1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Bao cao ro phi thuy san 1

127 144 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, cá rô phi được di nhập từ thập kỷ 1970s, đến nay các nghiên cứu từsản xuất giống đến nuôi thương phẩm đã đạt kết quả tốt và đưa vào ứng dụng trong sảnxuất.. Cá rô phi trở thà

Trang 1

DANH SÁCH BẢNG i

DANH SÁCH HÌNH i

PHỤ LỤC i

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT i

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Sự cần thiết nghiên cứu 1

2.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.3 Nội dung nghiên cứu 2

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điểm sinh học cá rô phi 3

2.2 Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống 4

2.2.1 Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống thế giới 4

2.2.2.Tình hình nghiên cứu, sản xuất cá giống cá rô phi ở Việt Nam 8

2.3 Nghiên cứu dinh dưỡng và sản xuất thức ăn nuôi cá rô phi 10

2.3.1 Nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cá rô phi 10

2.3.2 Sử dụng thức ăn nhân tạo 12

2.4 Nuôi cá rô phi trong ao đất 13

2.4.1 Phương thức nuôi cá rô phi 13

2.4.2 Hình thức nuôi cá rô phi 15

2.4.3 Nuôi cá rô phi trong hệ thống VAC 16

2.4.4 Bón phân cho ao nuôi cá rô phi 17

2.5 Sản lượng nuôi cá rô phi trên thế giới và Việt Nam 19

2.6 Thị trường tiêu thụ cá rô phi 24

2.6.1 Thị trường Mỹ 24

2.6.2 Thị trường Châu Âu 26

2.6.3 Thị trường tiêu thụ cá rô phi Việt Nam 27

2.6.4 Giá cá rô phi trên thế giới 28

CHƯƠNG 3 PHUƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

3.1 Thời gian nghiên cứu 29

3.2 Chọn điểm nghiên cứu 29

3.3 Đối tượng điều tra 29

3.4 Phương pháp thu thập số liệu 30

3.4.1 Thu thập số liệu sơ cấp 30

3.4.2 Phương pháp điều tra thực địa 30

Trang 2

3.5 Xử lý số liệu 31

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 32

4.1 Điều kiện tự nhiên, hiện trạng kinh tế xã hội vùng nghiên cứu 32

4.1.1 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu 32

4.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu thời tiết 32

4.1.1.2 Đất đai 33

4.1.1.3 Sông ngòi, thuỷ văn 33

4.1.1.4 Cơ sở hạ tầng 36

4.1.2 Hiện trạng kinh tế xã hội 36

4.1.2.1 Tình hình kinh tế 36

4.1.2.2 Tình hình xã hội 37

4.1.2.3 Dân số, lao động 38

4.2.Tiềm năng, các chính sách phát triển nuôi trồng thuỷ sản tỉnh Hải Dương 38

4.2.1 Tiềm năng nuôi thủy sản 38

4.2.1.1 Tiềm năng mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 38

4.2.1.2 Tiềm năng về thức ăn, phân bón cho nuôi cá rô phi 40

4.2.2 Chính sách phát triển nuôi trồng thuỷ sản 41

4.3 Hiện trạng nuôi thuỷ sản và nuôi cá rô phi 43

4.3.1 Hiện trạng phát triển nuôi trồng thuỷ sản 43

4.3.1.1 Diện tích nuôi thủy sản 43

4.3.1.2 Năng suất, sản lượng nuôi thủy sản 47

4.3.2 Hiện trạng nuôi cá rô phi ở Hải Dương 48

4.3.2.1 Diện tích, sản lượng nuôi cá rô phi 48

4.3.2.2 Diện tích nuôi cá ở nông hộ 49

4.3.2.3 Các dạng mô hình nuôi và sử dụng thức ăn trong nuôi cá rô phi 49

4.3.2.4 Một số thông số kỹ thuật nuôi cá rô phi 51

4.3.2.5 Hiệu quả nuôi cá rô phi thương phẩm 56

4.3.3 Tình hình sản xuất và thị trường cá giống cá rô phi 59

4.3.3.1 Hiện trạng sản xuất cá giống cá rô phi đơn tính tại Hải Dương 59

4.3.3.2 Hiện trạng cơ sở vật chất, nhân lực các cơ sở sản xuất cá giống tại tỉnh 60

4.3.3.3 Thị trường cá rô phi giống 61

4.4 Tình hình tiêu thụ cá rô phi 64

4.4.1 Hệ thống tiêu thụ 64

4.4.2 Giá và biến động giá bán cá rô phi thương phẩm tại ao nuôi 67

4.4.3 Dự đoán giá cá thương phẩm trong những năm tới 69

4.5 Tình hình sản xuất, dịch vụ cung cấp thức ăn nuôi cá rô phi 70

4.6 Bệnh dịch và biện pháp phòng trừ 72

4.7 Khả năng đầu tư của người dân và tham gia đào tạo tại chỗ về nuôi trồng thuỷ sản 72

4.8 Thuận lợi, khó khăn 73

Trang 3

4.8.1 Thuận lợi 73

4.8.2 Khó khăn 76

4.9 Định hướng phát triển nuôi cá rô phi 77

4.9.1 Chủ trương của tỉnh 77

4.9.2 Định hướng phát triển nuôi cá rô phi ở Hải Dương 78

4.10 Giải pháp thực hiện 85

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN, ĐÊ XUẤT 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 101

Trang 4

DANH SÁCH BẢNG

DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1 Sản lượng cá rô phi trên thế giới từ năm 1984- 2003 [48] 20

Hình 2.2 Sản lượng cá rô phi của một số nước năm 2003 [48] 23

Hình 2.3 Sản lượng các loại sản phẩm cá rô phi nhập khẩu vào Mỹ năm 1992- 2004 [48] 26

Hình 2.4 Giá các sản phẩm cá rô phi trên thế giới từ năm 1992- 2004 [49] 28

Trang 5

PHỤ LỤC

Trang 6

NCNTTS 1: Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1

Trang 7

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU1.1 Sự cần thiết nghiên cứu

Cá rô phi, có nguồn gốc từ Châu Phi, thuộc họ Cichlidae, bộ cá VượcPerciformes Hiện nay có tới 80 loài có tên là rô phi với có 10 loài có giá trị kinh tế

trong nuôi trồng thuỷ sản Trong đó, rô phi vằn (Oreochromis niloticus), rô phi xanh (O aureus), rô phi đen (O mossambicus) và rô phi hồng (Oreochromis sp) là những

loài nuôi phổ biến Trong những thập kỷ gần đây, cá rô phi vằn đã được nuôi rộng rãi ởnhiều nước nhiệt đới, cận nhiệt đới và cả những nước ôn đới Đây là loài có tốc độ tăngtrưởng nhanh, có khả năng thích nghi rộng rãi với môi trường nước ngọt, lợ Rô phi

vằn (O niloticus) được nuôi trong ao, đầm, lồng trên sông, hồ chứa, ruộng Rô phi vằn

cũng được nuôi đơn và nuôi ghép với các loài cá khác trong ao Chúng là một trong 10loài cá nước ngọt quan trọng đang được nuôi trên thế giới [20]

Ở Việt Nam, cá rô phi được di nhập từ thập kỷ 1970s, đến nay các nghiên cứu từsản xuất giống đến nuôi thương phẩm đã đạt kết quả tốt và đưa vào ứng dụng trong sảnxuất Cá rô phi trở thành đối tượng nuôi nước ngọt có tiềm năng suất khẩu, được BộThuỷ sản quan tâm phát triển thông qua các chương trình như: Đề án “Phát triển nuôi

cá rô phi thời kỳ 2003- 2010”, Gần đây nhất Bộ đã phê duyệt Chương trình Quy hoạchphát triển nuôi cá rô phi giai đoạn 2006- 2015

Hải Dương là tỉnh thuộc khu vực Đồng Bằng Bắc Bộ với diện tích đất tự nhiêncủa tỉnh 1.662 km2, trong đó tiềm năng mặt nước nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) gần11.000 ha bao gồm diện tích ao, hồ, ruộng trũng, bãi ven sông Phong trào chuyển đổi

cơ cấu nông nghiệp sang nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh phát triển mạnh, tạo thành nhữngvùng nuôi có diện tích tập trung lớn Theo số liệu thống kê, diện tích NTTS của tỉnhnăm 2002 là 7.745 ha đã tăng 8.935,31 ha năm 2005 [9], [10]

Ngoài nuôi các đối tượng cá truyền thống (trắm, chép, trôi, mè), nuôi ba ba,phong trào nuôi cá rô phi ở đây cũng phát triển tương đối mạnh Bên cạnh đó, Hải

Trang 8

Dương đã thực hiện Chương trình cá giống mới và Dự án Nghiên cứu ứng dụng mô hình sản xuất tập trung cá rô phi hướng tới xuất khẩu do Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng

Thuỷ Sản 1 (NCNTTS 1) thực hiện nhằm đưa cá rô phi vào nuôi, nâng cao năng suất,sản lượng NTTS tại địa phương Kết quả hoạt động 2 dự án đã tạo ra phong trào nuôi

cá rô phi tại Hải Dương

Tuy nhiên, NTTS tại Hải Dương cũng như nuôi cá rô phi còn gặp nhiều khókhăn về định hướng, cơ sở hạ tầng phục vụ NTTS một số vùng nuôi; hệ thống thuỷ lợi,đường giao thông và hệ thống điện còn yếu kém xây dựng theo hướng tự phát, sản xuất

cá rô phi giống trong tỉnh vẫn chưa đáp ứng nhu cầu đầu vụ nuôi Trong tương lai sảnlượng thuỷ sản, sản lượng cá rô phi, tiếp tục tăng dẫn đến nguy cơ khó khăn trong tiêuthụ sản phẩm Để phát triển nuôi cá rô phi tại Hải Dương có hiệu quả và bền vững

trong giai đoạn tiếp theo Chúng tôi tiến hành đề tài “Điều tra hiện trạng nuôi cá rô phi và xây dựng định hướng phát triển tại tỉnh Hải Dương giai đoạn 2007- 2015 ’’

2.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá hiện trạng nuôi cá rô phi tại Hải Dương

Đề xuất một số định hướng và giải pháp phát triển nuôi cá rô phi tại Hải Dương giai đoạn 2007- 2015

2.3 Nội dung nghiên cứu

1 Đặc điểm tự nhiên và hiện trạng kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương

2 Tiềm năng, hiện trạng NTTS, nuôi cá rô phi tại tỉnh Hải Dương

3 Đề xuất một số định hướng và giải pháp phát triển nuôi cá rô phi tỉnh HảiDương trong giai đoạn 2007- 2015

Trang 9

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điểm sinh học cá rô phi

Cá rô phi có nguồn gốc Châu Phi, đến nay chúng được phân bố trên 100 quốcgia trên thế giới [36] Cá rô phi là tên gọi chung khoảng 80 loài, nhưng chỉ có khoảng

10 loài có giá trị trong nuôi trồng (Schoenen 1982: Pullin, 1983: Pillay 1988) Theothống kê FAO (2002) [45], trong mấy thập kỷ gần đây có 3 loài phổ biến; cá rô phi vằn

(Oreochromis niloticus), cá rô phi xanh (Oreochromis aureus), cá rô phi đen (Oreochromis mosambica), sản lượng rô phi thế giới của 3 loài này chiếm chủ yếu,

trong đó sản lượng rô phi vằn chiếm tới 83% tổng sản lượng cá rô phi trên thế giới Cá

rô phi vằn được coi là loài có nhiều ưu điểm bởi chúng có khả năng thích nghi với cácđiều kiện môi trường nước khác nhau chịu được chất lượng môi trường nước kém nhưnước thải, ít bị bệnh dịch, chất lượng thịt thơm ngon [36], [68], [74] Đặc biệt, chúng

có khả năng chịu điều kiện môi trường oxy hoà tan thấp [38]

Tính ăn: Cá rô phi là loài ăn tạp, thức ăn của chúng chủ yếu thực vật phù du; tảo lục,

tảo lam, động vật phù du, mùn bã hữu cơ, ấu trùng côn trùng, động vật đáy [55], [82].Trong điều kiện nuôi, người ta bổ dùng thức ăn nhân tạo; ngô, sắt, cám gạo bột cá vàthức ăn công nghiệp

Nhu cầu oxy hoà tan(DO): Cá rô phi có thể chịu được mức oxy hoà tan 0,1mg/lít [61].

