Đặc điểm - Có thành phần xác định, có tỉ lệ chất dinh dưỡng cao - Dễ tan trong nước, cây trồng dễ hấp thu - Thời gian tồn tại ngắn trong đất nên dễ bị rửa trôi - Các phân bón vô cơ có p
Trang 1Ngay từ buổi đầu xuất hiện, con người đã tác động vào môi trường xung quanh để phục vụ nhu cầu sống của mình Trong số đó phải kể đến việc sử dụng phân bón trong hoạt động sản xuất nông nghiệp Phân bón là hợp chất nhân tạo hay tự nhiên đưa vào hệ sinh thái nông nghiệp để nâng cao dinh dưỡng cây trồng, tăng năng suất hay cải thiện độ phì đất Ông cha ta đã nói "nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống" Phân bón có vai trò đòn bẩy nâng cao năng suất cây trồng trong mọi thời đại
I Giới thiệu chung về phân bón
1 Định nghĩa
Phân bón là những chất hữu cơ, vô cơ trong thành phần có chứa các nguyên tố vi lượng cần thiết cho cây trồng, mà cây có thể hấp thụ được Như vậy phân bón được hiểu như là những chất khi bón vào đất, trong thành phần phải có chứa các nguyên tố dinh dưỡng như: N, P, K, Ca, Mg, S, Fe, hoặc các nguyên tố vi lượng và siêu vi lượng
2 Các loại phân bón
- Phân bón vô cơ (phân đạm, phân lân, kali, phân vi lượng…)
- Phân hữu cơ (phân chuồng, phân rác, phân xanh…)
2.1 Phân bón vô cơ
2.1.1 Khái niệm
Phân bón vô cơ là nhóm phân bón chỉ gồm các chất vô cơ, không chứa các chất hữu cơ Phân vô cơ còn gọi là phân khoáng, các phân bón vô cơ thường được sản xuất nhờ công nghiệp hóa học nên còn gọi là phân hoá học
2.1.1 Đặc điểm
- Có thành phần xác định, có tỉ lệ chất dinh dưỡng cao
- Dễ tan trong nước, cây trồng dễ hấp thu
- Thời gian tồn tại ngắn trong đất nên dễ bị rửa trôi
- Các phân bón vô cơ có phản ứng với đất, nên dùng nhiều trong thời gian dài, quá lạm dụng và không chú ý kết hợp với phân hữu cơ, sẽ làm tính chất của đất xấu đi (cằn cỗi, khó làm và dễ bị thoái hóa)
2.2 Phân hữu cơ
2.2.1 khái niệm
Phân hữu cơ là nhóm phân bón có chứa các chất hữu cơ ở dạng chưa phân hủy hoặc bán phân hủy (bao gồm xác động thực vật cỏ cây, rơm rạ và các chất phế thải của
Trang 2chăn nuôi: phân gà, lợn…) Có thể chia phân bón hữu cơ thành 3 nhóm:
- Nhóm 1: gồm các dạng phế thải chăn nuôi như phân của gia súc, gia cầm, nước tiểu
- Nhóm 2: gồm các dạng phân xanh, phân rác, tro bếp, phù xa, bùn ao
- Nhóm 3: gồm các dạng phế thải công nghiệp thực phẩm như bã đậu, khô lạc…
2.2.2 Đặc điểm
- Có thành phần phức tạp và không xác định, hàm lượng các chất dinh dưỡng thấp
- Thường tồn tại ở dạng chưa phân hủy hoặc bán phân huỷ
- Do có nhiều chất hữu cơ, nên bón phân hữu cơ vào đất sẽ làm tăng độ mùn cho đất, góp phân cải tạo đất
II Vấn đề quản lý và sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp
1 Một số loại phân bón hiện nay và tác dụng của chúng
1.1 Phân kali
- Nhóm phân bón cung cấp chất dinh dưỡng kali cho cây
- Kali có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hoá năng lượng trong quá trình đồng hoá các chất dinh dưỡng của cây
- Kali làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác động không lợi từ bên ngoài và chống chịu đối với một số loại bệnh Kali tạo cho cây cứng chắc, ít đổ ngã, tăng khả năng chịu úng, chịu hạn, chịu rét
1.2 Phân amôn nitrat (NH4NO3)
- Phân amôn nitrat có chứa 33 – 35% N nguyên chất Ở các nước trên thế giới loại phân này chiếm 11% tổng số phân đạm được sản xuất hàng năm
- Phân này ở dưới dạng tinh thể muối kết tinh có màu vàng xám Amôn nitrat dễ chảy nước, dễ tan trong nước, dễ vón cục, khó bảo quản và khó sử dụng
- Là loại phân sinh lý chua Tuy vậy, đây là loại phân bón quý vì có chứa cả NH4+
và cả NO3-, phân này có thể bón cho nhiều loại cây trồng trên nhiều loại đất khác nhau
- Amôn nitrat bón thích hợp cho nhiều loại cây trồng cạn như thuốc lá, bông, mía, ngô…
- Phân này được dùng để pha thành dung dịch dinh dưỡng để tưới cây trong nhà kính và tưới bón thúc cho nhiều loại rau, cây ăn quả
Trang 3- Phân dễ hoà tan trong nước cho nên cây dễ sử dụng Phân thường phát huy hiệu quả nhanh, ít bị rửa trôi
- Supe lân có thể dùng để bón lót hoặc bón thúc đều được
- Phân này có thể sử dụng để bón ở các loại đất trung tính, đất kiềm, đất chua đều được Tuy nhiên, ở các loại đất chua nên bón vôi khử chua trước khi bón supe lân
