I. Lý do chọn đề tài Việt Nam đang tiến hành “công ngiệp hóa, hiện đại hóa” trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang ở trong giai đoạn hội nhập toàn cầu hóa. Thế giới có nhiều sự nghiệp thay đổi như thị trường quốc tế cạnh tranh ngày càng gay gắt, sự phát triển của công nghệ thông tin, lao động tri thức và văn hóa công ty. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực trở thành một trong những vấn đề cấp thiết ngày nay. Đại hôi X của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định “ … nguồn nhân lực của con người yếu tố cơ bản để phát triển nhanh xã hội, và tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”, “… Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước …” . Nguồn nhân lực con người là điểm cốt yếu của nội lực, do đó phải bằng mọi cách phát huy yếu tố con người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Mặt khác nhằm thu hút nguồn nhân lực đẩy mạnh công nghiệp hóa thông qua việc hình thành các khu KXC, KCN là 1 vấn đề có tính quy luật chung của nhiều quốc gia hiện nay. Tình hình đáp ứng nguồn nhân lực cho các KCN, KCN, nhất là lao động chất lượng cao có nhu cầu tăng trưởng rất nhanh từ năm 2000 cho tới nay. Việc cung ứng nguồn nhân lực, nhất là nguồn lao động chất lượng cao nhằm đáp ứng sự phát triển của KCX, KCN gặp rất nhiều khó khăn. Từ đó đã đặt ra cho chúng ta cần phải xem xét tìm hiểu nguyên nhân, để có những giải pháp chiến lược phù hợp. Đó cũng xhinhs là lý do mà em mạnh dạn chọn đề tài “ Dân số và vấn đề phát triển việc làm”. Quá trình đô thị hóa đã và đang diễn ra gay gắt ảnh hưởng mạnh mẽ trên phạm vi cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng. Ở tầm vĩ mô, một mặt đô thị hóa là một trong những những giải pháp quan trọng nhất trong chiến lược phát triển kinh tế thị trường theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáp ứng mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phát triển mạnh các nghành công nghiệp và thương mạidịch vụ mà Đảng và Nhà Nước đã đề ra trong giai đoạn từ nay cho đến năm 2020. Mặt khác đô thị hóa cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh đến sự quan trọng của đất nước đó là phát triển và tồn tại. Tuy nhiên bên cạnh những tác động tích cực vẫn còn không ít những bất cập, tồn tại đặt ra cần phải giải quyết, đặc biệt là vấn đề lao động – việc làm đối với một bộ phận lớn dân cư nông thôn bị rơi vào tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm khi bị thu hồi đất đai, phục vụ mục tiêu đô thị hóa.
Trang 1I Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang tiến hành “công ngiệp hóa, hiện đại hóa” trong bốicảnh nền kinh tế thế giới đang ở trong giai đoạn hội nhập toàn cầu hóa.Thế giới có nhiều sự nghiệp thay đổi như thị trường quốc tế cạnh tranhngày càng gay gắt, sự phát triển của công nghệ thông tin, lao động trithức và văn hóa công ty Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực trở thành mộttrong những vấn đề cấp thiết ngày nay
Đại hôi X của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định “ … nguồnnhân lực của con người- yếu tố cơ bản để phát triển nhanh xã hội, và tăngtrưởng kinh tế nhanh và bền vững”, “… Con người và nguồn nhân lực lànhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóahiện đại hóa đất nước …” Nguồn nhân lực con người là điểm cốt yếucủa nội lực, do đó phải bằng mọi cách phát huy yếu tố con người và nângcao chất lượng nguồn nhân lực
Mặt khác nhằm thu hút nguồn nhân lực đẩy mạnh công nghiệp hóathông qua việc hình thành các khu KXC, KCN là 1 vấn đề có tính quyluật chung của nhiều quốc gia hiện nay
Tình hình đáp ứng nguồn nhân lực cho các KCN, KCN, nhất là laođộng chất lượng cao có nhu cầu tăng trưởng rất nhanh từ năm 2000 chotới nay Việc cung ứng nguồn nhân lực, nhất là nguồn lao động chấtlượng cao nhằm đáp ứng sự phát triển của KCX, KCN gặp rất nhiều khókhăn Từ đó đã đặt ra cho chúng ta cần phải xem xét tìm hiểu nguyênnhân, để có những giải pháp chiến lược phù hợp Đó cũng xhinhs là lý do
