Bón phân đầy đủ, cân đối và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn, hợp lí sẽ thu được năng suất cây trồng cao và chất lượng sản phẩm tốt, không làm suy kiệt và ô nhiễm môi trường đồn
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
= = = = = = = =
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG PHÂN BÓN TRONG
SẢN XUẤT LÚA TRÊN ĐỊA BÀN XÃ NHÂN THÀNH,
Giáo viên hướng dẫn : TS NGUYỄN THỊ THU HÀ
ịa điểm thực tập : UBND Xã Nhân Thành – Huyện Yên Thành
Tỉnh Nghệ An
HÀ NỘI - 2016
Trang 2Kính gửi :
• Khoa Môi trường – Học viện Nông nghiệp Việt Nam
• Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận là của riêng tôi, được nghiên cứu một cách độc lập Các số liệu thu thập được là các tài liệu được sự cho phép công bố của các đơn vị cung cấp số liệu Các tài liệu tham khảo đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả được nêu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực và chưa từng có ai công bố trong bất kì tài liệu nào
Hà Nội, ngày tháng … năm 2016
Sinh viên
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn
sự quan tâm,giúp đỡ và dạy bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Môi Trường – Trường Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, các bác, các chú,các cô,các gì, các anh chị ở địa phương nơi em thực tập cùng bố mẹ và bạn bè,… Đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo TS– Nguyễn Thị Thu Hà bộ môn Sinh Thái đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện để em hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn UBND xã Nhân Thành , huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đã tiếp nhận và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp tại địa phương
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường, khoa Môi trường và bộ môn Sinh Thái đã tạo mọi điều kiện cho em và hướng dẫn em trong suốt quá trình em tiến hành phân tích mẫu,tìm kiếm tài liệu cũng như thực hiện đề tài tốt nghiệp này
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới gia đình, bạn bè đã ủng hộ, động viên và quan tâm trong suốt quá trình em thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Trong quá trình thực hiện đề tài này, do điều kiện về thời gian, tài chính và trình độ nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, em rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để bài khóa luận tốt nghiệp này hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Nhân Thành, ngày tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Trang 4MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TB : giá trị trung bình D1 TB : Phân đạm bón lót trung bìnhD2 TB : Phân đạm bón thúc 1 trung bìnhD3 TB : Phân đạm bón thúc 2 trung bìnhL1 TB : phân lân bón lót trung bìnhL2 TB : phân lân bón thúc 1 trung bìnhL3 TB :phân lân bón thúc 2 trung bìnhK1 TB : phân kali bón lót trung bìnhK2 TB : phân kali bón thúc 1 trung bìnhK3 TB : phân kali bón thúc 2 trung bìnhTL1 TB : Phân tổng hợp bón lót trung bìnhTL2 TB : phân tổng hợp bón thúc 1trung bìnhTL3 TB : phân tổng hợp bón thúc 2 trung bìnhC1 TB : phân chuồng bón lót trung bìnhC2 TB : phân chuồng bón thúc 1 trung bìnhC3 TB : phân chuồng bón thúc 2 trung bìnhNSTB : năng suất lúa trung bình
BVTV : bảo vệ thực vật
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang 6Bảng 1.1.Diện tích lúa cả năm phân theo địa phương: Error: Reference source not found
Bảng 1.2.Năng suất lúa cả năm phân theo địa phương:Error: Reference source
not found
Bảng 1.3.Sản lượng lúa cả năm phân theo địa phương:Error: Reference source
not found
Bảng 1.4.Hàm lượng các kim loại nặng trong một số phân bón thông thường
(mg/kg) Error: Reference source not foundBảng 3.1 Số người trong độ tuổi lao động tính đến ngày 31/12 hàng năm:
Error: Reference source not foundBảng 3.2 Số hộ nghèo và tỷ lệ nghèo qua các năm: Error: Reference source
not found
Bảng 3.3.Số hộ cận nghèo và tỷ lệ cận nghèo nghèo qua các năm: 29Bảng 3.4 Các loại phân bón thường sử dụng bón cho cây lúa: Error:
Reference source not found
Bảng 3.5 Lượng phân bón sử dụng mỗi mùa vụ trong từng giai đoạn của cây
lúa và năng suất mỗi mùa vụ Error: Reference source not foundBảng 3.6 Quản lý của chính quyền xã về tình tình sử dụng phân bón: Error:
Reference source not found
Bảng 3.7 Xử lý bao bì phân bón sau sử dụng tại xã: .Error: Reference source
not found
Bảng 3.8 Nhận thức của người dân về tác động của phân bón quá mức đối
với môi trường Error: Reference source not found
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ,ĐỒ THỊ
Biểu đồ 1.1 Sản lượng và diện tích trồng lúa gạo thế giới từ năm 2006 – 2015
Error: Reference source not foundBiểu đồ 3.1 Tổng diện tích cây lương thực có hạt qua các năm Error:
Reference source not found
Biểu đồ 3.2 Sản lượng lương thực – cây có hạt (tấn): Error: Reference source
Reference source not found
Biểu đồ 3.7.Năng suất lúa Đông Xuân qua các năm (tạ/ha): .Error: Reference
source not found
Biểu đồ 3.8 Sản lượng lúa Đông Xuân qua các năm (tấn): Error: Reference
source not found
Biểu đồ 3.9 Diện tích gieo cấy lúa Hè Thu qua các năm (ha):Error: Reference
source not found
Biểu đồ 3.10 Năng suất lúa Hè Thu qua các năm (tạ/ha): Error: Reference
source not found
Biểu đồ 3.11.Sản lượng lúa Hè Thu qua các năm (tấn): Error: Reference
source not found
Biểu đồ 3.12.Năng suất và diện tích sản xuất lúa của các xóm trên địa bàn xã
Nhân Thành: Error: Reference source not found
Trang 9Hình 3.1 Một số loại phân bón sử dụng ở địa bàn xã Nhân Thành…………44
Trang 10MỞ ĐẦU
a Tính cấp thiết của đề tài
Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong những cây lương thực chính của nhiều nước trên thế giới,trong đó có Việt Nam chúng ta, nó có vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp
Nước ta là một nước nông nghiệp,nông dân chiếm trên 70% dân số cả nước.Do vậy,nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Ở nước ta, lúa đảm bảo an ninh lương thực cho hơn 91 triệu dân và đóng góp vào việc xuất khẩu gạo Năm 1997 ,Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới(theo Cổng thông tin về hiệu quả cho doanh nghiệp mới tại Việt Nam_bài viết “Xuất khẩu gạo Việt Nam”).Có được thành tựu trên là nhờ biết ứng dụng tiến bộ khoa học vào trong sản xuất và sự thay đổi cơ chế chính sách quản lý của nhà nước
Trong những năm qua, năng suất cây trồng không ngừng tăng lên, không chỉ có sự đóng góp to lớn của công tác giống mà còn có vai trò quan trọng của phân bón và thuốc bảo vệ thực vật Để có được năng suất cao trước tiên cần phải có giống lúa tốt, tuy nhiên để giống phát huy được tiềm năng cho năng suất cao thì cần phải có biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý Phân bón và thuốc bảo vệ thực vật là 2 yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng Bón phân đầy đủ, cân đối và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn, hợp lí sẽ thu được năng suất cây trồng cao và chất lượng sản phẩm tốt, không làm suy kiệt và ô nhiễm môi trường đồng thời người sản xuất lại thu được lợi nhuận cao
Tuy nhiên, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đã bị lạm dụng quá mức, nhiều loại thuốc đã bị cấm sử dụng hoặc không rõ nguồn gốc vẫn được lưu hành và sử dụng một cách tùy tiện Việc sử dụng phân bón hoá học mất cân đối, phân hữu cơ phân vi sinh dần bị quên lãng, thời gian bón, cách bón phân bừa bãi và mang tính tự phát không có cơ sở khoa học đã dẫn đến hậu quả làm ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái một cách nghiêm trọng, làm
Trang 11cho đất bị chua hóa, mặn hóa, mất khả năng sản xuất, Đối với cây trồng, nông sản, việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật với liều lượng lớn, không đảm bảo thời gian cách ly đã tạo ra dư lượng thuốc và phân bón trong rau quả, thực phẩm và tồn đọng lại trong đất theo chuỗi thức ăn nó ảnh hưởng tới sức khỏe con người, động vật, thủy sản,môi trường ,…(theo Ngô Thị Hồng Nhung_Tính cấp thiết của đề tài “ Tìm hiểu thực trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vậttrong sản xuất lúa tại huyện Yên Mô,tỉnh Ninh Bình”).