Khi DO trong nước dưới 1mg/lít chúng có thể sử dụng oxy trong không khí [39] Tuynhiên, tỷ lệ sống của cá giảm sẽ phụ thuộc thời gian kéo dài trong tình trạng oxy hoàtan trong nước thấp Cá rô phi sống được trong bể nước có giá trị DO 1,2mg/l trongthời gian 36 giờ nếu nước được duy trì chất lượng tốt [36]

Nhiệt độ: Là yếu tố vật lý ảnh hưởng lớn đến hoạt động trao đổi chất trong cơ thể cá,

tăng trưởng, phát triển và các hoạt động sinh lý khác của cá, nhiệt độ giới hạn cá rô phi

Trang 10

từ 11- 42oC Nhiệt độ thích hợp cho tăng trưởng của trong khoảng 20 -35oC, nhiệt độtối ưu cho sự sinh trưởng, phát triển của cá khoảng 28- 30oC [36].

pH: pH ảnh hưởng tính độc của amonia, nitrit và Hydrogen sulfphile pH qúa cao hoặc

quá thấp đều ảnh hưởng tới sức khoẻ cá Ngưỡng pH giới hạn của cá rô phi từ 4- 11 đốivới cá rô vằn [39] Ngưỡng pH thích hợp 6,5- 9 [75]

Ammonia và Nitrite: Trong nước Ammonia tồn tại 2 dạng NH3 và NH4+ và được gọi làAmmonia Nitrogen tổng số Sự chuyển hoá Ammonia ở 2 dạng NH3 và NH4 phụ thuộc

độ pH và nhiệt độ của nước, hàm lượng NH3 tăng cao khi pH và nhiệt độ nước tăngcao Ammonia ở dạng NH4 không gây độc cho thuỷ sinh vật, trừ khi hàm lượng quácao Ammonia ở dạng NH3 gây độc cho cá, tôm Nồng độ ammonia gây độc cho cá phụthuộc DO và tình trạng sức cá, khi DO trong nước thấp thì NH3 gây độc cho cá vớinồng độ thấp, cá có thể chết ở nông độ ammonia 0,5mg/l [36]

Đặc điểm sinh sản: Cá rô phi là loài cá thành thục và sinh sản trong điều kiện bình thường ao nuôi mà không cần tác nhân kích thích sản Cá rô phi O Niloticus đực đào

hố ở đáy ao, cá cái đẻ trứng vào hố cùng thời điểm đó cá đực tưới tinh dịch vào trứngcủa cá cái Sau khi trứng đã thụ tinh cá cái nhặt trứng vào miệng và ấp trứng trongmiệng Mỗi cá cái trung bình đẻ từ vài trăm đến 2.000 trứng/lứa Thời gian ấm tính từkhi cá cái nhặt trứng từ ổ để ấp trong miệng đến khi thành cá bột khoảng 10 ngày Thờigian ấp tuỳ thuộc nhiệt độ nước, ở nhiệt độ 20oC thời gian ấp kéo dài tới 6 ngày, ởnhiệt độ 30oC thời gian kéo dài khoảng 3 ngày Sau khi nở cá bột tiếp tực đựơc cá mẹbảo vệ đến khi cá con tiêu hết noãn hoàng thì chúng sống độc lập [60]

2.2 Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống

2.2.1 Tình hình sản xuất giống, công nghệ sản xuất giống thế giới

Cá rô phi là loài cá thành thục và sinh sản trong điều kiện bình thường ao nuôi

mà không cần tác nhân kích thích sinh sản Ban đầu nguồn cá rô phi giống cung cấpcho nuôi thương phẩm được lấy từ tự nhiên [60] Do nhu cầu con giống ngày càng cao

Trang 11

người ta tiến hành sản xuất giống cá rô phi Có 2 phương pháp sản xuất giống cá rôphi: Sản xuất giống cá rô phi trong ao và sản xuất giống trong giai.

Pillay (1990) [66] mô tả kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi trong ao đất Cá bố

mẹ đã thành thục được thả chung trong một ao đã được chuẩn bị sẵn và cho ăn hằngngày Trong thời gian này cá tự sinh sản trong ao, sang tháng thứ 2 chuyển cá bố mẹsang ao khác và dùng ngay ao cho đẻ làm ao ương cá bột Quá trình nuôi vỗ, cho đẻtiếp tục được lặp lại ở ao kế tiếp Nhược điểm phương pháp này là kích cỡ cá giốngkhông đồng đều mặt khác do kích cỡ cá ương không đều nên có hiện tượng những conlớn tấn công con nhỏ hơn Để hạn chế nhược điểm này hàng ngày người ta tiến hànhvớt cá bột khi thấy chúng bơi thành đàn trong ao rồi chuyển sang ao khác ương riêng.Phương pháp cho sinh sản cá rô phi trong ao đất dễ áp dụng, giá thành sản xuất rẻ nênđược áp dụng ở nhiều nước như ở Trung Quốc, Thái Lan, Phillipines [60], [66]

Phương pháp sản xuất giống trong giai, lồng được áp dụng trong ao đất, các mặtnước hở Giai được làm bằng lưới nylon 10 x 2 x 1 m Mật độ thả cá bố mẹ 4 con/m2,

tỷ lệ đực cái là 1:3 Khi thấy cá bột xuất hiện tiến hành thu cá bột đưa sang ương tronggiai có kích cỡ 10 x 2 x 1,5 m, mật độ ương khoảng 1000 con/m2 Phương pháp này ưuđiểm quản lý tốt sự sinh sản đàn cá bố mẹ được áp dụng trong chọn giống và tạo ra conlai toàn đực ở nhiều nước trong đó có Việt Nam [60], [66]

Nuôi cá thương phẩm bằng con giống lấy từ tự nhiên và cá thuần để nuôithường chậm lớn và không kiểm soát được mật độ do thành thục sớm, dễ sinh sản tựnhiên trong ao nuôi Trong quá trình ấp trứng trong miệng cá cái thường ngừng tăngtrưởng [51], [60], [66] Để nâng cao tốc độ lớn của cá nuôi và việc kiểm soát mật độthả dễ dàng người nuôi cá rất quan tâm đến sử dụng các đàn cá rô phi đơn tính đực.Nuôi cá rô phi đơn tính do cá không có khả năng sinh sản, giúp kiểm soát được quầnđàn cá trong ao, cá có thể tận dụng tốt dinh dưỡng cho sinh trưởng Để tạo quần đàn cá

rô phi đơn tính đực có nhiều phương pháp khác nhau: (a) Chọn cá đực, cá cái riêng biệt

Trang 12

dựa vào khác biệt hình thái bên ngoài giữa cá đực và cá cái, (b) chuyển giới tính bằnghormone, (c) phương pháp lai xa và tạo cá siêu đực [60], [62], [63], [64], [66].

Tạo ra đàn cá đơn tính đực bằng cách loại bỏ cá cái dựa vào quan sát bộ phậnsinh dục ngoài bằng mắt thường là phương pháp sơ khai, đơn giản, tốn nhiều nhâncông, chỉ thực hiện khi đã phân biệt rõ cá đực, cái bằng hình thái ngoài (khi cá đạt cỡ5-10 g/con) Sự chính xác phương pháp này thấp và phụ thuộc tay nghề của người chọn[50], [67], [68] Theo Mire (1995) đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi ở Israeltrong những năm 1970 Tuy nhiên, hiện nay rất ít cơ sở sản xuất giống sử dụng phươngpháp này để sản xuất cá rô phi đơn tính [64]

Sản xuất cá rô phi đơn tính đực bằng cho ăn hormone được áp dụng rộng rãitrên thế giới trong vòng 20 năm gần đây, cá rô phi 5-7 ngày tuổi sau khi tiêu hết noãnhoàng được cho ăn thức ăn có trộn hormone (thường dùng 17α-Methyltestosterone,liều lượng 60mg/kg thức ăn) trong khoảng thời gian từ 21 ngày Công nghệ tương đốiđơn giản, dễ áp dụng và đầu tư thấp hơn so với phương pháp lai xa và chọn cá đựcbằng tay Kết quả ổn định, tạo đàn cá có tỷ lệ đực khá cao đạt 92-100% Hiện côngnghệ này được áp dụng khá phổ biến trong sản xuất cá rô phi đơn tính đực ở Thái Lan,Phillippines, Braxil, Israel, Trung quốc [60], [70] Tuy nhiên những lo ngại về ảnhhưởng của hormone sử dụng đến môi trường và sức khỏe con người đã thúc đẩy việctìm kiếm các công nghệ khác tạo cá rô phi đơn tính đực [60]

Công nghệ lai xa và công nghệ cá siêu đực được xây dựng trên cơ sở khoa học

di truyền điều khiển giới tính ở cá rô phi Hicking (1960) (trích bởi Pillay,1990) cho

lai 2 loài O urolepis O hurnorum với O mossambicus tạo ra thế hệ con đơn tính đực, các nghiên cứu sau này được tiến hành trên nhiều loài khác nhau: T nilotica X T nornorum (Pruginin and Kanyike, 1960), T nilotica X T aurea (Fishelson, 1962), T nilotica X T variabilis, T spilurus niger X T hornorum, T vulcani X T hornorum, T vulcani X T aurea, T nilotica X T macrochir (Lessent, 1968) Lai xa ngoài tạo ra thế

hệ con lai toàn đực, thì lai xa còn cải thiện tốc độ sinh trưởng, khả năng chịu lạnh [66]

Trang 13

Tuy nhiên, tỷ lệ đực ở đàn con lai dao động từ 70-100% và phụ thuộc vào mức độ

“thuần chủng” cá bố mẹ Tỷ lệ cá đực còn có sự khác biệt khi sử dụng các loài khácnhau Do vậy, ngay ở Trung Quốc, Đài Loan và Israel công nghệ lai xa mới sử dụng ởmột phạm vi nhất định Để có đàn cá toàn đực thường vẫn phải kết hợp lai xa với côngnghệ chuyển giới tính có điều chỉnh về thời gian và hàm lượng hormone trong thức ănhoặc tiến hành chọn cá đực bằng tay ở đàn cá lai khi cá giống đạt tới kích cỡ 10-20g/con Các nước áp dụng công nghệ sản xuất cá rô phi đơn tính bằng lai xa gồm: ĐàiLoan, Israel, Trung Quốc [52], [62, [63], [69]