mà em mạnh dạn chọn đề tài “ Dân số và vấn đề phát triển việc làm”
Quá trình đô thị hóa đã và đang diễn ra gay gắt ảnh hưởng mạnh
mẽ trên phạm vi cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng Ở tầm vĩ mô,
Trang 2một mặt đô thị hóa là một trong những những giải pháp quan trọng nhấttrong chiến lược phát triển kinh tế thị trường theo hướng chuyển dịch cơcấu kinh tế đáp ứng mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Phát triển mạnh các nghành công nghiệp và thương mại-dịch vụ mà Đảng
và Nhà Nước đã đề ra trong giai đoạn từ nay cho đến năm 2020 Mặtkhác đô thị hóa cũng là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánhđến sự quan trọng của đất nước đó là phát triển và tồn tại Tuy nhiên bêncạnh những tác động tích cực vẫn còn không ít những bất cập, tồn tại đặt
ra cần phải giải quyết, đặc biệt là vấn đề lao động – việc làm đối với một
bộ phận lớn dân cư nông thôn bị rơi vào tình trạng thất nghiệp và thiếuviệc làm khi bị thu hồi đất đai, phục vụ mục tiêu đô thị hóa
II Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề lao động - việc làm, chuyển dịch cơ cấu việc làm và cơ cấu laođộng nông nghiệp, nông thôn được chú ý nghiên cứu từ nhiều năm nay,đặc biệt là các công trình nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động & Xãhội- Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Viện Chiến lược phát triển-
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương,Trường Đại học Lao Động – Xã Hội, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
và nhiều nhà nghiên cứu khác Trong đó, có thể kể đến các công trìnhnghiên cứu có liên quan sau:
- Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi
để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầngkinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia.( Đề tài độc lậpcấp nhà nước 12/2005) Nghiên cúư này được thực hiện tại 8 tỉnh/TP: Hà
Trang 3Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bắc Ninh, Hà Tây, Cần Thơ
và Bình Dương với mục tiêu:
+ Đánh giá thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất
bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu
hạ tầng kinh tế, xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia hiện nay,chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế của vấn đề này + Đề xuất các quan điểm, phương hướng, giải pháp và các điều kiệngiải quyết thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xâydựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế
xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia những năm tới
- Nghiên cứu đề xuất phương án đào tạo và phát triển nguồn nhân lựcnông thôn ngoại thành Hà Nội trong quá trình đô thị hoá gắn với côngnghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn thành phố Hà Nội ( Đề tài khoa học
và công nghệ cấp thành phố - 2005) Cùng với xu thế khách quan và tấtyếu của đô thị hoá là sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động
ở các vùng bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp, trong đó vấn đề giảiquyết việc làm cho người lao động thuần nông gặp phải những trở ngạilớn khi họ buộc phải chuyển đổi từ việc làm nông nghiệp không cần đếntrình độ chuyên môn kĩ thuật sang việc làm phi nông nghiệp đòi hỏi phải
có trình độ chuyên môn kĩ thuật Nghiên cứu này hướng đến đề xuấtnhững giải pháp phát triển nguồn nhân lực nông thôn với phương án khảthi và mô hình phù hợp với xu thế đô thị hoá nhanh và chuyển dịch cơcấu kinh tế ngoại thành Hà Nội
- Về vấn đề giải quyết việc làm đề tài cấp Bộ (2000) “Nhữngbiện pháp chủ yếu giải quyết lao động thiếu việc làm ở vùng thuần nông”
do Trung tâm Nghiên cứu Dân số và Nguồn lao động - Viện Khoa họcLao động và Xã hội thực hiện, đã đưa ra nhận định: Khả năng tạo việc
Trang 4làm ở khu vực nông thôn hiện nay rất phong phú và đa dạng, tạo việc làmphi nông nghiệp ngay tại địa phương, tăng cường dạy nghề cho lao độngnông thôn, ưu tiên các dự án quốc gia và quốc tế cho việc giải quyết việclàm, dạy nghề và nâng cao dân trí.
- TS Nguyễn Hữu Dũng và các tác giả khác (1997) trong nghiêncứu "Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam” đã đề cập đến chínhsách giải quyết việc làm của nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐHđất nước Về mặt lý luận nghiên cứu đã nêu khá chi tiết về phương phápluận, cách tiếp cận về chính sách việc làm, hệ thống khái niệm về laođộng – việc làm và phương pháp tính Đặc biệt công trình nghiên cứu đãbước đầu đề cập đến khái niệm thị trường lao động, mối quan hệ giữacung- cầu lao động và vai trò đối với giải quyết sức ép về việc làm Vềmặt thực tiễn các tác giả đã phân tích đánh giá thực trạng vấn đề việc làm
ở nước ta nói chung, trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng và nhữngnguyên nhân chủ yếu; khái quát dòng di chuyển lao động trên thị trườnglao động, nhất là di chuyển từ nông thôn ra thành thị tìm việc làm Trên
cơ sở đó đưa ra hệ thống quan điểm giải quyết việc làm trong quá trìnhđẩy mạnh CNH-HĐH ở nước ta Giải pháp cơ bản cho khu vực nôngthôn đó là giải quyết nạn thiếu việc làm còn rất phổ biến và nghiêmtrọng, việc làm kém hiệu quả và thu nhập thấp thông qua chuyển dịch cơbản cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng CNH- HĐH
- Trường Đại học Kinh tế quốc dân trong đề tài độc lập cấp nhànước KX.01 -2005 đã đề cập đến vấn đề “việc làm và thu nhập cho laođộng bị thu hồi đất trong quá trình CNH-HĐH và đô thị hoá” Về mặt lýluận nghiên cứu đã đề cập đến sự cần thiết phải thu hồi đất, CNH-HĐH
và đô thị hoá tất yếu sẽ dẫn đến thu hồi đất nông nghiệp và do đó một bộphân dân sẽ mất việc làm trong nông nghiệp Đây vừa là cơ hội, vừa là
Trang 5thách thức đối với nước ta trong quá trình phát triển Về mặt thực tiễnnghiên cứu chỉ ra những bất cập về vấn đề đảm bảo thu nhập, đời sống,việc làm của người có đất bị thu hồi Việc thu hồi đất là điều kiện chuyểndịch cơ cấu lao động theo hướng tiến bộ nhưng kế hoạch thu hồi đấtkhông gắn với kế hoạch đào tạo nghề nên người dân mất đất không cóviệc làm và thu nhập, đời sống người dân tiềm ẩn sự bất ổn bên trong.Nghiên cứu dự báo nhu cầu thu hồi đất và đưa ra khung chính sách đồng
bộ bao gồm: Chính sách đền bù, bồi thường thiệt hại; Chính sách tạo việclàm; Chính sách tái định cư; Chính sách về trách nhiệm và nghĩa vụ củacác đơn vị được nhận đất thu hồi sử dụng vào các mục đích phát triển cáckhu công nghiệp, khu đô thị và các chính sách xã hội liên quan để đảmbảo việc làm và thu nhập cho đối tượng bị thu hồi đất.Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về mối quan hệ tương tácgiữa đô thị hoá với sự dịch chuyển về cơ cấu lao động, việc làm cả các hộgia đình trong khu vực quy hoạch đô thị hoá Chính vì vậy, nghiên cứu đềtài này là rất cần thiết nhằm phát hiện ra các tác động của quá trình đô thịhoá đối với cơ cấu lao động, việc làm của các hộ gia đình nằm trong vùng
đô thị hoá Kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần vào việc hoạch địnhchiến lược đô thị hoá trong thời gian tới ở Việt Nam
III Một số khái niệm
Khái niệm về lao động ,việc làm
Lao động : là hoạt động của con người sử dụng công cụ lao động nhằm
thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu
Lực lượng lao động: là khái niệm dùng để chỉ tập hợp gồm tất cả những
người trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động
Trang 6Nghề nghiệp: là những việc làm và công việc mà cá nhân thực hiện từ
thấp đến cao về kĩ năng, kĩ xảo trong quá trình lao động xã hội Mỗi nghề là mộtloại hình riêng biệt và được biểu hiện ở việc làm Có nghề chưa chắc đã có việclàm, có việc làm chưa chác đã có nghề Để có nghề cần phải có thời gian họctập và đào tạo
Thu nhập: là nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt đọng nào
đó Như vậy thu nhập của người lao đông được biểu hiện bằng một số lượngtiền tệ của một người lao động trong một ngày, trong một tháng hoặc mọt năm
Việc làm: là công việc mà người lao động tiến hành nhằm tiến hành thu
nhập bằng tiền hoặc hiện vật
Tại điều 13 của bộ luật lao động được Quốc hội thông qua ngày26/03/1994 ghi: “ Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luậtcầm, đều được thừa nhận là có việc làm
Người có việc làm: là người đang làm việc trong lĩnh vực ngành nghề và
dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật nghiêm cấm, đem lại thu nhập đểnuôi sống bản thân với gia đình, đồng thời góp một phần cho xã hội
Theo các xác định của một số nước: người có việc làm là người thuộc lụclượng lao đọng mà người đó trong vòng một tuần trước cuộc điều tra thỏa mãncác điều kiện:
+ Làm việc ít nhất một giờ đẻ lấy tiền công hoặc lợi nhuận
+ Làm việc ít nhất 15 giờ không lấy tiền công ở gia đình
+ Tạm thời không làm việc vì ốm đau, nghỉ phép hay những lí do tưngtự
Còn theo cuốn tình hình thanh niên Việt Nam thì người có việc làm là người từ
đủ tuổi từ 15 trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế, mà trong tuần lễtrước điều tra:
Trang 7- Đang làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc lợi nhuậnbằng tiền lương hay hiện vật
- Đang làm công việc không được trả tiền lương, tiền công hay lợinhuận tronh các công việc sản xuất kinh doanh của hộ gia đình mình
- Đã có công việc trước đó, sang tuần lễ trước điều tra tạm thời khônglàm việc và sẽ trở lại tiếp tục làm việc sau thời gian tạm nghỉ việc
+ Người làm công ăn lương(cán bộ, công nhân viên)
+ Thành viên, lực lượng vũ trang
Các loại nghề nghiệp:
- Nghề nông nghiệp: là việc mà người lao động thực hiện hoạt độnglao động trồng trọt hoặc chăn nuôi( chăn nuôi ở quy mô không lớn, và chủ yếu
là các giống gia súc gia cầm), hoặc kết hợp cả trồng trọt và chăn nuôi
Một người được goi là nông nghiệp nếu thu nhập từ nông nghiệp chiếm70% trở lên trong tổng thu nhập của họ
- Nghề phi nông nghiệp: là việc làm mà người lao động táchkhỏi sản xuất nông nghiệp và người lao động phải có chuyên môn kỹ thuật, taynghề, bậc thợ…
Một người được gọi là làm phi nông nghiệp nếu thu nhập từi các nghềphi nông nghiệp chiếm 70% trở lên trong tổng thu nhập của họ
Chia nghề phi nông nghiệp thành các nhóm nghề sau:
Trang 8+ Nhóm buôn bán-dịch vụ: Nếu một người có thu nhập từ buônbán-dịch vụ chiếm trên 70% tổng thu nhập của họ thì họ thuộc nhóm buôn bán-dịch vụ.
+ Nhóm lành nghề: Nếu một người có thu nhập từ một nghề nào
đó thuộc phi nông nghiệp chiếm trên 70% tổng thu nhập của họ thì họ thuộcnhóm lành nghề
+ Nhóm hỗn tạp: Nếu một người làm nhiều nghề thuộc phi nôngnghiệp và thu nhập từ mỗi nghề dưới 70% tổng thu nhập thò người đó thuộcnhóm hỗn tạp
- ề hỗn hợp: Là việc làm mà người lao động đồng thời thực hiện hoạtđộng lao động nông nghiệp và phi nông nghiệp Trong đó có thể là sự kết hợpcủa một hoặc hai nghề trong nông nghiệp với một hoặc nhiều ngành nghề trongphi nông nghiệp
Một ngươid được gọi là làm hỗn hợp nếu thu nhập từ nông nghiệp chiếm
từ 31% đến 69% trong tổng thu nhập của họ
Thất nghiệp: là người đang có nhu cầu làm việc và tích cực tìm việcnhưng chưa được làm việc hoặc đang chờ làm việc
Các loại hình thất nghiệp như:
+ Thất nghiệp lâu dài: Người có khả năng lao động nhưng khôngthể tìm được việc làm, không có hy vọng sớm tìm được việc làm
+ Thất nghiệp mang tính tạm thời: một số trường hợp do chuyểnhướng sản xuất hoặc chuyển hướng trong một số ngành nghề
IV Nội dung của vấn đề
1) Thực trạng
Trang 9Dân số Việt Nam hiện nay là hơn 85,7 triệu người, trong đó khoảng 19triệu thanh thiếu niên đang trong độ tuổi lao động, mỗi năm bình quân tăng hơnmột triệu người Với tốc độ tăng dân số như vậy, lao động việc làm luôn là vấn
đề cấp bách, nhất là trong bối cảnh Việt Nam mở cửa hội nhập nền kinh tế hiệnnay
Hiện thị trường lao động Việt Nam có 43,8 triệu người lao động, trong đó70% là ở nông thôn Theo báo cáo gần đây nhất thì vào đầu măm nay, con sốmất việc đã vào khoảng 80 nghìn người, tập trung chủ yếu ở những nơi có nhiềukhu công nghiệp, khu chế xuất như : thành phố HCM, Hà Nội, Bình Dương,Đồng Nai, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc…
Hà Nội sau khi mở rộng có quy mô dân số lớn thứ 2 toàn quốc (sauTPHCM) Số người bước vào tuổi lao động hàng năm khoảng 80 nghìn người
Số lao động dư dả do mất việc làm, do chuyển đổi mục đích sử dụng đất nộngnghiệp khoảng 30 nghìn người 1 năm, Số dân cần tìm việc làm hằng nămkhoảng 120 nghìn người
Một thực trạng lao động ở nước ta nói chung là thừa lao động nhưng lạithiếu lao động có chuyên môn tay nghề, đáp ứng được yêu cầu của công việc
VD như Hà Nội là nơi thu hút nhiều lao động tiwf các vùng, nhất là từ nôngthôn trong đó lao động nữ rất nhiều (85-90%), thực trạng này đã đặt ra chochúng ta nhiều vấn đề cần giải quyết như nhà ở, đời sống, kinh tế, văn hóa
Nước ta có gần 44 triệu lao động, trong đó có khoảng 10 triệu làm kinh tếphi chính thức, tức là làm các nghề như buôn bán, dịch vụ, không công nghiệpcũng chẳng nông nghiệp, càng không phải doanh nghiệp doanh nhân
Lao động phi chính thức này làm ra 20% GDP
Theo các chuyên gia Xã Hội Học, tại các nước Châu Á, trong đó cí ViệtNam, thu nhập từ khu vực việc làm phi chính thức chiếm 30-60% tổng thu nhậpquốc gia Đối với những người nghèo, dân nhập cư, không bằng cấp, hộ khẩu,
Trang 10tay nghề thấp thì việc được chấp nhận vào làm việc trong các donh nghiệp phichính thức là bướ khởi đầu khả thi nhất để cho họ thấy có thể cải tạo thu nhập,học tập nâng cao trình độ tay nghề
Tuy nhiên hiện nay đối tượng lao động này vẫn chưa được Xã Hội côngnhận đúng mức về cả pháp lý lẫn tâm lý Sự đánh giá của nhiều “ người ThànhPhố” đối với “ dân nhập cư”, hàng rong,trẻ đường phố vẫn còn xem thường,thương hại
Nguyên nhân của khu vực kinh tế phi chính thức gắn liền với hiện tượng
đô thị hóa chóng mặt ở VN Đô thị hóa đã lấy đi một diện tích khá lớn đất đainông nghiệp, cộng hưởng với chính sách chuyển đổi cơ cấu lao động nông thônchưa tốt, đã và đang trực tiếp tác động đến cuộc sống hàng chục triệu nông dânkhắp cả nước Mất đất canh tác, người dân buộc phải xa rời đồng quê, bỏ contrâu cái cày lên đô thị kiếm sống mất nghề cày cấy, người dân ko còn nhiều.Lựa chọn ngoài các công việc giản đơn và tuyệt đại đa số, là “ phi chính thức”như cách Xã Hội thường gặp
Nguồn lao động ở nước ta có quy mô lớn và tăng rất nhanh Số ngườibước vào độ tuổi lao động hàng năm tăng lên không ngừng Năm 1990 là 1,448nghìn người, năm 1995 là 1,6 nghìn người, dự báo năm 2010 là 1,83 nghìnngười và tổng số người trong độ tuổi lao động của nước ta vẫn tăng lên liên tục.Giải quyết việc làm này cho đội quân lao động khổng lồ này là một thách thứclớn cho nền kinh tế, một vấn đề kinh tế xã hội nan giải
Xét về mặt cơ cấu nghề nghiệp, trong quá trình công nghiệp hóa hiện đạihóa đất nước lao động công nghiệp có xu hướng giảm dần, lao động trong khuvực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng lên, song điều đó đến nay Việt Namvẫn có lao động theo ngành hết sức lạc hậu: Lao động chủ yếu làm trong khuvực nông, lâm ngư nghiệp Việc cải thện các câu lạc bộ này diễn ra rất chậmchạp
Trang 11Mỗi năm tăng thêm từ 1 triệu đến 1,4 triệu lao động Để đảm bảo đủ việclàm cho số lao động này là một việc khó khăn Trong nông nghiệp tuy còn 10triệu ha đất cần lao động này là một việc khó khăn Trong công nghiệp muốn cóviệc làm cho 1,3 triệu người trong điều kiện kỹ thuật tthaaps kém như hiện naycần tăng tổng mức đầu tư của toàn xã hội lên từ 5000 tỉ đồng hiện nay lên đến
15000 tỉ đồng hằng năm Điều này không dễ dàng, đấy là chư kể đến trang bị kỹthuật, công nghệ hiện đại hơn thì số tiền đầu tư vào cho một chỗ làm việc sẽtăng lên gấp 10 lần hiện nay hoặc cao hơn
Cả nước còn có khá nhiều thanh niên chưa có việc làm ổn định Nhữngcon số 70% thanh nieen đô thị và 94,7% thanh niên nông thôn không có việclàm ổn định, không có chuyên môn nghiệp vụ… đủ cho thấy mức báo động vềcông tác đào tạo nghề cho thanh niên Mặc dù so với chục năm về trước, hệthống các trường chuyên nghiệp và đại học đã tăng lên gấp nhiều lần nhưngchất lượng đào tạo chưa đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động Trongkhi ở cả nông thôn và thành phó , số thanh niên chưa có việc làm thì khá nhiềudoanh nghiệp vẫn thiếu lao động trầm trọng Gần đây qua các hội chợ việc làm
có thể thấy, chỉ có khoảng 20% lao động đáp ứng đc nhu cầu tuyển dụng củacác doanh nghiệp Đó là chưa kể đến phần đông thanh niên còn yếu về ngoạingữ và ít được tiếp cận với công nghệ thông tin Nhiều người đã qua các trườnglớp đào tạo nghề nhưng kỹ năng vẫn còn kém
Vài ba năm trở lại đây cả nước có trên 120 nghìn lao động đi làm việc ởnước ngoài Mặc dù các đối tác yêu cầu tuyển dụng lao động cho nhiều ngànhnghề nhưng lao động Việt Nam chủ yếu phù hợp với ngành xây dựng Nhờ xuấtkhẩu lao động bình quân hàng năm các doanh nghiệp nhà nước thuộc bộ xâydựng thu khoảng 30 triệu USD Nhưng theo các nhà quản lý lao động, krrts quảtrên có thể còn cao hơn nhiều, nếu lao động được đào tạo nghề trước khi ranước ngoài làm việc
Trang 12Do yêu cầu phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, đẩy mạnh côngnghiệp hóa ,hiện đại hóa và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, việc xây dựngcác khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị…nhằm đáp ứng nhu cầu pháttriển là một thực tế khách quan, tuy nhiên, quá trình trên cũng đã và đang làmnảy sinh nhiều vấn đề kinh tế, xã hội rất bức xúc ở ác địa phương có tốc độ côngnghiệp hóa và đo thị hóa diễn ra nhanh chóng Trong vấn đề việc làm của ngườinông dân sau khi bị thu hồi đất được coi là vấn đề bức xúc nhất Đây cũng chính
là thách thức đối với chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn nói riêng,phát triển đất nước nói chung
Theo Bộ Lao Động, Thương binh và Xã hội, từ năm 1990 đến 2003, diệntích đất bị thu hồi để phục vụ cho các mục ddichs sử dụng lên tới 697.410 ha,những năm sau đó, trung bình mỗi năm cả nước ,mất khoảng50 nghìn ha đấtnông nghiệp cho các nhu cầu phi công nghiệp Tính bình quân cứ 1 ha đất bị thuhồi sẽ làm cho 13 lao động nông nghiệp bị mất việc; riêng vùng đồng bằng sôngHồng là 15 người Trong 5 năm (2001-2004), số người bị mất việc do bị thu hồiđất phục vụ cho các nhu cầu trên ở Hà Nội là gần 800.000 người; Hà Nam:12.360 người; Hải Phòng: 13.274 người; Hải Dương: 11.964 người; Bắc Ninh:2.222 người; Tiền Giang: 1.459 người; Quảng Ninh: 997 người v.v Theo tínhtoán của Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, giai đoạn từ 2006-2010,tổng diện tích đất nông nghiệp sẽ bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp,khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợiích quốc gia sẽ là 192.212 ha và theo đó sẽ 2.498.756 lao động nông thôn mấtviệc
Trên thực tế, diện tích đất nông nghiệp chỉ có hơn 9 triệu ha, chiếmkhoảng 28% diện tích của cả nước, lực lượng lao động ở khu vực nông thônhiện có khoảng 33.971 ngàn người (chiếm 75,03% tổng lao động cả nước) vàsau mỗi năm lại tăng thêm khoảng 45 vạn người Vì vậy, những lao động nông
Trang 13thôn đã bị thu hồi đất có rất ít cơ hội được cấp lại đất để tiếp tục sinh sống bằngnghề cũ Do đó, hàng triệu người, chủ yếu là nông dân lâm vào cảnh không cóhoặc thiếu việc làm, thu nhập giảm hoặc không có hoặc thu nhập Điều đángchú ý trong số những người bị mất việc nhóm người bị ảnh hưởng nhiều nhất ở
độ tuổi từ 35 tuổi trở lên (chiếm khoảng 50%) - là nhóm người thường có tráchnhiệm tạo thu nhập chính cho gia đình, và ở độ tuổi của họ vấn đề học vàchuyển đổi nghề mới không dễ dàng Đây là một bài toán khó, một thách thứclớn đối với phát triển
Trong những năm qua, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợcho người dân những vùng bị thu hồi đất như chính sách định cư tại chỗ, hỗ trợđào tạo nghề, chuyển đổi nghề, nhưng do nhiều yếu tố khách quan và chủquan nên số lượng nông dân mất việc làm, thiếu việc làm vẫn chưa thể khắcphục triệt để
Trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nền kinh
tế nước ta phải chấp nhận một “sân chơi” bình đẳng trong quan hệ kinh tế quốc
tế - sẽ không có sự phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ nội địa và nhậpkhẩu; phải mở cửa thị trường, bảo hộ hạn chế, dỡ bỏ hàng rào thuế quan và tiếntới sự minh bạch trong dự báo chính sách thương mại v.v Đây là những tháchthức lớn đối với các ngành sản xuất và dịch vụ trong nước, đặc biệt đối với sảnxuất nông nghiệp
Công nghệ tiên tiến ngày càng thâm nhập vào lĩnh vực nông nghiệp, quy
mô sản xuất lớn và đại trà, tạo ra sức cạnh tranh khốc liệt làm cho các cơ sở sảnxuất trong nước trong đó có những hộ kinh doanh cá thể nhỏ, lẻ, manh mún hạnchế về trình độ công nghệ, phương pháp quản lý dễ dàng lâm vào thế yếu, bịphá sản hoặc thu hẹp sản xuất Quá trình này sẽ dẫn tới sự cạnh tranh về cơ hộiviệc làm giữa lực lượng lao động mới, có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao hơnvới lực lượng lao động không có chuyên môn và trình độ kỹ thuật, tay nghề
Trang 14Một phần trong số đó trở thành lao động dư thừa do sự đào thải và nhu cầu củathị trường.
Thực tế hiện nay cho thấy, việc làm của người nông dân đang biếnchuyển theo các hướng: (I) việc làm thuần nông vẫn tiếp tục được duy trì theothời vụ, nhưng đang giảm dần về số lượng; (II) một số chuyển hẳn sang thựchiện mô hình kinh tế nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn (phát triển nông trại,phát triển các loại cây nông, công nghiệp hàng hoá), tuy nhiên số này còn rất ít;(III) một số khác chuyển sang tìm kiếm cơ hội việc làm phi nông nghiệp ngoàithời vụ nông nghiệp hoặc chuyển hẳn sang ngành nghề khác thông qua việctham gia các chương trình đào tạo nghề; (IV) trở thành nguồn lực lao động xuấtkhẩu của quốc gia
Người nông dân hiện vẫn làm các công việc mang tính chất thủ công vàthời vụ Đúng vụ sản xuất nông nghiệp thì công việc của họ là thuần nông,ngoài thời vụ kể trên phần lớn là họ chuyển sang các lao động phổ thông khácnhư gia công thêm một số mặt hàng thủ công truyền thống (đối với những vùngnông thôn có làng nghề), buôn bán nhỏ - tham gia lưu thông hàng hoá từ nôngthôn ra thành thị (bán buôn, bán lẻ các mặt hàng rau quả, lương thực, thựcphẩm), tham gia vào các chợ lao động ở những thành phố lớn như: Hà Nội,Thành phố Hồ Chí Minh với các nghề phổ biến như: chuyên chở vật liệu xâydựng, giúp việc gia đình, chăm người ốm ở bệnh viện, phụ việc ở các công trìnhxây dựng và bất kể các công việc khuân vác, tạp vụ nào mà họ được thuê mướn,hoặc cũng có một số tham gia vào thị trường xuất khẩu lao động, nhưng chưanhiều và mức độ đáp ứng các yêu cầu của thị trường này chưa cao Do tínhchất công việc phổ thông, mang tính sự vụ nên thu nhập của họ không cao vàkhông ổn định Thực tế này tạo nên sự thiếu bền vững và tiềm ẩn những bất ổn
về việc làm đối với lực lượng lao động nông thôn nói chung, nông dân nói
Trang 15riêng Nông dân thiếu việc làm ngày càng tăng về số lượng mà chất lượng cũngchưa được cải thiện.
Thực trạng trên nếu không được khắc phục sớm sẽ trở thành lực cản đốivới tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn; gia tăngcác vấn đề kinh tế - xã hội
Hiện nay nước ta có khoảng hơn 40 triệu người trong độ tuổi lao động,trong đó có khoảng 28 triệu thanh niên, nhưng tỉ lệ thất nghiệp của lao độngthanh niên lại cao gấp rưỡi so với tỉ lệ thất nghiệp chung của toàn xã hội
Theo ông Hoàng Hiệp - Trưởng ban Thanh niên công nhân, đô thị Trungương Đoàn, hiện nay xu thế thanh niên từ nông thôn ra thành thị để tìm việc làmtăng rất mạnh Có những tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng, lực lượng thanhniên rời quê hương đi làm ăn xa lên tới 80% Sự ra đi này có rất nhiều lý do mà
cơ bản là do thu nhập từ nông nghiệp quá thấp
Một bộ phận lớn lại bị mất đất do sự mở rộng các khu công nghiệp, khuchế xuất Đặc biệt chỉ có một bộ phận rất nhỏ được vào làm khu chế xuất, cònlại hầu hết những thanh niên nông thôn khi nhận được tiền đền bù mất đất đềuđem số tiền đó phục vụ cho nhu cầu ăn chơi tạo ra một lớp người thất nghiệpmới
Cũng theo ông Hiệp thì tình hình lao động việc làm của thanh niên hiệnnay vô cùng bức xúc Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn diễn ra phổbiến ở khắp mọi nơi và tập trung nhiều nhất vẫn là ở lực lượng lao động trẻ
Tỉ lệ thất nghiệp của lao động thanh niên cao gấp rưỡi so với tỉ lệ thấtnghiệp chung của toàn xã hội Tỉ lệ thất nghiệp này còn đặc biệt cao đối với khuvực đô thị và thanh niên lứa tuổi từ 15-24 Đối với khu vực đô thị thì thanh niênlứa tuổi từ 15-19 rơi vào tình trạng thất nghiệp cao gấp 3,5 lần so với tình trạngchung Ở nhóm 20-24 tuổi tỉ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao gấp 2,2 lần