Nhân Thành là một xã có nền sản xuất nông nghiệp từ lâu, đặc biệt là trồng lúa nước Sản phẩm nông nghiệp mà xã sản xuất ra không chỉ phục vụ nhu cầu cho người dân trong vùng mà còn phục vụ nhu cầu cho các vùng lân cận khác.Tuy nhiên,việc sử dụng phân bón trong sản xuất lúa không phù hợp đã gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường ngày càng rõ rệt Vì vậy, quản lý và sử dụng phân bón là vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn nữa
Xuất phát từ vấn đề đó , tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Quản lý và sử dụng
phân bón trong sản xuất lúa trên dịa bàn xã Nhân Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An”.
b Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
• Đánh giá thực trạng sử dụng phân bón trong sản xuất lúa ở hai mùa vụ Đông Xuân và Hè Thu trên địa bàn xã Nhân Thành,huyện Yên Thành,tỉnh Nghệ An
• Thực trạng trong quản lý vỏ bao bì phân bón sau sử dụng trong sản xuất lúa trên địa bàn xã Nhân Thành,huyện Yên Thành,tỉnh Nghệ An
c Yêu cầu nghiên cứu của đề tài
•Các số liệu thu thập phân tích phải chính xác, trung thực
•Đưa ra các biện pháp phù hợp mang tính khả thi
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Trang 12Lúa gạo là một loại lương thực quan trọng đối với 3,5 tỷ người, chiếm 50% dân số thế giới Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới FAO năm
2015 sản lượng lúa gạo đạt 749,1 triệu tấn tăng 1% so với năm 2014 (741,8 triệu tấn) và có xu thế tăng trong những năm tiếp theo
Sản lượng lúa gạo tại châu Á chiếm tới 90,4% toàn thế giới, tức là 677,7 triệu tấn Tỷ lệ này vẫn đang liên tục tăng vì vấn đề dân số gia tăng ở khu vực này Theo thống kê, sản lượng lúa gạo cao chủ yếu nhờ sản lượng tăng mạnh tại Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Pakistan và Việt Nam Trong
đó, sản lượng lúa gạo của Việt Nam năm 2015 đạt tới 44,7 triệu tấn
Sản lượng lúa gạo tại Châu Phi đạt 28,7 triệu tấn, tăng 0,8% so với sản lượng năm 2014 Sản lượng tăng tại các nước Tây Phi đã bù đắp những thiếu hụt do sự suy giảm tại một nước ở Đông và Nam Phi
Tại vùng trung Mỹ và Caribe sản lượng lúa gạo duy trì ở mức ổn định 3 triệu tấn Vùng nam Mỹ sản lượng lúa gạo đạt 25,4 triệu tấn năm 2015 tăng 2,7% so với cùng kỳ năm 2014 Sản lượng lúa gạo tại châu Âu giữ ở mức ổn định đạt 4.1 triệu tấn năm 2015
(Nguồn bởi thantrau2015 ngày 5/9/2015)
Trang 13Biểu đồ 1.1 Sản lượng và diện tích trồng lúa gạo thế giới từ năm 2006 –
2015
(Nguồn bởi thantrau2015 ngày 5/9/2015)
1.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo tại Việt Nam
Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa có chiều dài bờ biển lên tới 3000km, địa hình phức tạp nhiều sông núi, do đó hình thành nhiều vùng canh tác lúa khác nhau Căn cứ vào điệu kiện tự nhiên, tập quán canh tác, sự hình thành mùa vụ và phương pháp gieo trồng, nghề trồng lúa nước được hình thành và chia ra là 3 vùng chính: đồng bằng sông Hồng, đồng bằng ven biển miền Trung và đồng bằng Nam Bộ
Trang 14Bảng 1.1.Diện tích lúa cả năm phân theo địa phương:
Đơn vị: 1000 ha
Cả nước 7655.4 7761.2 7902.5 7813.8Đồng bằng sông Hồng 1144.6 1138.7 1129.9 1122.8Trung du miền núi phía Bắc 670.8 678.0 689.2 689.2Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền
Trung 1228.8 1236.4 1230.4 1243.6Tây Nguyên 224.2 229.7 232.4 238.4Đông nam bộ 293.1 294.4 280.3 273.2Đồng bằng sông Cửu Long 4093.9 4184.0 4340.3 4246.6
( Nguồn Tổng cục thống kê của bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam)
Bảng 1.2.Năng suất lúa cả năm phân theo địa phương:
Đơn vị: Tạ/ha
Cả nước 55.4 56.4 55.7 57.6Đồng bằng sông Hồng 60.9 60.4 58.9 60 2Trung du miền núi phía Bắc 47.7 48.3 47.4 48.4Bắc Trung Bộ và Duyên hải
miền Trung
53.2 53.5 51.7 55.1
Tây Nguyên 47.6 49.6 49.5 52.1Đông Nam bộ 46.4 47.5 48.0 49.1Đồng bằng sông Cửu Long 56.8 58.1 57.5 59.4
( Nguồn Tổng cục thống kê của bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam)
Bảng 1.3.Sản lượng lúa cả năm phân theo địa phương:
Đơn vị : 1000 tấn
Cả nước 42398.5 43737 43990.2 44975.0
Trang 158Đồng bằng sông Hồng 6965.9 6881.3 6655.4 6756.8Trung du miền núi phía Bắc 3199.2 3271.1 3265.6 3334.4Bắc Trung Bộ và Duyên hải
miền Trung
6535.1 6727.2 6599.7 7057.2
Tây Nguyên 1067.7 1138.8 1151.2 1241.8Đông nam bộ 1361.2 1398.6 1346.1 1340.6Đồng bằng sông Cửu Long 23269.4 24320
8
24972.2 25244.2
(Nguồn Tổng cục thống kê của bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam)
1.2 Tổng quan về tình hình sử dụng phân bón cho cây lúa trên thế giới
và ở Việt Nam
1.2.1 Những khái quát chung về phân bón
Phân loại phân bón thường bón cho lúa:
Phân vô cơ: Phân vô cơ hay phân hóa học là các loại phân có chứa yếu
tố dinh dưỡng dưới dạng muối khoáng ( vô cơ) thu được nhờ các quá trình vật
lý, hóa học
Một số phân bón vô cơ thông dụng hiện nay:
Phân đạm vô cơ gồm có:
- Phân Urea [CO(NH4)2] có 46%N
- Phân đạm Sunphat còn gọi là đạm SA [(NH4)2SO4] chứa 21%N
- Phân Clorua Amon [NH4Cl] có chưá 24-25%N
