng đó
Hê ghel xem triết học của mình là một hệ thống phổ biến của sự nhận thức, trong
đó những ngành khoa học riêng biệt chỉ là những mắt khâu phụ thuộc vào triết học
Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học vào đầuthế kỷ XIX đã dẫn đến sự ra đời của triết học Mác Đoạn tuyệt triệt để với quanniệm “khoa học của các khoa học”, triết học mác xít xác định đối tượng nghiên cứucủa mình là tiếp tục giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trườngduy vật triệt để và nghiên cứu những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tưduy
Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình với mọikhoa học cụ thể Nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa lại một hệthống các quan niệm về chỉnh thể đó Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cáchtổng kết toàn bộ lịch sử của khoa học và lịch sử của bản thân tư tưởng triết học.Trong quá trình đó, có sự kế thừa, lọc bỏ các lý thuyết liên quan đã có, để xuất hiệntri thức triết học mới, đạt trình độ khái quát hóa cao nhất của tư duy, làm xuất hiện
lý luận chung nhất về tự nhiên, xã hội và tư duy, nên có thể nói triết học là sự diễn
tả thế giới bằng lý luận Chính vì tính đặc thù như vậy của đối tượng triết học mà
Trang 5vấn đề tư cách khoa học của triết học và đối tượng của nó gây ra những cuộc tranhluận kéo dài cho đến hiện nay
d Đối tượng nghiên cứu của triết học
- Khách thể nghiên cứu của khoa học tự nhiên là giới tự nhiên; đối tượng nghiêncứu của khoa học tự nhiên là bản chất và qui luật của các quá trình diễn ra tronggiới tự nhiên…
- Khách thể nghiên cứu của triết học: tự nhiên, xã hội, tư duy con người
- Đối tượng nghiên cứu của triết học: nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giới
tự nhiên, của xã hội và con người, mối quan hệ của con người nói chung, của tưduy con người nói riêng với thế giới xung quanh
Như vậy, khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của triết học là rộngrãi, bao quát nhất, và sâu xa nhất
Quan điểm của triết học Mác – Lênin về đối tượng nghiên cứu của triết học là làm
rõ bản chất chung nhất, sâu xa nhất của thế giới và qui luật vận động phổ biến nhất của tự nhiên, xã hội, tư duy.
2 Các khoa học
a Khái niệm khoa học, đặc trưng của tri thức khoa học
- Khái niệm khoa học
Khoa học là hệ thống những tri thức chân thực được khái quát từ thực tiễn
và được thực tiễn kiểm nghiệm Khoa học đem lại những hiểu biết về bản chất củamọi hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội dưới dạng logic trừu tượng Khoahọc giữ một vị trí đặc biệt trong hoạt động lịch sử - xã hội của con người Trongthời đại ngày nay mọi bước tiến quan trọng của lịch sử đều xuất phát từ tri thứckhoa học Những biến đổi to lớn trong kỹ thuật sản xuất sẽ không thể có được nếukhông có khoa học tự nhiên; xã hội hiện đại sẽ không được cải tạo nếu không cókhoa học mác – lênin
Trang 6Khoa học được chia thành hai lĩnh vực cơ bản: khoa học tự nhiên và khoahọc xã hội Cả hai lĩnh vực đó đều là sản phẩm của đời sống xã hội, đều do đờisống xã hội qui định về mục đích và phương hướng phát triển Chúng giống nhau ởtính chân thực, khách quan, cũng tìm ra những qui luật vận động của hiện thực và
tư duy, bảo đảm sự thành công và sự phát triển nhanh chóng của các hoạt độngsáng tạo của con người trong việc cải tạo tự nhiên, xã hội và chính bản thân conngười
Hai lĩnh vực khác nhau ở chỗ: khoa học tự nhiên phản ánh các qui luật của
tự nhiên, tuy được sử dụng theo lợi ích của các giai cấp khác nhau, nhưng bản thân
nó không mang tính giai cấp Còn khoa học xã hội bắt nguồn từ đấu tranh xã hội,phản ánh các qui luật xã hội, do đó mang tính giai cấp và trở thành vũ khí trực tiếpcủa đấu tranh giai cấp
- Đặc trưng của tri thức khoa học: là hệ thống những tri thức chân thực được kháiquát từ thực tiễn và được kiểm nghiệm bởi thực tiễn
b Con đường hình thành các tri thức khoa học
Bất cứ khoa học cụ thể nào đều xuất phát từ thực tiễn, giải đáp những vấn đềthực tiễn đặt ra Thời cổ đại, nhu cầu của thủy lợi, xây dựng, hàng hải … đã làmxuất hiện toán học, cơ học và thiên văn học Ănghen nhận xét trong Biện chứngcủa tự nhiên: “ trong suốt thời cổ đại, sự nghiên cứu khoa học thật sự vẫn chỉ đóngkhung trong ba ngành khoa học ấy.”
Thế kỷ XV – XVIII, khoa học phát triển theo hướng chống lại các tín điềutôn giáo và quan hệ phong kiến; đề cao lý trí, sự tự do của con người, khả năngnhận thức và cải tạo thế giới bởi con người Thông qua cuộc đấu tranh chốngphong kiến, thần học và chủ nghĩa kinh viện, Khoa học đã giành quyền sống củamình và phát triển qua cuộc đấu tranh đó Chống lại chủ nghĩa kinh viện, khoa họcthời kỳ này đã đi sâu vào thực nghiệm và phân tích, nghiên cứu từng sự vật, từng
bộ phận của hiện thực Do nghiên cứu riêng biệt từng lĩnh vực của thế giới và do
Trang 7sự thống trị của cơ học, nên thời kỳ này phương pháp tư duy siêu hình giữ vai tròthống trị.
Thời kỳ tiếp theo là từ nửa thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX, giai đoạn nàykhoa học phát triển theo hướng phá vỡ quan niệm cô lập bất biến về đối tượngnghiên cứu của các bộ môn khoa học, gạt bỏ sự sáng tạo của chúa ra khỏi khoahọc, khoa học phát triển trong mối quan hệ với sản xuất Khoa học xã hội pháttriển đề cao chủ nghĩa nhân văn
Thế kỷ XX, khoa học phát triển nhanh chóng, đồng thời gia tăng vai trò xãhội của khoa học Trong những thập kỷ gần đây, quá trình phân chia các môn khoahọc về tự nhiên (lý, hóa, sinh, địa chất, thiên văn) đã trở thành một thể tổng hợpcủa ngành tri thức phong phú, mà mỗi ngành tri thức đó là một khoa riêng biệt Do
đó, đã hình thành nên những ngành tri thức tiếp giáp và chúng có vai trò ngày càngquan trọng (sinh – hóa học, địa – vật lý, địa – hóa học, lý – hóa học …) Quá trình
đó cũng diễn ra trong các môn khoa học xã hội
Khuynh hướng nhất thể hóa tri thức khoa học tạo thành một lực lượng trítuệ thống nhất để nhận thức và cải tạo hiện thực Khoa học và kỹ thuật kết hợp vớinhau thành một thể thống nhất để đi sâu nghiên cứu cấu trúc vật chất như cấu trúcnguyên tử, các hạt cơ bản, cấu trúc gen và xâm nhập với qui mô ngày càng lớn vào
vũ trụ…
Như vậy, lịch sử hình thành và phát triển của các khoa học là quá trình loại
bỏ và kế thừa các tri thức liên quan đã có, là quá trình phát triển của tư duy, kháiquát hóa tư duy lên trình độ ngày càng cao
c Đối tượng nghiên cứu của các khoa học
- Khách thể nghiên cứu: Tự nhiên, xã hội, tư duy, con người
- Đối tượng nghiên cứu: Những qui luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, con người
3 Mối quan hệ biện chứng giữa triết học và các khoa học
a Dưới giác độ quá trình hình thành, phát triển tri thức khoa học và triết học
Trang 8- Kết hợp 1.a, b với 2.a,b ta có sơ đồ hình tháp tri thức; từ sơ đồ đó, thấy:
Category 1 0
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Tháp tri thức
Axis Title
- Triết học sáng suốt là kết quả của sự khái quát hóa cao nhất thành tựu của các
khoa học, nó phản ánh bản chất chung nhất và những qui luật phổ biến nhất chiphối sự vận động, phát triển chung của các khoa học và của thế giới nói chung
- Các khoa học với những thành tựu cụ thể của chúng, tự thân dẫn tới những kếtluận triết học (thuyết nhật tâm, thuyết tiến hóa, định luật bảo toàn và chuyển hóanăng lượng, học thuyết tế bào…), chúng là cơ sở, nền tảng, xuất phát điểm để xâydựng các tư tưởng triết học, vì chính thành tựu của các khoa học là “vật liệu” đểxây dựng các tư tưởng triết học Không có các khoa học, không có triết học Triếthọc không được sự kiểm chứng bằng thành tựu của các khoa học thì hoặc là duytâm, bịa đặt, hoặc chỉ là những dự báo, phỏng đoán mà thôi (ví dụ, phép biệnchứng duy vật cổ đại HyLạp)
- Ngược lại, vì triết học phản ánh bản chất chung và qui luật phổ biến của các khoahọc nên nó đóng vai trò thế giới quan, phương pháp luận khoa học hướng dẫn sựphát triển của các khoa học Các khoa học không có triết học đúng đắn dẫn đường
để phát triển sẽ rơi vào tình trạng chuệch choạc, va vấp, mò mẫm, chậm chạp, tự
Trang 9phát, chệch hướng, thậm chí khủng hoảng(ví dụ, cuộc khủng hoảng về thế giớiquan của KHTN, trước hết là vật lý học cuối thế kỷ XIX, đầu XX là bằng chứng)
…vì thực chất, triết học chính là thế giới quan được diễn tả bằng lý luận
b Dưới giác độ đối tượng nghiên cứu của triết học và các khoa học
- Kết hợp 1.c với 2.c, ta có sơ đồ, trong sơ đồ, ta thấy:
- Đối tượng nghiên cứu của triết học là bản chất sâu xa, qui luật phổ biến của thế
giới vô cùng, vô tận với tư cách là một chỉnh thể thống nhất Đối tượng nghiên cứucủa các khoa học là bản chất, qui luật của bộ phận này hay bộ phận khác, khía cạnhnày hay khác của thế giới vô cùng, vô tận ấy Vậy nên, mối quan hệ giữa triết học
và khoa học là tất yếu; đó chính là mối quan hệ giữa cái bộ phận và cái toàn thể,giữa qui luật phổ biến và qui luật đặc thù Trong khi vạch rõ qui luật phổ biến chiphối sự phát triển của thế giới, và do đó của các khoa học, triết học đúng đắn, chânchính định hướng đúng đắn và còn cung cấp những nguyên tắc xuất phát, làm nềntảng xây dựng phương pháp, giải pháp nghiên cứu của các khoa học Triết họckhoa học, do đó cung cấp thế giới quan tiến bộ, phương pháp luận khoa học cho sựphát triển của các khoa học Ngược lại, sự hoạt động của các qui luật khoa họctrong từng lĩnh vực là biểu hiện của sự hoạt động của qui luật triết học; nó vừa biểuhiện của tính phổ biến, vừa biểu hiện tính đa dạng, đặc thủ, sống động của riêng
nó Vì thế, mỗi khi khoa học có những phát minh mới mang tính chất vạch thờiđại, triết học khoa học, chân chính sẽ lại được đẩy phát triển lên hình thức mới,trình độ mới cao hơn(Ăngghen, Lutvich PhoiơBắc và sự cáo chung…H 1969, tr 30– 31)
4 Sự liên minh giữa triết học và khoa học là tất yếu
Sự liên minh này vừa mang tính tất yếu, và cấp bách, vừa có lợi cho sự phát triểncủa triết học, vừa có lợi cho sự phát triển của các khoa học(V.I.Lênin, Về tác dụngcủa chủ nghĩa duy vật chiến đấu… H 1970, tr 347, 348)
Trang 10II VAI TRÒ CỦA CÁC KHOA HỌC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾTHỌC TRONG LỊCH SỬ
1 Khoa học là cơ sở hình thành, phát triển các tư tưởng triết học
- Khoa học cung cấp tài liệu cho nhận thức triết học Những tư tưởng triếthọc sáng suốt bao giờ cũng được hình thành bằng cách tổng kết thành tựu của cáckhoa học
- Mặt khác, mỗi thành tựu của khoa học, tự nó đều dẫn đến những kết luậntriết học Sở dĩ như vật là vì, bất kỳ thành tựu khoa học nào, một mặt nó phản ánhcái tất yếu trong lĩnh vực nó nghiên cứu, mặt khác, nó còn thể hiện cái chung, cáiphổ biến Điều này, do tính thống nhất vật chất của thế giới qui định
- Khoa học phát triển có tác dụng rèn luyện tư duy, nâng tầm tư duy kháiquát hóa, trừu tượng hóa lên cao nhất, tư duy triết học, sản sinh tri thức triết học
Vì vậy, khoa học phát triển như thế nào, triết học như thế ấy; sự phát triểncủa triết học, ở mọi thời đại, đều in dấu ấn của khoa học
a Thời kỳ cổ đại
- Ngay khi ra đời những tri thức triết học đầu tiên, đã cần có những hiểu biết củacon người về thế giới tích lũy đến mức đủ lớn, nếu không sẽ không có sự xuất hiệncủa những tư tưởng triết học Sự xung đột giữa những tri thức ấy với những quanniệm tín ngưỡng cổ truyền chính là tiền đề của sự ra đời của những tư tưởng triếthọc đầu tiên Không có tri thức khoa học, không có sự ra đời của triết học
- Ở thời kỳ cổ đại, tri thức khoa học còn rời rạc, chưa thành hệ thống, là cơ sở hìnhthành, phát triển CNDV thô sơ, chất phác (Hylap cổ đại, Ấn độ cổ đại, Trung hoa
cổ đại) Tri thức triết học và khoa học ở thời kỳ này còn quyện vào nhau, các thànhtựu của khoa học tự nhiên còn nằm rải rác, lẫn trong các học thuyết triết học Nhàtriết học đồng thời cũng là nhà khoa học cụ thể
Trang 11- Thành tựu triết học cổ đại đạt được, nhất là triết học duy vật Đềmôcrít (họcthuyết nguyên tử và quyết định luận) đã mang tính dự báo, định hướng đúng đắncho sự phát triển của khoa học
b Thời kỳ trung cổ
- Khoa học mất vị trí độc lập, phụ thuộc vào nhà thờ, bị nhà thờ sai khiến Mất đi
cơ sở khoa học, triết học rơi vào kinh viện, duy tâm, thần bí Nền triết học tự nhiênthời cổ đại bị thay thế bởi nền triết học kinh viện, phục vụ cho nhà thờ
- Tư tưởng triết học của R.Bêcơn đã đặt nền móng cho sự phát triển của khoa họcthực nghiệm thế kỷ (XVII – XVIII) sau này
c Thời kỳ phục hưng và cận đại
- Khoa học tìm lại sự phát triển của mình Cùng với sự phát triển của giai cấp tưsản và chủ nghĩa tư bản, KHTN đã phát triển hết sức mạnh mẽ, thành tựu khoa học
tự nhiên đạt được vô cùng to lớn, bằng nhiều nghìn năm trước đây cộnglại(F.Ăngghen) chính là cơ sở cho sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa duy vật.Tuy nhiên, về trình độ mà nói, tuy phát triển mạnh mẽ, như vũ bão, nhưng nó vẫnchỉ dừng lại với trình độ thực nghiêm(Ăngghen)
- CNDV phát triển, tạo nên hình thức cơ bản thứ hai của nó, sau chủ nghia duy vậtthô sơ, mộc mạc thời cổ đại, đó là chủ nghĩa duy vật (XVII – XVIII) với những đặcđiểm: máy móc, siêu hình, trực quan, không triệt để(Ăngghen), phản ánh trình độkhoa học tự nhiên
- Cuộc đấu tranh không khoan nhượng của chủ nghĩa duy vật chống lại nhà thờ,giáo hội đã góp phần bảo vệ khoa học, tạo điều kiện cho khoa học phát triển như
vũ bão
d Thời kỳ hiện đại
- Từ cuối thế kỷ XVIII, khoa học tự nhiên bước vào giai đoạn phát triển mới, nhất
là từ giữa thế kỷ XIX trở đi Trình độ nghiên cứu của khoa học đã chuyển từ trình
Trang 12độ thực nghiệm lên trình độ lý thuyết, một bước chuyển biến vế chất của khoa họctrong lịch sử, đã trở thành nền tảng của sự ra đời triết học DVBC.
- Cũng thời kỳ này, với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản, tínhbiện chứng, khách quan của lịch sử xã hội loài người cũng được chứng thực bởichính lịch sử
- Khoa học xã hội chân chính xuất hiện, trước hết là CNDVLS Từ đó, thành tựukhoa học xã hội đạt được ngày càng thuyết phục
- Với những thành tự mới khoa học tự nhiên, khoa học xã hội đạt được, với thựctiễn mới của lịch sử, triết học duy vật biện chứng đã ra đời, hình thức thứ ba củaCNDV
- Sự xuất hiện chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt làphép biện chứng duy vật đã trang bị cho mọi khoa học công cụ nhận thức vĩ đại,vượt qua mọi trở ngại để tiến lên
Như vậy, triết học duy vật và khoa học luôn gắn bó với nhau, hỗ trợ nhaucùng phát triển Trong sự phát triển ấy, khoa học luôn in dấu ấn của mình vào triếthọc Thiếu cơ sở khoa học, triết học rơi vào duy tâm, thần bí Lôgic của sự vậnđộng, phát triển nội tại của khoa học cũng trùng hợp với logic của sự vận động,phát triển nội tại của triết học Ngược lại, triết học đã xứng đáng là lực lượng tiênphong, dẫn đường khai phá cho sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, nhất là nhữnglúc sự phát triển của khoa học gặp khó khăn
2 Khoa học là động lực thúc đẩy triết học phát triển
a Sự phát triển của khoa học với những thành tựu đạt được chính là sự xác minh, chứng thực sự đúng đắn của CNDV, trái lại, nó vạch rõ sai trái, bịa đặt và do đó bác bỏ CNDT, thúc đẩy, làm gay gắt hơn cuộc đấu tranh trong triết học giữa CNDV và CNDT, góp phần thúc đẩy triết học phát triển
Trang 13- Khoa học thực nghiệm xuất hiện (XV – XVI) đã phản biện và góp phần cáochung triết học kinh viện trung cổ Tây Âu tồn tại một nghìn năm trước đó, còn là
sự chuẩn bị cho sự ra đời của triết học duy vật (XVII – XVIII) sau này
- Khoa học tự nhiên thế kỷ (XVII – XVIII) phát triển như vũ bão đã góp phầnkhẳng định sự chiến thắng của CNDV(XVII – XVIII), hình thức cơ bản thứ hai củaCNDV trong lịch sử, đối với CNDT khách quan; tạo nên cơ hội chuẩn bị cho sự rađời CNDT chủ quan, hình thức cơ bản thứ hai của CNDT trong lịch sử
- Những thành tựu của khoa học tự nhiên cuối XIX, đầu XX, đã góp phần thúc đẩyCNDVBC của Mác phát triển lên trình độ mới, hoàn thiện hơn, thuyết phục hơn,tạo ra giai đoạn Lênin của triết học Mác
- Thành tựu khoa học, công nghệ ngày nay đang thách thức sự phát triển của triếthọc?
Như vậy, các thành tựu khoa học đạt được luôn có tác dụng bác bỏ những quanđiểm sai trái của CNDT dưới mọi hình thức, bảo vệ, phát triển CNDV, do đó thúcđẩy cuộc đấu tranh giữa CNDV và CNDT, thúc đẩy lịch sử triết học phát triển
b Mỗi khi trong lĩnh vực khoa học có những phát minh mang tính chất vạch thời đại, tạo nên sự phát triển đột biến của khoa học, triết học, trước hết là CNDV không tránh khỏi sự thay đổi về mặt hình thức, làm cho CNDV và triết học nói chung, phát triển lên trình độ mới cao hơn
- Thành tựu khoa học là cơ sở, vật liệu để xây dựng tư tưởng triết học Vì vậy, mỗikhi trong khoa học xuất hiện những phát minh mới về chất, triết học mới thích hợphơn sẽ xuất hiện, lịch sử triết học sẽ bước lên trình độ mới cao hơn
- N.Cô-péc-ních với thuyết nhật tâm đã làm nên “cuộc cách mạng trên trời, báo
hiệu cuộc cách mạng dưới đất”: đó là lời tuyên bố sự độc lập của khoa học và triếthọc, thách thức quyền uy của nhà thờ, giải phóng khoa học và triết học, chấm dứtkiếp tôi đòi, nô tỳ của khoa học và triết học đối với nhà thờ và giáo hội trong nghìnnăm trung cổ, mở ra thời đại mới, khích lệ triết học, khoa học phát triển
Trang 14- Ch.Đác-Uyn với thuyết tiến hóa của các loài đã giáng một đòn chí tử vào mục
đích luận duy tâm, còn là cơ sở lịch sử tự nhiên cho sự ra đời triết học mới(cùngvới lý thuyết bảo toàn và chuyển hóa năng lượng và thuyết tế bào của các cơ thểsống)
- Ba phát minh vĩ đại của khoa học tự nhiên thế kỷ XIX đã có tác dụng đẩy CNDV(XVII – XVIII) vào lịch sử, thiết lập sự thắng lợi của CNDVBC, hình thức cơ bảnthứ ba của CNDV, làm cho triết học nói chung, trước hết là CNDV, phát triển lêntrình độ mới cao hơn
- Cuộc cách mạng trong lĩnh vực vật lý học cuối XIX, đầu XX đã thật sự đẩy chủ
nghĩa duy vật cũ vào lịch sử(do các nhà duy vật còn bị cầm tù bởi phương pháp tưduy siêu hình), mở ra thời đại mới, thời đại thắng lợi của CNDVBC làm choCNDVBC trở nên đầy đủ hơn, hoàn bị hơn,
- A.Anhxtanh với thuyết tương đối đã làm cho CNDVBC và PBCDV trở nên sâu
sắc, thuyết phục hơn
- Ngày nay, với thành tựu vĩ đại của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ loàingười đạt được, đã và đang làm cho sự phát triển của triết học, trước hết đối vớiCNDVBC, có sức sống và sinh khí hơn Thiếu tri thức của các khoa học, triết họctrở nên vô vị, nhạt nhẽo trống rỗng và bịa đặt
Như vậy, thành tựu khoa học đã, đang, và sẽ mãi mãi là “người bạn đường”
của triết học duy vật biện chứng Sự liên minh giữa các nhà triết học duy vật và các nhà khoa học là tất yếu của sự phát triển của cả triết học và khoa học
III VAI TRÒ THẾ GIỚI QUAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA TRIẾT HỌCĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC KHOA HỌC
1 Thế giới quan, thế giới quan triết học, vai trò của thế giới quan triết học đối với sự phát triển của các khoa học
a Thế giới quan, các hình thức cơ bản của thế giới quan
Trang 15- Khái niệm thế giới quan Ngay từ khi sinh ra, con người đã tiếp xúc và chịu sựtác động của các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan bên ngoài Sự vachạm, trở đi, trở lại nhiều lần, dần dần, con người có hiểu biết về thế giới và vai tròcủa các hiện tượng, sự vật của thế giới đối với bản thân mình, đồng thời, dần dầncon người cũng hiểu được địa vị của mình trong thế giới và mình cần gì từ thế giới.
Thế giới quan hình thành từ đó Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm, quan điểm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó nhằm giải đáp mục đích, ý nghĩa, lẽ sống của đời người Sống trong đời sống xã hội, ai cũng có thế giới quan của mình.
- Cấu trúc của thế giới quan, triết học, hạt nhân lý luận của thế giới quan Thế giớiquan có cấu trúc phức tạp Hai bộ phận cơ bản của thế giới quan là: tri thức vàniềm tin
Tri thức là cơ sở trực tiếp cho sự hình thành thế giới quan, song nó chỉgia nhập thế giới quan khi nó đã trở thành niềm tin định hướng
Hai bộ phận này tồn tại trong sự qui định, ràng buộc lẫn nhau Tri thức, trong đó cótri thức triết học, cơ sở của các tri thức khoa học khác, là nền tảng của thế giớiquan
- Các hình thức cơ bản của thế giới quan, thế giới quan triết học, hình thức caonhất của thế giới quan Xuất phát từ cách phân loại khác nhau, sẽ có các loại thếgiới quan khác nhau Thế giới quan thông thường, thế giới quan lý luận Thế giớiquan huyền thoại, thế giới quan tôn giáo, thế giới quan triết học Trong đó, thế giớiquan triết học là hình thức cao nhất, vì nó phản ánh thế giới bằng hệ thống phạmtrù, khái niệm, nguyên lý, qui luật, chứ không phải bằng hình tượng, và nó luônđược luận chứng, dù có thể đó là luận chứng không đúng đắn, thiếu khoa học, chứkhông phải chỉ dựa vào niềm tin của con người để tồn tại
- Vai trò định hướng hoạt động con người của thế giới quan Thế giới quan nàocũng có tác dụng định hướng các hành động, hoạt động của con Vai trò định
Trang 16hướng hoạt động con người của thế giới quan thể hiện ở chỗ, một là, nó là cơ sở lý
luận để vạch ra mục đích, nhiệm vụ của các hành động, hoạt động của con người,
thậm chí cả hoài bão, ước mơ, lý tưởng sống của đời người Hai là, là cơ sở lý luận
của giá trị, hệ giá trị, điều chỉnh, điều khiển hành động hoạt động của con người
trong cộng đồng xã hội Ba là, thế giới quan khoa học là hạt nhân của nhân cách.
Trong đời sống hiện thực, không ai thoát khỏi sự chi phối của thế giới quan Chỉ cóđiều là, anh chịu sự chi phối của thế giới quan nào? Và nó chi phối anh một cách tựphát, hay tự giác mà thôi Cho nên, con đường ngắn nhất để đi tới thành công là:hãy chủ động nắm lấy thế giới quan khoa học
- Những biểu hiện định hướng hoạt động con nguời của thế giới quan triết học Vaitrò định hướng của thế giới quan triết học đối với hoạt động của con người thể hiện
trên ba phương diện cơ bản sau đây: một là, triết học tỏ thái độ đối với giai cấp, hai là, thái độ đối với khoa học, ba là, thái độ đối với tôn giáo Ví dụ, triết học
Mác – Lênin là triết học của giai cấp vô sản, bênh vực, bảo vệ giai cấp vô sản, vũkhí đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản và nhân dân lao động Trung thành vớikhoa học, phát triển cùng với sự phát triển của khoa học Và vô thần, chống tôngiáo Cho nên, triết học Mác – Lênin là hạt nhân lý luận của thế giới quan khoahọc, thế giới quan DVBC
b Thế giới quan duy vật biện chứng và vai trò định hướng đúng đắn của thế giới quan duy vật biện chứng đối với sự phát triển các khoa học
- Thế giới quan duy tâm và thế giới quan duy vật
- Các hình thức cơ bản của thế giới quan duy vật
- Thế giới quan duy vật biện chứng, hình thức cao nhất của thế giới quan
- Vai trò định hướng đúng đắn sự phát triển các khoa học của thế giới quan duy vậtbiện chứng(những nguyên tắc cơ bản của lý luận nhận thức duy vật biện chứng,nền tảng lý luận của mọi nhận thức khoa học)
Trang 172 Phương pháp, phương pháp luận triết học, vai trò của phương pháp luận triết học đối với sự phát triển của các khoa học
a Phương pháp
- Khái niệm phương pháp
+ Định nghĩa phương pháp Mọi hoạt động của con người, bao giờ cũng diễn ra
bằng những cách thức nào đó Cách thức mà con người sử dụng để thực hiện mỗi hành động, hoạt động cụ thể nhất định, gọi là phương pháp Thực chất của phương
pháp chính là hệ thống những qui tắc, nguyên tắc đòi hỏi chủ thể phải nhất quánthực hiện trong các hành động, hoạt động của mình nhằm đạt được mục đích, hoànthành nhiệm vụ đã đặt ra Ví dụ, phương pháp lao động sản xuất, phương phápnghiên cứu khoa học…
+ Tính chất của phương pháp Phương pháp rất quan trọng, trong một phạm vi nào
đó, phương pháp quyết định thành, bại của công việc Vậy tìm phương pháp ở đâu?Muốn có câu trả lời đúng đắn, cần phải hiểu được hai tính chất cơ bản của phươngpháp, đó là tính chất khách quan và tính chất chủ quan Đành rằng con người nghĩ
ra phương pháp, nhưng con người nghĩ ra phương pháp không tùy tiện, mà trên cơ
sở kinh nghiệm đã tích lũy được trong hoạt động thực tiễn của mình và trên cơ sởnhững hiểu biết của mình về đối tượng cần tác động tới “Muốn biết bơi, hãy nhảyxuống nước”, Lênin
- Phân loại phương pháp Nếu xuất phát từ tính chất của phương pháp để phân loại,
có hai nhóm phương pháp chủ yếu, đó là:
+ Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu và phương pháp phát kiến tri thức mới.Hoặc là, xuất phát từ phạm vi sử dụng phương pháp để phân loại, có:
+ Phương pháp riêng, phương pháp chung, phương pháp phổ biến (phương pháptriết học)
b Phương pháp luận, phương pháp luận triết học
Trang 18- Khái niệm phương pháp luận Nói ngắn gọn, phương pháp luận là lý luận, là họcthuyết về phương pháp Phương pháp luận giúp giải đáp các vấn đề cơ bản vềphương pháp sau đây: phương pháp là gì? Tìm phương pháp ở đâu? Thế nào làphương pháp tối ưu? Vận dụng phương pháp phải như thế nào? Có thể nói,phương pháp luận chính là kim chỉ nam của quá trình tìm phương pháp, vận dụngphương pháp Nếu có phương pháp luận đúng sẽ định hướng đúng đắn quá trìnhxác định và vận dụng phương pháp, nếu không thì ngược lại Cũng như phươngpháp, trong nhận thức cũng như trong thực tiễn, phương pháp luận quyết định sựthành bại của công việc.
- Phân loại phương pháp luận Căn cứ vào phạm vi tác dụng của phương pháp luận
để phân loại, có ba loại phương pháp luận, đó là: phương pháp luận riêng(bộ môn),phương pháp luận chung(ngành), phương pháp luận phổ biến(phương pháp luậntriết học) Ba loại phương pháp luận này bổ sung cho nhau, qui định lẫn nhau,trong đó, phương pháp luận triết học là cơ sở lý luận chung để xây dựng phươngpháp luận ngành và phương pháp luận bộ môn
c Vai trò phương pháp luận khoa học của triết học DVBC(PBCDV) đối với sự phát triển của các khoa học
Phương pháp luận triết học bao hàm các phương pháp luận chủ yếu sauđây:
- Phương pháp luận triết học duy tâm: mê hoặc, du ngủ quần chúng
- Phương pháp luận duy vật siêu hình: giá trị và sự hạn chế của nó
- Phương pháp luận duy vật biện chứng, mà nòng cốt là PBCDV, phương phápluận duy nhất thích hợp với sự phát triển khoa học ngày nay, nó đã và đang trởthành công cụ nhận thức vĩ đại của nhân loại, Lênin
- Các nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của PBCDV và sự vận dụng xây dựngphương pháp luận ngành, phương pháp luận bộ môn
+ Nguyên tắc toàn diện
Trang 19+ Nguyên tắc lịch sử - cụ thể
+ Nguyên tắc phát triển
- Xa rời phép biện chứng duy vật thì không thể không bị trừng phạt… và khoa học càng phát triển bao nhiêu, các nhà khoa học càng cần phải được trang bị PBCDV bấy nhiêu.
3 Vai trò thế giới quan, phương pháp luận triết học đối với sự phát triển của các khoa học trong lịch sử
a Vai trò thúc đẩy khoa học phát triển của thế giới quan, phương pháp luận triết học đúng đắn
- CNDV thô sơ và PBC tự phát thời kỳ cổ đại, đặc biệt là thuyết nguyên tử củaĐềmôcrit, tư tưởng biện chứng của Hêracrit, của Platon…đã mang tính dự báo,định hướng đúng đắn cho khoa học phát triển
- Vai trò đặt nền móng cho sự phát triển của khoa học thực nghiệm thế kỷ XVII –XVIII của triết học R.Bêcơn cuối thời kỳ trung cổ
- Vai trò tạo tiền đề, định hướng đúng đắn cho sự ra đời và phát triển các ngànhkhoa học xã hội – nhân văn, khoa học tự nhiên của CNDVBC và PBCDV cuốiXIX, đầu XX
- Vai trò là công cụ nhận thức vĩ đại cho sự phát triển các khoa học của PBCDV,linh hồn sống của triết học Mác – Lênin, trong thời đại ngày nay Nắm lấy PBCDVcũng là con đường ngắn, nhất giải thoát khoa học khỏi cuộc khủng hoảng về mặtthế giới quan, phương pháp luận cuối XIX, đầu XX
- Khinh miệt PBC thì không thể không bị trừng phạt, sự trừng phạt ấy không khác
gì những kẻ kinh nghiệm chủ nghĩa thông minh nhất rơi vào vũng bùn của chủnghĩa ngu muội thày tu ngu xuẩn nhất
b Vai trò kìm hãm khoa học phát triển của thế giới quan, phương pháp luận triết
học không đúng đắn
- Triết học kinh viện và tôn giáo đàn áp khoa học thời kỳ trung cổ
Trang 20- Vai trò kìm hãm sự phát triển của triết học duy vật máy móc, siêu hình, cuốiXVIII, đầu XIX trước nhu cầu phát triển mới của khoa học đương thời Chính ràocản này đã tạo ra cuộc khủng hoảng về mặt thế giới quan và phương pháp luận cuảkhoa học, dẫn tới sự hoang mang, xao xuyến, dao động của các nhà khoa học và sựxuất hiện trào lưu “đường lối thứ ba” trong triết học, cuối XIX.
- CNDT mọi thời đại, nhìn chung, bảo vệ tôn giáo, kìm hãm khoa học
TÀI LIỆU HỌC TẬP
1.Gíao trình Triết học(Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộcchuyên ngành triết học), Bộ GD & ĐT, HN, 2007
- Chương I: Khái niệm triết học, đối tượng nghiên cứu của triết học
- Chương II, III, IV: Điều kiện lịch sử của sự ra đời triết học Ân độ, Trunghoa cổ, trung đại, Hy Lạp cổ đại, phương Tây trung cổ, phục hưng, cận đại vàđương đại Tây Âu
- Chương V: mục I Chương VI: mục II
2 Về mối quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên C.Mác, F.Ăngghen,V.I.Lênin, NXB Khoa học XH, HN, 1973 Nguyễn Văn Nghĩa giới thiệu
- Lời nói đầu(tr 5 đến tr 45)
3 Khoa học xã hội và nhân văn với sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, ĐHQG HàNội, Trường ĐHKHXH & NV, PGS, TS Phạm Xuân Hằng(Chủ biên), HN, 2000.Các tài liệu tham khảo khác