- Supe lân có thể dùng để ủ với phân chuồng
- Nếu supe lân quá chua, cần trung hoà bớt độ chua trước khi sử dụng Có thể dùng phôtphat nội địa hoặc apatit Nếu đất chua nhiều dùng 15 – 20% apatit để trung hoà, đất chua ít dùng 10 – 15% Nếu dùng tro bếp để trung hoà độ chua của supe lân thì dùng
10 – 15%, nếu dùng vôi thì tỷ lệ là 5 – 10%
- Phân supe lân thường phát huy hiệu quả nhanh, cho nên để tăng hiệu lực của phân, người ta thường bón tập trung, bón theo hốc, hoặc sản xuất thành dạng viên để bón cho cây
- Supe lân ít hút ẩm, nhưng nếu cất giữ không cẩn thận phân có thể bị nhão và vón thành từng cục Phân có tính axit nên dễ làm hỏng bao bì và dụng cụ đong đựng bằng sắt
Supe lân
1.4 Phân NPK
1.4.1 Phân amsuka
Trang 4- Phân này được dùng để bón cho đất thiếu K nghiêm trọng và thường được dùng
để bón cho cây lấy củ
- Trong phân có chứa N – 17%; P2O5 – 7,4%; K2O – 14,1%
- Phân này được dùng để bón cho đất trung tính và thường dùng để bón cho cây lấy củ
1.4.4 Phân viên NPK Văn Điển
Trang 5Phân NPK
2.Tình hình phân bón trên thị trường thế giới
2.1.Thị trường phân bón châu Á - tình hình và triển vọng
- Một thời gian dài trước đây, các nước châu Á như Trung Quốc (TQ), Ấn Độ, Inđônêxia đã là những nước nhập khẩu nhiều phân bón và nguyên liệu liên quan Ngày nay, các nước này ngày càng có khả năng tự sản xuất đáp ứng nhu cầu trong nước và hơn nữa còn đang phát triển thành những nước xuất khẩu quan trọng
- Vào thập niên 1970, cuộc Cách mạng Xanh đã là động lực làm gia tăng rất nhanh nhu cầu phân bón và nguyên liệu liên quan tại các nước đang phát triển ở châu Á, tạo thành những thị trường hấp dẫn cho các nhà sản xuất Tây âu và Bắc Mỹ Hai thập niên sau, tình hình trên khắp châu lục này đang thay đổi mạnh TQ ưu tiên phát triển ngành phân bón nội địa, Ấn Độ cũng xây dựng những nhà máy sản xuất phân urê, phân lân công suất lớn, trong khi đó Inđônêxia khai thác nguồn khí thiên nhiên của mình để phát triển nhanh chóng ngành sản xuất phân urê nội địa Ngay từ đầu, ngành công nghiệp phân bón Inđônêxia đã có định hướng xuất khẩu Nếu trước đây TQ chỉ là nước nhập khẩu phân bón, thì từ năm 2000 cũng đã tham gia vào thị trường xuất khẩu phân urê
- Thị trường phân bón châu Á rất đa dạng, phản ánh sự đa dạng về điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng tại các nước trong khu vực, nhất là những nước có diện tích địa lý lớn như TQ và Ấn Độ Tuy nhiên, có một số yếu tố khiến nhu cầu tiêu thụ phân bón tại châu
Á nhìn chung khác với các khu vực khác trên thế giới Trong khi tại Tây âu có sự cân bằng tương đối giữa mức tiêu thụ phân đạm và phân NPK thì tại châu Á loại phân bón
Trang 6quan trọng nhất là urê Hàm lượng đạm cao trong phân urê giúp giảm chi phí phân phối, lưu kho và thao tác - đây là những yếu tố quan trọng đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, vì tại đây chi phí vận chuyển, lưu kho và bán hàng chiếm 15-30% giá bán Trong khi đó, năm 2003 cước phí vận chuyển đường biển đã tăng gấp đôi so với năm trước, năm 2004 lại có một đợt tăng mạnh giá vận chuyển Ngày nay, phân urê chiếm 69% tổng nhu cầu tiêu thụ phân bón của châu Á Tại Tây âu tỉ lệ này chỉ chiếm 16%
- Sự chi phối của phân urê trong thị trường phân bón châu Á có thể là do ảnh hưởng của các điều kiện về thương mại và kinh tế, mà không phải do tính thích hợp về mặt thổ nhưỡng Trên thực tế, khả năng thất thoát đạm từ urê trong một số loại đất và điều kiện khí hậu có thể rất lớn Tuy phân amoni nitrat thích hợp hơn đối với nhiều loại đất, cây trồng và điều kiện khí hậu, nhưng loại phân này chỉ chiếm dưới 2% thị trường phân đạm ở châu Á Tương tự, phân bón dạng nước cũng rất ít được sử dụng tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đa số phân NPK được sử dụng tại khu vực này là phân trộn dạng hạt
- Trong hai thập niên qua, tiêu thụ phân urê tại TQ đã tăng gần gấp ba, còn tại Ấn
Độ mức tiêu thụ này đã tăng gấp đôi
2.1.1 Trung Quốc