Phân Lân:
- Phân Super Lân [Ca(H2PO4)2] có chứa 16-20% P2O5
- Phân Lân nung chảy chứa 16% P2O5
Phân Kali:
- Phân Clorua Kali (KCl) có chứa 60% K2O
- Phân Sunphat Kali (K2SO4) có chứa 48-50% K2O
Phân NPK hỗn hợp
Phân hữu cơ: Phân hữu cơ bao gồm các chất hữu cơ khi vùi vào đất
được vi sinh vật phân giải và có khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây.(
ví dụ: Phân bắc, nước giải, phân gia súc, phân gia cầm, phân xanh khi vùi trực tiếp vào đất
Phân vi lượng gồm các nguyên tố: Cu, Zn, Mn, B, Mo, Fe, Co chúng
được bón ở dạng đơn hoặc hỗn hợp
Trang 16Phân phức hợp vi sinh: gồm chế phẩm vi sinh, phân vi sinh, phân hữu
cơ vi sinh và phân phức hợp hữu cơ vi sinh
Phân bón lá: là hỗn hợp của một số phân đa lượng, phân vi lượng và
một số chất điều hòa sinh trưởng Loại phân này dùng để phun lên lá, hoa quả
là bổ sung chất dinh dưỡng vào trong đất để cho cây trồng hấp thu chất dinh dưỡng nuôi thân cây, lá, hoa quả một cách phù hợp, làm cho cây trồng phát triển tốt và sản phẩm đạt năng suất cao
Qua điều tra, tổng kết về vai trò của phân bón với cây trồng ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy: Trong số các biện pháp kỹ thuật trồng trọt liên hoàn (làm đất, giống, mật độ gieo trồng, BVTV ), bón phân luôn là biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng lớn nhất, quyết định nhất đối với năng suất
và sản lượng cây trồng Giống mới cũng chỉ phát huy được tiềm năng của mình, cho năng suất cao khi được bón đủ phân và bón hợp lý
Từ thực tiễn sản xuất ở các nước này cũng cho thấy: Không có phân hoá học thì không có năng suất cao Ở các nước có hệ thống nông nghiệp phát triển trong hơn 100 năm trở lại đây (từ khi bắt đầu sử dụng phân bón hoá học), việc sử dụng phân khoáng làm tăng hơn 60% năng suất cây trồng
Cách mạng xanh ở Ấn Độ: Năm 1950, khi nông dân Ấn Độ chưa biết dùng phân bón chỉ sản xuất được 50 triệu tấn lương thực/năm, bị thiếu đói trầm trọng Năm 1984 nhờ sử dụng 7,8 triệu tấn phân bón/năm đã đưa sản lượng lương thực lên 140 triệu tấn, khắc phục nạn đói triền miên cho Ấn Độ Kết quả điều tra của FAO trong thập niên 70 – 80 của thế kỷ 20 trên phạm vi toàn thế giới cho thấy: tính trung bình phân bón quyết định 50% tổng
Trang 17sản lượng nông sản tăng lên hàng năm và bón 1 tấn chất dinh dưỡng nguyên chất thì thu được 10 tấn hạt ngũ cốc
Ở các nước châu Á, Thái bình dương (1979 – 1989) phân bón làm tăng 75% năng suất lúa
Tổng kết về vai trò của các yếu tố kỹ thuật trong nông nghiệp hiện đại
ở Mỹ: Năng suất quyết định bởi 41% do phân khoáng, 15-20% do thuốc bảo
vệ thực vật, 15% do hoàn thiện các biện pháp kỹ thuật, 8% do chọn giống và tưới nước, 11-18% do các yếu tố khác
Năm 1997, kết quả điều tra ở Việt Nam tính trung bình phân bón làm tăng 38-40% tổng sản lượng, dự báo sẽ lớn hơn có thể tới 75% năng suất lúa
và bón 1 tấn dinh dưỡng nguyên chất thu được 13 tấn ngũ cốc
(nguồn vuonrausach.com.vn /vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp ngày 25/2/2014)
Trang 181.2.3 Ảnh hưởng của phân bón đến môi trường chịu tác động và đối với con người
Phân bón chính là những loại hóa chất nếu được sử dụng đúng theo quy định sẽ phát huy được những ưu thế, tác dụng đem lại sự màu mỡ cho đất đai, đem lại sản phẩm trồng trọt nuôi sống con người và gia súc Ngược lại nếu không được sử dụng đúng theo quy định, phân bón lại chính là một trong những tác nhân gây nên sự ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống
Theo số liệu tính toán của các chuyên gia trong lĩnh vực nông hóa học
ở Việt Nam, hiện nay hiệu xuất sử dụng phân đạm mới chỉ đạt được từ 45%, lân từ 40-45%, kali từ 40-50%, tùy theo chân đất, giống cây trồng, thời
30-vụ, phương pháp bón, loại phân bón Như vậy, còn 60-65% lương đạm tương đương với 1,77 triệu tấn ure, 55-60% lượng lân tương đương 2,07 triệu tấn supe lân và 55-60% lượng kali tương đương với 344 nghìn tấn Kali Clorua được bón vào đất nhưng chưa được cây trồng sử dụng
Trong số phân bón chưa được cây trồng sử dụng, một phần còn lại ở trong đất, một phần được rửa trôi theo nước mặt do mưa, theo các công trình thủy lợi ra các ao, hồ, sông, suối gây ô nhiễm nguồn nước mặt Một phần bị rửa trôi theo chiều dọc xuống tầng nước ngầm và một phần bị bay hơi do tác động của nhiệt độ hay quá trình phản nitrat hóa gây ô nhiễm không khí Trong
số đó phân do sản xuất lúa gây ra đối với việc ô nhiễm môi trường là vấn đề đáng được quan tâm nhất, vì hàng năm một lượng lớn phân bón được dành cho sản xuất lúa
Ảnh hưởng tới khí quyển
Ngoài những ảnh hưởng của công nghiệp, giao thông, hoạt động nông, lâm nghiệp có ảnh hưởng không nhỏ tới khí quyển Hiệu ứng lớn nhất
mà nông, lâm nghiệp tác động vào khí quyển là các khí thải CO, NO, CH4
Nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng
Bảng 1.4.Hàm lượng các kim loại nặng trong một số phân bón thông
thường (mg/kg)
Trang 19Nguyên tố Bùn thải hố xí chuồng Phân Phân lân Vôi Phân đạm
(Nguồn Lê Văn Khoa.2004 Sinh thái và môi trường đất.
NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội)
Làm thay đổi tính chất vật lý của đất
Bón phân hóa học liên tục trong nhiều năm sẽ dẫn tới hàm lượng mùn trong đất giảm xuống, phá vỡ kết cấu viên của đất Bởi vì kết cấu viên đất được hình thành do sự gắn kết các hạt đất lại với nhau bởi các axit mùn như humic và fulvic Kết cấu viên đất bị phá vỡ sẽ làm cho đất không còn tơi xốp, mất dần khả năng thấm nước, thấm khí và chai cứng lại Đây cũng là một yếu
tố dẫn tới sa mạc hóa đất nông nghiệp
Làm đất bị chua hóa
Một số loại phân trong thành phần của chúng có chứa một lượng axit
dư tự do (như supe lân, hoặc sulfat đạm có chứa axit sulfuric dư), khi bón vào đất cũng gây chua cho đất Ngoài ra khi tăng cường bón phân hóa học, rễ cây phải hô hấp mạnh để hấp thu dinh dưỡng, như vậy sẽ giải phóng nhiều CO2,
từ đó hình thành H2CO3, H+ ở bề mặt lông hút sẽ trao đổi vớ các catrion của dung dịch đất như K+, NH4+, hoặc Ca++ từ đó nó kết hợp với gốc Sunfat hoặc Clo của phân để hình thành lên axit gây chua cho đất.[10]
Làm thay đổi tính chất sinh học của đất
Bón phân hóa học cùng với việc sử dụng nhiều thuốc trừ sâu trừ cỏ sẽ dẫn tới hủy diệt hệ thống sinh học sống trong đất Các sinh vật sống trong đất như giun đất, vi sinh vật đất có vai trò cực kì quan trọng đối với các tính chất hóa học và lý học của đất
(Nguồn Lê Văn Khoa.2004 Sinh thái và môi trường đất
Trang 20NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội).
Phân bón đối với vệ sinh an toàn thực phẩm và sức khoẻ con người:
Dư thừa đạm trong đất hoặc trong cây đều gây nên những tác hại đối với môi trường và sức khoẻ con người Do bón quá dư thừa hoặc do bón đạm không đúng cách đã làm cho Nitơ và phospho theo nước xả xuống các thủy vực là nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm cho các nguồn nước Các chất gây ô nhiễm hữu cơ bị khử dần do hoạt động của vi sinh vật, quá trình này gây ra sự giảm oxy dưới hạ lưu Đạm dư thừa bị chuyển thành dạng Nitrat (NO3-) hoặc Nitrit (NO2-) là những dạng gây độc trực tiếp cho các động vật thuỷ sinh, gián tiếp cho các động vật trên cạn do sử dụng nguồn nước (Tabuchi and Hasegawa, 1995) Đặc biệt gây hại cho sức khoẻ con người thông qua việc sử dụng các nguồn nước hoặc các sản phẩm trồng trọt, nhất là các loại rau quả ăn tươi có hàm lượng dư thừa Nitrat Theo các nghiên cứu gần đây, nếu trong nước và thực phẩm hàm lượng nitơ và photpho, đặc biệt là nitơ dưới dạng muối nitrit và nitrat cao quá sẽ gây ra một số bệnh nguy hiểm cho người đặc biệt là trẻ em TS Lê Thị Hiền Thảo (2003) đã xác định, trong những thập niên gần đây, mức NO3- trong nước uống tăng lên đáng kể mà nguyên nhân là
do sự sử dụng phân đạm vô cơ tăng, gây rò rỉ NO3- xuống nước ngầm Hàm lượng NO3- trong nước uống tăng gây ra nguy cơ về sức khoẻ đối với cộng đồng Ủy ban châu Âu quy định mức tối đa của NO3-trong nước uống là 50 mg/l, Mỹ là 45 mg/l, Tổ chức y tế thế giới (WHO) là 100 mg/l Y học đã xác định NO2- ảnh hưởng đến sức khoẻ với 2 khả năng sau: gây nên chứng máu Methaemoglobin và ung thư tiềm tàng
Các nghiên cứu về y học gần đây đã xác định, dư thừa Phospho trong các sản phẩm trồng trọt hoặc nguồn nước làm giảm khả năng hấp thu Canxi vì chất này lắng đọng với Canxi tạo thành muối triphosphat canxi không hòa tan
và tạo thuận lợi cho quá trình sản xuất para thormon, điều này đã huy động nhiều Canxi của xương, và nguy cơ gây loãng xương ngày một tăng, đặc biệt
ở phụ nữ
Trang 21( theo nongnghiep1.com “ ảnh hưởng của việc sử dụng phân bón đến môi
trường và con người ngày 28/1/2015” )
1.2.4.Tình hình sử dụng phân bón cho cây lúa trên thế giới
Theo viện lúa quốc tế (IRRI),ủy ban lúa gạo quốc tế (IRC),Viện nghiên cứu nông hóa Mỹ khẳng định : Gần 50% năng suất lúa là do phân bón quyết định,còn 50 % là do yếu tố khác nhau như thuốc trừ sâu,giống mới,thủy lợi đầy đủ,…
Theo FAO trong thập niên 1969 – 1979 trên phạm vi toàn thế giới,trung bình phân bón quyết định 50% năng suất cây trồng,cứ bón 1 tấn các chất dinh dưỡng nguyên chất chính thì sản xuất được 10 tấn hạt ngũ cốc.(Theo tổ chức FAO)
Phân bón là một yếu tố quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp, từ khi biết sản xuất nông nghiệp loài người đã biết sử dụng phân bón và cây họ đậu
để cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Trong mấy thập kỷ vừa qua, năng suất cây trồng không ngừng được tăng lên, ngoài vai trò của giống mới còn có tác dụng quyết định của phân bón Giống mới chỉ phát huy được tiềm năng của mình – cho năng suất cao khi được bón đủ phân và hợp lý
Việc sử dụng phân bón cho cây lúa ở các khu vực trên thế giới là khác nhau tùy vào điều kiện tự nhiên và các loại giống lúa khác nhau.Các loại phân bón thường sử dụng cho cây lúa là phân hữu cơ (phân đạm,phân lân,phân kali),phân hữu cơ và phân vi sinh
Hiện nay,nhu cầu về phân bón vi sinh vật trên thế giới là rất lớn Đây là phương hướng tương lai của nông nghiệp để nhằm giảm bớt tác hại của việc
sử dụng không cân đối các loại phân hóa học, việc làm ô nhiễm môi trường và việc chi phí quá nhiều ngoại tệ để nhập khẩu phân bón vô cơ
1.2.5 Tình hình sử dụng phân bón cho cây lúa ở Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam là nước sử dụng phân bón tương đối cao so với những năm trước đây do người dân áp dụng được nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm canh Theo Vũ Hữu Yêm (1995), Viêt Nam hiện đang là một trong
20 quốc gia sử dụng phân bón cao nhất thế giới Mỗi năm nông dân Việt Nam
Trang 22đã sử dụng tới khoảng 5 triệu tấn phân bón vô cơ quy chuẩn không kể phân hữu cơ và các loại phân bón khác do các cơ sở tư nhân và các công ty TNHH sản xuất, cung ứng
Theo Nguyễn Văn Bộ,năm 2005, Bón phân cân đối và hợp lý, NXB Nông Nghiệp Hà Nội, mỗi năm nước ta sử dụng 1.202.140 tấn đạm, 456.000 tấn lân và 402.000 tấn kali, trong đó sản xuất lúa chiếm 62% Song do điều kiện khí hậu còn gặp nhiều bất lợi cho nên kỹ thuật bón phân mới chỉ phát huy được 30% hiệu quả đối với đạm và 50% hiệu quả đối với lân và kali Nhưng hiệu quả bón phân đối với cây trồng lại tương đối cao, do vậy mà người dân ngày càng mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Từ năm 1985 đến nay, mức tiêu thụ phân đạm tăng trung bình 7,2%/năm; phân lân tăng 13,9%/năm; riêng phân kali có mức tăng cao nhất là 23,9%/năm Tổng lượng sử dụng N + P2O5 + K2O trong 15 năm qua tăng trung bình 9,0%/năm và trong thời gian tới có xu hướng tăng mỗi năm khoảng 10% Trong 15 năm qua, ở các giai đoạn: 1985 – 1990; 1990 – 1995 và 1996 – 2001 lượng tiêu thụ phân kali ở Việt Nam tăng rất nhanh và liên tục Ở các giai đoạn 1985 – 1990; 1991 – 1995 và 1996 – 2001 mức tiêu thụ phân đạm tăng hàng năm là 10,3%; 16,7% và 8,2% tương ứng Như vậy trong 5 năm trở lại đây mức tăng tiêu thụ phân đạm đã giảm dần Ở 3 giai đoạn trên, mức tiêu thụ phân lân tăng hàng năm là 13,4%; 26,8%; 21,1% tương ứng và cũng có xu hướng giảm mức tăng như phân đạm
Hiện nay, ngành sản xuất phân hóa học nước ta mới đáp ứng được khoảng 45% nhu cầu của nông nghiệp, còn lại phải nhập khẩu gần như toàn
bộ phân đạm urê, kali và phân phức hợp DAP, một lượng khá lớn phân hỗn hợp NPK với tổng số trên 3 triệu tấn/năm Riêng đối với phân khoáng kali, do phải nhập khẩu hoàn toàn nên tiêu thụ kali ở nước ta bị phụ thuộc thị trường nước ngoài
(Theo Nguyễn Văn Bộ,năm 2005, Bón phân cân đối và hợp lý, NXB Nông Nghiệp Hà Nội)
Trang 231.3 Tổng quan về cách bón phân hợp lý cho cây lúa ở Việt Nam
1.3.1 Các loại phân bón sử dụng cho lúa
Lúa là cây trồng có phản ứng tốt với các loại phân hoá học nên bón phân hoá học cho lúa có hiệu quả cao Trong thâm canh lúa, bón phân hữu cơ chủ yếu nhằm ổn định mùn cho đất, tạo nền thâm canh nên có thể bón các loại phân hữu cơ khác nhau, kể cả rơm rạ sau khi thu hoạch
Các loại phân đạm thích hợp cho lúa là phân đạm amôn, urê Urê đang trở thành dạng phân đạm phổ biến đối với lúa nước vì có tỷ lệ đạm cao, lại rất thích hợp để bón trên các loại đất lúa thoái hoá Phân đạm nitrat có thể dùng bón thúc ở thời kỳ đòng, đặc biệt hiệu quả khi bón trên đất chua mặn
Đất chua trồng lúa, bón phân lân nung chảy thường cho kết quả ngang phân supe lân hay có thể cao hơn do trong điều kiện ngập nước cũng dễ cung cấp cho lúa mà lại ít bị rửa trôi và còn cung cấp cả Silic, là yếu tố dinh dưỡng cây lúa có nhu cầu cao Tuy nhiên nếu cần bón thúc lân và trồng lúa trên đất nghèo lưu huỳnh (đất bạc màu bón ít phân hữu cơ) thì phải dùng phân supe lân
Loại Kali thích hợp bón cho lúa là kali clorua có dạng tinh thể muối màu trắng xám lấm tấm hồng chứa 60% K2O cao hơn so với kali sunfat có màu trắng tinh khiết hoặc vàng tro chứa 46 – 52% K2O Bón tập trung kali vào đợt đón đòng cho hiệu quả cao nhất, trên đất xám, cát, gò rất cần bón thêm kali vào đợt lúa bén rễ, hồi xanh
Ngoài ra, còn thường sử dụng các loại phân tổng hợp như: NPK, S-Si, Đặc biệt tốt là các loại phân chuyên dùng bón cho lúa, phù hợp với điều kiện của từng vùng đất trồng sinh trưởng kém, có thể do nhôm hoà tan gây ra vì hiện tượng ngộ độc nhôm ít thấy trên các loại đất có pH trên 5,5 Mặt khác, sau khi đưa nước vào ruộng, đất có thể bị chua hơn, nên bón vôi
NPK-là biện pháp quan trọng ở đất lúa nước quá chua và việc bón vôi phải được kết hợp với một chế độ bón phân hợp lý thì mới thu được kết quả mong muốn nhất
(nguồn http://phanbonhanoi.vn cay-lua)
Trang 24/tai-lieu-tham-khao/quy-trinh-bon-phan-cho-1.3.2 Lượng phân bón cho lúa ở các vùng trồng lúa chính
Liều lượng phân chuồng thường bón 7 – 10 tấn /ha, vụ mùa nên bón nhiều hơn Liều lượng phân khoáng bón cho lúa phụ thuộc vào năng suất kế hoạch (đặc điểm của giống, loại hình cây), độ phì của đất, các điều kiện khí hậu và khả năng cân đối với các loại phân khác Giống lúa lai năng suất cao cần bón nhiều hơn so với giống lúa thuần, lúa địa phương, lúa vụ xuân thường bón nhiều hơn lúa vụ mùa, trồng lúa trên đất có độ phì cao cần bón giảm lượng phân bón
Do hệ số sử dụng phân đạm của cây lúa không cao nên lượng đạm bón cần phải cao hơn nhiều so với nhu cầu Lượng đạm bón dao động từ 60 – 160
kg /ha Với trình độ thâm canh hiện nay để đạt được 5 – 6 tấn thóc/ha cần bón
90 – 120 kg N/ha Tuy nhiên, trên đất có độ phì trung bình, để đạt được 6 tấn thóc/ ha cần bón 160kg N/ha Trên đất phù sa sông Hồng, để đạt được năng suất trên 7 tấn thóc/ha cần bón 180 – 200kg N/ha Các nước có năng suất bình quân cao trên thế giới (5 – 7 tấn thóc /ha) thường bón từ 150 – 200 kg N/ ha
Lượng phân lân bón cho lúa dao động từ 30 – 100 kg P2O5/ha, thường bón 60 kg P2O5/ha Đối với đất xám bạc màu có thể bón 80 – 90 kg P2O5/ha, đất phèn có thể bón 90 – 150 kg P2O5 /ha
Lượng phân kali bón cho lúa phụ thuộc chủ yếu vào mức năng suất và khả năng cung cấp kali của đất Các mức bón trong thâm canh lúa trung bình
là 30 – 90 kg K2O/ha, mức bón trong thâm canh lúa cao là 100 – 150 kg
K2O/ha, trong đó kali của phân chuồng và rơm rạ có hiệu suất không kém gì kali trong phân hoá học Trên đất phù sa sông Hồng khi đã bón 8 – 10 tấn phân chuồng/ha thì chỉ nên bón 30 – 90 kg K2O/ha phân kali khoáng, ngay cả trong điều kiện thâm canh lúa cao (Nguyễn Như Hà, 1999)
1.3.3 Phương pháp bón phân cho lúa
Phương pháp bón lót: Đối với các loại phân hữu cơ và vô cơ khó tan.Phương pháp bón thúc: Đối với các loại phân vô cơ dễ tan cây dễ hấp thu Hiện nay có một số nơi dùng toàn bộ lượng phân để bón lót Bón lót có
ưu điểm là ít tốn công nhưng cây không thể sử dụng hết chất dinh dưỡng ngay
Trang 25một lúc nên dễ bị rửa trôi mất phân Bón lót kết hợp bón thúc thì hiệu quả sử dụng phân bón cao hơn nhưng tốn công Tuỳ điều kiện của từng địa phương
mà người ta có thể sử dụng phương pháp bón khác nhau nhưng xu hướng chung là giảm số lần bón song vẫn đảm bảo được năng suất để giảm số công đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cơ giới hoá
Cách bón Thường bón vào đất hay hoà vào nước để tưới
Có thế dùng để phun qua lá thường sử dụng đối với các loại phân vi lượng phương pháp này thường tiết kiệm được phân bón, thời gian, sức lao động nhưng đòi hỏi hiểu biết và kỹ thuật cao
Trang 26* Bón phân lót cho lúa
Trong bón phân cho lúa thưởng bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân, một phần phân đạm và kali Thường bòn lót phân chuồng trong quá trình làm đất, phân lân và kali cùng với đạm bón trước khi cầy bừa lần cuối
Cây lúa hút khá nhiều lân trong các giai đoạn sinh trưởng đầu và giai đoạn cây con, do vậy phân lân cần được bón lót toàn bộ hoặc bón lót và bón thúc sớm Phân lân nên bón rải đều trên mặt ruộng trước khi cầy bừa lần cuối
để gieo cấy
Nên bón lót nhiều phân kali trong các trường hợp sau: Trồng giống lúa
đẻ nhánh nhiều hay giống lúa ngắn ngày, lúa có hiện tượng bị ngộ độc sắt, đất
có khả năng hấp thu cao hay thiếu kali, ngập nước sâu, khí hậu lạnh Trong thực tiễn còn chia kali ra bón làm nhiều lần, do lúa là cây có yêu cầu cung cấp kali vào giai đoạn rễ lúa ăn nổi trên bề mặt đất - cuối đẻ nhánh đến đầu làm đòng, kali cung cấp từ đất và nước tưới thường giảm đi ở giai đoạn đẻ nhánh của cây lúa
Thường dành 1/3/-2/3 tổng lượng N để bón lót cho cây lúa, tỷ lệ phân dùng để bón lót cho cây lúa tuỳ thuộc vào tính chất đất, độ sâu cày bừa, điều kiện khí hậu, thời gian sinh trưởng của cây lúa Cần bón lót nhiều đạm hơn khi cấy bằng mạ già, các giống ngắn ngày, lúa chét
* Phân bón thúc đẻ nhánh
Bón thúc đẻ nhánh cho lúa thường bón bằng phân đạm hay phối hợp thêm với phân lân (nếu còn chưa bón lót hết) Thời gian bón thúc đẻ nhánh vào khoảng 18-20 ngày sau khi gieo hoặc sau khi lúa bén rễ và hồi xanh, vào khoảng 10- 20 ngày sau cấy (tuỳ vào mùa vụ, điều kiện thời tiết) khi cây lúa bắt đầu đẻ nhánh
Trên đất phèn và đất quá chua, khả năng cố định lân của đất rất mạnh thì bón thúc lân cho lúa là cần thiết vì vừa nhằm hạ độ phèn và độc tố trong đất, vừa cung cấp dinh dưỡng lần cho lúa Việc kết hợp bón lót và bón thúc một phần phân lân hoà tan trong nước cho lúa làm tăng hiệu quả sử dụng
Trang 27phân bón Khi bón thúc nên dùng các dạng lân hạt để tránh bám dính gây cháy lá.
Thường dành 1/2 -2/3 lượng N còn lại để bón thúc đẻ nhánh nhằm làm cho lúa đẻ nhánh nhanh, tập trung và cũng để giảm lượng phân lót, tránh mất đạm Cần bón thúc đẻ nhánh nhiều đạm cho lúa trong các trường hợp: Cấy giống dài ngày hay đẻ nhánh nhiều, mật độ gieo cấy hoặc cấy dày, nhiệt độ khi gieo cấy cao
Đối với những giống lúa cực ngắn ngày, lúa mùa cần phải bón thúc đẻ nhánh sớm hơn, còn đối với giống lúa dài ngày, lúa xuân có thể bón thúc muộn hơn, do thời kỳ sinh trưởng đầu của cây lúa bị kéo dài
Bón thúc đạm cho lúa tốt nhất là bón sau khi rút nước ruộng do có thể làm tăng gấp đôi hiệu lực của phân bón so với ruộng có nhiều nước Không nên rút nước quá một ngày trước khi bón thúc vì việc rút nước trong một thời gian dài thúc đẩy cỏ dại phát triển và làm mất đạm, đồng thời ruộng sau khi bón phân phải được đưa nước vào ngay sau một ngày bón đạm
* Bón thúc đòng cho lúa
Thường sử dụng phối hợp phần phân đạm và kali còn lại nhằm tiếp tục cung cấp đạm cho lúa để tạo được bông lúa to, có nhiều hạt chắc nâng cao hệ số kinh tế cho cây lúa, đạt năng suất cao Bón thúc đòng tốt nhất là bón sau khi phân hoá đòng vào khoảng 40-45 ngày sau khi gieo, cấy
Khi bón ít đạm, thì bón thúc đòng là một kỹ thuật quan trọng để nâng cao hiệu suất phân đạm và là thời kỳ bón đạm có hiệu quả nhất Những giống
đẻ nhánh ít, bông to, năng suất dựa vào số hạt trên bông thì cần phải chú trọng vào đợt bón đón đòng và nuôi hạt để tạo được bông to, nhiều hạt chắc, đạt năng suất cao
Bón lót càng nhiều, lúa sinh trưởng tốt thì thời gian bón đón đòng càng muộn và càng ít Đối với những giống lúa mùa có thời gian sinh trưởng dài (120 -150 ngày), cần bón thúc đòng muộn hơn Cần dùng mắt đánh giá tình hình sinh trưởng và màu lá trong thời kỳ đẻ rộ để phán đoán nhu cầu bón thúc đòng Khi bón lót được nhiều cũng có khi không cần bón thúc đẻ nhánh, mà
Trang 28chỉ cần bón ở thời kỳ đòng Bón đủ lót và thúc đẻ nhánh có thể không bón đón đòng Hiện này trong chiến lược “ba giảm, ba tăng” người ta căn cứ vào màu lá lúa để quyết định việc bón thúc phân đạm cho lúa Ngoài ra cũng có thể dựa vào việc chuẩn đoán lá để xác định nhu cầu bón phân cho lúa.
Phân kali sử dụng để bón thúc đòng cho lúa rất tốt đặc biệt cần lưu ý các trường hợp sau: giống đẻ nhánh từ trung bình đến ít hay giống dài ngày, gieo cấy thưa, đất có điện thế oxy hoá khử rất cao, thành phần cơ giới rất nhẹ, hay trên đất phèn (thiếu lân và ngộ độc sắt) đất thiếu kẽm, lân bị cố định cao hay mưa nhiều
* Phân bón nuôi hạt
Sau khi lúa trỗ hoàn toàn có thể bón nuôi hạt bằng cách phun phân bón
lá 1-2 lần nhằm tăng số hạt chắc, tăng năng suất Đây là thời kỳ bón phân có hiệu quả rõ khi trồng lúa trên đất thành phần cơ giới nhẹ, có khả năng cung cấp dinh dưỡng và giữ phân kém
(nguồn http://phanbonhanoi.vn cay-lua)
/tai-lieu-tham-khao/quy-trinh-bon-phan-cho-1.3.4 Vấn đề bón phân cân đối cho lúa
Bón phân cân đối cho lúa là tuỳ theo yêu cầu của cây lúa về các chất dinh dưỡng và khả năng đáp ứng từng loại chất dinh dưỡng cho cây lúa của đất trồng lúa cụ thể mà bón phân Căn cứ định lượng phân bón cho lúa:
Vụ mùa, hè thu (mùa mưa) lượng đạm bón cần ít hơn so với vụ đông xuân Vụ hè ở các tỉnh phía Nam do nắng nóng, đất chua nhiều, phèn bốc mạnh nên cần bón nhiều lân so với vụ đông Xuân và Thu đông
Khi hàm lượng kali trong nước tưới cao (chẳng hạn phù sa nhiều) thì bón kali với lượng thấp và ngược lại Đất nhẹ cần bón nhiều kali hơn đất nặng; đất phù sa bón kali ít hơn đất xám; đất bạc màu, đất cát và đất xám do hàm lượng kali thấp nên cần bón nhiều hơn so với các loại đất khác Trên đất này do hàm lượng hữu cơ và sét thấp nên phải chia phân ra nhiều lần bón hơn
để giảm thất thoát phân bón
Trang 29Đất phèn, đất trũng nghèo lân lại có nhiều sắt nhôm di động gây độc,
do đó cần phải bón nhiều phân lân hơn các loại đất khác, nhằm giảm độ độc của sắt, nhôm và cung cấp lân cho cây lúa
Trong rất nhiều trường hợp, hiện tượng đổ là một nhân tố không cho phép được bón cho lúa đến lượng đạm tối đa Nếu cây lúa đổ trước khi trỗ, năng suất có thể giảm 50 -60% Giống lúa mới thấp cây có khả năng chống đổ tốt, lượng đạm bón tối thích cao hơn nhiều
Nếu vừa thu hoạch hạt thóc, vừa lấy rơm rạ khỏi đồng ruộng thì phân bón nhiều hơn, đặc biệt là phân kali, do khá nhiều kali bị lấy đi khỏi đồng ruộng theo rơm rạ, nhưng nếu không lấy rơm rạ khỏi đồng ruộng thì chỉ khoảng 5% lượng kali bị lấy đi theo sản phẩm thu hoạch qua hạt Khoáng trong đất, rạ và nước tưới là nguồn kali cung cấp cho cây
Ở đất nhẹ nhiều cát cây cần nhiều kali hơn, đồng thời các giống năng suất cao cần nhiều kali hơn
( nguồn phanbonhanoi.vn/quytrinhbonphanchocaylua)
1.4 Tổng quan về tình hình sản xuất lúa trên địa bàn xã Nhân Thành
Xã Nhân Thành là một xã thuần nông, người dân sống chủ yếu dựa nông nghiệp là chính mà cây lúa đóng vai trò là cây trồng chính Trong những năm gần đây có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng mạnh mẽ Người dân đã áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đưa nhiều loại giống mới
có năng suất cao, phù hợp với địa phương vào sản xuất Bên cạnh đó thì sự quan tâm, chỉ đạo sát với thực tế của chính quyền xã Vì vậy mà năng suất lúa trên địa bàn xã không ngừng tăng lên, đời sống người dân từng bước ổn định
và ngày càng được nâng cao
Qua điều tra tại địa phương thì tôi nhận thấy vụ đông xuân thì người dân chủ yếu sử dụng các loại giống lúa dài ngày mà trong đó cây lúa lai là chính Vụ hè thu thì giống lúa ngắn ngày như khang dân được ưa thích hơn Nếu thời tiết thuận lợi, đầu tư thâm canh tốt thì năng suất vụ đông xuân có thể đạt 3 tạ/sào, vụ hè thu thì thấp hơn
Hơn 85% diện tích đất trồng lúa là đất thịt nên rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp mà đặc biệt là cây lúa Bên cạnh đó thì hệ thống thủy
Trang 30lợi được đầu tư tốt, nạo vét thường xuyên và nguồn nước đảm bảo cho cây lúa phát triển Đây cũng là một trong những nhân tố thuận lợi giúp cho cây lúa phát triển tốt.
Bên cạnh những thành tựu đạt được thì sản xuất lúa trên địa bàn xã còn tồn tại những hạn chế sau:
Việc tập huấn kỹ thuật cho người dân còn nhiều hạn chế, các loại giống
có chất lượng gạo tốt để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường được trồng với diện tích còn hạn chế Trình trạng người dân lạm dụng phân bón vô
cơ rất phổ biến làm ảnh hưởng tới độ phì nhiêu của đất
Sâu bệnh phá hoại mùa màng ngày càng diễn biến phức tạp và phát triển rất nhanh thành những ổ dịch lớn làm ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng lúa Bên cạnh đó thì lũ lụt, hạn hán xảy ra thường xuyên làm ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân địa phương
Vài năm trở lại đây, giá phân bón liên tục tăng cao làm ảnh hưởng tới mức đầu tư của các hộ trồng lúa vì vậy năng suất lúa chưa tương xứng với tiềm năng của xã
1.5 Tổng quan về tình hình quản lý và sử dụng phân bón cho cây lúa trên địa bàn xã Nhân Thành
Qua điều tra thì cả xã có 16 thôn xóm,mỗi xóm có từ 2-3 cơ sở chuyên cung cấp các loại phân bón cho người nông dân phục vụ cho sản xuất lúa và các loại rau màu khác.Bên cạnh đó,chính quyền xã cũng có hai hợp tác xã cung cấp phân bón cho dân trong xã nhưng từ năm 2015,hợp tác xã đã ngừng cung cấp phân bón cho các hộ nông dân trong xã,chủ yếu là do các cửa hàng địa phương cung ứng cho các hộ nông dân.Chính quyền xã cũng tổ chức các cuộc họp cán bộ xóm để phổ biến về cách bón phân cho cây lúa,các loại phân
uy tín để bón cho cây lúa.Chính quyền xã thỉnh thoảng cho cán bộ đi kiểm tra
về cách bón phân cho cây lúa của các hộ nông dân trong xã.Diện tích sản xuất lúa cảu xã năm 2015 là 556 ha,số hộ sản xuất lúa trong xã là 2163 hộ.Các loại phân bón được sử dụng co sản xuất vụ lúa là đạm ure,lân kali,phân NPK tổng hợp và phân chuồng.Mỗi thời kỳ phát triển của cây lúa thì lượng phân bón sẽ
Trang 31khác nhau,tùy vào nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa.Các giống lúa thường được gieo cấy ở mỗi mùa vụ là lúa nếp,lúa lai và lúa thuần.
Trang 32
CHƯƠNG 2.
ĐỐI TƯỢNG,PHẠM VI,NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý và sử dụng phân bón trong sản xuất lúa trên địa bàn xã Nhân Thành,huyện Yên Thành,tỉnh Nghệ An
2.2 Phạm vi nghiên cứu
•Phạm vi không gian : khu vực xã Nhân Thành,huyện Yên Thành,tỉnh Nghệ An
•Phạm vi thời gian thực tập: 5 tháng ( từ tháng 1/2016 đến tháng 5/2016)
•Thời gian của các vụ lúa: vụ Đông Xuân từ cuối tháng 1 đến tháng 5,vụ
Hè Thu từ tháng 6 đến tháng cuối tháng 9)
2.3 Nội dung nghiên cứu
•Điều kiện tự nhiên,kinh tế - xã hội của xã Nhân Thành
•Tình hình sản xuất lúa của xã
•Tình hình sử dụng phân bón cho sản xuất lúa trên địa bàn xã
•Tình hình quản lý phân bón trên địa bàn xã
•Thực trạng quản lý bao bì phân bón sau sử dụng
•Nhận thức của người dân về ảnh hưởng của phân bón đến môi trường
và sức khỏe con người
2.4 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Dữ liệu
•Dữ liệu thứ cấp:
Thu thập thông tin từ các tài liệu có sẵn,đã công bố,các bài viết liên quan đến vấn đề nghiên cứu,… về đặc điểm của xã,diện tích sản xuất lúa của xã, số hộ sản xuất lúa trong xã,quy mô sản xuất,sản lượng thu hoạch chung các loại phân bón sử dụng trong sản xuất lúa,tình hình quản lý và sử dụng phân bón trong xã,năng suất lúa mooic mùa vụ qua các năm,tỷ lệ lao động,các vấn đề môi trường do sử dụng phân bón trong sản xuất lúa gây nên,số lượng các đại lý phân phối phân bón và các loại phân bón ,…
•Dữ liệu sơ cấp:
Thu thập được do tiến hành điều tra khảo sát và phỏng vấn các hộ nông dân,các đại lý phân phối phân bón trong xã: