Qua các kết quả nghiên cứu cho thấy, sau mỗi thế hệ chọn giống đã góp phần tăng khoảng 10% đối với tính trạng như tính trạng tăng trưởng, góp phần ổn định và nâng cao chất lượng phẩm giố
Trang 1DỰ ÁN 1:
“CHỌN GIỐNG CÁ RÔ PHI ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHÙ HỢP VỚI CÁC ĐIỀU KIỆN KHÁC NHAU Ở NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2006 – 2015”
1 TÍNH CẦN THIẾT PHẢI THỰC HIỆN DỰ ÁN
Chọn giống đối với một số tính trạng có giá trị kinh tế, quan trọng đối với các đối tượng thuỷ sản đã được quan tâm trong những thập kỷ gần đây Những thành công ban đầu trong chọn giống đã góp phần nâng cao sản lượng cá hồi của Na Uy và tiếp theo là các đối tượng cá khác như cá chép ở Châu Âu trong hai thập kỷ qua Qua các kết quả nghiên cứu cho thấy, sau mỗi thế hệ chọn giống đã góp phần tăng khoảng 10% đối với tính trạng như tính trạng tăng trưởng, góp phần ổn định và nâng cao chất lượng phẩm giống di truyền của đối tượng được nghiên cứu đầu tư cho sản xuất
Từ 1997 trở lại đây, phương pháp chọn giống truyền thống này đã được áp dụng rộng rãi để nâng cao chất lượng di truyền của cá rô phi ở nhiều nước khác nhau Tuy nhiên các chương trình chọn giống này tập trung chủ yếu vào tính trạng tăng trưởng Đầu tiên là chương trình chọn giống nâng cao chất lượng di truyền cá rô phi ở Phillipine đã tạo ra cá rô phi dòng GIFT có tốc độ tăng trưởng vượt trội 75% so với quần đàn bố mẹ ban đầu sau 5 thế hệ chọn giống đồng thời tỷ lệ sống cũng được nâng cao (Bolivar and Newkirk, 2002) Ngoài ra, Phillipine cũng đầu tư nâng cao chất lượng di truyền của cá rô phi thông qua việc lai tạo với tổ tiên của chúng để tạo ra sản phẩm cá rô phi vằn GET EXELL có sức sống và sinh trưởng nổi trội khi được thử nghiệm ở các môi trường nuôi khác nhau (Taymen, 2004) Chọn giống để nâng cao tốc
độ tăng trưởng đã được thực hiện tại Malaysia với vật liệu chọn giống là cá rô phi dòng GIFT được nhập từ Phillipine đã cho kết quả tốt và sau mỗi thế hệ chọn giống cũng đã thu được tốc độ tăng trưởng tăng khoảng 10% (Ponzoni et al., 2005) Indonesia cũng đã đầu tư nghiên cứu để nâng cao chất lượng di truyền của cá rô phi vằn thông qua các tổ hợp lai khác nhau, kết quả là đã tạo ra được dòng cá Nila Jica có tốc độ sinh trưởng cao trong điều kiện môi trường nuôi của Indonesia (nguồn www.dkp.go.id) Chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng đã bắt đầu được thực hiện tại Malawi với kết quả thu được tốc độ tăng trưởng tăng khoảng 7,2% sau mỗi thế hệ (Maluwa and Gjerde, 2005) Chọn giống theo tính trạng nâng cao tỷ lệ phi lê được
Trang 2thực hiện tại Hà Lan trong những năm gần đây, kết quả cho thấy có thể chọn lọc để nâng cao tỷ lệ phi lê của cá rô phi (Rutten et al., 2005) Schwark và Langholz (1998)
đã công bố kết quả nghiên cứu cho thấy có thể chọn giống để làm chậm quá trình phát dục ở cá rô phi Ngoài ra, chọn giống theo tính trạng chậm thành thục sinh dục và chậm sinh sản được thực hiện tại Trung Quốc, Ai Cập Chọn giống để tăng khả năng chịu lạnh đã được thực hiện tại Israel Qua các kết quả nghiên cứu cho thấy một số tính trạng quan trọng của cá rô phi đã được quan tâm và có những đầu tư nghiên cứu nhất định trên thế giới
Ngoài phương pháp chọn giống truyền thống đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới để nâng cao phẩm giống theo tính trạng mà ta mong muốn thì việc sử dụng công nghệ di truyền phân tử (ADN) cũng bắt đầu được sử dụng Việc kết hợp công nghệ di truyền phân tử với chọn giống truyền thống của công ty Genomar đã tạo ra dòng cá rô phi GST1 và GST3 có tốc độ tăng trưởng cao hơn (khoảng 20%) sau mỗi thế hệ, hệ số thức ăn thấp hơn, tỷ lệ sống đạt cao và giảm tỷ lệ cận huyết xuống dưới 3% ở mỗi thế
hệ (Hans Magnus, 2004) Các nhà khoa học Mỹ và Israel đã phối hợp và tìm ra 2 marker liên quan đến tính trạng chịu lạnh và 3 marker liên quan đến tính trạng tăng
trưởng của cá rô phi lai O aureus x O mossambicus (Craani và ctv, 2000) Do đó đây
là một phương pháp chọn giống hiện đại và có tính thực tiễn cao sẽ được áp dụng nhiều trong thời gian tới
Cá rô phi đã được biết ở nước ta từ những năm 1950, đó là dòng cá rô phi đen
(Oreochrromis mossambicus) những năm tiếp theo cá này đã được nuôi với hình thức
quảng canh không đầu tư nhiều Nhưng do cá chậm lớn sinh sản dày dẫn đến đàn cá này không được người nuôi quan tâm Những năm 1970, chúng ta đã nhập đàn cá rô phi vằn, dòng cá này có nhiều ưu điểm hơn đàn cá rô phi đen nhưng do công tác giữ và sản xuất giống không tốt dẫn đến chất lượng giống suy giảm nhanh, người nuôi không chấp nhận Phong trào nuôi cá rô phi ở nước ta chỉ mới khôi phục lại sau những năm 1990s, sau khi một số dòng cá rô phi vằn có chất lượng được nhập vào nước ta như dòng Đài Loan, dòng Thái Lan, dòng GIFT và cá rô phi hồng Hiện nay các dòng cá rô phi vằn này vẫn đang được sản xuất ở nước ta
Trang 3Vai trò của công tác chọn giống và chất lượng giống đáp ứng cho nhu cầu nuôi ngày càng tăng của người dân có vai trò quan trọng Nghiên cứu chọn giống để nâng cao chất lượng di truyền của cá rô phi đã được quan tâm thực hiện ở Việt Nam Cá rô phi dòng GIFT thế hệ thứ 5 ngay sau khi nhập vào nước ta đã được sử dụng làm vật liệu ban đầu cho chương trình chọn giống nhằm nâng cao tốc độ sinh trưởng ở nước ta Sau 3 năm nghiên cứu với phương pháp chọn lọc gia đình đã cho hiệu quả chọn lọc ở thế hệ thứ 2 tăng thêm khoảng 20% về tốc độ tăng trưởng (Nguyễn Công Dân và ctv, 2001) Trong khuôn khổ dự án NORAD chương trình chọn giống vẫn được thực hiện đến nay đã thu được 7 thế hệ chọn giống về tốc độ tăng trưởng trong môi trường nước ngọt và tính trạng chịu lạnh cũng đã bắt đầu được nghiên cứu Tốc độ tăng trưởng của
cá chọ giống đã tăng khoảng trên 40% và sức sống cũng được cải thiện đáng kể Đàn
cá chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng này đã được cung cấp cho 61 tỉnh thành trong cả nước làm cá bố mẹ sản xuất giống cung cấp cho người nuôi Ngoài ra hàng năm nhiều cơ sở đã chủ động thay thế đàn cá bố mẹ bằng các thế hệ chọn giống mới nhất Nhờ có được định hướng phát triển của ngành và giống cá rô phi đã được chọn lọc nâng cao chất lượng đã đưa sản lượng cá rô phi nuôi của nước năm 2005 đạt trên 54.000 tấn (Số liệu điều tra quy hoạch cá rô phi, 2005) Ngoài ra do yêu cầu phát triển nuôi cá rô phi trong môi trường nước lợ mặn ở các vùng nước ven biển, chương trình chọn giống nhằm nâng cao tốc độ tăng trưởng của cá rô phi trong môi trường này đã bắt đầu được thực hiện Sau năm 2006 hy vọng chúng ta sẽ tìm ra được quần đàn cá có tốc độ sinh trưởng ưu việt trong môi trường nước lợ ở nước ta để tiếp tục chọn lọc để nâng cao phẩm giống cho người nuôi Đặc biệt hơn trong chương trình chọn giống này
kỹ thuật di truyền phân tử đã được áp dụng để hỗ trợ quá trình chọn lọc
Cá rô phi ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong tập đoàn cá nuôi ở nước ta hiện nay Mức độ đầu tư cũng như nhu cầu con giống ngày càng tăng, nhất là con giống có chất lượng cao cho người nuôi Đa dạng hoá các mô hình nuôi và tận dụng các loại hình mặt nước khác nhau do đó cần có những nghiên cứu tiếp tục để đưa ra được các dòng cá rô phi có tính ưu việt cho các điều kiện sinh thái khác nhau Hiện nay đối với điều kiện sinh thái khác nhau chúng ta cần tạo ra được các phẩm giống có tốc độ sinh trưởng nhanh trong điều kiện môi trường nước ngọt, khả năng phát triển trong điều kiện khí hậu lạnh và phát triển trong môi trường nước lợ, mặn Ngoài ra trong thời
Trang 4gian tới việc xuất khẩu cá rô phi cũng sẽ phát triển do đó đầu tư nghiên cứu nâng cao chất lượng và sản lượng cá phi lê cũng cần được đẩy mạnh
Chọn giống là biện pháp duy trì và nâng cao chất lượng phẩm giống trong những điều kiện môi trường nuôi nhất định do đó đây là một việc làm cần phải duy trì thường xuyên Để đảm bảo cung cấp đủ số lượng giống có chất lượng cho người nuôi và thực hiện được mục tiêu sản xuất khoảng 300 ngàn tấn cá rô phi thương phẩm vào năm
2015 thì việc nghiên cứu các chương trình chọn giống và áp dụng công nghệ di truyền
để tạo ra các phẩm giống cá rô phi sinh trưởng trong các điều kiện môi trường khác nhau, có tỷ lệ phi lê cao là cần thiết và có tính thực tiễn cao ở nước ta
2 QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU DỰ ÁN
2.1 Các quan điểm
Dựa trên các quan điểm về quy hoạch và phát triển rô phi ở nước ta cho thấy, việc xây dựng các chương trình chọn giống là cần thiết Cung cấp cho người nuôi con giống có chất lượng phù hợp với các điều kiện nuôi khác nhau sẽ làm giảm rủi ro đầu
tư của người nuôi, tăng hiệu quả kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực, xoá đói giảm nghèo và tạo công ăn việc làm ổn định cho người dân
Sản xuất hàng hoá có chất lượng không chỉ đa dạng hoá các sản phẩm mà còn tăng tính cạnh tranh của các sản phẩm cá rô phi nước ta trên thị trường thế giới Sản phẩm cá rô phi có tốc độ sinh trưởng nhanh và tỷ lệ phi lê cao là một trong những lợi thế cạnh tranh Đồng thời cá rô phi có khả năng chịu lạnh sẽ giúp đồng bào ở các khu vực có khí hậu lạnh có thể nuôi cá rô phi để tăng thu nhập và cải thiện đời sống
Khép kín quy trình chọn giống và cung cấp giống cá rô phi đến các nông hộ sẽ làm giảm rủi ro cho môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững có quy hoạch
và tiến tới các kết quả nghiên cứu sẽ mang tính thực tiễn cao hơn Thông qua các chương trình nghiên cứu sẽ nâng cao trình độ kỹ thuật, chuyên môn của cán bộ nghiên cứu trong chọn giống và quản lý chất lượng giống cá rô phi nói riêng và các giống loài thuỷ sản nói chung
Trang 52.2 Mục tiêu
Sử dụng các công nghệ di truyền chọn giống với sự trợ giúp của các chỉ thị phân
tử để tạo ra các phẩm giống cá rô phi có tốc độ sinh trưởng nhanh, chịu mặn, chịu lạnh
và tỷ lệ phi lê cao thích hợp với các điều kiện nuôi, mục đích khác nhau (nuôi ở phía Bắc, phía Nam, vùng nước ngọt, lợ, mặn và chế biến xuất khẩu) ở nước ta
3 NỘI DUNG DỰ ÁN
Dự án thực hiện bao gồm 3 nội dung nghiên cứu chính sau đây:
- Chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ phi lê cá rô phi (O niloticus)
nuôi trong môi trường nước ngọt
- Chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá rô phi (O niloticus) trong điều kiện khí hậu lạnh ở Việt Nam.
- Chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ phi lê của cá rô phi (O niloticus) trong môi trường nước lợ, mặn.
4 NHU CẦU THỊ TRƯỜNG
Hiện nay số trại sản xuất giống cá rô phi trên cả nước tăng nhanh chóng, năm
2005 số cơ sở sản xuất giống cá rô phi của cả nước là 190, trong đó miền Bắc 46 cơ
sở, miền Trung 26 cơ sở và miền Nam 118 cở sở Số cơ sở sản xuất giống cá rô phi đơn tính của cả nước tăng nhanh trong mấy năm gần đây, năm 2002 cả nước có 10 cơ
sở đến năm 2005 là 72 cơ sở (số liệu quy hoạch năm 2006) Nhu cầu cá rô phi đơn tính trong cả nước ngày càng tăng do đó số lượng các cơ sở sản xuất giống ngày càng phát triển Theo đánh giá để sản xuất đạt năng suất trên 300.000 tấn cá thương phẩm vào năm 2015 thì đòi hỏi phải có số lượng cá giống trên thuần và đơn tính đực trên 2 tỷ con Để sản xuất được số lượng cá giống đáp ứng được nhu cầu thị trường đòi hỏi chúng ta phải chuẩn bị đủ số lượng cá bố mẹ có chất lượng
Dự báo nhu cầu cá bố mẹ phục vụ chọn giống sẽ được phân bổ thành các khu vực khác nhau Khu vực miền núi phía Bắc và khu vực Tây Nguyên hàng năm cần khoảng 80.000 cá giống thuần chủng để gâu dựng thành đàn cá bố mẹ Số cá này sẽ đáp ứng được số lượng cá giống yêu cầu của khu vực phía Bắc và Tây Nguyên Số cá bố mẹ yêu cầu cung cấp cho các cơ sở sản xuất giống cá rô phi đơn tính nước ngọt hàng năm
để thay thế đàn cá bố mẹ trong cả nước lên đến hàng triệu con Ngoài ra số lượng cá
Trang 6bố mẹ cung cấp cho các cơ sở sản xuất giống cá rô phi đơn tính cung cấp cho vùng nước lợ cũng lớn tương đương Qua đó cho thấy nhu cầu cá rô phi bố mẹ thay thế hàng năm để cung cấp cho các cơ sở sản xuất giống là rất lớn Ngoài ra còn có nhều công ty mới hình thành tham gia vào lĩnh vực sản xuất giống cá rô phi đơn tính cung cấp cho người nuôi Nhu cầu cá rô phi bố mẹ hiện nay để thay thế đàn cá bố mẹ trong cả nước lên đến hàng triệu con
5 HÌNH THỨC ĐẦU TƯ và KINH PHÍ THỰC HIỆN
Hình thức đầu tư nghiên cứu và cung cấp các sản phẩm nghiên cứu cho các cơ sở sản xuất giống trong cả nước sẽ được kết hợp hai hình thức đầu tư Phần chính là nguồn vốn sự nghiệp khoa học của nhà nước và kết hợp với vốn tự có của các cơ sở nghiên cứu và nhận chuyển giao kết quả nghiên cứu
Tổng số kinh phí dự kiến cần cho đầu tư nghiên cứu là: 12.804,5 triệu đồng
Trong đó vốn ngân sách nhà nước: 9.704,5 triệu đồng Vốn tự có của các cơ sở nghiên cứu: 3.200,0 triệu đồng
Vốn tự có của các cơ sở nghiên cứu đóng góp dựa trên các trang thiết bị và cơ sở hạ tầng hiện có thông qua các đề tài và chương trình nghiên cứu Ngoài ra kinh phí để thực hiện 3 dự án liên quan chủ yếu dựa vào kinh phí tài trợ từ ngân sách của Nhà nước
6 ĐƠN VỊ THỰC HIỆN
- Chọn giống cá rô phi nhằm nâng cao sức sinh trưởng và tỷ lệ phi lê của cá nuôi trong môi trường nước ngọt sẽ được tiến hành tại Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản
1 và Viện nghiện cứu nuôi trồng thuỷ sản 2
- Chọn giống nâng cao tỷ lệ sống và khả năng chịu lạnh của cá rô phi sẽ được tiến hành tại Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1
- Chọn giống cá rô phi nhằm nâng cao sức sinh trưởng và tỷ lệ phi lê của cá nuôi trong môi trường nước lợ, mặn sẽ được tiến hành tại Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 và Viện nghiện cứu nuôi trồng thuỷ sản 2
Trang 7- Nghiên cứu các chỉ thị ADN phục vụ công tác chọn giống được thực hiện tại phòng thí nghiệm của Viện công nghệ sinh học Hà Nội và phòng thí nghiệm di truyền của Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1
7 CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN THEO CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Biện pháp thực hiện sẽ được cụ thể hoá theo 3 nội dung nghiên cứu chính của dự
án tổng thể dưới đây Chúng được phân chia thành 3 dự án nhỏ
7.1 Nội dung 1: Chọn giống nâng cao tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ phi lê cá rô phi nuôi trong vùng nước ngọt.
7.1.1 Mục tiêu của dự án
- Mục tiêu chung: Góp phần nâng cao chất lượng cá rô phi nuôi trong vùng nước
ngọt, đa dạng hoá sản phẩm, tăng tính cạnh tranh trên thị trường của các sản phẩm thuỷ sản
- Mục tiêu cụ thể: Nâng cao tốc độ sinh trưởng, sức sống và tỷ lệ phi lê của cá rô
phi nuôi trong vùng nước ngọt
7.1.2 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
Dự án tập trung nghiên cứu để nâng cao tốc độ sinh trưởng của cá rô phi và tỷ lệ phi lê của cá thương phẩm thông qua chọn lọc gia đình (combined selection), chọn lọc giữa các gia đình và ngay các cá thể trong cùng gia đình Sử dụng kết hợp giữa chọn giống truyền thống và trợ giúp của các marker phân tử liên quan đến tính trạng sinh trưởng và tỷ lệ phi lê của cá nuôi trong môi trường nước ngọt
Quần đàn cá bố mẹ sử dụng là đàn cá chọn giống thế hệ thứ 8 của Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 Tuy nhiên để tăng tính đa dạng về mặt di truyền và giới thiệu các nguồn gen mới một số quần đàn cá rô phi có thể được nhập nội như GET EXCELL, GST3 từ Phillipine, Nila Jica từ Indonesia các quần đàn này có thể được
sử dụng trực tiếp hoặc lai giữa các dòng để tạo các dòng cá mới có sức sinh trưởng và
tỷ lệ phi lê cao trong môi trường nước ngọt ở nước ta
Phương pháp chọn lọc gia đình kết hợp giữa 2 tính trạng tăng trưởng và tỷ lệ phi
lê sẽ được sử dụng (sib selection) Các gia đình sẽ được sản xuất trong giai hoặc bể
Trang 8composit sau đó ương riêng đến khi đạt kích thước trên 10 g/con sẽ được đánh dấu điện tử, thả nuôi chung trong vòng 4-5 tháng để theo dõi tốc độ tăng trưởng, khi thu hoạch sẽ tiến hành đánh giá tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ phi lê Các cá thể và gia đình được chọn lọc cho thế hệ tiếp theo sẽ dựa vào giá trị di truyền kết hợp của 2 tính trạng này
Các thông số di truyền sử dụng để đánh giá hiệu quả của quá trình chọn giống bao gồm: Hệ số di truyền tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ phi lê cá nuôi trong nước ngọt (h2), mối tương quan di truyền giữa tăng trưởng và tỷ lệ phi lê (r), giá trị chọn lọc sẽ được tính toán dựa trên chí số chọn lọc (selection index) kết hợp của 2 tính trạng trên
Dự đoán hiệu quả chọn lọc (Expected Selection Response)
Các phân tích chỉ thị ADN trợ giúp chọn giống (SNP, microsattlite, AFLP liên quan đến tăng trưởng và tỷ lệ phi lê) cá nuôi trong môi trường nước ngọt được thực hiện tại phòng thí nghiệm di truyền của Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1,2 và Viện công nghệ sinh học Hà Nội Kết quả phân tích các marker nghiên cứu để đánh giá: i) Kiểm định sự chuyển dịch không cân bằng trong gia đình ảnh hưởng đến thế hệ con ii) Kiểm định sự phân ly không tuân theo định luật Mendelian iii) Kiểm định mối tương quan giữa kiểu gen và vật liệu nghiên cứu dựa vào tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ phi lê của các gia đình nghiên cứu và mối quan hệ giữa 2 tính trạng này với các marker nghiên cứu
Các số liệu thí nghiệm được phân tích bằng phần mềm SAS, DMU, Asreml, đây
là các phần mềm chuyên dụng để phân tích số liệu thí nghiệm chọn giống Hai phương pháp được sử dụng để nâng cao tính chính xác của kết quả nghiên cứu đó là REML (Restricted maximum livelihood) để tìm ra các thông số di truyền và BLUP (Best linear unbias prediction) để tính toán giá trị chọn lọc, đảm bảo kết quả chọn lọc có độ chính xác cao nhất
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu sẽ tìm ra được phương trình tối ưu giữa trọng lượng cơ thể khi thu hoạch, một số chỉ tiêu hình thái đo bên ngoài để tính được trọng lượng phi lê của cá thể đó Nếu tìm ra được phương trình này sẽ hạn chế việc giết mổ
cá để đánh giá, sẽ hạn chế được số cá thể đánh dấu đưa vào nuôi và sẽ giảm chi phí
Trang 9cho quá trình chọn giống Phương pháp này hiện đã được sử dụng cho cá hồi của Na
Uy có thể nghiên cứu áp dụng trên chọn giống cá rô phi
7.1.3 Kinh phí thực hiện đề nghị từ ngân sách Nhà nước
Tổng kinh phí thự hiện dự án đề nghị từ ngân sách Nhà nước là 3.419,0 triệu
đồng
Chi tiết kinh phí thực hiện dự án
(triệu đồng)
1 Thuê khoán chuyên môn
- Lao động kỹ thuật, chuyên môn
- Lao động thuần tuý
250 70
3 Phân tích đánh giá chuyên môn di truyền chọn giống 50
4 Nguyên vật liệu
- Đàn cá bố mẹ phục vụ chọn giống (500 cặp x
400000đ/c)
- Thức ăn (84 tấn x 7,5 triệu/tấn)
- Giai lưới phục vụ sinh sản gia đình
- Hoá chất phân tích ADN
- Nhập đàn cá mới
200 630 120 360 100
5 Dụng cụ phụ tùng
- Ống nghiệm, găng tay, đầu típ
6 Năng lượng, nhiên liệu
- Điện, nước
7 Thiết bị máy móc chuyên dùng
- Dấu điện tử (PIT tags) 15.000 chiếc x 0,06
- Phần mềm phân tích số liệu
- Máy tính phân tích số liệu, máy ảnh
- Micropipetes
- Khấu hao, sửa chữa và thuê thiết bị
900 70 25 50 50
8 Xây dựng và sử chữa nhỏ
- Sửa chữa ao thí nghiệm
- Hệ thống điện chiếu sáng, bảo vệ
- Sửa chữa, bảo trì phòng thí nghiệm
50 10 20
9 Chi khác
Trang 10- Đánh giá nghiệm thu
- Quản lý cấp cơ sở
- Phụ cấp chủ nhiệm dự án
- In ấn, văn phòng phẩm
- Chi dự phòng
- Đào tạo cán bộ chuyên môn, hội thảo trong & ngoài
nước về lĩnh vực chọn giống thuỷ sản
20 24 05 20 10 100
7.2 Nội dung 2: Chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống trong điều kiện khí hậu lạnh ở Việt Nam.
7.2.1 Mục tiêu của dự án
- Mục tiêu chung: Góp phần phát triển nuôi cá rô phi ở các khu vực có thời tiết lạnh
nhằm mục tiêu xoá đói giảm nghèo và đa dạng hoá đối tượng nuôi trong điều kiện nhiệt độ thấp
- Mục tiêu cụ thể: Tạo ra dòng cá rô phi có tốc độ sinh trưởng nhanh trong điều kiện
nhiệt độ thấp trong mùa đông Kéo dài thời gian nuôi và tăng kích thước cá thương phẩm cho người nuôi cá rô phi Đàn cá này sẽ giúp xoá đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh lương thực
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
Dự án tập trung nghiên cứu để nâng cao tốc độ sinh trưởng của cá rô phi và tỷ lệ sống của cá thương phẩm trong điều kiện thời tiết lạnh, nâng cao khả năng chịu lạnh của đàn cá chọn giống thông qua chọn lọc gia đình; chọn lọc giữa các gia đình và ngay các cá thể trong cùng gia đình, đây cũng là phương pháp sử dụng cho dự án 1 Kết hợp giữa chọn giống truyền thống và trợ giúp của các marker phân tử liên quan đến tính trạng sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá nuôi trong môi trường nhiệt độ thấp để tăng hiệu quả chọn lọc sau mỗi thế hệ
Qua kết quả nghiên cứu đánh giá mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng và khả năng chịu lạnh theo chiều thuận Do đó quần đàn cá bố mẹ sử dụng là đàn cá chọn giống thế hệ thứ 8 của Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 Tuy nhiên để tăng tính
đa dạng có thể nhập nội và sử dụng thêm dòng cá rô phi xanh (O aureus) để lai với