- Là nước tiêu thụ phân bón lớn nhất thế giới, TQ có những ảnh hưởng lớn đối với thị trường phân bón thế giới Trong các thập niên 1980 và 1990, TQ đã khuyến khích phát triển ngành sản xuất phân bón nội địa Nhờ đó, đến nay sản lượng phân bón tại đây
đã tăng rõ rệt
- Năm 2002, sản lượng các loại phân bón của TQ đã lên đến gần 32 triệu tấn Điều này phản ánh kết quả của sự đầu tư liên tục vào các nhà máy urê và MAP/DAP mới Trong một thời gian dài, sản suất phân lân tại đây chủ yếu tập trung vào các sản phẩm với hàm lượng dinh dưỡng thấp, ví dụ SSP và canxi - magiê phốtphát Từ năm 2000 đã có sự dịch chuyển mạnh về hướng sản xuất các sản phẩm có hàm lượng chất dinh dưỡng cao như DAP, tạo thêm động lực cho sản xuất phân bón trong nước và giảm mạnh lượng phân bón nhập khẩu
- Trước khi gia nhập WTO vào tháng 12/2001, TQ đã bảo hộ ngành sản xuất phân lân nội địa của mình bằng những biện pháp hạn chế nhập khẩu Năm 2002, các biện pháp hạn chế này bị hủy bỏ, do đó nhập khẩu lại tăng mạnh Nhưng trong những năm tiếp theo
Trang 7TQ đã tiếp tục hỗ trợ tài chính cho ngành sản xuất phân lân của mình, tránh né các cam kết khi gia nhập WTO Ngành sản xuất phân lân tại Mỹ đã lên tiếng phản đối quyết liệt những biện pháp bảo hộ này
- Trong lúc này, ngành sản xuất phân lân TQ vẫn đang trong giai đoạn chuyển đổi Các công ty lớn có khả năng tiếp cận các nguồn quặng phốtphát đang tiếp tục xây dựng các nhà máy axit phốtphoric và các dây chuyền tạo hạt mới để sản xuất DAP và MAP tại các mỏ quặng lớn ở các tỉnh Quảng Châu, Hồ Bắc và Vân Nam Giá bán cao trên thị trường quốc tế và tỉ giá hối đoái thấp của đồng nhân dân tệ đã giúp tăng lợi nhuận của ngành sản xuất phân lân TQ, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch sang sản xuất phân lân với hàm lượng dinh dưỡng cao
- TQ cũng đang bắt đầu tăng cường sản xuất phân NPK Dự kiến thị trường NPK tại đây sẽ tăng từ 10 triệu tấn trong năm 2000 lên đến 15 triệu tấn năm 2005 Năm 2002, lượng phân NPK đã tiêu thụ chỉ chiếm 24% tổng tiêu thụ phân bón, so với mức 50% ở các nước đã phát triển Hơn nữa, phân NPK được sử dụng tại TQ thường là loại phân có hàm lượng dinh dưỡng và chất lượng thấp Nhưng điều này có thể sẽ thay đổi, nhất là sau khi Công ty Hanfeng Evergreen mới đây đã nhận được độc quyền sử dụng trong thời hạn
10 năm đối với công nghệ sản xuất phân NPK hàm lượng cao theo phương pháp tạo hạt trong tháp, đây là công nghệ của Viện nghiên cứu Công nghiệp Hóa chất Thượng Hải Một nhà máy NPK lớn, công suất 150 nghìn tấn/ năm theo công nghệ tạo hạt bằng
phương pháp bay hơi, cũng đang được xây dựng tại Tianjin, đông bắc TQ, với sự tham gia của các đối tác liên doanh từ Hàn Quốc và đài Loan, dự kiến sẽ đi vào sản xuất đầu năm 2006
2.1.2 Ấn Độ
- Trong năm tài chính 2003/2004, tiêu thụ phân bón tại Ấn Độ đã tăng 5% sau khi
bị suy giảm trong năm tài chính trước đó Nhờ liên tục xây dựng thêm các nhà máy, đến nay sản lượng urê và DAP đã đạt 9,7 triệu tấn/ năm và 5,5 triệu tấn P2O5/ năm tương ứng Trong năm tài chính 2003/ 2004, urê chiếm 83% sản lượng phân đạm, còn DAP chiếm 62% sản lượng phân lân Phân supe đơn (SSP) tiếp tục chiếm một phần đáng kể (khoảng 11%) trong sản lượng phân lân Tương tự như TQ, việc tăng công suất nội địa đã đẩy nhanh xu hướng giảm nhập khẩu phân urê và DAP Hiện nay, Ấn Độ chỉ còn nhập khẩu phân urê để sản xuất phân đa thành phần mà không sử dụng trực tiếp cho nông nghiệp
Trang 8- Tiêu thụ phân bón tại Ấn Độ bị ảnh hưởng rất mạnh bởi chính sách trợ giá của chính phủ Tháng 1/2004, chính phủ Ấn Độ cũng tuyên bố chính sách đầu tư để mở rộng
và xây dựng mới các nhà máy urê đi từ nguyên liệu khí thiên nhiên hoặc khí hóa lỏng Năm 2004, tổng công suất urê đã đạt 9,7 triệu tấn N/năm, dự kiến sẽ tăng lên 10,19 triệu tấn N/năm vào năm 2007 và 11,18 triệu tấn N/năm sau năm 2009
2.1.3 Inđônêxia
- Inđônêxia đã xây dựng một số cơ sở sản xuất phân bón lớn tại các đảo
Kalimantan (5 nhà máy urê và 2 nhà máy amoniac), Sumatra (6 nhà máy urê), Giava (2 nhà máy urê, 3 nhà máy amoni sunfat, 2 nhà máy phốtphát, 1 nhà máy NPK) Tổng công suất urê của Inđônêxia đạt 3,71 triệu tấn N/năm, trong khi đó lĩnh vực sản xuất phân bón hầu như hoàn toàn do các công ty quốc doanh chi phối
