1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dân số và tài nguyên đất tiểu luận cao học

43 190 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 319,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU I Tính cấp thiết – lý do chọn vấn đề Dân số và môi trường trong những năm gần đây đã trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế. Dân số đang gây sức ép nặng nề tới môi trường toàn cầu nói chung và tài nguyên đất nói riêng.Quá trình hoạt động công nghiệp đã ngày càng làm cho cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và hiệu quả cuối cùng là làm suy thoái chất lượng sống của cộng đồng. Từ dân số thế giới nói đến số người sống trên trái đất ở một thời điểm nào đó. Vào ngày 13 tháng 8 năm 2009, dân số trên trái đất được đo bởi Cục điều tra dân số của Mỹ là 6,777 tỉ người. Dân số thế giới bắt đầu tăng lên từ cuối giai đoạn của căn bệnh Cái chết đen (Black Death) hoành hành vào khoảng năm 1400. Cũng có một giai đoạn ngắn dân số giảm đi ở những thời gian khác bởi các dịch bệnh, chẳng hạn ở thế kỉ 17 .Thời gian dân số thế giới tăng nhanh nhất (hơn 1,8%) là vào khoảng thời kì những năm 1950 sau đó là một thời gian dài từ những năm 1960 cho tới 1970. Theo bản đồ dân số, dân số thế giới sẽ tiếp tục tăng cho tới những năm 2050. Vào năm 2008, sự gia tăng dân số thế giới đã giảm gần một nửa so kỉ lục là 2,2% một năm, đạt đến vào năm 1963. Số người được sinh ra mỗi năm vào khoảng 134 triệu người, sau khi đạt kỉ lục 163 triệu vào cuối những năm 1990. Tuy nhiên, chỉ khoảng 57 triệu người chết mỗi năm, và được dự đoán sẽ tăng lên 90 triệu người vào năm 2050. Kể từ khi số người sinh ra nhiều số người chết, dân số thế giới sẽ đạt ngưỡng 9 tỉ người vào năm 2040. Từ trước đến nay ta luôn quen quan niệm về đất chưa đúng với vai trò của đất. Thực chất đất cần phải được hiểu như là 1 Hệ sinh thái hoàn chỉnh. Là một vật thể sống. Khi đó chúng ta mới hiểu và đối xử với đất đúng đắn hơn. Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn, là nền móng xây dựng cho các công trình dân dụng, công nghiệp, văn hóa của con người. Đất còn là nguồn tài nguyên quý giá là tư liệu sản xuất đặc biệt, con người sử dụng nó để sản xuất ra lương thực, thực phẩm cung cấp cho bản thân và cộng đồng. Song với nhịp độ gia tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp, đô thị hóa gia tăng như hiện nay thì không chỉ diện tích đất canh tác bị thu hẹp mà chất lượng đất ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng do xói mòn, rửa trôi, bạc mầu, nhiễm mặn, ô nhiễm đất. Ngày xưa chúng ta vẫn gọi: Người sinh thêm nhưng đất không thêm. Còn ngày nay chúng ta lại nói rằng : Người sinh thêm nhưng đất giảm đi. Mới thoạt nghe không ai chúng ta hình dung được nó cụ thể là cái gì. Tại sao lại có hiện tượng nghịch lý đó? Nhưng nếu chúng ta căn cứ vào thực tế và những gì đang tranh luận tại Hội nghị Copenhaghen thì sẽ rõ : Sự ấm lên của trái đất do biến đổi khí hậu từ Hiệu ứng nhà kính đã làm tan băng dẫn đến nước biển tăng và do đó diện tích đất sẽ bị thu hẹp lại rất đáng kể.Phần bị ngập đó lại là những phần phì nhiêu nhất của nhân loại, nó cung cấp lương thực cho đại đa số số dân trên thế giới. Các nhà khoa học môi trường thế giới đã cảnh báo rằng: cùng với ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí thì ô nhiễm đất đai cũng là vấn đề đáng báo động hiện nay, đặc biệt trong việc sử dụng nông dược và phân hoá học.Ô nhiễm đất không những ảnh hưởng xấu tới sản xuất nông nghiệp và chất lượng nông sản, mà còn thông qua lương thực, rau quả... ảnh hưởng gián tiếp tới sức khoẻ con người và động vật. Ngày càng xuất hiện nhiều căn bệnh ung thư quái ác đã cướp đi hàng ngàn sinh mạng mỗi năm.Do đó ô nhiễm môi trường trong đó có ô nhiễm môi trường đất cần phải được ngăn chặn và giải quyết một cách có hiệu quả. Đã đến lúc phải thay đổi lối tư duy, nhận thức về tầm quan trọng của tài nguyên đất. Bằng mọi cách phải đảm bảo việc phát triển thoả mãn những nhu cầu hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng các thế hệ tương lai. Chính vì những lí do trên em chọn vấn đề “ Dân số và Tài nguyên đất ”

Trang 1

MỞ ĐẦU

I / Tính cấp thiết – lý do chọn vấn đề

Dân số và môi trường trong những năm gần đây đã trở thành mối quan tâmcủa nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế Dân số đang gây sức ép nặng nề tới môitrường toàn cầu nói chung và tài nguyên đất nói riêng.Quá trình hoạt động côngnghiệp đã ngày càng làm cho cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và hiệu quảcuối cùng là làm suy thoái chất lượng sống của cộng đồng

Từ dân số thế giới nói đến số người sống trên trái đất ở một thời điểm nào

đó Vào ngày 13 tháng 8 năm 2009, dân số trên trái đất được đo bởi Cục điều tra dân số của Mỹ là 6,777 tỉ người Dân số thế giới bắt đầu tăng lên từ cuối giai đoạn của căn bệnh Cái chết đen (Black Death) hoành hành vào khoảng năm 1400 Cũng

có một giai đoạn ngắn dân số giảm đi ở những thời gian khác bởi các dịch bệnh, chẳng hạn ở thế kỉ 17 Thời gian dân số thế giới tăng nhanh nhất (hơn 1,8%) là vào khoảng thời kì những năm 1950 sau đó là một thời gian dài từ những năm 1960 cho tới 1970 Theo bản đồ dân số, dân số thế giới sẽ tiếp tục tăng cho tới những năm

2050 Vào năm 2008, sự gia tăng dân số thế giới đã giảm gần một nửa so kỉ lục là 2,2% một năm, đạt đến vào năm 1963 Số người được sinh ra mỗi năm vào khoảng

134 triệu người, sau khi đạt kỉ lục 163 triệu vào cuối những năm 1990 Tuy nhiên, chỉ khoảng 57 triệu người chết mỗi năm, và được dự đoán sẽ tăng lên 90 triệu người vào năm 2050 Kể từ khi số người sinh ra nhiều số người chết, dân số thế giới sẽ đạt ngưỡng 9 tỉ người vào năm 2040.

Từ trước đến nay ta luôn quen quan niệm về đất chưa đúng với vai trò củađất Thực chất đất cần phải được hiểu như là 1 Hệ sinh thái hoàn chỉnh Là một vậtthể sống Khi đó chúng ta mới hiểu và đối xử với đất đúng đắn hơn

Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn, lànền móng xây dựng cho các công trình dân dụng, công nghiệp, văn hóa của conngười Đất còn là nguồn tài nguyên quý giá là tư liệu sản xuất đặc biệt, con người sửdụng nó để sản xuất ra lương thực, thực phẩm cung cấp cho bản thân và cộng đồng

Trang 2

Song với nhịp độ gia tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp, đô thị hóagia tăng như hiện nay thì không chỉ diện tích đất canh tác bị thu hẹp mà chất lượngđất ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng do xói mòn, rửa trôi, bạc mầu, nhiễm mặn, ônhiễm đất.

Ngày xưa chúng ta vẫn gọi: Người sinh thêm nhưng đất không thêm Cònngày nay

chúng ta lại nói rằng : Người sinh thêm nhưng đất giảm đi

Mới thoạt nghe không ai chúng ta hình dung được nó cụ thể là cái gì Tại sao lại

có hiện tượng nghịch lý đó?

Nhưng nếu chúng ta căn cứ vào thực tế và những gì đang tranh luận tại Hộinghị Copenhaghen thì sẽ rõ : Sự ấm lên của trái đất do biến đổi khí hậu từ Hiệu ứngnhà kính đã làm tan băng dẫn đến nước biển tăng và do đó diện tích đất sẽ bị thu hẹp lạirất đáng kể.Phần bị ngập đó lại là những phần phì nhiêu nhất của nhân loại, nó cung cấplương thực cho đại đa số số dân trên thế giới

Các nhà khoa học môi trường thế giới đã cảnh báo rằng: cùng với ô nhiễmnguồn nước, ô nhiễm không khí thì ô nhiễm đất đai cũng là vấn đề đáng báo độnghiện nay, đặc biệt trong việc sử dụng nông dược và phân hoá học.Ô nhiễm đất khôngnhững ảnh hưởng xấu tới sản xuất nông nghiệp và chất lượng nông sản, mà còn thôngqua lương thực, rau quả ảnh hưởng gián tiếp tới sức khoẻ con người và động vật.Ngày càng xuất hiện nhiều căn bệnh ung thư quái ác đã cướp đi hàng ngàn sinh mạngmỗi năm.Do đó ô nhiễm môi trường trong đó có ô nhiễm môi trường đất cần phảiđược ngăn chặn và giải quyết một cách có hiệu quả

Đã đến lúc phải thay đổi lối tư duy, nhận thức về tầm quan trọng của tàinguyên đất

Bằng mọi cách phải đảm bảo việc phát triển "thoả mãn những nhu cầu hiện tại

mà không làm phương hại đến khả năng các thế hệ tương lai"

Chính vì những lí do trên em chọn vấn đề “ Dân số và Tài nguyên đất ”

Trang 3

Với khuôn khổ kiến thức còn khá hạn hẹp khó tránh khỏi những sai sót, hạnchế nên em mong nhận được những ý kiến góp ý của các thầy cô trong khoa và cácbạn

Em xin chân thành cám ơn!

Trang 4

II/ Lịch sử nghiên cứu vấn đề TG và Việt Nam

1 Thế giới

Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và

Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triểncủa nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọngnhững nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"

Tháng 4 năm 1968: Tổ chức The Club of Rome được sáng lập, đây là một tổchức phi chính phủ hỗ trợ cho việc nghiên cứu "Những vấn đề của thế giới" - mộtcụm từ được đặt ra nhằm diễn tả những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường

và công nghệ trên toàn cầu với tầm nhìn lâu dài Tổ chức này đã tập hợp những nhàkhoa học, nhà nhiên cứu, nhà kinh doanh cũng như các nhà lãnh đão của các quốc giatrên thế giới (bao gồm cả Tổng thống Liên xô Mikhail SergeyevichGorbachyov và Rigoberta Menchú Tum) Trong nhiều năm, The Club of Rome đã

công bố một số lượng lớn các báo cáo, bao gồm cả bản báo cáo The Limits to Growth (Giới hạn của sự tăng trưởng) - được xuất bản năm 1972 đề cập tới hậu quả

của việc tăng dân số quá nhanh, sự hữu hạn của các nguồn tài nguyên

Tháng 6 năm 1972: Hội nghị của Liên Hợp Quốc về con người và môitrường được tổ chức tại Stockhom, Thụy Điển được đánh giá là là hành động đầu tiênđánh dấu sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môitrường Một trong những kết quả của hội nghị lịch sử này là sự thông qua bản tuyên

bố về nguyên tắc và kế hoạch hành động chống ô nhiễm môi trường Ngoài ra,Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc cũng được thành lập

Năm 1984: Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã ủy nhiệm cho bà Gro HarlemBrundtland, khi đó là Thủ tướng Na Uy, quyền thành lập và làm chủ tịch Ủy ban Môi

trường và Phát triển Thế giới (World Commission on Environment and Development

-WCED), nay còn được biết đến với tên Ủy ban Brundtland Tới nay, ủy ban này đãđược ghi nhận có những công hiến rất giá trị cho việc đẩy mạnh sự phát triển bềnvững

Trang 5

Năm 1987: Hoạt động của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới trở nênnóng bỏng khi xuất bản báo cáo có tựa đề "Tương lai của chúng ta" (tựa tiếng

Anh: Our Common Futur vàtiếng Pháp là Notre avenir à tous, ngoài ra còn thường

được gọi là Báo cáo Brundtland) Bản báo cáo này lần đầu tiên công bố chính thứcthuật ngữ "phát triển bền vững", sự định nghĩa cũng như một cái nhìn mới về cáchhoạch định các chiến lược phát triển lâu dài

Năm 1989: Sự phát hành và tầm quan trọng của Our Common Futur đã được

đưa ra bàn bạc tại Đại hội đồng Liên Hiệp quốc và đã dẫn đến sự ra đời của Nghịquyết 44/228 - tiền đề cho việc tổ chức Hội nghị về Môi trường và Phát triển củaLiên hiệp quốc

Năm 1992: Rio de Janeiro, Brasil là nơi đăng cai tổ chức Hội nghị thượngđỉnh về Trái Đất, tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liênhiệp quốc (UNCED) Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc

cơ bản và phát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có

tên Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) Với sự tham gia của đại diện hơn 200

nước trên thế giới cùng một số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ, hội nghị đã đưa

ra bản Tuyên ngôn Rio về môi trường và phát triển cũng như thông qua một số vănkiện như hiệp định về sự đa dạng sinh học, bộ khung của hiệp định về sự biến đổi khíhậu, tuyên bố về nguyên tắc quản lý, bảo tồn rừng

Năm 2002: Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững nhóm họptại Johannesburg, Nam Phi là dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm 10năm qua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 đãvạch ra, tiếp tục tiến hành với một số mục tiêu được ưu tiên Những mục tiêu này baogồm xóa nghèo đói, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môitrường nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tàinguyên thiên nhiên Hội nghị cũng đề cập tới chủ đề toàn cầu hóa gắn với các vấn đềliên quan tới sức khỏe và phát triển Các đại diện của các quốc gia tham gia hội nghịcũng cam kết phát triển chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trước năm

2005 Việt Nam cũng đã cam kết và bắt tay vào hành động với Dự ánVIE/01/021 "Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam"

Trang 6

bắt đầu vào tháng 11/2001 và kết thúc vào tháng 12/2005 nhằm tạo tiền đề cho việcthực hiện Vietnam Agenda 21.

2 Việt Nam

Việt Nam đã có những sự kiện về hoạt động bảo vệ môi trường

Năm 1982: Hội thảo khoa học về môi trường lần thứ nhất với chủ đề "Cácvấn đề môi trường của Việt Nam" Hội thảo đề cập đến các vấn đề môi trường và tàinguyên đất, khoáng sản, tài nguyên rừng, nước, không khí, dân số

Năm 1984: Tổng kết công tác điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trườngtrên quy mô toàn quốc do Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước chủ trì

Năm 1985: Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định246/HÐBT về việc "Ðẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, sử dụng hợp lý tài nguyênthiên nhiên và bảo vệ môi trường"

Năm 1987: Hội thảo khoa học "Bảo vệ môi trường bằng pháp luật" do Uỷban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức

Năm 1988: Thành lập Hội Ðịa lý Việt Nam, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môitrường Việt Nam

Năm 1990: Hội nghị quốc tế về "Môi trường và phát triển bền vững" do Uỷban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước phối hợp với Chương trình Môi trường của LiênHợp Quốc (UNEP) tổ chức tại Hà Nội

Năm 1991: Chính phủ thông qua "Kế hoạch quốc gia về môi trường và pháttriển bền vững 1991-2000"

Năm 1992: "Hội thảo quốc tế về nghèo khó và bảo vệ môi trường" do HộiBảo vệ thiên nhiên và môi trường phối hợp cùng UNEP tổ chức tại Thành phố HồChí Minh

Năm 1993: "Hội thảo Hoá học và Bảo vệ môi trường" do Hội Bảo vệ thiênnhiên và môi trường Việt Nam và Hội Hoá học Việt Nam phối hợp tổ chức

Năm 1994: Luật Bảo vệ Môi trường có hiệu lực

Trang 7

Năm 1995: Chính phủ thông qua Kế hoạch quốc gia về bảo tồn đa dạng sinhhọc.

Năm 1996: Chính phủ ban hành Nghị định 26/CP ngày 26/4/1996 Quy định

Xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường

Năm 1997: Quốc hội thông qua Nghị quyết về tiêu chuẩn các chương trìnhtrọng điểm quốc gia

+ Hội thảo 3 năm thực hiện Luật Bảo vệ môi trường

+ Cuộc Thanh tra diện rộng chuyên đề về môi trường

+ Triển lãm Môi trường Việt Nam

Năm 1998: Bộ Chính trị BCHTW Ðảng ban hành Chỉ thị 36 CT/TW, ngày25/6/1998 về "Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước"

Hội nghị Môi trường toàn quốc 1998 tại Hà Nội

Năm 1999: Việt Nam có các sự kiện quan trọng sau:

+ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá X thông qua BộLuật hình sự trong đó có chương XVII - Các tội phạm về môi trường

+ Diễn đàn Môi trường ASEAN lần thứ nhất

+ Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường xây dựng Chiến lược bảo vệ môitrường quốc gia 2001-2010 và Kế hoạch hành động 2001-2005

+ Hoàn thiện xây dựng 4 đề án thực hiện Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ Chính trịBan chấp hành Trung ương Ðảng về "Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trongthời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"

+ Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược Quản lý chất thải rắn đô thị và Khucông nghiệp Việt Nam và Quy chế Quản lý chất thải nguy hại

+ Việt Nam ký Tuyên ngôn quốc tế về Sản xuất sạch hơn

+ Hội nghị không chính thức cấp Bộ trưởng Môi trường ASEAN lần thứ 5 vàPhát động Năm Môi trường ASEAN

III/ Phương pháp nghiên cứu

Phân tích tài liệu

- Tài liệu sẵn có và tài liệu trên internet

Trang 8

Giáo trình Dân số học và Truyền thông dân số

Dân số-Tài nguyên-Môi trường - Ðỗ Thị Minh Ðức, Nguyễn Viết Thịnh - NXB Giáo dục HN, 1996.

Giáo trình Tài nguyên đất MT - Lê Văn Khoa

Gíáo trình Dân số và Môi trường - TS Nguyễn Kim Hồng - 7, 2007.

- Tiêu chí tìm tài liệu :

Các tài liệu nói về môi trường nói chung và tài nguyên đất nói riêng.

Ðất là một dạng tài nguyên vật liệu của con người Ðất có hai nghĩa: đất đai

là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng để sảnxuất nông lâm nghiệp

Ðất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời,hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá gốc, động thực vật, khí hậu, địa hình vàthời gian Thành phần cấu tạo của đất gồm các hạt khoáng chiếm 40%, hợp chấthumic 5%, không khí

20% và nước 35% Giá trị tài nguyên đất được đo bằng số lượng diện tích (ha,km2) và độ phì (độ mầu mỡ thích hợp cho trồng cây công nghiệp và lương thực)

2. Thế nào là thoái hóa đất ?

Trang 9

Đất bị thoái hóa: là những loại đất do những nguyên nhân tác động nhất địnhtheo thời gian đã và đang mất đi những đặc tính và tính chất vốn có ban đầu trở thànhcác loại đất mang đặc tính và tính chất không có lợi cho sinh trưởng và phát triển củacác loại cây trồng nông lâm nghiệp

- Một loại đất bị thoái hóa nghĩa là bị suy giảm hoặc mất đi:

+ Độ phì đất: các chất dinh dưỡng; cấu trúc đất; màu sắc ban đầu của đất; tầngdày đất, thay đổi pH đất…

+ Khả năng sản xuất: các loaik cây trồng, các loại vật nuôi, các loại cây lâmnghiệp

+ Cảnh quan sinh thái: Rừng tự nhiên , rừng trồng, hệ thống cây trồng

+ Hệ sinh vật: cây – con

+ Môi trường sống của con người: cây xanh, nguồn nước, không khí trong lành,nhiệt độ ôn hòa, ổn định…

- Sự thoái hóa đất là hậu quả của các tác động khác nhau từ bên ngoài và bêntrong của quá trình sử dụng đất:

+ Thiên tai: khô - hạn - bão - lũ lụt - nóng - rét - lốc xoáy

+ Hoạt động sản xuất không hợp lý của con người

Các hoạt động sản xuất và kinh tế khác nhau

Từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp trực tiếp đến đất

3. Thế nào là ô nhiễm môi trường đất?

Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩnmôi trường đất bởi các tác nhân gây ô nhiễm

Đất bị ô nhiễm có chứa một số độc tố, chất có hại cho cây trồng vượt quá

nồng độ đã được quy định Thí dụ nồng độ thuốc trừ sâu, phân hóa học, kim loại nặng

quá mức quy định của Tổ chức Y tế thế giới

Trang 10

Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của con người làm thay đổicác nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn sinh thái của các quần xã sống trongđất

Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặctheo các tác nhân gây ô nhiễm

Ô nhiễm đất có thể do tự nhiên hay nhân tạo

IV/ Thực trạng

1 Dân số

1.1 Dân số thế giới

Hiện nay, dân số thế giới gia tăng hàng năm thêm khoảng 90 triệu người, với

tỉ lệ gia tăng là 1,7% Tỉ lệ gia tăng này khác biệt lớn tùy theo trình độ phát triển củacác nước Các nước công nghiệp phát triển, tức là các nước giàu thì tỉ lệ này là0,5%/năm; còn đa số các nước nghèo là 2,1%/năm

Năm 1950, số lượng người sống ở thành phố chỉ bằng 1/3 của năm 1990 (2,5

tỉ người) Khi ở các nước phát triển, dân số đô thị chỉ tăng gấp 2 lần thì các nướcđang phát triển tăng lên 5 lần trong cùng thời gian Bước vào thế kỉ XXI, dân số thếgiới đã vượt quá 6 tỉ người Theo ước tính 2006 của Cục Dân số LHQ, dân số thế giới

sẽ tăng thêm 2,5 tỷ người trong 43 năm tới, từ mức 6,7 tỷ người hiện nay - một sự giatăng tương đương với tổng dân số thế giới năm 1950

Quy mô dân số giữa các nước rất khác nhau Trong số hơn 200 quốc gia vàvùng lãnh thổ trên thế giới thì 11 quốc gia đông dân nhất có số dân trên 100 triệungười mỗi nước, chiếm 61% dân số toàn thế giới Trong khi đó 17 nước ít dân nhấtchỉ có số dân từ 0,01 đến 0,1 triệu người mỗi nước (1,18 triệu người, chiếm 0,018%dân số toàn thế giới)

Sự gia tăng dân số thế giới sẽ diễn ra chủ yếu tại các nước ít phát triển hơn.Dân số của các nước này sẽ tăng từ 5,4 tỷ người trong năm 2007 lên 7,9 tỷ trong năm

2050 Dân số của các nước nghèo như Afghanistan, Burundi, Congo, Guinea-Bissau,

Trang 11

Liberia, Niger, Đông Timor và Uganda dự đoán sẽ tăng ít nhất 3 lần vào giữa thế kỷnày.

Cứ 4 ngày thì thế giới bổ sung thêm 1 triệu người hay nói cách khác thì mỗigiây có 3 người chào đời Chính sự gia tăng dân số làm ảnh hưởng đến sản lượnglương thực, thực phẩm Có khoảng 88 nước trên thế giới đang ở tình trạng nghèo đói,trong đó Châu Phi chiếm tới một nửa

1.2 Dân số Việt Nam

Việt Nam thuộc các nước đang phát triển, dân số gia tăng nhanh Với sinhsuất 3,8% và tử suất 1,7% như hiện nay thì tỉ lệ gia tăng dân số của nước ta là2,1%/năm (1987) Với đà gia tăng này, 33 năm nữa, khoảng năm 2030, dân số nước

ta tăng gấp đôi con số hiện nay (77 triệu), để đạt tới con số 154 triệu người!

Trang 12

Năm Số

dân(triệungười)

Số dân tăng thêmsau 10 năm (triệungười)

Tỷ lệ tăng dân số trung bình hằng năm

2.1 Tài nguyên đất trên thế giới

Tài nguyên đất của thế giới theo thống kê như sau:

Tổng diện tích 14.777 triệu ha, với 1.527 triệu ha đất đóng băng và 13.251triệu ha đất không phủ băng

Trong đó, 12% tổng diện tích là đất canh tác, 24% là đồng cỏ, 32% là đấtrừng và 32% là đất cư trú, đầm lầy Diện tích đất có khả năng canh tác là 3.200 triệu

ha, hiện mới khai thác hơn 1.500 triệu ha Tỷ lệ đất có khả năng canh tác ở các nướcphát triển là 70%; ở các nước đang phát triển là 36%

Những loại đất tốt, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như đất phù sa, đấtđen, đất rừng nâu chỉ chiếm 12,6%; những loại đất quá xấu như đất vùng tuyết, băng,

Trang 13

hoang mạc, đất núi, đất đài nguyên chiếm đến 40,5%; còn lại là các loại đất khôngphù hợp với việc trồng trọt như đất dốc, tầng đất mỏng, vv.

Bảng 2.1.1: Diện tích của các lục địa

Khoảng 2/3 diện tích đất nông nghiệp trên thế giới đã bị suy thoái nghiêm trọngtrong 50 năm qua do xói mòn rửa trôi, sa mạc hoá, chua hoá, mặn hoá, ô nhiễm môitrường, khủng hoảng hệ sinh thái đất Khoảng 40% đất nông nghiệp đã bị suy thoáimạnh hoặc rất mạnh, 10% bị sa mạc hoá do biến động khí hậu bất lợi và khai thác sửdụng không hợp lý Sa mạc Sahara mỗi năm mở rộng lấn mất 100.000 ha đất nôngnghiệp và đồng cỏ Thoái hoá môi trường đất có nguy cơ làm giảm 10 - 20% sảnlượng lương thực thế giới trong 25 năm tới

Theo P Buringh, toàn bộ đất có khả năng canh tác nông nghiệp của thế giới 3,3

tỉ hecta (chiếm 22% tổng số đất liền) còn 11, 7 tỉ hecta (chiếm 78% tổng số đất liền)không dùng cho sản xuất nông nghiệp được Diện tích các loại đất không sử dụngđược cho nông nghiệp theo bảng sau:

Ðất trồng trọt trên thế giới chỉ có 1, 5 tỉ hecta (chiếm 10,8% tổng số đất đai,bằng 46% đất có khả năng nông nghiệp) còn 1, 8 tỉ hecta (54%) đất có khả năng nôngnghiệp chưa được khai thác

Về mặt chất lượng đất nông nghiệp thì: đất có năng suất cao chỉ chiếm 14%,đất có năng suất trung bình chiếm 28%và đất có năng suất thấp chiếm tới 58% Ðiều

Trang 14

nầy cho thấy đất có khả năng canh tác nông nghiệp trên toàn thế giới có hạn, diện tíchđất có năng suất cao lại quá ít Mặt khác mỗi năm trên thế giới lại bị mất 12 triệuhecta đất trồng trọt cho năng suất cao bị chuyển thành đất phi nông nghiệp và 100triệu hecta đất trồng trọt bị nhiễm độc do việc sử dụng phân bón và các loại thuốc sáttrùng.

Ðất nông nghiệp phân bố không đều trên thế giới, tỉ lệ giữa đất nông nghiệp

so với đất tự nhiên trên các lục địa theo bảng sau :

Các Châu lục Ðất tự nhiên Ðất nông nghiệp

Bảng 2.1.2 : Tỉ lệ % đất tự nhiên và đất nông nghiệp trên toàn thế giới

Như vậy, trên toàn thế giới diện tích đất sử dụng cho nông nghiệp càng ngàycàng giảm dần trong khi đó dân số càng ngày càng tăng Vì vậy, để có đủ lương thực

và thực phẩm cung cấp cho nhân loại trong tương lai thì việc khai thác số đất có khảnăng nông nghiệp còn lại để sử dụng là vấn đề cần được đặt ra Theo các chuyên giatrong lĩnh vực trồng trọt cho rằng với sự phát triển của khoa học và kỹ thuật như hiệnnay thì có thể dự kiến cho đến năm 2075 thì con người mới có thể khai phá hết diện

tích đất có khả năng nông nghiệp còn lại đó

LOẠI ĐẤT DIỆN TÍCH

( HA)Ðất quá

dốc

2, 682 tỉ(18%)Ðất quá

khô

2, 533 tỉ(17%)Ðất quá

lạnh

2, 235 tỉ(15%)Ðất đóng

băng

1, 490tỉ(10%)

Trang 15

Ðất quánóng

1, 341 tỉ(9%)Ðất quá nghèo 0, 745 tỉ

(5%)Ðất quá lầy 0, 596 tỉ

(4%)

Bảng 2.1.3 : Các loại đất không sử dụng được cho nông nghiệp

Diện tích đất phân bố rất không đồng đều trên toàn thế giới: hiện nay, diệntích các thành phố trên thế giới chiếm 0,3% diện tích trái đất và 40% dân số thế giới.Diện tích trên Trái đất với hơn 70% là đại dương còn lại là đất liền nhưng con ngườichỉ cư trú được với một diện tích chiếm 32% diện tích đất liền, mặt khác dân số lạiphân bố không đồng đều ở các quốc gia Các nước kém phát triển hoặc đang pháttriển thì có mật độ dân số cao hơn nhiều so với các quốc gia phát triển

Số liệu của Liên hợp quốc cho thấy cứ mỗi phút trên phạm vi toàn cầu cókhoảng 10 ha đất trở thành sa mạc Diện tích đất canh tác trên đầu ngươi giảm nhanh

từ 0,5 ha/người xuống còn 0,2 ha/người và dự báo trong vòng 50 năm tới chỉ cònkhoảng 0,14 ha/đầu người ở Việt Nam, số liệu thống kê cho thấy sự suy giảm

đất canh tác, sự suy thoái chất lượng đất và sa mạc hoá cũng đang diễn ra vớitốc độ nhanh Xói mòn, rửa trôi, khô hạn, sạt lở, mặn hoá, phèn hoá, v.v đang xảy raphổ biến ở nhiều nơi đã làm

Trang 16

2.2 Tài nguyên đất tại Việt Nam

Diện tích Việt Nam là 33.168.855 ha, đứng thứ 59 trong hơn 200 nước trênthế giới , Trong đó đất bồi tụ khoảng 11 triệu ha, đất phát triển tại chỗ khoảng 22triệu ha

Trong đó đất có khả năng nông nghiệp chỉ có 6,9 triệu hecta (chiếm 21 %diện tích đất tự nhiên) và phân bố không đồng đều ở các vùng sinh thái khác nhau

Lọai đất Diện tích (ha)Cồn cát và cát biển 502.045

Bảng 2.2.1 : Diện tích các loại đất ở Việt Nam

(Viện thiết kế quy hoạch nông nghiệp, 1980)

Do vị trí và địa hình đặc biệt của nước ta làm cho thổ nhưỡng Việt Nam mà

có tính chất chung của vùng nhiệt đới ẩm nhưng rất đa dạng và phân hóa rõ từ đồngbằng lên núi cao, từ Bắc vào Nam và từ Ðông sang Tây Cả nước có 14 nhóm đất(bảng 5)

Tiềm năng đất có khả năng canh tác nông nghiệp của cả nước khỏang từ

10-11 triệu ha trong đó mới chỉ sử dụngú được 6, 9 triệu ha đất nông nghiệp gồm 5, 6triệu ha là đất trồng cây hàng năm (lúa: 4, 144 triệu ha; màu, cây công nghiệp ngắn

Trang 17

ngày: 1, 245 triệu ha) và 1, 3 triệu ha là đất trồng cây ăn quả và cây lâu năm khác (càphê, cao su, dâu tằm, hồ tiêu, cam, chanh, quít ).

Theo chương trình điều tra tổng hợp vùng Ðồng bằng sông Cửu Long trongthập niên 80 thì vùng đồng bằng sông Cửu Long có 7 nhóm đất chính (Bảng 6)

Ðất mặnÐất phèn mặn

809.034631.443

và gần 70% diện tích đất đồi núi là đất có vấn đề, đất xấu và có độ phì nhiêu thấp,trong đó đất bạc màu gần 3 triệu ha, đất trơ sỏi đá 5,76 triệu ha, đất mặn 0,91 triệu ha,đất dốc trên 25 độ gần 12,4 triệu ha

Đất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm 17% Đất cần cải tạo như đấtcát, mặn, phèn, xám bạc màu khoảng 20% Trong số các nhóm đất chính có 9,1%đất phù sa, 7,5% đất xám bạc màu, 5,2% đất phèn, 3,0% đất mặn, 1,4% đất cát biển,48,5% đất feralit đỏ vàng, 11,4% đất mùn vàng đỏ trên núi, 0,5% đất mùn trên núicao, vv Trong nhóm đất đỏ vàng, có 6 triệu ha đất đỏ vàng trên đá sét và đá biếnchất, 4,6 triệu ha đất nâu đỏ trên đá macma trung tính và bazơ (trong đó đất bazan làphì nhiêu nhất)

Bình quân đất tự nhiên theo đầu người là 0,4 ha Theo mục đích sử dụng năm

2000, đất nông nghiệp 9,35 triệu ha, lâm nghiệp 11,58 triệu ha, đất chưa sử dụng 10triệu ha (30,45%), chuyên dùng 1,5 triệu ha Đất tiềm năng nông nghiệp hiện cònkhoảng 4 triệu ha Bình quân đất tự nhiên ở Việt Nam là 0,6 ha/người Bình quân đất

Trang 18

nông nghiệp theo đầu người thấp và giảm rất nhanh theo thời gian, năm 1940 có 0,2

ha, năm 1995 là 0,095 ha Đây là một hạn chế rất lớn cho phát triển Đầu tư và hiệuquả khai thác tài nguyên đất ở Việt Nam chưa cao, thể hiện ở tỷ lệ đất thuỷ lợi hoáthấp, hiệu quả dùng đất thấp, chỉ đạt 1,6vụ/năm, năng suất cây trồng thấp, riêng năngsuất lúa, cà phê và ngô đã đạt mức trung bình thế giới

( TRIỆU NGƯỜI

)

DIỆN TÍCH ĐẤTNÔNG NGHIỆP(TRIỆU HA)

BÌNH QUÂN ĐẦUNGƯỜI( HA /NGƯỜI )

Trang 19

V/ Nguyên nhân

1 Các yếu tố xói mòn đất đai

Trong tự nhiên, đất không được giữ lại ở một nơi xác định mà luôn đượcmang đi từ một nơi này đến một nơi khác, nhất là lớp đất ở tầng mặt, đó là sự xóimòn đất Hai tác nhân chính gây nên sự xói mòn đất là nước và gió

Sự xói mòn đất còn do một nguyên nhân khác là con người Chúng ta đềubiết rằng tàng lá và rể cây có vai trò bảo vệ đất chống lại sự xói mòn, trong sản xuấtnông nghiệp thì con người tiến hành khai phá rừng để lấy gỗ và lấy đất canh tác hoặc

sử dụng vào các mục đích khác, đã phá hủy tầng cây bao phủ mặt đất, tạo điều kiệnlàm tăng sự xói mòn đất

Sự xói mòn đất quá lớn không chỉ ảnh hưởng đến sự làm giảm độ phì nhiêucủa đất mà còn ảnh hưởng đến sự tưới tiêu, sự lưu thông đường thủy, các hồ chứanước để làm thủy điện, cung cấp nước uống cho vùng đô thị Nếu tỉ lệ trung bìnhcủa sự xói mòn tầng đất mặt vượt quá tỉ lệ thành lập tầng đất mặt, như vậy tầng mặtcủa đất không được làm mới thì đất càng ngày càng nghèo chất dinh dưỡng

1.1 Nguyên nhân xói mòn đất đai trên thế giới

Tỷ trọng đóng góp gây thoái đất trên thế giới như sau: mất rừng 30%, khaithác rừng quá mức (chặt cây cối làm củi, ) 7%, chăn thả gia súc quá mức 35%, canhtác nông nghiệp không hợp lý 28%, công nghiệp hoá gây ô nhiễm 1% Vai trò của cácnguyên nhân gây thoái hoá đất ở các châu lục không giống nhau: ở Châu Âu, châu á,Nam Mỹ mất rừng là nguyên nhân hàng đầu, châu Đại Dương và châu Phi chăn thảgia súc quá mức có vai trò chính yếu nhất, Bắc và Trung Mỹ chủ yếu do hoạt độngnông nghiệp

Tỉ lệ xói mòn đất thay đổi tùy theo địa hình, sự kết cấu của đất, tác động củamưa, sức gió, dòng chảy và đối tượng canh tác Sự xói mòn đất do hoạt động của conngười xảy ra rất nhanh ở các quốc gia như Ấn Ðộ, Trung Quốc, Liên Xô và Hoa Kỳ,tính chung các quốc gia này sản xuất hơn 50% số lương thực trên thế giới và dân sốcũng chiếm 50% dân số thế giới Ở Trung Quốc, theo báo cáo hàng năm mặt đất bịbào mòn trung bình 40 tấn cho mỗi ha, trong cả nước có 34% diện tích đất bị bàomòn khốc liệt và làm cho các con sông chứa đầy phù sa Ở Ấn Ðộ, sự xói mòn đất

Trang 20

làm sông bị lấp đầy bùn là một vấn đề nghiêm trọng xảy ra ở đây, trong cả nước cókhoảng 25% diện tích đất bị bào mòn mạnh Ở Liên Xô, theo ước tính của TheWorldwatch Institute là có diện tích đất canh tác lớn nhất và có tầng đất mặt bị xóimòn nhiều nhất thế giới (Miller, 1988).

Dân nghèo ngày càng tăng thì sự canh tác cũng gia tăng theo, đó cũng lànguyên nhân làm tăng sự xói mòn của đất Sự xói mòn đất không chỉ là vấn đề dohoạt động canh tác mà còn do sự quản lý và sử dụng không hợp lý đất rừng, đất đồng

cỏ, mà còn do các hoạt động xây dựng của con người theo sự gia tăng dân số ( hoạtđộng xây dựng làm xói mòn đất chiếm khoảng 40% đất bị xói mòn ) Mặt khác, hậuquả của sự xói mòn còn làm trở ngại sự vận chuyển đường thủy, làm giảm sức chứacủa các đập thủy điện, xáo trộn cuộc sống hoang dã của các loài sinh vật từ đó ảnhhưởng đến môi trường sinh thái tự nhiên

1.2 Nguyên nhân xói mòn đất đai ở Việt Nam

Nguyên nhân chính dẫn đến sự xói mòn là do sự khai phá rừng để lấy gỗ vàlấy đất canh tác Từ năm 1983 đến 1994 trên cả nước ta có khoảng 1,3 triệu hectarừng đã bị khai phá để lấy gỗ và lấy đất trồng trọt, gây nên sự xói mòn và rửa trôi lớpđất mặt làm cho đất ở các nơi này càng ngày càng trở nên bạc màu Chỉ tính riêngcho các vùng phía Bắc sông Hồng và dọc theo dãy Trường Sơn thì đã có khoảng700.000 ha đất bị bạc màu

Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới ẩm và có lượng mưa tương đối lớn (từ1.800 mm - 2.000 mm) nhưng lại phân bố không đều và tập trung chủ yếu trong cáctháng của mùa mưa từ tháng 4 - 5 đến tháng 10; riêng vùng duyên hải miền Trung thìlượng mưa bắt đầu và kết thúc muộn hơn từ 2 đến 3 tháng Lượng mưa lớn và lại tậptrung tạo ra dòng chảy có cường độ rất lớn, đây là nguyên nhân chính gây nên hiệntượng xói mòn đất đai ở Việt Nam Hằng năm, nước của các con sông mang phù sa

đổ vào biển Ðông khoảng 200 triệu tấn, người ta ước tính trung bình 1m3 nước chứa

từ 50g - 400g phù sa, riêng đồng bằng sông Hồng 1.000g/m3 và có khi đạt đến2.000g/m3

2 Các nguồn gây ô nhiễm môi trường đất

2.1 Tự nhiên:

Trang 21

- Nhiễm phèn: do nước phèn tự một nơi khác di chuyển đến Chủ yếu lànhiễm Fe2+, Al3+, SO42- pH môi trường giảm gây ngộ độc cho con người trong môitrường đó.

- Nhiễm mặn: do muối trong nước biển, nước triều hay từ các mỏ muối,…nồng độ áp suất thẩm thấu cao gây hạn sinh lí cho thực vật

- Gley hóa trong đất sinh ra nhiều chất độc cho sinh thái (CH4, N2O, CO2,

H2S FeS, )

2.2 Nhân tạo:

2.2.1 Ô nhiễm đất vì nước thải

Nguyên nhân là không biết cách lợi dụng một cách khoa học các loại nướcthải để tưới cho cây trồng Sử dụng hợp lý nguồn nước thải tưới đồng ruộng sẽ tậndụng được lượng Nitơ, Photpho, Kaki trong nước, có lợi cho cây trồng Nhưng nếunhư nước ô nhiễm chưa qua xử lý cần thiết, tưới bừa bãi, thì có thể đưa các chất cóhại trong nguồn nước vào đất gây ô nhiễm

Ở Việt Nam, hiện nay nhiều nguồn nước thải ở các đô thị, khu công nghiệp

và các làng nghề tái chế kim loại, chứa các kim loại nặng độc hại như :Cd, As, Cr,

Cu, Zn, Ni, Pb và Hg Một diện tích đáng kể đất nông nghiệp ven đô thị, khu côngnghiệp và làng nghề đã bị ô nhiễm kim loại nặng

2.2.2 Ô nhiễm đất vì chất phế thải

Nguồn chất thải rắn có rất nhiều, chất thải rắn công nghiệp, chất thải rắn củangành khai thác mỏ, rác ở đô thị, chất thải nông nghiệp và chất thải rắn phóng xạ.Chủng loại của chúng rất nhiều, hàm lượng các nguyên tố độc trong chúng cũngkhông giống nhau; tỷ lệ nguyên tố độc hại trong chất thải rắn công nghiệp thường caohơn; rác thành thị chứa các loại vi khuẩn gây bệnh và ký sinh trùng; chất thải rắnnông nghiệp chứa các chất hữu cơ thối rữa và thuốc nông nghiệp còn lưu lại ; chấtthải phóng xạ có chứa các nguyên tố phóng xạ như Uranium, Strontium, Caesium

Ngày đăng: 02/07/2018, 14:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ðỗ Thị Minh Ðức, Nguyễn Viết Thịnh -Dân số-Tài nguyên-Môi trường-, NXB Giáo dục, HN, 1996 Khác
2. TS. Nguyễn Kim Hồng, Gíao trình Dânsố và Môi trường, K17, 2007 Khác
3. Lưu Ðức Hải -Cơ sở khoa học môi trường- NXB Ðại học QG Hà Nội, HN, 2002 Khác
4. Lê Văn Khoa và NNK -Ðất và Môi trường- NXB Giáo Dục, HN, 2000 Khác
5. Viện Kinh tế LX -Bảo vệ môi trường và hiệu quả kinh tế-xã hội của nó- (người dịch Ðặng Như Toàn, Nguyễn Quang Thái), NXB KH&KT, HN, 1985 Khác
6. Mai Ðình Yên, Môi trường và con người, NXB Giáo Dục, HN, 1997 7. Giáo trình Tài nguyên đất MT - Lê Văn Khoa8. Trang web Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w