Gần đây, dựa trên cơ chế di truyền điều khiển giới tính ở cá rô phi bằng việc tạo

ra các cá cái giả (XY) và kỹ thuật lai phân tích hướng tới tạo hàng loạt cá rô phi đực cókiểu gen giới tính (YY) Khi sử dụng cá siêu đực (YY) sinh sản với cá cái thường (XX)tạo đàn cá toàn đực (XY) Dựa trên cơ chế di truyền điều khiển giới tính người ta đã

tạo ra đàn cá rô phi siêu đực O niloticus dòng Egypt- Swansea lai các dòng cá rô phi vằn O niloticus để tạo ra cá rô phi đơn tính Tuy nhiên, tỷ lệ cá đực tạo ra không ổn

định, khác nhau trên từng cá cái Công nghệ vẫn được áp dụng trong phạm vi nghiêncứu, chưa được áp dụng phổ biến trong sản xuất [21]

Trong vòng 20 năm gần đây, nhiều nước đã tiến hành những nghiên cứu nhằmnâng cao chất lượng giống cá rô phi, đặc biệt nâng cao tốc độ sinh trưởng, khả năngchịu lạnh và khả năng chịu mặn của cá thông qua chọn giống Dự án cải thiện chấtlượng di truyền cá rô phi (GIFT) được tiến hành từ năm 1988 dưới sự hợp tác của 4 tổchức: Trung tâm quốc tế quản lý nguồn lợi động vật thuỷ sản (ICLARM), Cục thuỷ sản

và nguồn lợi thuỷ sản Phillipines (BFAR), Trung tâm NTTS nước ngọt Trường đại họcmiền trung Luzon (FAC/CLSU) và Viện nghiên cứu NTTS Nauy (AKVAFORSK) bằngnguồn kinh phí Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và Chương trình phát triển Liênhiệp Quốc(UNDP) Từ năm 1988-1995, Dự án đã tiến hành chương trình chọn giốngnâng cao tốc độ sinh trưởng cá rô phi vằn dựa trên chọn lọc gia đình đã tạo cá rô phi

Trang 14

vằn dòng GIFT Cá rô phi vằn dòng GIFT đã được nuôi thử nghiệm và được dùng làmgiống nuôi ở nhiều nước trên thế giới Kết quả thử nghiệm đã khẳng định cá rô phidòng GIFT có tốc độ sinh trưởng vượt trội so với các dòng cá rô phi hiện có ở một sốnước Châu Á và Châu Phi Trong vòng 5 năm từ năm 1992- 1997 mục tiêu Chươngtrình chọn giống là chọn lọc tính trạng tăng trưởng Tuy nhiên, các tính trạng khác cũngđược chọn lọc như: tỷ lệ sống, khả năng kháng bệnh và tuổi thành thục muộn Thànhcông dự án đã mở ra cơ hội chọn giống cá rô phi tại nhiều quốc gia, đàn cá rô phi tạo ra

từ dự án GIFT đã cung cấp cho nhiều nước để tiếp tục chọn giống như ở Indonesia,Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Fiji, Thái Lan, Bangladesh và Philippines [37]

2.2.2.Tình hình nghiên cứu, sản xuất cá giống cá rô phi ở Việt Nam

Năm 1951, lần đầu tiên cá rô phi đen (O mossambicus) được nhập vào Việt

Nam từ Thái Lan [12], [69] Năm 1973, cá rô phi vằn (O niloticus) đã được di nhập

vào miền Nam nước ta từ Đài Loan, đến năm 1977 chúng được chuyển ra miền Bắc

nuôi Tuy nhiên, do không quản lý tốt dẫn đến sự lai tạp với loài cá rô phi đen ( O mossambicus) khiến cho chất lượng di truyền của loài cá rô phi vằn này đã bị thoái

hoá, kéo theo sản lượng cá rô phi của nước ta trong những năm cuối những năm 1980đầu nhẵng năm 1990 bị giảm sút nghiêm trọng [12]

Từ năm 1993- 1994, một số dòng cá rô phi đã được nhập nội:

Cá rô phi vằn dòng Thái và cá rô phi dòng GIFT thế hệ chọn giống thứ 5 nhập

từ Thái Lan

Cá rô phi vằn dòng Swansea và cá rô phi xanh O.aureus nhập từ Philippines

Cá rô phi hồng Oreochromis sp nhập từ Đài Loan và Thái Lan

Qua nuôi thử nghiệm tại một số địa phương cho thấy cá rô phi dòng GIFT thểhiện sự vượt trội về sinh trưởng, thích ứng với điều kiện nuôi cá ở nước ta [12] Sứctăng sinh trưởng cá dòng GIFT cao hơn các dòng cá khác hiện có ở Việt Nam từ 15-

Trang 15

20% [13] Hiện nay, cá rô phi dòng GIFT được người nuôi quan tâm và nuôi phổ biến

ở nước ta Để ổn định và nâng cao phẩm giống của dòng rô phi (GIFT) mới nhập, từnăm 1998 đến nay, Viện NCNTTS 1 đã tiến hành chương trình chọn giống cá rô phidòng GIFT với 2 tính trạng; tăng trưởng và khả năng chịu lạnh Năm 2000, đã chọnđược dòng cá rô phi thế hệ thứ 4 có sức sinh trưởng cao hơn 16,6 % so với đàn cáGIFT ban đầu [13] Chương trình chọn giống này vẫn đang được tiến hành ở Viện 1với nguồn kinh phí của dự án NORAD Cá rô phi chọn giống thể hiện tính ưu việt tăngtrưởng nhanh, thích ứng với điều kiện khí hậu Việt Nam Từ năm 2002 đến nay cá rôphi dòng GIFT đã phát tán 2,5 triệu cá rô thuộc thế hệ chọn giống thứ 3, 4, 5 trong hầuhết các địa phương trong cả nước

Bên cạnh những nghiên cứu chọn giống và thuần hoá cá rô phi trong điều kiệnkhí hậu Việt Nam, các nghiên cứu về sản xuất giống cũng được tiến hành hiện nay việc

áp dụng sản xuất cá rô phi đơn tính tại nước ta

Năm 1997, Viện NCNTTS I đã tiến hành nghiên cứu lai xa: O niloticus dòng Egypt- AIT lai với O aureus, Cá siêu đực O niloticus dòng Egypt- Swansea lai với

O aureus và cá siêu đực O niloticus dòng Egypt- Swansea lai với cá cái đực O niloticus nhằm tạo ra đàn cá đơn tính tỷ lệ đực trung bình 65,3- 83,2% [22] Do tỷ lệ cáđực tạo ra không ổn định nên kỹ thuật này không được áp dụng phổ biến tại nước ta

Năm 1994-1997, Viện NCNTTS I áp dụng thành công nghệ chuyển giới tính cá

rô phi bằng hormone từ Viện Công nghệ Châu Á Trứng cá rô phi được thu từ khi cá

mẹ đang ấp trong miệng đưa vào ấp nhân tạo trong hệ thống khay ấp Cá sau khi tiêuhết noãn hoàng được đưa ra giai cắm trong ao để ương, cá được cho ăn thức ăn bằngbột cá nghiền mịn trộn với 17α- Methyltestosteron với liều lượng 60mg/kg thức ăn,vitamin C được bổ sung 10g/1kg thức ăn Sau 21 ngày xử lý cá đạt tỷ lệ sống 72,2%, tỷ

lệ đực đạt trên 95% [14] Đến nay công nghệ sản xuất cá rô phi đơn tính được áp dụngrộng rãi trên cả nước

Trang 16

Theo Phạm Anh Tuấn (2006) số cơ sở sản xuất cá rô phi đơn tính nước ta tăngliên tục trong mấy năm qua Năm 2002, cả nước có 10 cơ sở sản xuất cá rô phi đơntính, đến năm 2004 đã có tới 57 cơ sở sản xuất cá rô phi đơn tính Đáng chú ý tại miềnNam, Trại cá giống Công ty thương mại quốc tế Việt Long với quy mô 20 ha tại BếnTre áp dụng công nghệ sản xuất cá rô phi đơn tính bằng hormone, năm 2004 công tysản xuất được 60 triệu cá rô phi đơn tính 21 ngày tuổi Công ty TNHH Hải Thanh tạiThành Phố Hồ Chí Minh, năm 2004 đã sản xuất 82 triệu cá rô phi giống, trong đó có 71triệu cá rô phi hương và giống bằng công nghệ chuyển giới tính bằng hormone, 7 triệu

cá giống hỗn hợp tính [23]

Mấy năm gần đây một số cơ sở tại các địa phương miền Bắc đã nhập công nghệsản xuất cá rô phi lai xa/khác loài từ Trung Quốc, Đài Loan xong sản lượng cá hươngtạo ra còn hạn chế về chất lượng, mặt khác chất lượng, tỷ lệ đực chưa được các cơ quan

có chức năng kiểm tra

Do các cơ sở sản xuất giống thường không đáp ứng được số lượng cá giốngđúng vụ ở miền Bắc mặc dù đã áp dụng công nghệ lưu cá giống qua đông và sản xuất

cá giống trong vụ đông xuân tại các nguồn nước ấm [22] Vì thế, hàng năm một lượng

cá giống chuyển từ miền Nam ra và cá từ Trung Quốc, Đài Loan sang đáp ứng nhu cầucon giống tại các tỉnh miền Bắc Tuy nhiên, cá nhập từ Trung Quốc hiện chưa có cơquan quản lý đánh giá chất lượng, theo nhận xét của người nuôi về chất lượng nguồn

cá này trái ngược nhau [22]

2.3 Nghiên cứu dinh dưỡng và sản xuất thức ăn nuôi cá rô phi

2.3.1 Nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cá rô phi

Cá rô phi là loại ăn tạp, trong điều kiện nuôi quảng canh chúng lấy thức ăn tựnhiên sẵn có trong ao Tuy nhiên, ở điều kiện nuôi thâm canh, bán thâm canh thì việc

bổ sung thức ăn nhân tạo để đáp ứng nhu cầu cá nuôi Việc sản xuất thức ăn nhân tạo

Trang 17

phải đảm bảo nhu cầu năng lượng, nhu cầu protein, vi lượng cần thiết cho từng giaiđoạn sinh trưởng cá

Protein là nguyên liệu cung cấp cho xây dựng các mô trong cơ thể, chuyển hoáthành năng lượng cung cấp cho các hoạt động sống Ở mỗi khẩu phần protein khácnhau cho tốc độ tăng trưởng tương ứng sau thời gian nuôi 6 -12 tuần [55]

Bảng 2.1 Nhu cầu protein cá rô phi (O.niloticus) giai đoạn cá hương, giống

Nguồn: [40], [44], [72], [79].

Thức ăn có tỷ lệ protein bằng 0 % tăng trưởng của cá là âm (Cá tiêu hao nộisinh trong dị hoá mô làm mất protein) nghĩa là cá bị giảm trọng lượng Khi lượngprotein trong thức ăn tăng đến điểm nào đó không có sự thay đổi trọng lượng (tăng trư-ởng bằng 0, đây là mức nhu cầu protein duy trì) Ở trên mức này đạt đến mức tăng trư-ởng tối đa (là tăng trưởng tối ưu) và sau mức đó là mức ổn định nghĩa là tiếp tục tăngkhẩu phần protein trong thức ăn nhưng tốc độ tăng trưởng cá không tăng [54]

Jauncey và Ross (1982) [53] cho rằng ở rô phi O mosambicus giai đoạn cá

hương (1 -6g/con) cho ăn thức ăn có khẩu phần 24% protein tăng trưởng của cá đạt80% tốc độ tăng trưởng tối đa (tăng trưởng tối đa khi cho cá ăn thức ăn có khẩu phầnProtein 40%) Trong khi đó chỉ với khẩu phần protein 16% cá tăng trưởng đạt 64%mức tăng trưởng tối đa Jauncey và Ross (1982) [53] cũng chỉ ra rằng với khẩu phầnprotein của cá rô phi hương ở mức tối ưu sẽ cho hiệu quả kinh tế cao hơn mức khẩuphần tối đa vì thức ăn có tỷ lệ đạm cao có giá cao

Nhu cầu khẩu phần protein cho sinh trưởng cá giai đoạn nhỏ cao hơn giai đoạn

cá lớn, phụ thuộc kích cỡ cá và tuổi [66] Mohammad và ctv., (2004) [64] cũng khẳng

Trang 18

định rằng khẩu phần protein tối ưu của cá rô phi vằn (O niloticus) có kích cỡ 0,4- 0,5

g/con là 45%, với cá có kích cỡ 17- 22g/con khẩu phần protein là 35% Khẩu phầnprotein và tần suất cho ăn cá rô trong nuôi thương phẩm như sau

Bảng 2.2 Chế độ cho ăn, khẩu phần ăn theo kích cỡ cá

2.3.2 Sử dụng thức ăn nhân tạo

Sử dụng các loại phân bón (vô cơ và hữu cơ) để làm giàu nguồn thức ăn tựnhiên cho cá trong ao nuôi là giải pháp cung cấp thức ăn cho nuôi cá Tuy nhiên,phương pháp này làm năng suất nuôi không cao và ảnh hưởng đến chất lượng của cáthương phẩm nếu không biết sử dụng hợp lý trong từng giai đoạn nhất định

Nuôi cá rô phi bán thâm canh và thâm canh, mật độ cá thả tăng, nguồn thức ăn

tự nhiên không đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cá nuôi Vì thế cần thiết phải bổ sung dinhdưỡng cho cá bằng thức ăn nhân tạo, đồng thời nâng cao năng suất nuôi

Thức ăn nhân tạo cho nuôi cá rô phi thương phẩm chủ yếu có 2 loại là thức ăncông nghiệp được các hãng/công ty sản xuất và tự ăn nhân tạo người nuôi cá tự chếbiến sản xuất tại chỗ

Thức ăn tự chế biến tại chỗ từ các nguyên liệu có sẵn ở các địa phương: cámgạo, cám ngô, bột sắn, cá tạp Đây là hình thức chế biến thức ăn khá phổ biến ở nhiều

Trang 19

nước Châu Á Ưu điểm phương pháp này dễ thực hiện, giá thành rẻ Tuy nhiên, thức ăn

tự phối chế theo kinh nghiệm, nguyên liệu không được kiểm tra chất lượng dinh dưỡngthường xuyên nên khó đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng Loại thức ăn này không nổi, nếukhông có chế độ cho ăn thích hợp làm môi trường nước nuôi ao nhanh chóng giảm sút[23]

Thức ăn công nghiệp dùng cho cá, hiện nay có nhiều công ty sản xuất Các nhãnhiệu phổ biến được người nuôi biết đến như Proconco, C.P, Cargill và các loại thức ăncủa những nhà sản xuất mới, mang nhãn hiệu Con cá vàng, Con Rồng Thức ăn côngnghiệp có nhiều loại khác nhau về kích cỡ viên, chất lượng dinh dưỡng, thường hàmlượng protein tổng số dao động từ 20-35% Thức ăn công nghiệp có mặt trên thị trườngnước ta là thức ăn viên nổi, ưu điểm dễ kiểm soát việc sử dụng thức ăn của cá, hạn chếlãng phí thức ăn Tuy nhiên, giá thành cao hơn so với thức ăn tự chế biến

Theo ước tính toàn quốc có khoảng 36 nhà máy sản xuất thức ăn cho NTTS vớitổng công suất khoảng 800.000 tấn/năm, trong đó có khoảng 40.000- 50.000 tấn thức

ăn được sản xuất cho nuôi cá rô phi Tuy nhiên, không có sự phân bố đồng đều giữacác khu vực mà tập trung chủ yếu các tỉnh phía Nam Vì thế thức ăn tại khu vực miềnBắc, Miền Trung phải chuyển từ phía Nam ra Các nguyên liệu chủ yếu (đậu tương, bột

cá, dầu cá, chất bổ sung ) dùng để sản xuất thức ăn các nhà máy hiện đều nhập từnước ngoài Làm cho giá thành sản xuất bị nâng cao, gây hạn trong nuôi cá rô phi [23]

2.4 Nuôi cá rô phi trong ao đất

2.4.1 Phương thức nuôi cá rô phi

Nuôi cá rô phi trong ao đất là hình thức nuôi phổ biến ở nhiều nước Phươngthức nuôi đa dạng từ nuôi quảng canh cải tiến đến bán thâm canh và nuôi thâm canh.Việc lựa chọn phương thức nuôi tuỳ thuộc vào điều kiện tiềm năng đất đai, khả năngđầu tư và trình độ nuôi mà mỗi nơi có thể có

Trang 20

Nuôi quảng canh cải tiến ở cá rô phi chủ yếu áp dụng với con giống hỗn tính,thức ăn cho cá dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên và phân bón xuống ao Bón phân trongnuôi cá rô phi nhằm cung cấp thức ăn tự nhiên trong ao, phân hữu cơ còn làm tăng mùn

bã hữu cơ trong ao, đồng thời kích thích vi khuẩn, động-thực vật phù du phát triển.Phương thức nuôi này áp dụng một số nước như Bangladesh, Israel, Trung Quốc, ĐàiLoan, Thái Lan, Việt Nam, Cambodia, Indosnesia, Lào, Myanmar và các nước ChâuPhi [69]

Nuôi bán thâm canh là phương thức trung gian giữa nuôi quảng canh và nuôithâm canh Nuôi bán thâm canh thực hiện trong ao sử dụng phân bón và bổ sung thức

ăn nhân tạo Phương thức nuôi này áp dụng phổ biến ở Châu Á, Châu Mỹ và Châu Phi:Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Phillipines, Việt Nam, Ả Rập, Zambia, Cote d’Ivoire, Brazil, Colombia, Costa Rica [66], [57], [69]

Ở Ai Cập, sản lượng cá rô phi nuôi bán thâm canh chiếm 75% tổng sản lượngNTTS cả nước Thức ăn nhân tạo cho cá cũng được sử dụng nhiều loại khác nhau: thức

ăn công nghiệp, thức ăn tự chế từ ngô, đỗ tương, bột cá, cám gạo và một số phế phụphẩm khác

Ở Bangladesh, Israel hầu hết người nuôi dùng thức ăn công nghiệp Trong khi

đó ở Việt Nam, thức ăn nuôi cá rô phi chủ yếu dựa vào thức ăn tự nhiên, phế phụphẩm, phân bón, thức ăn công nghiệp chỉ sử dụng mang tính bổ sung Nuôi bán thâmcanh ở Philipines trong ao diện tích từ 0,25- 1 ha, độ sâu 1m, mật độ thả 4- 8 con/m2,sau 3- 4 tháng nuôi, kích cỡ cá thương phẩm 150- 250 g/con, năng suất nuôi đạt 4- 8tấn/ha [46], [62], [65], [69]

Nuôi thâm canh là hình thức nuôi với mật độ cao, sử dụng thức ăn nhân tạo kèmtheo chế độ thay nước và sục khí Nuôi thâm canh ở Đài Loan năng suất lên đến 17tấn/ha, Trong khi đó năng suất nuôi cá rô phi đơn theo phương thức thâm canh trong aođất ở Israel đạt khoảng 10 tấn/ha [[62] Ở Việt Nam, nuôi thâm canh cá rô phi ở quy

Trang 21

mô thí nghiệm lên tới 20- 23 tấn/ha [20] Nuôi thâm canh tại Philipines trong trong aođất 1700m2, mật độ thả cá đơn tính có thể lên đến 15 con/m2, cá được cho ăn thức ănnhân tạo và sục khí, thay nước Năng suất nuôi đạt 20 tấn/ha, kích cỡ cá thương phẩm

từ 0,17- 0,2 kg/con trong thời gian nuôi 3 tháng [69]]

2.4.2 Hình thức nuôi cá rô phi

Nuôi cá rô phi trong ao được thực hiện với 2 hình thức; nuôi đơn và nuôi ghép Nuôi ghép cá rô phi với các loài cá khác trong ao nhằm tận dụng không giansống và nguồn thức ăn tự nhiên có trong ao Tốc độ sinh trưởng của cá rô phi vằn nuôi

ghép với cá chép (C carpio) nhanh hơn so với ao nuôi đơn [81] Trong ao nuôi ghép,quá trình tìm kiếm thức ăn cá chép đào bới đáy ao giúp cho chu chuyển dinh dưỡngđáy ao và nước được đẩy nhanh [80], năng suất sinh khối tảo tăng lên và thức ăn tựnhiên của cá tăng lên [81]

Trong ao nuôi cá rô phi hỗn hợp tính người ta dùng cá dữ để hạn chế sự pháttriển số lượng cá rô phi con được sinh sản tự nhiên trong ao Việc lựa chọn cá dữ phảiđảm bảo chúng không ăn cả những cá thả Tuy nhiên, để xác định tỷ lệ cá thả và cá dữ

là việc khó thực hiện nhằm duy trì mật độ thả trong ao [62]

Các loài nuôi ghép với cá rô phi là các loài cá chép; trắm, chép, è trôi và một sốloài cá dữ như cá chi trắng, cá quả Nuôi ghép cá rô phi thường thực hiện trong ao bánthâm canh hoặc ao nuôi quảng canh cải tiến nhiều nước trên thế giới Nuôi ghép cá rôphi được thực hiện nhiều trong hệ thống: VAC hoặc cá- lúa [64]

Ở Việt Nam cá rô phi được nuôi ghép với các loài cá: trắm, chép, mè, trôi

Ở Thái Lan, các loài cá nuôi ghép với cá rô phi bao gồm: cá trôi, cá mè hoa, cá

mè trắng và cá Puntius gonionotus Hình thức nuôi ghép được thực hiện 2 dạng; nuôi

ghép với cá truyền thống trong ao nước ngọt và nuôi ghép với tôm Trong ao nuôi ghéptôm- rô phi, mật độ thả tôm 31- 62,5 con/m2, cá rô phi thả với mật độ cá rô phi 0,1-

Trang 22

0,37con/m2 sau tôm trên 20 ngày, năng suất nuôi tôm mang lại cao hơn so với nuôi đơntôm 29% [80]

Tại Israel người ta lại nuôi ghép cá rô phi với cá trôi Ấn Độ, cá mè trắng và cá

đối (mullet) hoặc nuôi ghép cá rô đơn tính với cá chép (C carpio) và cá mè trắng (H mlitrix) [62], [63], [66]

Ở Châu Mỹ Latinh, đặc biệt là ở Ecuador và Peru nơi dịch bệnh đốm trắng xảy

ra ở tôm, người ta mở rộng diện tích nuôi ghép cá rô phi với tôm trong các đầm nước

lợ Dẫn đến sản lượng cá rô phi các nước này tăng từ 18 tấn năm 1990 lên 15.000 tấnnăm 2000 [35]

Nuôi ghép cá rô phi và tôm đang có xu hướng phát triển tại một số nước Châu

Mỹ La tinh như Ecuador and Peru Honduras Nuôi tôm ghép với cá rô phi hạn chế dịchbệnh ở tôm, nâng cao tỷ lệ sống và lợi nhuận [47]

Cá rô phi là loài cá ăn tạp, do vậy người ta cũng thực hiện nuôi đơn cá rô phi.Nuôi đơn cá rô phi thường là những ao nuôi bán thâm canh, thâm canh hoặc siêu thâmcanh trong bể Nuôi đơn cá rô phi thực hiện trong hệ thống bón phân hoặc nuôi trong

hệ thống VAC sử dụng thức ăn nhân tạo Nuôi đơn cá rô phi trong ao đất không phổbiến như đối với nuôi ghép Tại Israel, cá rô phi đơn tính trong đất theo phương thứcthâm canh cho năng suất 2,5 – 10 tấn/ha [62] Tại Châu Phi, nuôi đơn trong ao đất quy

mô gia đình đóng góp 38- 93% tổng sản lượng cá rô phi khu vực, năng suất nuôi từ 0,5tấn/ha/năm 16 tấn/ha/năm [64] Tại Việt Nam nuôi đơn cá rô phi vằn dòng Thái vàdòng GIFT quy mô thí nghiệm cho năng suất 10- 23 tấn/ha/vụ [20]

2.4.3 Nuôi cá rô phi trong hệ thống VAC

Theo Edward (1988) nuôi cá kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm trong hệ thốngVAC được xem như là biện pháp tận dụng chất thải thay việc thải ra ngoài hệ thốngcanh tác Chất thải của một modul này sẽ là đầu vào modul khác Phế phụ phẩm, rauxanh tạo ra từ trồng trọt được sử dụng làm thức ăn cho cá Thức ăn thừa, phân trong

Trang 23

các hệ thống chăn nuôi đưa xuống ao làm thức ăn cho cá và hệ động thực vật phù dutrong ao, năng suất sinh học ao nuôi sẽ tăng, tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá Ngượclại, bùn nạo vét từ đáy ao nuôi cá có thể sử dụng vào trồng trọt trong trang trại Bằngcách tận dụng nguồn phế thải từ chăn nuôi sẽ hạn chế được ô nhiễm môi trường đồngthời nâng cao hiệu quả nuôi cá [19] Hệ thống VAC giúp nông hộ tạo nhiều sản phẩmđầu ra, giảm chi phí sản xuất Tận dụng lao động trong gia đình, lao động thời vụ [66].

Nuôi cá rô phi trong hệ thống VAC được áp dụng phổ biến tại các nước Châu Á

và Việt Nam Hệ thống nuôi kết hợp chăn nuôi gia cầm/gia súc với nuôi cá Tại TháiLan, năng suất nuôi cá rô phi kết hợp với nuôi vịt đạt 10,1 tấn/ha/năm Nuôi kết hợpchăn nuôi cũng được áp dụng tại các nước Châu Phi Tại Zambia hình thức nuôi cá kết

hợp nuôi lợn đang được mở rộng với loài O andersonii và cá rô phi toàn đực dòng Ai

Cập [17] Tại Nigeria một số nông dân nuôi rô phi vằn kết hợp với nuôi gà, số lượng gànuôi 1000 con/ha/ao, lượng phân thải ra tương đương khoảng 3,6 tấn/ha/tháng (tínhtheo trọng lượng khô), năng suất đạt 14,9 tấn/ha [57] Hình thức nuôi cá kết hợp chănnuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao, tận dụng nguồn phân làm thức ăn cho cá, xong chấtlượng cá không đảm bảo yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm [17]

2.4.4 Bón phân cho ao nuôi cá rô phi

Mỗi ao nuôi cá có một giá trị năng suất sinh học riêng, trong điều kiện nuôi cámật độ thả tăng dẫn đến nguồn thức ăn tự nhiên trong so nuôi không đáp ứng được nhucầu thức ăn của cá Một trong những giải pháp giải quyết vấn đề đó là việc bón phâncho ao nuôi cá Bón phân trong ao nuôi cá nhằm làm tăng dinh dưỡng trong, kích thíchthức ăn tự nhiên phát triển làm cho năng suất ao nuôi tăng lên Trong nuôi cá rô phiviệc bón phân cho ao nuôi được áp dụng cho cả ao nuôi cá thương phẩm và ao ương cá

rô phi Phân bón cho ao có thể dùng phân hữu cơ và phân vô cơ hoặc người ta kết hợp

sử dụng 2 loại phân [55], [57]

Trang 24

Phân vô cơ hay còn gọi là phân hoá học chứa các thành phần dinh dưỡng cơbản: Nitrogen (N), Phosphorous (P) và kali (K) Phân vô cơ đóng vai trò cung cấp dinhdưỡng cho sinh vật tự dưỡng trong ao, kích thích sự phát triển thực vật phù du nhằmnâng cao sinh khối thực vật phù du Sinh khối thực vật phù du trong ao bón phân caohơn ao không bón phân 4- 5 lần và năng suất cá rô phi trong ao được bón phân vô cơtăng 170- 440 % so với ao không bón phân [55] Với tỷ lệ N/P khoảng 10/1 là có thểduy trì sự phát triển của tảo bởi tỷ lệ này có trong hầu hết thực vật phù du Trong nuôibán thâm canh cá rô phi liều lượng tối ưu phân bón xuống ao khoảng là 4kg N/ha/ngày

và 1 kg P/ha/ngày Tuy nhiên ở hàm lượng N trong nước vượt quá 4 kg/ha/ngày khi đóamoni tổng số trong nước có thể tăng lên tới ngưỡng gây độc cho cá [57]

Phân hữu cơ bao gồm phân động vật, phân xanh Sử dụng phân hữu cơ trongnuôi thuỷ sản đã được áp dụng từ lâu Hiện nay, việc sử dụng phân hữu cơ trong nuôi

cá đang được áp dụng phổ biến tại các nước đang phát triển, các nước Đông Nam Áđặc biệt trong các mô hình nuôi cá kết hợp chăn nuôi chăn nuôi gia súc, gia cầm

Phân hữu cơ sau khi bón xuống ao chúng phân huỷ giải phóng dinh dưỡng vàonước Phân hữu cơ cung cấp vật chất hữu cơ tạo nguồn năng lượng và nguyên liệu chosinh vật dị dưỡng, cùng với đó việc bón phân sẽ thúc đẩy tảo phát triển, sau đó là kíchthích sự phát triển động vật phù du từ đó năng suất sơ cấp ao nuôi được nâng cao tạothức ăn cho cá nuôi [77]

Edsward (1983) [43] cho rằng sản lượng cá có liên quan trực tiếp tới tỷ lệ hàmlượng nitrogen Phân trâu khô có hàm lượng N là 1,4% và P là 0,2% Trong khi đóphân vịt thời kỳ nuôi vỗ có 4,4% N và 1,1 % P Do vậy để có năng suất nuôi cá rô phi10,1 tấn/ha/năm như mô hình nuôi kết hợp cá rô phi- vịt thì cần phải bón tới 300 kgphân trâu khô/ha/ngày tương đương 4 kg N/ha/ngày [34]

Việc cung cấp N, P có thể ở dạng phân hữu cơ như phân gia cầm, hoặc phânxanh hoặc phân vô cơ Dùng phân hữu cơ bón xuống ao sẽ cung cấp N, P,C và một số

Trang 25

chất khác Việc bón phân hữu cơ xuống ao qúa mức sẽ gây ra tình trạng sụt giảm oxytrong nước và tích tụ mùn bã hữu cơ đáy ao nuôi dẫn đến làm suy giảm năng suất vànguy cơ cá bị bệnh Vì thế người ta thường kết hợp bón phân gia cầm với hàm lượngthấp đồng thời kết hợp bón phân vô cơ cho ao nuôi cá Trong ao nuôi cá rô người ta cóthể bón phân gà 200- 250kg phân/ha/tuần (tính theo trọng lượng khô) và bổ sung phânUrê 28 kg N/ha/tuần và 7 kg P/ha/tuần [57].

2.5 Sản lượng nuôi cá rô phi trên thế giới và Việt Nam

Ngày nay cá rô phi là loài nuôi nước ngọt đóng vai trò quan trọng thứ 2 sau cácloài cá thuộc họ cá chép Cá rô phi hiện đang được nuôi phổ biến trên 100 quốc gia trênthế giới Trong 2 thập kỷ 1980, 1990 các mô hình nuôi cá rô phi với quy mô lớn đượcphát triển mạnh mẽ [79] Sản lượng cá nuôi liên tục tăng từ năm 1984 đến nay Năm

1984 sản lượng cá rô phi nuôi trên thế giới đạt gần 200.000 tấn, đến năm 1990 sảnlượng cá rô phi nuôi tăng gấp đôi (400.000 tấn) Từ năm 1990 đến năm 2003 sản lượngnày đã tăng gần 4 lần, từ 400.000 tấn lên 1,6 triệu tấn, năm 2004 theo ước tính sảnlượng này đã đạt khoảng 1,8 triệu tấn Sản lượng cá rô phi nuôi tập trung chủ yếu ở cácnước Châu Á (80% tổng sản lượng toàn cầu), phần còn lại thuộc các nước Châu Phi vàTrung- Nam Mỹ với tỷ lệ 20% [17], [22], [47], [48]

Châu Á

Các nước Châu Á có sản lượng cá rô phi nuôi lớn; Trung Quốc, Đài Loan, TháiLan, Indonesia, Việt Nam Trung Quốc là quốc gia đứng đầu cả về sản lượng nuôi vàkhách hàng tiêu thụ cá rô phi Đây cũng là nước có tốc độ tăng sản lượng nuôi nhanhnhất thế giới Theo số liệu FAO năm 2002 sản lượng cá nuôi năm 1990 nước nàykhoảng trên 100.000 tấn đến năm 2000 sản lượng đã tăng gấp 6 lần (629.182 tấn) Thịtrường xuất khẩu chính của Trung Quốc là Mỹ Các dạng sản phẩm chế biến của Mỹ làPhi lê đông lạnh và đông lạnh nguyên con [48]

Trang 26

Sản lượng của Đài Loan, Philippines năm 2002 khoảng 90.000 tấn và 122.277tấn Thị trường xuất khẩu cá rô phi của Đài Loan chủ yếu là Mỹ, Nhật với dạng sảnphẩm đông lạnh nguyên con và phi lê đông lạnh Còn thị trường Philippines là Nhật ở

2 dạng sản phẩm sashimi và phi lê [17], [48]

Hình 2.1 Sản lượng cá rô phi trên thế giới từ năm 1984- 2003 [48]

Thái Lan: Fitzsimmon (2004) [48] sản lượng nuôi năm 2003 là 100.000 tấn Cá rô phi

ở đây được phát triển nuôi cả nước ngọt với hình thức nuôi ghép với tôm, nuôi trong hệthống kết hợp cá- chăn nuôi gia súc, gia cầm Sản phẩm chế biến xuất khẩu cá rô phiThái Lan chủ yếu ở dạng Phi lê đông lạnh

Việt Nam: Năm 1951 lần đầu tiên cá rô phi O niloticus di nhập vào Việt Nam, đến năm 1973 loài O mosambicus được nhập từ Đài Loan, đến năm 1977 cá rô phi

được di nhập ra miền Bắc, từ đó chúng được nuôi phổ biến trong cả nước [12]

Theo thống kê năm 2004, sản lượng cá rô phi nuôi cả nước đạt 54.486,8 tấn,chiếm 9,08 % tổng sản lượng cá nuôi cả nước Sản lượng nuôi khu vực đồng bằng sông

Trang 27

Hồng (ĐBSH) đạt 9.571,8 tấn, chiếm 17,6 % tổng sản lượng cá rô phi cả nước đứng vịtrí thứ 2 sau khu vực đồng bằng sông Cửu Long Cá rô phi khu vực ĐBSH chủ yếunuôi trong ao đầm, sản lượng mang lại từ các hệ thống nuôi này 9.164 tấn[22]

Các nước Châu Mỹ

Cá rô phi được du nhập vào Châu Mỹ năm 1947, xong cho đến năm 1975 nuôi

cá rô phi mới thực sự phát triển mang tính hàng hoá Ngày nay, cá rô phi đã được nuôi

ở hầu hết các nước Châu Mỹ Hình thức nuôi đa dạng từ nuôi quảng canh trong các hồchứa đến nuôi siêu thâm canh với năng suất 100 kg/m3 Năm 2000, sản lượng cá rô phiChâu Mỹ đạt 257.000 tấn Các nước có sản lượng cá rô phi lớn; Mexico, Brazin [48]

Mexico là nước đứng đầu sản lượng cá rô phi Châu Mỹ (110.000 tấn năm 2003)[48] Tuy nhiên, đây cũng là nước có nhu cầu tiêu thụ nội địa cao Rô phi ở đây đượcnuôi cả ở hình thức quảng canh, thâm canh và nuôi trong các hồ chứa với hình thức thả

cá hương và khai thác cá thương phẩm trong hồ Theo dự đoán thì Mexico vẫn tiếp tục

là nước đứng đầu về sản xuất cá rô phi tại Châu Mỹ Theo dự báo của Fitzsimmons(2004) [48] trong tương lai sản lượng nước này tiếp tục gia tăng, có thể sẽ trở thànhnhà cung cấp cá rô phi tại thị trường Mỹ

Brazil là nước đứng thứ 2 Châu Mỹ về nuôi cá rô phi Sản lượng nước này mấynăm gần đây tăng nhanh, năm 2000 sản lượng cả nước khoảng 45.000 tấn đến năm

2003 sản lượng nước này đạt 75.000 tấn Đây là nước có tiềm năng mặt nước lớn.Trong tương lai nước này có thể đuổi kịp sản lượng Mexico Xong, Brazil` cũng lànước có nhu cầu tiêu thụ nội địa cao Sản lượng xuất khẩu nước này đã tụt giảm, năm

1997 xuất khẩu nước này đạt 1,2 tấn đến năm 1998 nước này không xuất khẩu cá rôphi nữa [47], [48]

Tại Colombia, cá rô phi được di nhập vào năm 1960 đến những thập kỷ 80 các

mô hình sản xuất cá rô phi thương phẩm với quy mô hàng hoá hình thành Trongnhững năm đầu thập kỷ 90 thị trường nội địa Colombia phát triển mạnh, sản lượng

Trang 28

trong nước chỉ đủ để đáp ứng tiêu thụ trong nước Đến năm 2000, sản lượng cá rô phigia tăng trở lại với số lượng lồng nuôi lớn tại tỉnh Huila Từ đó đến nay Colombia bắtđầu trở thành nước xuất khẩu cá rô phi [47].

Costa Rica và Honduras là nước cung cấp chủ yếu sản lượng cá rô phi dạng phi

lê tại Mỹ Sản lượng cá rô phi được tạo ra tập trung chủ yếu một số công ty lớn baogồm từ sản xuất đến chế biến và phát triển các chi nhánh phân phối sản phẩm Cáccông ty nhỏ cung cấp sản lượng cá rô phi tại các thị trường nội địa [76]

Equador cũng là nước xuất khẩu chính vào thị trường Mỹ và Châu Âu Mấynăm gần đây do dịch bệnh ở tôm bùng phát, người ta đưa cá rô phi vào nuôi thay thếtrong những diện tích nuôi tôm trước kia hoặc nuôi ghép với tôm Làm diện tích và sảnlượng cá rô phi gia tăng ở quốc gia này [47]

Châu Phi

Mặc dù cá rô phi có nguồn gốc từ đây nhưng sản lượng cá rô phi tại Châu lụcnày chỉ đứng thứ 2 sau Châu Á Sản lượng cá rô Châu Phi từ thập kỷ 1990 có 3 mức

Năm 1985 sản lượng Châu Phi chiếm 13,5% sản thế giới (29.000 tấn)

Năm 1997 sản lượng chỉ chiếm 4,5 % sản lượng thế giới (đạt 42.000 tấn) Đến năm 1999 sản lượng Châu Phi chiếm 10,4% sản lượng thế giới (đạt114.000 tấn) [69]

Các nước đứng đầu sản lượng cá rô phi nuôi bao gồm: Ai Cập, Israel,Zimbabwe và Nigeria [48]

Ai cập là nước đứng đầu sản lượng cá rô phi khu vực Châu Phi, năm 2003 sảnlượng nước này đạt 200.000 tấn, chiếm 90% [17], [48]

Trang 29

0 100,000 200,000 300,000 400,000 500,000 600,000 700,000 800,000

Hình 2.2 Sản lượng cá rô phi của một số nước năm 2003 [48]

Zambia và Nigeria là 2 nước có sản lượng đứng sau Ai cập, sản lượng 2 nướcnày chiếm 3,5 và 1,4% toàn Châu Lục [69] Ghana và Nigieria hiện đã thiết lập một sốtrại cá sản xuất với quy mô lớn nhằm cung cấp cho thị trường EU Các quốc gia khác:Kenya, Uganđa, Tanzania, Mozambic, Namibia, Botswana, Angola có sản lượng thấp,xong họ đang thực hiện những kế hoạch phát triển nuôi cá rô phi [17]

Bảng 2.3 Sản lượng cá rô phi tại một số nước trên thế giới

Trang 30

2.6 Thị trường tiêu thụ cá rô phi

Cá rô phi được coi là cá có giá trị thấp, mấy năm gần đây khách hàng chấp nhậnloại sản phẩm này ngày một nhiều Rô phi được xem là một trong những nhóm cá nuôichính trong các trại nuôi cá nước ngọt trên thế giới Trước kia cá rô phi được chủ yếuđược tiêu thụ tại địa phương: Châu Á, Châu Phi đây là các thị trường truyền thống Chỉtrong một vài năm cá rô phi đã được người tiêu dùng chấp nhận và tiêu thụ vượt rangoài thị trường truyền thống Sản lượng nhập khẩu cá rô phi lớn nhất hiện nay là Mỹ,tiếp đến là Nhật, Châu Âu và một số quốc gia A rập [69]

Ngày nay, Mỹ là quốc gia nhập khẩu cá rô phi đứng đầu thế giới Sản lượngnhập khẩu liên tục tăng từ năm 1992 đạt 3.400 tấn (tính theo trọng lượng tươi sống)đến năm 2000 sản lượng nhập khẩu đạt 40.500 tấn, năm 2003 sản lượng cá rô phi nhập

Trang 31

khẩu nước này đã đạt 177.522 tấn Năm 2000, cá rô phi đứng vị trí thứ 11 trong danhmục các sản phẩm thuỷ sản được ưa chuộng tại Mỹ, đến 2002 cá rô phi vươn lên đứng

vị trí thứ 9, năm 2003 vươn lên vị trí thứ 8 và năm 2004 đứng vị trí thứ 6 trong sốnhững sản phẩm thuỷ sản được ưa chuộng nhất tại Mỹ [5], [47], [48], [69] TheoFitzsimmons(2005) [69] giá cá rô phi trên thế giới mấy năm qua có sự ổn định, trongthời gian tới giá cá không có sự biến động đột biến và tiếp tục duy trì ở mức ổn định

Các dạng sản phẩm nhập khẩu chủ yếu của Mỹ chủ yếu: phi lê tươi, philê đônglạnh, đông lạnh nguyên con Năm 2003, số lượng sản phẩm cá rô phi dạng philê tươi17.952 tấn (giá trị 102 triệu đô la), philê đông lạnh 23.249 tấn (giá trị 84 triệu đô la) vàđông lạnh nguyên con 49.045 tấn (giá trị 55 triệu đô la) [48]

Khu vực Châu Á là nơi cung cấp chủ yếu cá rô phi vào Mỹ, đặc biệt là TrungQuốc và Đài Loan Năm 2000, sản lượng cá rô phi nhập khẩu vào Mỹ từ Đài Loanchiếm 43 %, tiếp đến là Trung Quốc (33%), Inđonesia (3%), ngoài ra còn một số nướckhu vực Châu Mỹ: Ecuado (9%), Costa Rica (7%), Honduras (3%) [69] Tuy nhiên, từnăm 2000 đến này sản lượng nhập khẩu của Mỹ từ Trung Quốc tăng nhanh đưa nướcnày đứng vị trí hàng đầu về xuất khẩu cá rô phi vào Mỹ (với 53% tổng sản lượng nhậpkhẩu của Mỹ) Đài Loan giảm xuống đứng thứ 2 sau Mỹ chiếm 25%, Indonesia (4%)[17]

Trang 32

Hình 2.3 Sản lượng các loại sản phẩm cá rô phi nhập khẩu vào Mỹ năm 1992- 2004

[48]

2.6.2 Thị trường Châu Âu

Châu Âu là thị trường có tiềm năng lớn Trong đó, Anh là nước nhập khẩu cá rôphi nhiều nhất Châu Lục Ngoài ra, Pháp, Bỉ, Đức, Hà Lan cũng là thị trường tiêu thụ

cá rô phi Úc, Italy, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ và Đan Mạch cũng tiêu thụ cá rô phi nhưngvới số lượng nhỏ Cá rô phi được tiêu thụ tại các thành phố lớn Châu Âu nơi có ngườinhập cư từ Châu Phi, Châu Á và Trung Quốc [69] Gần đây, người dân Châu Âu đangchuyển sang ăn cá rô phi Một loạt các siêu thị lớn đã thử bán cá rô phi và các nhà hàngbắt đầu bán cá rô phi, dấu hiệu tiêu dùng có sự gia tăng Người Châu Âu đang tìm kiếmnhà cung cấp cá rô phi để thay thế sản lượng đánh bắt bị suy giảm [47] Hiện tại cácnước này đang nhập khẩu cá rô phi chủ yếu từ Đài Loan Ngoài ra còn nhập khẩu từmột số nước: Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia, Costa Rica,Jamaica [69], gần đây có thêm Uganda, Tanzania, Kenya và Zimbabwe [17]

Các nước nhập khẩu Châu Á: Nhật, Hàn quốc nhập khẩu cá rô trực tiếp từ Châu

Á Các nước xuất khẩu cá rô phi sang Nhật là Đài Loan, Indonesia và Thái Lan Sảnphẩm nhập khẩu chủ yếu của Nhật bản ở dạng phi lê đông lạnh [73]

Trang 33

Các nước A rập được xem là thị trường tiềm năng tiêu thụ cá rô phi Hiện tại cácnước này nhập khẩu cá rô phi từ Ai Cập Các nước như Saudi Arabia, Kuwait, Jordan

và Qatar nhập khẩu cá rô phi từ Đài Loan [73] Năm 1996 Arab nhập 2.854 tấn cá đônglạnh đến năm 1996 sản lượng nhập khẩu nước này đã tăng 204 % (5.836 tấn) [69].Canada: Sản lượng tiêu thụ cá rô phi ở thị trường Canada mấy năm gần đây tăngdần Sản lượng tiêu thụ ở đây được cung cấp từ 2 nguồn: Sản lượng nội địa và nhậpkhẩu từ Mỹ, Costa Rica và Jamaica [69], [73]

2.6.3 Thị trường tiêu thụ cá rô phi Việt Nam

Cá rô phi hiện nay vẫn được tiêu thụ trong nước, theo số liệu điều tra sản lượng

cá rô phi năm 2004 khu vực ĐBSH đạt 8.268 tấn, xong chủ yếu tiêu thụ nội địa vớimức giá khá cao Cá rô phi thương phẩm bán lẻ tại Hải Dương và Hà Nội 17.000 đ/kg

và 20.000 đ/kg loại trên 0,4kg/con Cũng loại cá này ở Quảng Ninh có giá 21.000 đ/kg

Xuất khẩu cá rô phi chỉ tập trung một số tỉnh phía Nam Năm 2004 sản lượngxuất khẩu Long An đạt 30 tấn, Trà Vinh đạt 20 tấn, Vĩnh Long đạt 5 tấn, Kiên Giang 20tấn và An Giang xuất khẩu đạt 10 tấn [22]

Năm 2005, sản lượng xuất khẩu cá rô phi là 869 tấn, kim ngạch đạt 1,90 triệuUSD Sản lượng xuất khẩu chủ yếu tập trung vào thị trường EU với khối lượng 580tấn, chiếm tỷ lệ 66,7 % trong tổng sản lượng cá rô phi xuất khẩu, trị giá 1,16 triệuUSD Tiếp đến là xuất khẩu sang Mỹ đạt 268 tấn, trị giá 658.659 USD (chiếm 30,91%

về lượng và 34,58% về giá trị) Giá cá rô phi xuất khẩu trung bình năm 2005 là 2,19USD/kg Cuối tháng 1/2006 giá cá rô phi xuất sang Pháp và Bỉ cá đông lạnh nguyêncon là 1,85 USD/kg, sang Mỹ phi lê cá rô phi đông lạnh là 2,318 USD/kg [22]

Nhìn chung nuôi cá rô phi ở nước ta còn rất rải rác, không có vùng nuôi tậptrung tạo sản lượng tập trung đạt tiêu chuẩn chế biến xuất khẩu, không hình thành đượcđầu mối thu gom và tiêu thụ lớn, cung ứng kịp thời và liên tục cho chế biến xuất khẩu.Nuôi rô phi mới chỉ dừng lại ở tiêu thụ nội địa [22]

Trang 34

2.6.4 Giá cá rô phi trên thế giới

Giá các sản phẩm chế biến từ cá rô phi trên thị trường thế giới không có sự biến độnglớn trong 15 năm qua[49] Các sản phẩm chế biến từ cá rô phi có 3 loại chủ yếu: phi lê đônglạnh, phi lê tươi, đông lạnh nguyên con Từ năm 1992 - 2004, giá cá đông lạnh nguyên connhập khẩu tại các nước có giá từ 1,08 đô la/kg (năm 2002) đến 1,57 đô la/kg (năm 1996) Sảnphẩm phi lê đông lạnh có giá từ 2,77 đô la/kg năm 1994 đến 4,52 đô la/kg năm 1997 Sảnphẩm phi lê tươi có giá 4,75 đô la/kg năm 1998 đến 5,94 đô la/kg năm 2001 Theo dự đoáncủa Fitzsimmons (2005) [49] giá cá rô phi thị trường thế giới trong những năm tới không có sựbiến động và duy trì ổn định như hiện nay Sự ổn định giá các sản phẩm chế biến từ cá rô phi

là điều kiện thuận lợi để các sản phẩm cá rô phi nước ta thâm nhập thị trường thế giới

Hình 2.4 Giá các sản phẩm cá rô phi trên thế giới từ năm 1992- 2004 [49]

Trang 35

CHƯƠNG 3 PHUƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu thực hiện từ tháng 1 năm 2006 đến 9 năm 2006

3.2 Chọn điểm nghiên cứu

Vùng nghiên cứu: Tỉnh Hải Dương là tỉnh thuộc trong khu vực Đồng bằng Sông Hồng,

nơi có vị trí thuận lợi cho trao đổi hàng hoá và phát triển kinh tế Tỉnh có tiềm năng vềdiện tích NTTS lớn so với khu vực, nơi có phong trào nuôi thủy sản phát triển

Địa điểm điều tra nông hộ nuôi cá rô phi: Chọn 3 huyện Gia Lộc, Tứ Kỳ, Ninh Giang

để tiến hành điều tra Đây là những huyện có phong trào nuôi thủy sản phát triển, diệntích tiềm năng NTTS lớn Mặt khác, Gia Lộc, Tứ Kỳ là 2 huyện được tỉnh quan tâmphát triển nuôi cá rô phi của tỉnh

Trong mỗi huyện điều tra chọn ngẫu nhiên 3- 4 xã Cụ thể như sau:

 Huyện Tứ Kỳ chọn xã Đại Đồng, Hưng Đạo, Tân Kỳ, Dân Chủ

 Huyện Gia Lộc chọn 4 xã: Gia Hoà, Gia Lương, Liên Hồng, Thống Nhất

 Huyện Ninh Giang chọn 4 xã: Hoàng Hanh, An Đức, Hồng Dụ

Địa điểm điều tra tình hình thị trường tiêu thụ cá rô phi tại Hải Dương: Điều tra thị

trường tiêu thụ được tiến hành tại chợ cá đầu mối Thạch Khôi, thuộc huyện Gia Lộc vàmột số chợ khác trên địa bàn tỉnh Hải Dương

Địa điểm điều tra hiện trạng sản xuất giống: Điều tra tại Trung Tâm Quốc Gia Giống

thủy sản nước ngọt miền Bắc, Trại Cá giống Tứ Kỳ và 4 công ty CP cá giống Hà Xá,Nam Sách, Lê Hồng, Ninh Giang

3.3 Đối tượng điều tra

Điều tra quan điểm, chính sách, định hướng phát triển NTTS, nuôi cá rô phi vàcác số liệu thứ cấp thực hiện tại Sở NN & PTNT tỉnh Hải Dương, UBND và Phòng NN

Trang 36

& PTNT các huyện: Gia Lộc, Tứ Kỳ, Ninh Giang, Kim Thành, Thanh Miện, BìnhGiang, Cẩm Giàng, Kinh Môn, Thanh Hà.

Điều tra hiện trạng sản xuất giống thực các nhà quản lý các cơ sở sản xuất giốngtrong tỉnh

Điều tra những nông hộ nuôi cá rô phi tại Hải Dương về tình hình nuôi cá rô phi

và tiêu thụ sản phẩm

Điều tra các đối tượng thu mua và bán cá tại chợ cá trong tỉnh về tình hình tiêuthụ cá rô phi

3.4 Phương pháp thu thập số liệu

3.4.1 Thu thập số liệu sơ cấp

Thông tin thị trường cá rô phi trong và ngoài nước, chế biến xuất khẩu được thuthập từ những tài liệu đã công bố, các trang Website tỉnh Hải Dương

Các chính sách phát triển nuôi trồng thủy sản của tỉnh, báo cáo tổng kết NTTS,báo cáo tổng các chương trình, dự án NTTTS và nuôi cá rô phi, số liệu thống kê hàngnăm về NTTS, phát triển nuôi cá rô phi được thu thập tại Sở NN & PTNT tỉnh HảiDương, phòng NN & PTNT các huyện

Các số liệu thống kê về nuôi trồng thủy sản của tỉnh, huyện được thu thập tạiphòng thống kê các huyện và cục thống kê tỉnh (niên giám thống kê hàng năm)

Phỏng vấn chính thức bằng bộ câu hỏi đã chuẩn hoá và phỏng vấn bán chínhthức các nhà quản lý cấp tỉnh, huyện về ý kiến quan điểm, định hướng phát triển nuôi

cá rô phi tại Hải Dương

3.4.2 Phương pháp điều tra thực địa

Sau khi thu thập, tổng hợp số liệu thứ cấp Xác định những vùng có tiềm năng

và phong trào nuôi cá rô phi phát triển, những vùng được tỉnh định hướng phát triển

Trang 37

nuôi cá rô phi và tình hình sản xuất cá rô phi giống tại các cơ sở sản xuất giống Trên

cơ sở đó thực hiện các điều tra thực địa

Điều tra thực địa được thực hiện kết hợp quan sát thực tế và phương pháp điềutra phỏng vấn thông qua 4 bộ câu hỏi đã được chuẩn hoá cho 4 đối tượng:

+ Bộ câu hỏi để điều tra hiện trạng nuôi cá rô phi ở nông hộ tại các huyện (đãtrình bày phần trên) Huyện Tứ Kỳ điều tra 32 hộ, huyện Gia Lộc điều tra 30 hộ vàNinh Giang điều tra 30 hộ trong đó có 18 hộ nuôi cá rô phi

+ Bộ câu hỏi điều tra hiện trạng sản xuất giống cá rô phi tại 6 cơ sở sản xuấtgiống thuỷ sản trong tỉnh

+ Bộ câu hỏi dành cho nhà quản lý địa phương, số bản câu hỏi dùng điều tra là

10 bản

+ Bộ câu hỏi dành cho người bán cá rô phi tại chợ đầu mối, những người thugom cá tại ao Số phiếu điều tra 15 bản Số hộ được phỏng vấn tại chợ Thạch Khôichiếm 80 % tổng số hộ bán cá tại chợ

3.5 Xử lý số liệu

Số liệu đã thu thập được mã hoá và sắp xếp theo nội dung bản câu hỏi đã được

chuẩn hoá

Xử lý số liệu được thực hiện bằng phương pháp thống kê mô tả trên phần mềm

Microsoft Exell, Statistical Program for Social Studies (SPSS)

Trang 38

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN4.1 Điều kiện tự nhiên, hiện trạng kinh tế xã hội vùng nghiên cứu

4.1.1 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu

4.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu thời tiết

Hải Dương nằm tiếp giáp với 6 tỉnh, thành phố: Bắc Ninh, Bắc Giang, QuảngNinh, Hải Phòng, Thái Bình và Hưng Yên Là tỉnh có điều kiện thuận tiện cho việc lưuthông, trao đổi hàng hoá

Tỉnh Hải Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt,mùa mưa và mùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 3 đến tháng 10, mùa khô kéo dài từtháng 10 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm 1.300 - 1.700 mm, tậptrung chủ yếu vào các tháng 6, 7, 8 Nhiệt độ trung bình năm 23,30C, các tháng 12, 1,

2, 3 có nhiệt độ bình quân dưới 20oC, biên độ nhiệt độ 11-12oC, biên độ nhiệt độ ngàyđêm 6- 7OC Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 6 (31,8oC), tháng có nhiệt

độ trung bình thấp nhất là tháng 1 (14,2OC) Số giờ nắng trong năm 1.524 giờ; độ ẩmtương đối trung bình 85 - 87% Khí hậu nơi đây thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp vàNTTS [10], [31]

Địa hình tỉnh Hải Dương nghiêng và thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam.Địa hình chia làm 2 vùng:

Vùng phía Đông Bắc là đồi núi, đây là rìa của cánh cung Đông Triều Vùng này

có các dãy núi cao: Dây Diều cao 618 m, Đèo Chê cao 533 m, Núi Dài cao 509 m, độcao trung bình vùng đồi núi này 200- 300m so với mực nước biển Diện tích vùng nàychiếm 10% tổng diện tích toàn tỉnh [31], [32]

Vùng đồng bằng nằm trong hạ lưu sông Thái Bình chiếm 90% diện tích và đượcchia làm 3 tiểu vùng [31], [32]

Trang 39

4.1.1.2 Đất đai

Diện tích tự nhiên tỉnh Hải Dương là 1.648 km2 được chia làm 2 vùng: vùng đồinúi và vùng đồng bằng Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh 18.320 ha, chiếm 11% diệntích tự nhiên gồm 13 xã thuộc huyện Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn; làvùng đồi núi thấp phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệpngắn ngày Vùng đồng bằng còn lại 147.900 ha, chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù

sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ thích hợp với sản xuất nông nghiệp và pháttriển NTTS Khu vực này bao gồm các huyện Tứ Kỳ, Gia Lộc, Ninh Giang, CẩmGiàng, Bình Giang, Thanh Miện, Thanh Hà, Kim Thành, Nam Sách [31], [32]

Diện tích đất nông nghiệp - thuỷ sản 104.091 ha chiếm 63,1% diện tích đất tựnhiên, đất lâm nghiệp 9.049 ha (năm 2004), đất chuyên dùng 28.049 ha, đất ở 11.332

ha [10] Là tỉnh thuộc vùng Châu Thổ Sông Hồng, diện đất nông nghiệp - thuỷ sản HảiDương chiếm 63,1 % là điều kiện thuận lợi về đất đai cho việc phát triển diện tíchNTTS tại tỉnh

4.1.1.3 Sông ngòi, thuỷ văn

Hải Dương là tỉnh có hệ thống sông ngòi chằng chịt chạy qua Tổng chiều dàicác con sông chạy qua tỉnh gần 319,5 km bao gồm 8 con sông lớn sau: sông KinhThầy, sông Thái Bình, sông Kinh Môn, sông Lai Vu, sông Gùa, sông Mía, sông Cầu

Xe, sông Mạo Khê Ngoài ra, nơi đây còn có 6 con sông nhỏ: sông Kẻ Sặt, sông CửuYên, sông Đĩnh Đào, sông Tứ Kỳ, sông Ghẽ Các con sông này ngoài phục vụ tướitiêu trong nông nghiệp, thủy sản, còn được sử dụng vào giao thông [32]

Các cửa sông sông Thái Bình, sông Kinh Thày, sông Gùa, sông Mía chịu ảnhhưởng thuỷ triều Vào mùa khô nước sông kiệt, nước mặn thâm nhập sâu vào các consông gây nhiễm mặn các xã phía bắc Kinh Môn, đông nam huyện Tứ Kỳ và huyệnThanh Hà [31], [32]

Trang 40

Mực nước trung bình đo được tại Trạm Phả Lại sông Thái Bình từ năm 1995–

2005 từ 1,69 – 1,92 m, Tại Trạm Bá Nha, sông Gùa tương ứng 0,6- 0,78 m [10]

Ngày đăng: 06/07/2018, 10:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo Sở NN&PTNN tỉnh Hải Dương (2003), Kế hoạch phát triển thuỷ sản giống mới năm 2004, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển thuỷ sảngiống mới năm 2004
Tác giả: Báo cáo Sở NN&PTNN tỉnh Hải Dương
Năm: 2003
2. Bộ Thuỷ sản (2003), Bản dự thảo: Quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản các khu ruộng trũng vùng Đồng Bằng Sông Hồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản cáckhu ruộng trũng vùng Đồng Bằng Sông Hồng
Tác giả: Bộ Thuỷ sản
Năm: 2003
3. Bộ thuỷ sản (2005), Báo cáo tổng kết ngành thuỷ sản năm 2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết ngành thuỷ sản năm 2004
Tác giả: Bộ thuỷ sản
Năm: 2005
4. Bộ thuỷ sản (2006), Báo cáo tổng kết ngành thuỷ sản năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết ngành thuỷ sản năm 2005
Tác giả: Bộ thuỷ sản
Năm: 2006
5. Bộ Thuỷ sản (2005), “Tình hình thị trường cá rô phi thế giới”, Tập chí Thương Mại Thuỷ sản, số 1/2005, trang 38- 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thị trường cá rô phi thế giới”, "Tập chí ThươngMại Thuỷ sản
Tác giả: Bộ Thuỷ sản
Năm: 2005
6. Cục thống kê tỉnh Hải Dương (2002), Báo cáo tổng hợp điều tra thuỷ sản, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp điều tra thuỷ sản
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Hải Dương
Năm: 2002
7. Cục thống kê tỉnh Hải Dương (2003), Báo cáo tổng hợp điều tra thuỷ sản, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp điều tra thuỷ sản
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Hải Dương
Năm: 2003
8. Cục thống kê tỉnh Hải Dương (2004), Báo cáo tổng hợp điều tra thuỷ sản, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp điều tra thuỷ sản
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Hải Dương
Năm: 2004
9. Cục thống kê tỉnh Hải Dương (2006), Báo cáo tổng hợp điều tra thuỷ sản, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp điều tra thuỷ sản
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Hải Dương
Năm: 2006
10. Cục thống kê tỉnh Hải Dương (2006), Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương - 2005, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương - 2005
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Hải Dương
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006
11. Tổng cục thống kê (2005), Niên giám thống kê 2004, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2004
Tác giả: Tổng cục thống kê
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2005
12. Nguyễn Công Dân, Đinh Văn Trung, Nguyễn Thị An (1998), “Đánh giá kết quả thuần hoá một số dòng cá rô phi chọn giống (Oreochromis niloticus) nhập nội ở miền Bắc Việt Nam”, Tuyển tập báo cáo tại hội thảo khoa học toàn quốc về nuôi trồng thuỷ sản, 29-30 tháng 9 năm 1998, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quảthuần hoá một số dòng cá rô phi chọn giống (Oreochromis niloticus) nhập nộiở miền Bắc Việt Nam”, "Tuyển tập báo cáo tại hội thảo khoa học toàn quốc vềnuôi trồng thuỷ sản, 29-30 tháng 9 năm 1998
Tác giả: Nguyễn Công Dân, Đinh Văn Trung, Nguyễn Thị An
Năm: 1998
13. Nguyễn Công Dân, Trần Đình Luân, Phan Minh Quý, Nguyễn Thị Hoa (2003),“Chọn giống cá rô phi Oreochromis niloticus (dòng GIFT) nhằm nâng cao sức sinh trưởng và khả năng chịu lạnh”, Tuyển tập báo cáo khoa học về nuôi trồng thuỷ sản tại hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 2, ngày 24- 25/11/2003, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn giống cá rô phi "Oreochromis niloticus" (dòng GIFT) nhằm nâng cao sứcsinh trưởng và khả năng chịu lạnh”, "Tuyển tập báo cáo khoa học về nuôi trồngthuỷ sản tại hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 2
Tác giả: Nguyễn Công Dân, Trần Đình Luân, Phan Minh Quý, Nguyễn Thị Hoa
Năm: 2003
14. Nguyễn Dương Dũng, Nguyễn Thị An (1998), “Ứng dụng công nghệ sản xuất cá rô phi toàn đực”, Tuyển tập báo cáo tại hội thảo khoa học toàn quốc về nuôi trồng thuỷ sản, 29-30 tháng 9 năm 1998, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ sản xuất cárô phi toàn đực”, "Tuyển tập báo cáo tại hội thảo khoa học toàn quốc về nuôitrồng thuỷ sản, 29-30 tháng 9 năm 1998
Tác giả: Nguyễn Dương Dũng, Nguyễn Thị An
Năm: 1998
15. Nguyễn Văn Dương (2005), Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi cá rô phi dòng NOVIT 4 (Norwegian – Vietnamese Tilapia, 2004) ở các nông hộ nuôi thử nghiệm tại tỉnh Hải Dương và Nghệ An, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại Học học Nông Nghiệp nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả kinh tế nuôi cá rô phi dòngNOVIT 4 (Norwegian – Vietnamese Tilapia, 2004) ở các nông hộ nuôi thửnghiệm tại tỉnh Hải Dương và Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Văn Dương
Năm: 2005
16. Hà Bạch Đằng (2006), “Tác động của đề tài KC.06.22.NN đến phát triển sản xuất cá rô phi đơn tính ở Hải Dương”, Tạp Chí Thuỷ Sản, số 7/2006, trang 18- 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của đề tài KC.06.22.NN đến phát triển sản xuấtcá rô phi đơn tính ở Hải Dương”, "Tạp Chí Thuỷ Sản
Tác giả: Hà Bạch Đằng
Năm: 2006
17. Nguyễn Hữu Khánh (2005), “Tổng quan tình hình nuôi và tiêu thụ cá rô phi trên thế giới- Một số giải pháp phát triển nuôi cá rô phi ở Việt Nam”, Thông tin khoa học công nghệ và kinh tế thuỷ sản, số 5/2005, trang 4-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan tình hình nuôi và tiêu thụ cá rô phi trênthế giới- Một số giải pháp phát triển nuôi cá rô phi ở Việt Nam”," Thông tinkhoa học công nghệ và kinh tế thuỷ sản
Tác giả: Nguyễn Hữu Khánh
Năm: 2005
18. Nguyễn Thị Diệu Phương, Phạm Anh Tuấn (2003), “Ảnh hưởng của hàm lượng protein trong thức ăn và số lần cho ăn đến sinh trưởng, môi trường nuôi cá rô phi”, Tuyển tập báo cáo khoa học về nuôi trồng thuỷ sản tại Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 2, 24- 25/11/2003, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của hàm lượngprotein trong thức ăn và số lần cho ăn đến sinh trưởng, môi trường nuôi cá rôphi”, "Tuyển tập báo cáo khoa học về nuôi trồng thuỷ sản tại Hội nghị khoahọc toàn quốc lần thứ 2
Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Phương, Phạm Anh Tuấn
Năm: 2003
19. Nguyễn Văn Thìn (2003), “Nghiên cứu tính khả thi của việc nuôi cá rô phi cho xuất khẩu tại Miền Bắc Việt Nam”, Báo cáo tóm tắt hội nghị khoa học toàn quốc về nuôi trồng thuỷ sản, Bắc Ninh, ngày 24 -25/11/2003, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính khả thi của việc nuôi cá rô phi choxuất khẩu tại Miền Bắc Việt Nam”, "Báo cáo tóm tắt hội nghị khoa học toànquốc về nuôi trồng thuỷ sản
Tác giả: Nguyễn Văn Thìn
Nhà XB: NXB Nôngnghiệp
Năm: 2003
32. UBND tỉnh Hải Dương (2006), Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, Hệ thống giao thông tỉnh Hải Dương, định hướng phát triển kinh tế xã hội, Website:http://www.haiduong.org Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w