- Năm 2000, sản lượng urê của Inđônêxia đạt mức cao nhất là 2,91 triệu tấn N/năm, sau đó giảm xuống còn 2,45 triệu tấn N/năm vào năm 2001 Năm 2004, sản lượng urê đạt 2,58 triệu tấn N/năm Lượng urê dư thừa được xuất khẩu chủ yếu sang các nước láng giềng ASEAN Do sản xuất suy giảm, lượng xuất khẩu này cũng giảm từ 580.400 tấn N vào năm 2000 xuống còn 214.000 tấn N vào năm 2004
- Sau khi tự do hóa thị trường khí thiên nhiên vào năm 2001, ngày nay chính phủ Inđônêxia không còn có khả năng tác động đến giá và nguồn cung loại nguyên liệu này Đây là những biện pháp nhằm khuyến khích các công ty dầu khí trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh, nhưng chúng có thể gây ra những bất lợi cho các công ty sản xuất urê vì họ không thể mua khí thiên nhiên với giá như trên thị trường quốc tế Hơn nữa, tại một số nơi trữ lượng khí thiên nhiên đã tỏ ra là thấp hơn ước tính trước đó Ví dụ, mỏ khí thiên nhiên Arun tại bắc Sumatra - nguồn cung cấp nguyên liệu cho 3 nhà máy metanol
và urê tại địa phương - đã gần cạn, chỉ có thể khai thác không đầy 10 năm nữa, trong khi
đó xung quanh lại không có những mỏ mới để thay thế Trên thực tế, sự thiếu hụt nguồn cung khí thiên nhiên đã làm gián đoạn sản xuất tại một số nhà máy phân bón trong thời gian qua
- Trong vài năm qua, mức tiêu thụ urê tại Inđônêxia đã ổn định ở khoảng 4,3 triệu tấn urê/ năm Do sản lượng urê cao hơn đáng kể nhu cầu nội địa, nên Inđônêxia là nước xuất khẩu urê quan trọng sang các nước khu vực ASEAN Trước đây, Việt Nam là một trong những nước nhập khẩu nhiều urê của Inđônêxia Năm 2002, xuất khẩu urê của
Trang 9Inđônêxia đáp ứng khoảng 60% nhu cầu urê của Việt Nam, nhưng sau đó tỷ lệ này đã giảm xuống còn 30%, do Nga và Trung đông tăng cường xuất khẩu sang Việt Nam
- Do sản xuất urê tại bắc Sumatra có khả năng sẽ chấm dứt vào cuối thập kỷ tới do
mỏ khí Arun bị cạn kiệt, ngành sản xuất phân bón Inđônêxia đang xem xét nhiều phương
án để di chuyển các nhà máy hiện có hoặc xây dựng các nhà máy mới có khả năng tiếp cận các nguồn cung khí lâu dài Chính phủ nước này đang chuẩn bị kế hoạch xây dựng ống dẫn khí nối liền các đảo Kalimatra, Giava và Sumatra, và cũng nghiên cứu phương
án vận chuyển khí bằng tàu chở dầu từ các mỏ khí mới khai thác
- Tuy Inđônêxia có trữ lượng khí thiên nhiên lớn nhất trong khu vực đông Nam á (trữ lượng tổng cộng khoảng 5 nghìn tỉ m3 khí đã chứng minh và ước tính), nhưng việc phát triển các mỏ khí này tương đối chậm, hơn nữa cung ứng khí cho các nhà máy điện sẽ chiếm tỉ lệ ngày càng cao Các ngành sản xuất hóa chất từ nguyên liệu khí thiên nhiên, như sản xuất amoniăc và urê, sẽ không còn có thể trông chờ vào trợ cấp của chính phủ như trước đây và có thể chịu thua thiệt trước ngành điện khi cạnh tranh giành nguồn cung khí thiên nhiên Chuyện này đã từng xảy ra tại Mỹ, châu Âu, Ấn Độ, và trên thực tế cũng đang xảy ra ở Inđônêxia Nó cũng có thể là dấu hiệu về sự kết thúc vai trò xuất khẩu phân urê trong khu vực của Inđônêxia
2.1.4 Nga
- Sản xuất phân bón đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Nga, chiếm 20% sản lượng hóa chất công nghiệp, 35% giá trị xuất khẩu, là một trong những ngành kinh tế đạt lợi nhuận cao nhất và ổn định nhất về mặt tài chính của nước Nga Trước đây, vào thời Liên Xô cũ, ngành sản xuất phân bón của Nga có ảnh hưởng quan trọng đối với sản xuất và thương mại phân bón trên thế giới Ngày nay, Nga chiếm khoảng 6-7% sản lượng
và 13-15% lượng phân bón xuất khẩucủa thế giới Điều này cho thấy định hướng xuất khẩu mạnh của ngành công nghệ này ở Nga, đặc biệt là đối với xuất khẩu các loại phân bón như amoni nitrat (AN), urê, kali, MAP
- Năm 2005, Nga sản xuất khoảng 12,48 triệu tấn amoniăc, sản lượng apatit đạt 4,18 triệu tấn P2O5, sản lượng lưu huỳnh đạt 6,56 triệu tấn, còn sản lượng axit sunfuric đạt 9,34 triệu tấn Hiện tại, khả năng tự cung tự cấp các loại nguyên liệu với giá thành thấp đang có ảnh hưởng tích cực đối với chi phí sản xuất và giúp tăng tính cạnh tranh của phân bón Nga trên thị trường thế giới Nhưng mặt khác, năng lượng và nguyên liệu chiếm