Trang 16Điều đáng nói là tình trạng thất nghiệp của thanh niên đô thị không phải
là do không có việc để làm mà là do không chịu làm việc hoặc không muốn làmnhững công việc có thu nhập thấp Bên cạnh những đối tượng thất nghiệp dolười lao động thì vẫn còn rất nhiều thanh niên có khả năng lao động, sẵn sànglàm việc nhưng lại không tìm được việc làm, một số lượng lớn khác thiếu việclàm hoặc có việc nhưng trong công việc không sử dụng hết năng lực của mình,hoặc buộc phải làm việc không đúng chuyên môn
Nhiều người tốt nghiệp cử nhân, đại học nhưng chỉ được sắp xếp nhữngcông việc như thư ký văn phòng, nhân viên bán hàng Những người có bằngdược sĩ lại chỉ đi làm tiếp thị thuốc; những người học cao đẳng, trung cấp chỉlàm những việc đơn giản của người chỉ cần đào tạo ngắn hạn từ 2-6 tháng
Bên cạnh đó còn khá phổ biến tình trạng chia việc để làm, dừng việc,nghỉ việc Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo, có trình độ chuyên môn vô cùng thấp(chỉ khoảng 10%) cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp Đó
là bức tranh toàn cảnh của tình trạng thanh niên thiếu việc làm hiện nay mà ôngHiệp đã khẳng định
*) Liên hệ với tình hình kinh tế xã hội xã Vĩnh Phú
Vĩnh Phú Diện tích tự nhiên toàn xã là 3.669 ha, trong đó diện tích sảnxuất nông nghiệp 3.614 ha, diện tích sản xuất vụ 3 là 3.059 ha với 6 tiểu vùngsản xuất lúa 3 vụ (UBND xã Vĩnh Phú, 2005)
Vĩnh Phú là xã có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, nơi đây đã hìnhthành vùng chuyên canh cây lúa 3 vụ do có đê bao khép kín và đạt năng suấtcao, trung bình 17,6 tấn/ha/năm
Dân số: Xã Vĩnh Phú hiện có 11329 nhân khẩu, về giới tính nam là
5.473 người; nữ là 5.766 người, về dân tộc: Kinh là 11.224 người; Khơme là 15
người (Niên giám thống kê huyện Thoại Sơn năm 2006)
Trang 17Tốc độ gia tăng dân số hàng năm là 1,2%; Tỷ lệ sinh hàng năm: 1,65%;
tỷ lệ tử hàng năm là 0,46%; Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng là 21,91%; Chươngtrình tiêm chủng mở rộng đạt 100%
Về trồng trọt: cây trồng chủ yếu là cây lúa, các loại hoa màu khác không
đáng kể, tổng diện tích xuống giống cả năm là 8.183 ha đạt 96,4% so với kếhoạch (do xả lũ 3 tiểu vùng VP4b, VP5, VP6), trong đó tổng diện tích hoa màuchỉ có 50,3 ha diện tích trồng hoa màu các loại và 32 ha trồng nấm rơm(Nguyễn Thị Kim Chi và Lê Hồng Lam, 2007)
Chăn nuôi: nuôi trồng thủy sản phát triển với các loại hình như nuôi cá
ao hầm như cá lóc, cá rô , chăn nuôi gia súc với qui mô nhỏ và phát triển chậm
Trong những năm gần đây khi mùa nước nổi tràn về mang lượng cá tựnhiên rất dồi dào như: cá lóc, cá rô, cá chốt, cá linh, trắm cỏ, cá mè, cá sặc Người dân đánh bắt cá tự nhiên như câu, chày, giăng lưới, đặt vến, tạo thêmnguồn thu nhập và giải quyết việc làm cho người dân Nhưng gần đây lượng cá
tự nhiên không còn nhiều nữa do có đê bao ngăn lụt, phục vụ cho sản xuất vụ 3nên phần lợi thế mùa nước nổi cũng giảm đáng kể (Nguyễn Thị Kim Chi và LêHồng Lam, 2007)
Cơ sở vật chất: Đường giao thông, trường học, y tế, chợ… tương đối
phát triển đáp ứng được nhu cầu đi lại, trao đổi, lưu thông hàng hóa, giáo dục vàchăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân trong xã
Tôn giáo:Vĩnh Phú là địa bàn rất đa dạng về tôn giáo với 4 tôn giáo
chính đó là: Phật Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài và Thiên Chúa, nhưng chủyếu là Phật giáo Hòa Hảo với 1.727 hộ (chiếm 72,55%), Phật giáo 306 hộ(chiếm 12,85%), Đạo Hiếu nghĩa 109 hộ (chiếm 4,6%) và còn lại là các tôn giáokhác (UBND xã Vĩnh Phú, 2003)