Trang 10đến 70% chi phí sản xuất của các nhà sản xuất phân bón Nga Trong tình hình này, sự tăng giá gần đây và dự kiến sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới của những yếu tố đầu vào này của các nhà sản xuất phân bón Nga bắt buộc sẽ dẫn đến giá thành sản xuất cao hơn,
do đó làm giảm tính cạnh tranh của các sản phẩm của họ trên thị trường thế giới Vì vậy, Nga đang đứng trước vấn đề rất cấp bách là phải giảm tiêu hao năng lượng và nguyên liệu trong sản xuất phân bón
- Trong 15 năm qua, ngành sản xuất phân bón của Nga đã chuyển sang định hướng xuất khẩu mạnh Ngày nay, hơn 80% sản lượng phân khoáng được xuất khẩu ra nước ngoài, xuất khẩu phân đạm và phân lân chiếm 73%, xuất khẩu phân kali chiếm 91% sản lượng của các loại phân bón tương ứng trong nước Mỗi năm cung cấp cho thị trường quốc tế khoảng 13 triệu tấn phân bón, trong đó có 6 triệu tấn phân phân kali, 5 triệu tấn phân đạm và 2 triệu tấn phân lân Hiện nay, Nga là một trong 5 nước xuất khẩu phân bón hàng đầu trên thế giới Nhờ chi phí sản xuất thấp, trong khi nhu cầu và giá phân bón tăng, các công ty sản xuất phân bón của Nga tiếp tục duy trì khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới Vài năm gần đây, Nga đã tăng giá trị xuất khẩu phân bón và củng cố vị thế của mình tại các thị trường phân bón chính ở châu Âu, châu Á và Châu Mỹ La Tinh Trong khi đó, khối lượng xuất khẩu duy trì ở mức tương đối ổn định, đạt trung bình 10-
12 triệu tấn chất dinh dưỡng/năm trong thời gian 2000-2006 Trong phần lớn thời gian của thời kỳ đó, xuất khẩu phân bón của Nga đã bị hạn chế một phần do các hạn chế về công suất, do các biện pháp chống phá giá bị Mỹ và EU áp đặt, và những rào cản thương mại do một số nước khác lập ra Trong nửa đầu năm 2007, thị trường nội địa của Nga đã
có những dấu hiệu phục hồi, do đó một phần khối lượng xuất khẩu đã được chuyển hướng sang kênh tiêu thụ nội địa
2.2 Dự báo nhu cầu tiêu thụ phân bón thế giới 2007/2008 - 2011/2012
Nhu cầu tiêu thụ phân bón thế giới dự báo sẽ tăng vững trong 5 năm tới, với tốc
độ tăng bình quân 1,7%/năm trong giai đoạn 2007/08 - 2011/12, tương đương với mức tăng trên 14 triệu tấn Trong đó, châu Á chiếm tới 69% lượng tăng tiêu thụ và châu Mỹ chiếm 19%
Bảng 1 Dự báo nhu cầu phân bón thế giới giai đoạn 2007/08 - 2011/12 (1.000 tấn)
Trang 112.2.1 Nitrogen
Nhu cầu tiêu thụ phân bón nitrogen dự báo sẽ đạt mức tăng bình quân 1,4%/năm trong giai đoạn 2007/08 - 2011/12, tương đương với mức tăng 7,3 triệu tấn, trong đó châu
Á chiếm tới 69% tổng mức tăng nhu cầu nitrogen Đông Á, Nam Á, Bắc Mỹ và Tây Âu
là những khu vực tiêu thụ nitrogen lớn nhất thế giới Tuy có tỷ trọng trong tổng mức tiêu thụ nitrogen tương đối hạn chế, Đông Âu và Trung Phi sẽ là các khu vực có tốc độ tăng tiêu thụ cao trong những năm tới với tốc độ tăng tương ứng 10,4%/năm và 5%/năm Bắc
Mỹ vẫn là khu vực nhập khẩu ròng nitrogen lớn nhất trong những năm tới và Nam Á là khu vực đứng thứ hai về NK ròng trong khi Đông Á sẽ chuyển từ thâm hụt sang thặng dư trong cán cân thương mại phân bón nitrogen trong giai đoạn dự báo
Trang 12Đông Á, Mỹ La-tinh và Nam Á Đây cũng là những khu vực có tốc độ tăng tiêu thụ cao nhất trong giai đoạn dự báo với tốc độ tăng tương ứng 48,1%; 21,0% và 19,0%
3 Thị trường phân bón trong nước - tình hình và triển vọng
3.1 Nhập khẩu phân bón
- Trong khi nhiều nước phát triển đang có xu hướng giảm sử dụng phân bón thì các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam lại có chiều hướng sử dụng tăng mạnh Đây là một nghịch lý mà rất nhiều chuyên gia cũng như nhà quản lý đang lo ngại trong thời kỳ lạm phát hiện nay, khi mỗi năm chúng ta phải nhập khẩu hơn 60% lượng phân bón từ nước ngoài Để giúp bà con nông dân tháo gỡ khó khăn, mới đây, Cục Trồng trọt (Bộ NN &PTNT) đã tổ chức hội thảo "Giải pháp tăng hiệu quả sử dụng phân bón giảm chi phí và tăng hiệu quả sản xuất" tại Hà Nội
- Theo ông Bùi Huy Hiền, Viện trưởng Viện Thổ nhưỡng nông hoá, Bộ NN
&PTNT cho biết: Tính đến hết tháng 7.2008, Việt Nam đã nhập khẩu 2, 23 triệu tấn phân bón, trong đó nước nhập khẩu nhiều nhất là Trung Quốc (chiếm trên 50%), Nga (chiếm hơn 10%), Trong khi đó, mỗi năm Việt Nam sử dụng trên 2 triệu tấn phân Urê, khoảng
600 nghìn tấn DAP và một lượng gần tương đương như vậy với các loại phân bón khác Tổng lượng phân bón các loại sử dụng tại Việt Nam xấp xỉ 7, 7 triệu tấn Tuy nhiên, thực
tế cho thấy việc sử dụng phân bón chỉ được trên 40% hiệu suất Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta mất một lượng tiền lớn để nhập khẩu phân bón, đồng thời lại gây ra những ảnh hưởng đến môi trường do phân bón bị rửa trôi, tích tụ ở nguồn nước ngầm
- Hàng năm nhu cầu sử dụng phân bón của nước ta đạt khoảng 2 triệu tấn, trong khi đó, sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 900 ngàn tấn, như vậy, cứ một năm nhập khẩu, chúng ta lại mất thêm 770 triệu USD Đây đang thực sự là khó khăn không chỉ đối với người nông dân mà còn cho cả nhà quản lý, bởi trong giai đoạn hiện nay, khi cả nước đang tiến hành kiềm chế lạm phát thì cách tốt nhất đối với ngành nông nghiệp là phải sản xuất được phân bón trong nước
Trang 13VD: Theo số liệu thống kê chính thức của Tổng cục Hải quan, tháng 6/2008 cả
nước nhập về 192,35 ngàn tấn phân bón các loại, đạt kim ngạch 116,91 triệu USD, giảm 40,76% về lượng và giảm 42,76% về trị giá so với tháng trước, còn so với cùng kỳ năm
2007 giảm 48,31% về lượng song lại tăng 21,73% về trị giá
Trong tháng 6/2008, nhập khẩu hầu hết các loại phân bón đều giảm mạnh Trong
đó, nhập khẩu DAP giảm mạnh nhất, giảm 65,95% về lượng và giảm 64,86% về trị giá so với tháng trước, đạt 33,82 ngàn tấn với trị giá 35,6 triệu USD Đặc biệt, trong tháng này lượng DAP nhập về chủ yếu từ thị trường Tunisia với trên 27 ngàn tấn, giá nhập về 1.347 USD/tấn, CFR cảng Khánh Hội
Lượng phân DAP còn lại được nhập về từ thị trường Trung Quốc và Hàn Quốc Giá nhập về từ Hàn Quốc đạt 1.078 USD/tấn, CFR cảng Khánh Hội; Trung Quốc đạt trung bình 954 USD/tấn, giảm 64 USD/tấn so với giá nhập về tháng trước
Lượng phân bón NPK nhập về cũng giảm khá mạnh, giảm 61,48% so với tháng trước và giảm 71,32% so với cùng kỳ năm 2007, đạt trên 7 ngàn tấn với trị giá gần 6 triệu USD Giá nhập khẩu trung bình đạt 765 USD/tấn Lượng NPK nhập về trong tháng này chủ yếu từ thị trường Hàn Quốc, chiếm 83% tổng lượng nhập khẩu Giá nhập về từ thị trường này đạt 765 USD/tấn
So với với tháng 5/2008, nhập khẩu Urea cũng giảm 48% về lượng và giảm 47,51% về trị giá, đạt trên 37 ngàn tấn, trị giá 15,44 triệu USD Giá nhập khẩu trung bình
415 USD/tấn, tăng 4 USD/tấn so với giá nhập tháng trước
Tính đến hết quý II năm nay, nhập khẩu phân bón của Việt Nam đạt 2,177 triệu tấn với trị giá trên 1 tỷ USD, tăng 20,23% về lượng và tăng 134,36% về trị giá so với cùng kỳ năm 2007 Trong đó, Urea là chủng loại phân bón được nhập về đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, tăng 67,72% về lượng và tăng 145,55% về trị giá so với 6 tháng đầu năm
2007, đạt gần 525 ngàn tấn, trị giá 202,28 triệu USD Bên cạnh đó, nhập khẩu NPK cũng tăng 32,79% về lượng và tăng 168,47% về trị giá so với cùng kỳ năm trước, đạt 140,55 ngàn tấn với trị giá 75,46 triệu USD
Trang 14Trong khi đó, lượng DAP và SA nhập về lại giảm so với cùng kỳ năm trước: DAP giảm 12,35%, đạt 315,78 ngàn tấn; SA giảm 5,69%, đạt 433,9 ngàn tấn
Cơ cấu chủng loại phân bón nhập khẩu tháng 6 và 6 tháng năm 2008
Trang 15Phân SA 33.417 10.080 438.891 111.283
3.2 Các con đường nhập khẩu phân bón vào Việt Nam
Phân bón nhập khẩu vào Việt Nam bằng hai con đường chính ngạch và tiểu ngạch
- Chính ngạch là các hoạt động xuất nhập khẩu chính thức giữa hai quốc gia, có thể thông qua các hiệp định thương mại, hợp đồng xuất nhập khẩu chính thức giữa các doanh nghiệp giữa 2 quốc gia với nhau, nhìn chung việc xuất khẩu chính ngạch được thực hiện theo quy trình và có sự kiểm soát của các cơ quan nhà nước: Hải quan, kiểm định hàng hóa, Chính vì được sự kiểm soát như vậy mà chất lượng của các loại phân bón thường rất đảm bảo, không có hiện tượng hàng giả hàng kém chất lượng.Tất nhiên nó
sẽ dẫn đến một hiện tượng giá phân bón trên thị trường cao hơn hẳn so với nhập khẩu bằng con đường tiểu ngạch
VD: theo một số liệu ngày 10-10-2008 Giá đạm ure nhập khẩu tiểu ngạch từ Trung Quốc là 7.500đ/kg, còn giá nhập khẩu chính ngạch là 9.000đ/kg
Trang 16- Tiểu ngạch là việc xuất nhập khẩu tự phát, không theo hiệp định thương mại nào cả (Việc này diễn ra ở các tỉnh biên giới nước ta rất nhiều) Do không có sự kiểm soát chặt chẽ của các cơ quan chức năng mà lượng phân bón vào nước ta theo rất nhiều cách khác nhau: đường rừng, đường thuỷ
Chính vì như vậy mà giá thành phân bón trên thị trường thấp hơn rất nhiều so với nhập khẩu chính ngạch Nhưng chất lượng phân bón thường không được đảm bảo, gây lên hiện tượng hàng giả hàng kém chất lượng trên thị trường
4 Vấn đề quản lý phân bón trong sản xuất nông nghiệp
4.1 Quản lý thị trường phân bón trong nước
- Thị trường phân bón ở nước ta có lúc có chỗ khó kiểm soát Nạn sản xuất, tiêu thụ phân giả đã ảnh hưởng rất lớn đến người nông dân và hệ sinh thái đồng ruộng
- Vì chưa có một văn bản pháp quy nào ngang tầm cho việc quản lý chất lượng, nên thị trường phân bón trong nước đang thả nổi, phân chất lượng kém, phân giả tung hoành khắp nơi Gần đây, theo báo cáo của 5 Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn khi kiểm tra 218 mẫu phân bón trên thị trường và tại cơ sở sản xuất, phát hiện ra 86 mẫu không đạt yêu cầu chất lượng, chiếm tỉ lệ 40%, trong đó tỉnh Hải Dương, An Giang, Tiền Giang có tới 63-86% số mẫu không đạt chất lượng Báo cáo của 9 chi cục TCĐLCL (Tiêu Chuẩn Đo Lường Chất Lượng) kiểm tra 267 mẫu phân bón, thì có tới 124 mẫu không đạt chất lượng, chiếm 46% Năm 2000, vụ khoa học công nghệ và chất lượng sản phẩm (Bộ Nông nghiệp & PTNT) phối hợp với các đơn vị trong bộ và các địa phương tiến hành kiểm tra chất lượng phân bón trong 3 đợt ở 3 vùng trong cả nước, kết quả đạt 1 (7/2000) tại 4 tỉnh vùng ĐSBCL kiểm tra 11 mẫu phân bón, thì 9 mẫu không đạt yêu cầu chất lượng, chiếm 81% Đợt 2 (11/2000) tại 3 tỉnh duyên hải Bắc Trung Bộ, kiểm tra 15 mẫu phân bón thì có 12 mẫu không đạt yêu cầu chất lượng, chiếm 80% Đợt 3 (12/2000) tại 3 tỉnh ĐSBCL (kết quả đang phân tích) cũng không khả quan hơn các đợt kiểm tra trước
- Năng lực sản xuất phân bón của ta còn yếu kém và không cân đối Phân đạm (urê) đáp ứng được 10% so với nhu cầu của sản xuất, phân lân 60 - 70%, phân kali phải
Trang 17nhập hoàn toàn Phần lớn tiền xuất khẩu gạo dùng để nhập khẩu phân bón (trên 500 triệu USD hàng năm)
- Trên thị trường phân bón còn xuất hiện tình trạng giá phân bón tăng thì số lượng hàng giả, hàng kém chất lượng cũng tăng theo
Theo Bộ Công Thương, từ cuối năm 2007 đến nay, giá phân bón trên thị trường thế giới tăng cao nhất trong vòng 35 năm qua đã gây nhiều diễn biến phức tạp So với cuối năm 2007, ure đã tăng từ 255 USD/tấn lên 830 USD/tấn, phân DAP từ 275 USD/tấn lên 1.200 USD/tấn, phân kali từ 204 USD/tấn lên 1.015 USD/tấn Đặc biệt lưu huỳnh (nguyên liệu chính để sản xuất supe lân) đã tăng 15 lần, từ 55 USD/tấn lên 830 USD/tấn Kết hợp với tăng chi phí sản xuất trong nước nhưng giá bán phân bón chưa được điều chỉnh đã khiến nhiều DN trong nước sản xuất cầm chừng để tránh thua lỗ Trong khi sản xuất phân bón trong nước, mới đáp ứng được khoảng 40% nên áp lực cung cầu ở thị trường phân bón trong nước càng thêm phức tạp Theo Cục Quản lý thị trường - Bộ Công Thương, chính việc giá phân bón tăng cao như trên đã khiến phân bón giả, nhái, kém chất lượng xuất hiện nhiều và trên diện rộng Chỉ từ đầu năm đến nay, riêng lực lượng Quản lý thị trường đã phát hiện và xử lý trên 200 vụ vi phạm, số lượng phân bón giả các loại bị tạm giữ và xử lý trên 2.000 tấn Theo số liệu chưa đầy đủ từ Đoàn kiểm tra liên ngành về phân bón vừa qua, 80-90% phân bón kém chất lượng là phân hữu cơ Phần lớn phân bón này có xuất xứ từ các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, không chú trọng đến chất lượng và hoạt động trong thời gian ngắn, mang tính chộp giật và trốn thuế Các sai phạm chủ yếu là: sản xuất và kinh doanh phân bón có chất lượng thấp hơn mức tiêu chuẩn công bố, kinh doanh phân bón kém chất lượng, quá hạn sử dụng, vi phạm về việc ghi nhãn mác, không niêm yết giá bán, không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Cụ thể, có 40 - 50% số mẫu giám định có chất lượng thấp hơn mức đã công bố, chất có ích (N, P, K… ) trong hỗn hợp đạt không quá 40% Thị trường tiêu thụ chính của phân bón kém chất lượng là Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long
4.2 Các văn bản pháp luật chưa chặt chẽ còn nhiều kẽ hở
- Theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP, Nghị định số 113/2003 và Nghị định số 191/NĐ-CP và các các văn bản hướng dẫn thi hành về quản lý phân bón thì mặt hàng này thuộc danh mục kinh doanh có điều kiện nhưng không phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh Thực tế này khiến sở Kế hoạch và Đầu tư chỉ cấp giấy chứng nhận đăng
Trang 18ký kinh doanh, còn việc chấp hành điều kiện và duy trì điều kiện kinh doanh tại cơ sở thì không được quy định Có nghĩa là việc chấp hành điều kiện sản xuất tại cơ sở sản xuất là tùy vào sự tự giác của DN Thực tế này cho thấy hiện không có cơ quan nào xem xét thẩm định điều kiện sản xuất tại cơ sở sản xuất phân bón
- Theo Cục trưởng Cục Quản lý thị trường Nguyễn Hùng Dũng, trong các văn bản pháp luật về quản lý phân bón cũng chưa có quy định cụ thể phân bón ở chất lượng nào là kém chất lượng và đến mức nào gọi là phân bón giả Về chế tài xử lý vi phạm, mức xử phạt quá thấp khiến các đối tượng liên tiếp vi phạm Mức phạt cao nhất hiện nay với vi phạm về chất lượng là 20 triệu đồng mà không có hình thức xử phạt bổ sung là thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Mức xử phạt còn rất thấp so với lợi nhuận mà đối tượng làm hàng giả thu được Hơn nữa, việc quy định người lấy mẫu phân bón để đi kiểm tra hiện nay phải là người được đào tạo và có chứng chỉ cũng đang gây những khó khăn cho cơ quan quản lý
- Trước những khó khăn trên, Cục Quản lý thị trường kiến nghị, cần quy định thẩm quyền lấy mẫu kiểm tra phân bón thuộc các lực lượng: Quản lý thị trường, Công an, Hải quan, Biên phòng, Hiệp hội Bảo vệ người tiêu dùng… Cần giao cơ quan chức năng nghiên cứu về việc cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh đối với mặt hàng phân bón Đồng thời, xây dựng quy chuẩn để xem xét mức độ giảm chất lượng nhằm phân biệt phân bón giả, phân bón kém chất lượng với phân bón chất lượng Ngành Công Thương cần thiết lập hệ thống phân phối đến cơ sở để người tiêu dùng tiếp cận được nguồn hàng đảm bảo chất lượng
4.3 Nghị định của chính phủ số 113/2003/NĐ-CP ngày 7/10/2003 chươngV - Quản lý của nhà nước về phân bón
Điều 20 Nội dung quản lý nhà nước về phân bón, bao gồm:
1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch về phân bón
2 Ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về quản lý phân bón, các quy trình, quy phạm sản xuất phân bón, tiêu chuẩn phân bón, cơ chế chính sách khuyến khích sản xuất và sử dụng phân bón
3 Khảo nghiệm và công nhận phân bón mới
Trang 194 Thu thập và quản lý các thông tin, tư liệu về phân bón
5 Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào các hoạt động trong lĩnh vực phân bón
6 Tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kinh nghiệm về quản lý và sử dụng phân bón
7 Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành quy định của Nhà nước, giải quyết khiếu nại, tố cáo và các tranh chấp về phân bón
8 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phân bón
Điều 21 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm:
1 Chủ trì, phối hợp với Bộ Công nghiệp và các Bộ, ngành có liên quan xây dựng
kế hoạch và chính sách về sử dụng phân bón và sản xuất phân bón hữu cơ
2 Soạn thảo, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn và cơ chế chính sách về sử dụng phân bón và sản xuất phân bón hữu cơ
3 Tổ chức khảo nghiệm và công nhận phân bón mới
4 Thu thập và quản lý các thông tin, tư liệu về phân bón
5 Phối hợp với các Bộ, ngành trong việc tổ chức nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào các hoạt động về sử dụng phân bón và sản xuất phân bón hữu
8 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực sử dụng phân bón, sản xuất phân bón hữu cơ
Điều 22 Bộ Công nghiệp có trách nhiệm: