1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dân số và đói nghèo ở việt nam thực trạng và giải pháp khắc phục

27 182 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 161 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU I. Lí do lựa chọn vấn đề nghiên cứu. Sự phát triển tốt đẹp và tích cực của thế giới luôn là một mục đích đựơc chú trọng lâu dài của toàn nhân loại.Chính vì vậy,việc điều chỉnh sự vận động và phát triển của các mặt như kinh tế,văn hoá,xã hội,chính trị...sao cho hợp lí,ổn định và hiệu quả luôn là điều vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia,trong đó có đất nước Việt Nam chúng ta.Bởi vì,muốn toàn nhân loại phát triển trong ổn định,tốt đẹp thì chính mỗi quốc gia cũng phải là những hạt nhân ổn định,tốt đẹp đầu tiên. Một trong những vấn nạn của toàn nhân loại vẫn còn tồn tại từng ngày từng giờ chính là “đói nghèo”.Đói nghèo gây ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của mỗi quốc gia;gây nên những thực trạng đáng lo ngại và những hậu quả trở ngại rât nhiều đến phát triển kinh tế,xã hội...cũng chính vì lí do đó mà “đói nghèo” cũng được cho là một trong những nguyên nhân gây nên sự trì trệ trong sự phát triển chung của toàn nhân loại. Dân số trên thế giới không ngừng tăng,dân số của Việt Nam cũng không ngừng tăng và nứơc ta cũng là một trong số những nước đông dân trên thế giới.Hơn thế,Việt Nam lại là một nước nghèo so với nhiều quốc gia khác.Chính vì vậy,hệ quả của đói nghèo cũng như mối quan hệ giữa dân số và đói nghèo có thẻ nhìn thấy rất rõ qua thực trạng của nước ta.Giữa dân số và đói nghèo có một sự ràng buộc rất chặt chẽ.Biểu hiện ở chỗ:sự tăng nhanh hay giảm đi về dân số đồng thời cũng kéo theo sự gia tăng hay suy giảm tỉ lệ đói nghèo. Nghiên cứu dân số và đói nghèo để hiểu thêm được thực trạng đời sống của con người trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.Đồng thời,nghiên cứu dân số và đói nghèo để có thể từ những hiểu biết,những phân tích,làm sáng tỏ vấn đềsáng tỏ những khúc mắc,đưa ra những giải pháp;những phương hướng;những việc làm cụ thể nhằm cải thiện hậu quả của đói nghèo,cải thiện những hạn chế trong đời sống của mỗi người dân.Suy rộng hơn,mục đích của việc nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề này chính là để mỗi công dân có thể chủ động hơn,tích cực hơn trong việc xây dựng quốc gia của mình ngày càng ổn định,góp phần xây dựng một thế giới ngày càng phát triển,tốt đẹp hơn.

Trang 1

MỞ ĐẦU

I Lí do lựa chọn vấn đề nghiên cứu.

Sự phát triển tốt đẹp và tích cực của thế giới luôn là một mục đích đựơcchú trọng lâu dài của toàn nhân loại.Chính vì vậy,việc điều chỉnh sự vận động

và phát triển của các mặt như kinh tế,văn hoá,xã hội,chính trị sao cho hợplí,ổn định và hiệu quả luôn là điều vô cùng quan trọng đối với mỗi quốcgia,trong đó có đất nước Việt Nam chúng ta.Bởi vì,muốn toàn nhân loại pháttriển trong ổn định,tốt đẹp thì chính mỗi quốc gia cũng phải là những hạt nhân

ổn định,tốt đẹp đầu tiên

Một trong những vấn nạn của toàn nhân loại vẫn còn tồn tại từng ngàytừng giờ chính là “đói nghèo”.Đói nghèo gây ảnh hưởng rất nhiều đến sự pháttriển của mỗi quốc gia;gây nên những thực trạng đáng lo ngại và những hậuquả trở ngại rât nhiều đến phát triển kinh tế,xã hội cũng chính vì lí do đó mà

“đói nghèo” cũng được cho là một trong những nguyên nhân gây nên sự trì trệtrong sự phát triển chung của toàn nhân loại

Dân số trên thế giới không ngừng tăng,dân số của Việt Nam cũngkhông ngừng tăng và nứơc ta cũng là một trong số những nước đông dân trênthế giới.Hơn thế,Việt Nam lại là một nước nghèo so với nhiều quốc giakhác.Chính vì vậy,hệ quả của đói nghèo cũng như mối quan hệ giữa dân số vàđói nghèo có thẻ nhìn thấy rất rõ qua thực trạng của nước ta.Giữa dân số và đóinghèo có một sự ràng buộc rất chặt chẽ.Biểu hiện ở chỗ:sự tăng nhanh hay giảm

đi về dân số đồng thời cũng kéo theo sự gia tăng hay suy giảm tỉ lệ đói nghèo

Nghiên cứu dân số và đói nghèo để hiểu thêm được thực trạng đời sốngcủa con người trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.Đồngthời,nghiên cứu dân số và đói nghèo để có thể từ những hiểu biết,những phântích,làm sáng tỏ vấn đề-sáng tỏ những khúc mắc,đưa ra những giảipháp;những phương hướng;những việc làm cụ thể nhằm cải thiện hậu quả củađói nghèo,cải thiện những hạn chế trong đời sống của mỗi người dân.Suy

Trang 2

rộng hơn,mục đích của việc nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề này chính là đểmỗi công dân có thể chủ động hơn,tích cực hơn trong việc xây dựng quốc giacủa mình ngày càng ổn định,góp phần xây dựng một thế giới ngày càng pháttriển,tốt đẹp hơn.

II Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu,những tạp chí,bàibáo nói về chủ đề dân số và đói nghèo.Mỗi bài viết là một sự sáng tạo củamỗi tác giả trong việc đóng góp những ý kiến của mình vào việc tìm hiểu mốiquan hệ qua lại giữa dân số và đói nghèo,đồng thời đưa ra những giải pháp đểkhắc phục những hậu quả của đói nghèo

Một số những tác phẩm có thể kể đến như: “Giàu nghèo trong nôngthôn hiện nay”-Chủ biên Nguyễn Văn Tiên,NXB Nông nghiệp,1993; “Đóinghèo ở Việt Nam-một số kết quả nghiên cứu của ngành lao động thươngbinh và xã hội”,1993;bài viết “Một số quan điẻm và giải pháp giải quyết việclàm cho lao động và lao động nữ ở nông thôn trong quá trình chuyển đổi nềnkinh tế” trong tài liệu “Nững vấn đề chính sách xã hội với phụ nữ nông thôntrong giai đoạn hiện nay”,NXB Khoa học xã hội,Hà Nội,1997,Nguyễn HồngQuang.Trong bài viết này tác giả đã nêu được quá trình chuyển đổi kinh tế thịtrường những năm qua và hiện nay đã góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình

ở nông thôn.Tác giả cũng đã nêu một hệ thống các danh sách và giải pháp cótính chiến lược.Tuy nhiên,phát triển các loại hình kinh tế nông thôn hiện nay

đã không thu dụng được hoặc chưa tạo ra cơ hội việc làm cho phụ nữ.Ngoài

ra vấn đề bình đẳng giữa giới nam và giới nữ trong xã hội còn rất hạn chếcũng gây cản trở trong vấn đề phát triển kinh tế hộ gia đình nói riêng và pháttriển kinh tế xã hội nói chung.Bài viết: “Vấn đề cho vay vốn đối với hộ nôngdân”-Đỗ Xuân Trường,1998; “Đói nghèo ở miền núi cao Nghệ An,nguyênnhân và tình trạng khắc phục”,tạp chí cộng sản số 19(10/1999);tài liệu

“Hướng tới tương lai,báo cáo đánh giá chung về tình hình Việt Nam”của liênhợp quốc năm 1999.Trong tài liệu này,chủ đề phát triển nông thôn cũng được

Trang 3

quan tâm chú ý.Trong đó,vấn đề tín dụng ở nứơc ta nổi lên như một thách đốvới chính phủ Việt Nam trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình,xoá đói giảmnghèo Báo cáo đã cho biết mặc dù cho vay vốn không căn cứ vào giớitính,song phụ nữ không đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtđôi khi vẫn gặp khó khăn trong vay vốn.Ngoài ra khả năng tín dụng trung vàdài hạn rất hạn chế cũng gây cản trở cho việc đa dạng hoá nông nghiệp nôngthôn,tạo ra việc làm ngoài nghề nông.

Một số những nghiên cứu khác như: “Lâm Đồng thực hiện xoá đóigiảm nghèo”-Trần Kim Dung,tạp chí công sản số 5(3/2000).Trong nghiên cứunày,Trần Kim Dung đã nêu lên những mục tiêu và những vấn đề về: “Phươngthuốc đặc trị căn bệnh đói nghèo như tao công an việc làm,khắc phục bất bìnhđẳng về mọi mặt còn tồn tại,hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn và ổnđịnh di dân tự do ”;nghiên cứu của Hoàng Huy đăng trên báo Nhân dân ngày15/10/2000

Ngoài những công trình nghiên cứu đã kể trên;những bài báo đã đượcđăng tải,vấn đề về dân số và đói nghèo còn được đề cập và nghiên cứu rấtnhiều trên những trang web.Một số những tác giả đưa ra bài viết cũng như kếtquả nghiên cứu của mình với mục đích đóng góp và nhằm tuyên truyền rộngrãi suy luận của mình đến đông đảo bạn đọc.Đây cũng là một phương pháphiệu quả để nâng cao sự quan tâm của giới trẻ đến thực trạng cấp bách củanước nhà nói riêng và toàn nhân loại nói chung

III.Nội dung vấn đề.

1 Khái niệm “nghèo”và chuẩn nghèo ở Việt Nam.

a, Nghèo tuyệt đối

Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang pháttriển,Robert Mc Namara,khi là giám đốc của ngân hàng thế giới đã đưa rakhái niệm nghèo tuyệt đối.Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau:

“nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại.Nhữngngười nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các

Trang 4

thiếu thốn tồi tệ và trong tình trang bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sứctưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giởití thức chúng ta.”

Ngân hàng thế giới xem thu nhập 1 đô la Mĩ/ngày theo sức mua tươngđương của địa phương so với đô la thế giới để thoả mãn nhu cầu sống như làchuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối.Trong những bước sau đó các trịranh giới nghèo tuyệt đối(chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng đượcxác định từ 2 đô la cho châu Mỹ La Tinh và Carribean đến 4 đô la cho nhữngnước Đông Âu cho đến 14,4 đô la cho những nước công nghiệp.Đối với ViệtNam,chính phủ Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo trong thời gian từ

1993 đến cuối năm 2005

Theo quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ngày

27 tháng 9 năm 2001,trong đó phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia xoáđói iảm nghèo giai đoạn 2001-2005”,thì những hộ gia đình có thu nhập bìnhquân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000đồng/người/tháng(960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo,ỏ khu vựcnông thôn đông bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm)trở xuống là hộnghèo,ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ150.000 đồng/người/tháng (1.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo

Theo quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ngày 8tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-

2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có mức thu nhập bình quân từ200.000 đồng/người/tháng(2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộnghèo,ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo

b,nghèo tương đối

Trong những xã hội được coi là thịnh vượng,nghèo được định nghĩadựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân.Nghèo tương đối có thể được coi như là

Trang 5

việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những ngườithuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.

Nghèo tương đối có thể là khách quan,tức là sự hiện hữu không phụthuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc.Người ta gọi là nghèo tươngđối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phuj thuộcvào sự xác định khách quan.Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tươngđối),việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọnghơn.Việc nghèo đi về văn hoá xã hội,thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội dothiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một tháchthức xã hội nghiêm trọng

c, Ranh giới nghèo tương đối

Ranh giới cho nạn nghèo tương đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khácnhau cho một xã hội.Một con số cho ranh giới của nạn nghèo được dùng trongchính trị và công chúng là 50% hay60% của thu nhập trung bình.Vì thế từnăm 2001 trong các nước thành viên của Liên minh Châu Âu những ngườiđược coi là nghèo khi có ít hơn 60% trị trung bình của thu nhập ròng tươngđương.Lý luận của những người phê bình cho rằng con số này trên thực tếcho biết rất ít về chuẩn mực cuộc sống của con người.Những ai hiện tại có íthơn 50% của thu nhập trung bình thì vẫn có ít hơn 50% của trung bình khiotất cả các thu nhập đều tăng lên gấp 10 lần.Vì thế những người đó vẫn còn lànghèo tương đối.Và khi những người giàu bỏ đi hay mất tiền của thì sẽ giảmtrung bình của thu nhập đi và vì thế làm giảm thiểu nghèo tương đối trongmột nước.Ngược lại nghèo tương đối sẽ tăng lên khi một người không nghèo

có thể tăng thu nhập ngay cả khi những người có thu nhập khác vẫn không cóthay đổi.Ngưòi ta còn phê bình là ranh giới nghèo trộn lẫn vấn đề nghèo vớivấn đề phân bố thu nhập.Vì một sự phân chia rõ ràng giữa nghèo và giàu trênthực tế không có nên khái niệm ranh giới nguy cơ nghèo cũng hay được dùngcho ranh giới nghèo tuơng đối

Trang 6

Ngược với ranh giới nghèo tương đối,các phương án tính toán ranh giớinghèo tuyệt đối đã đứng vững.Các ranh giới nghèo tuyệt đối được tính toánmột cách phức tạp bằng cách lập ra những giỏ hàng cần phải có để có thểtham gia vào cuộc sống xã hội.

Các ranh giới nghèo tương đối và nghéo tuyệt đối đều không có thể xácđịnh được nếu như không có trị số tiêu chuẩn cho trước.Việc chọn lựa mộtcon số phần trăm nhất định từ thu nhập trung bình và ngay cả việc xác địnhmột giỏ hàng đều không thể nào có thể được giải thích bằng các giá trị tựdo.Vì thế mà chúng được quyết định qua những quá trình chính trị

d,Định nghĩa theo tình trạng sống

Cái gọi là định nghĩa tình trạng sống lưu ý đến những khía cạnh khácngoài thu nhập khi định nghĩa “nghèo con người”,thí dụ như cơ hội đàotạo,mức sống,quyền tự quyết định,ổn định về luật lệ,khả năng ảnh hưởng đếnnhững quyết định chính trị và nhiều khía cạnh khác.Chương trình phát triểnliên gồm tuổi thọ dự tính vào lúc mới sinh ,tỉ lệ mù chữ,trình độ học vấn,sứcmua thực tên đầu người và nhiều chỉ thị khác.Trong báo cáo phát triển thếgiới 2000 ngân hàng thế giới đã đưa ra bên cạnh các yếu tố quyế định kháchquan cho sự nghèo là những yếu tố chủ quan như phẩm chất và tự trọng

Từ ngày 01.01.2009 chuẩn nghèo quốc gia sẽ được tăng lên 300.000đồng/người và 390.000 đồng/người theo đơn vị tháng cho khuvực nông thôn

và thành thị tương ứng phản ánh tình trạng lạm phát gia tăng Mức chuẩnnghèo mới được đưa ra theo đề xuất và thống nhất của bộ lao độngTB&XH,bộ kế hoạch va đầu tư và Tổng cục thống kê

Chuẩn nghèo được tính toán dựa vào các nhu cầu tối thiểu hằng ngày

về ăn,ở,quần áo,chăm sóc sức khoẻ,giáo dục,đi lại và giao lưu xã hội.Trong

đó nhu cầu về thức ăn ước tính chiếm khoảng 60% tổng nhu cầu chi tiêu củacác hộ nghèo.Nếu chuẩn nghèo dựa vào chỉ số giá tiêu dùng la 12,5% năm

2007 và 28% năm 2008 (thu nhập theo đầu người hàng tháng là 300.000 đồng

Trang 7

và 390.000 đồng tương ứng cho khu vực nông thôn và thành thị) thì tỉ lệ hộnghèo tại Việt Nam sẽ là 17,5% tương đương với 3,4 triệu hộ.

2.Thực trạng đói nghèo.

a,Đói nghèo nhìn từ thế giới

Theo số liệu của Ngân hàng thế giới thì trong năm 2001 trên toàn thếgiới có 1,1 tỉ người (tương ứng với 21% dân số thế giới) có ít hơn 1 đô la Mĩtính theo sức mua địa phương và vì thế được xem là rất nghèo.(Năm 1981 là1,5 tỉ người,vào thoiưì gian đó là 40% dân số thế giới,năm 1987 là 1,227 tỉngười tương ứng 30% và năm 1993 là 1,314 tỉ người tương đương với29%).Phần lớn những người này sống tại Châu Á,thế nhưng thành phầnnhững ngưòi nghèo trong dân cư tại Châu Phi lại còn cao hơn nữa.Các thànhviên của Liên Hợp Quốc trong cuộc họp thượng đỉnh thiên niên kỉ năm 2000

đã nhất trí cho mục tiêu cho đén năm 2015 giảm một nửa số những người có

ít hơn 1 đô la Mĩ.Theo thông tin của Ngân hàng thế giới vào tháng 4 năm

2004 thì có thể đạt được mục đích này nhưng không phải ở tất cả cácnước.Trong khi nhờ vào tăng trưởng kinh tế tại nhiều vùng của Châu Á,tỷ lệngười nghèo giảm xuống rõ rệt(từ 58% xuống còn 16% tại Đông Á)thì con sốnhững người nghèo nhất lại tăng lên ở Châu Phi (gần gấp đôi từ 1981 đến

2001 phía Nam sa mạc sahara).Tại Đông Âu và Trung Á con số những ngườinhèo nhất đã tăng lên đến 6% dân số.Nếu như đặt ranh giới nghèo là 2 đô la Mỹmỗi ngày thì có tổng cộng là 2,7 tỉ người nghèo,gần một nửa dân số thế giới

* Nạn nghèo tại Áo

Theo số liệu của Bộ xã hội (“báo cáo về tình trạng xã hội 2004”)thì trong năm 2003 có hơn 1 triệu người ở Áo(13,2% dân cư) có nguy

2003-cơ nghèo.trong năm 2002 là 900.000 hay 12%,năm 1999 là 11%.Ranh giớinguy cơ nghèo là 60% của thu nhập trung bình.theo đó thì cứ mỗi 8 người thì

có một người là có thu nhập ít hơn 785 euro/tháng.Phụ nữ có tỉ lệ nguy cơnghèo cao hơn(14%)

Trang 8

Bên cạnh nghèo về thu nhập như là chỉ số cho tình trạng tài chính củamột gia đình,ở Áo còn có “nghèo nguy kịch” khi ngoài việc thiệt thòi về tàichính còn có thiêus thốn hayhạn chế nhất định trong những lĩnh vực sống cơbản.Trong năm 2003 có 467.000 người(5,9% dân số)nghèo nguy kịch.Trongnăm trước còn là 300000 người hay 4%.Theo một bản báo cáo của hội nghị

về nạn nghèo,lần đầu tiên có số liệu về cái gọi là “working poor”:tại Áo có57.000 người nghèo mặc dầu là có việc làm.Ngoài ra mức độ nguy cơ nghèophuj thuộc vào công việc làm:Những người làm việc cho đến 20 tiếng hằngtuần có nguy cơ nghèo gấp 3 lần ,những người làm việc từ 21 đến 30 tiếng cónguy cơ nghèo gấp đôi những người làm việc từ 31 đến 40 tiếng

* Nạn nghèo tại Đức

Thu nhập tương đương sau thuế hàng tháng do cục thống kê liên bangtính toán vào năm 2002 là 1,217 euro trong các tiểu bang cũ và 1.008 eurotrong các nước tiểu bang mới.Theo các tiêu chí của Liên minh Châu Âu choranh giới nghèo(60%) thì như vậy ranh giới nghèo nằm vào khoảng 730,20euro cho phía tây và 604,80 euro cho phía Đông của nước Đức.Theo lệthường thì mức sống xã hội văn hoá tối thiểu được định nghĩa bằng trợ cấp xãhội còn ở dưới ranh giới này

Theo số liệu từ “Báo cáo giàu và nghèo lần thứ 2”do chính phủ liênbang đưa ra trong tháng 3 năm 2005 thì trong năm 2003 có 13,5% dân số lànghèo.Năm 2002 cũng theo các số liệu này thì con số đó còn là 12,7%,năm

1998 là 12,1%.Hơn 1/3 những người nghèo là những người nuôi con mộtmình và con của họ.Vợ chồng có nhiều hơn 3 con chiếm 19%

Trẻ em va thanh niên ở Đức có nguy cơ nghèo cao.15% trẻ em dưới 15tuổi và 19,1% thanh niên từ 16 đến 24 tuổi thuộc vào diện này.Số trẻ em sốngnhờ vào trợ cấp xã hội ở Đức tăng thêm 64.000,lên đến 1,08 triệu trong năm

2003 và đạt đến 1,45 triệu trong thời gian 2004/2005.Theo UNICEF trẻ emnghèo ở Đức tăng nhanh hơn so với phần lớn các nước công nghiệp.Thêm vào

Trang 9

đó nghèo có ảnh hưởng lớn đến cơ hội giáo dục theo nhgiên cứu của Hiệp hội

từ thiện công nhân

Ngược lại thì nạn nghèo ở người già tại Đức giảm đi từ 13,3% năm

1998 xuống 11,4% trong năm 2003.Thế nhưng nạn nghèo ở đây được dự báo

là sẽ tăng vì những người thất nghiệp,làm việc nửa ngày và những người thunhập ít hiện đang có nhiều sẽ có tiền hưư ít và thêm vào đó là mức tiền hưưcủa tất cả những người về hưu trong tương lai(tức là tất cả những người làmviệc hiện nay)sẽ bị giảm đi theo các cải tổ.Theo một nghiên cứu thì 1/3 côngdân liên bang có nguy cơ bị nghèo đi trong tuổi già.Nguyên nhân bên cạnhviệc tăng tuổi thọ là các cải tổ về chế độ hưu của năm 2001 và 2004 giảmmức độ tiền hưu theo luật pháp xuống khoảng 18% và việc nhiều công dânliên bang không sẵn sàng tự lo trước cho tuổi già vì không muốn hay không

có khả năng

* Nạn nghèo tại Mĩ

Tờ Bưu điện Washington ngày 10-9-2009 cho biết,đến cuối năm 2008

có tổng cộng 39,8 triệu người Mĩ sôngs trong cảnh nghèo,tăng 2,6 triệu người

so với năm 2007.Tỷ lệ nười nghèo năm 2008 là 13,2%-cao nhất kể từ năm1998.Số người nghèo,ở độ tuổi từ 18 đến 64 ,trongnăm 2008 lên tới 22,1 triệungười,tăng 170 nghìn người so với năm 2007.Có tới 8,1 triệu gia đình sốngdưới mức nghèo,chiếm khoảng 10,3% tổng số hộ gia đình Mĩ(bưu điệnWashington,ngày 11-9-2009).Theo tờ thời báo New York,ngày 29-9-2009,tỉ lệnghèo ở thành phố New York năm 2008 là 18,2% và gần 28% số dân ở quậnBronx ở thành phố này rơi vào cảnh nghèo trong khoảng thời gian từ tháng 8-

2008 đến tháng 8-2009,hơn 90 nghìn hộ ở California bị cắt điện và khíđốt.Một người đàn ông chết cóng tại nhà riêng.Đói nghèo dẫn đến số vụ tự tử

ở Mĩ tăng mạnh.Có thông tin cho biết mỗi năm ở Mĩ có khoảng 32 nghìn vụ

tự sát,gần gấp hai lần số vụ giết người là 18 nghìn vụ.Văn phòng điều tra các

vụ chết bất thường của hạt Los Angeles chobiết:kinh tế sa sút thậm chí cònảnh hưởng tới cả người chết,khi nhiều thi thể ở hati này không được gia đình

Trang 10

nhận do không có chi phí mai táng.Tổng cộng có 712 thi thể ở đây được hoảtáng bằng chi phí từ tiền của người đóng thuế trong năm 2008,tăng khoảng36% so với năm trước.

Số người đói cao nhất 14 năm qua.Bộ nông nghiệp Mĩ thông báo ngày16-11-2009,năm 2008 có 49,1 triệu người Mĩ của 17 triệu gia đình (chiếm14,6% tổng số gia đình Mĩ)không có lương thực thiết yếu thường xuyên,tăng31% từ 13 triệu gia đình(11,1% số gia đình Mĩ)không được cung cấp lươngthực thiết yếu thường xuyên trong năm 2007-tỉ lệ cao nhất từ khi chính phủ

Mĩ bắt đầu giám sát mất an ninh lương thực vào năm 1995(theo thời báo NewYork,ngày 17-11-2009 có 14,6% số ngưòi Mĩ không có đủ lương thực ăntrong năm 2008).Số người thiếu an ninh lương thực tăng từ 4,7 triệu ngườinăm2007 lên 6,7 triệu người năm 2008 Khoảng 15% số hộ gia đình vẫn phảilàm việc chỉ để coa đủ lương thực thiết yếu và quần áo.Số liệu thống kê chothấy 36,5% người Mĩ,tức kà khoảng một pần tám dân số Mĩ tham gia chươngtrình tem lương thực hồi tháng tám năm 2009,tăng 7,1 triệu người so với năm

2008 Tuy nhiên chỉ khoảng 2/3 trong số người đủ điều kiện nhận tem lươngthực là được phát tem

* Nam Sahara vẫn là điểm nóng đói nghèo

Tỷ lệ người nghèo vẫn chênh lệch đáng kể giữa các khu vực trên thếgiới đặc biệt là vùng nam sa mạc Sahara là khu vực duy nhất mà tỉ lệ ngườinghèo khổ hầu như vẫn “dậm chân tại chỗ”.505 văm 2005 so với 51% năm1981,thâm chí năm 1996 tăng lên mức đỉnh điểm là 58%.nếu tính theo đầungười ,số người sống dưới mức nghèo khổ ở khu vực này còn tăng gần gấpđôi ,từ mức 202 triệu người năm 1981 lên 384 triệu người vào năm 2005

Lục địa đen cũng là một nơi có nhiều người nghèo cùng cực nhất thếgiới,với mức chi tiêu trung bình chỉ khoảng 70 Uscent/ngày,thấp hơn nhiều sovới những khu vực khác.trong khi đó khu vực có số nhưới nghèo tăng cao nhất

la Nam Á với 596 triệu người năm 2005 so với 548 triệu người của năm 1981 Ởkhu vực Đông Âu,trung Á,số người nghèo cũng có chiều hướng gia tăng

Trang 11

Tong khi ở khu vực Đông Á,trong đó có Trung Quốc,số người sốngdưới mức nghèo khổ đã giảm mạnh,từ 80% năm 1981 xuống còn 16-18%năm 2005Trong năm 2005,tại Đong Á chỉ còn khoảng 337 triệu ngưòi sốngdưới mức nghèo khổ,so với hơn 1 tỉ người vào năm 1981.Con số này ở TrungQuốc ,lần lượt là 208 triệu so với 835 triệu người.

WB cho rằng tại Mĩ la tinh và vùng Caribe,khu vực Bắc Phi và TrungĐông,tỉ lệ dân nghèo cũng đã giảm.Tuy nhiên “Nghiên cứu kinh tế Mỹ Latinh và Caribe giai đoạn năm 2007-2008” của uỷ ban kinh tế Mĩ La tinh vàCaribe cho rằng,giá các mặt hàng lương thực tăng 15% tại thị trường các nướctrong khu vực,đã đẩy thêm 15,7 triệu người ,tương đương 2,8 dân số Mĩ Latinh vào tình trạng nghèo đói,nâng tỉ lệ dân nghèo tại Mĩ La Tinh và vùngCaribe lên 37,9 % tức 204,5 triệu người

Giá lương thực tăng cao cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạpgây ảnh hưởng trực tiếp đến nhóm người nghèo và thu nhập thấp trong xã hội

Các quan chức của WB cho rằng, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế làchìa khoá thành công,là biện pháp quan trọng để gảim tình trạng nghèo khổtrên thế giới.Tuy nhiên đây không phải là biện pháp duy nhất để xoá đói giảmnghèo,mà bên cạnh đó chính phủ các nước cần tập trung vào việc làm,phổ cậpgiáo dục,phát triể dịch vụ y tế xã hội

Theo thống kê của Liên Hợp quốc,Châu Phi là châu lục có tỉ lệ thanhniên thât nghiệp cao nhất thế giới(26,55 ở khu vực Trung Đông và BắcPhi).Thất nghiệp cũng là một trong những vấn đề chủ chốt gây ra nạn đóinghèo của lục địa đen và ảnh hưởng tiêu cực đến các chương trình và các kếhoạch phát triển.Với tỉ lệ tăng 10% mỗi năm.32 Trong số 38 nước nghèo nhấtthế giới là thuộc Châu Phi.Số tiền nợ của Châu Phi lên tới 425 tỉ USD.Tuổithọ trung bình ở Châu Phi thấp nhất thế giới,45 tuổi.Chỉ có khoảng 58% sốdân Châu Phi được dùng nước sạch

Trang 12

Qua việc phân tích nạn đói nghèo còn tồn tại ở một số nước trên thếgiới,chúng ta đều nhận thấy số người nghèo cao hơn rất nhiều so với những

dự báo

Tại các nứoc đang phát triển,tỉ lệ dân số có thu nhập dưới 1,25USD/người/ngày đã giảm xuống một nửa,từ 52% năm 1981 xuống còn 26%năm 2005.tuy nhiên con số này vẫn cao hơn dự kiến.theo ước tính của WB sốngười sống dưới mức nghèo khổ lẽ ra phải giảm xuống dưới mức 9 chữsố(khoảnh 985 triệu người)song với tốc đọ giảm nghèo hiện nay,số ngườinghèo vẵn còn trên 1 tỉ người vào năm 2005

Nhiều chuyên gia cho rằng sở dĩ tỉ lệ người nghèo cùng cực trên tế giớivẫn cao do giá cả sinh hoạt đắt đỏ hơn tại các nước đang phát triển.Ngân hàngphát triển Mĩ vừa cho biêt trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2006 đến tháng 3năm 2008 giá lương thực thế giới đã tăng với tốc độ trung bình là 68%,đẩyhàng tăm triệu người vào cảnh đói nghèo

Theo tổ chức Lương nông Liên Hợp quốc,thêm 50 triệu người trên thếgiới gia nhập vào đội ngũ người nghèo,do giá lương thực tăng vọt gầnđây.Báo cáo cũng chỉ rõ,khoảng 2,6 tỉ người trên thế giới đang sống với mứcthu nhập chưa đến 2 USD/người/ngày và tình trạng này hầu như không thayđổi kể từ năm 1981.Rất nhiều người dễ bị tổn thương vì túi tiền ngày càng eohẹp lại do lam phát cùng với tình trạng giá xăng dầu và lương thực thực phẩmtăng chóng mặt kể từ năm 2005 đến nay

b,Thực trạng đói nghèo tại Việt Nam

Theo số liệu của Chương trình phát triển Liên hợp quốc ở ViệtNam,vào năm 2004 chỉ số phát triển con người của Việt Nam xếp hạng 112trên 177 nước,chỉ số phát triển giới xếp 87 trên 144 nước và chỉ số nghèo tổnghợp xếp hạng 41 trên 95 nước.Cũng theo số liệu của chưong trình phát triểnLiên hợp quốc,vào năm 2002 tỉ lệ nghèo chuẩn quốc gia của Việt Nam là12,9%,theo chuẩn thế giới là 29% và tỉ lệ nghèo lương thực(% số hộ nghèonăm 2002)là 10,87%

Trang 13

Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm tới vấn đề xoá đói giảmnghèo,thựcạo cơ sở cho việc đẳm bảo quyền con người.Nhờ vậy tính theoquốc gia,tỉ lệ nghèo đói ở nước ta gảm từ 30% năm 1992 xuống còn 20,3%năm 1995;19,2% nă 1996;17,7% nă 1998;13,1% năm 1999;10,8% vào giữanăm 2003 và khoảng 9,03% năm 2004.Nếu tính theo chuẩn nghèo trung bìnhquốc tế thì trung bình mỗi năm nước ta giảm được 2% hộ nghèo đói.(khoảng

30 vạn hộ)

Tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các vùng và có xu hướngchậm lại,các hệ số tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo từ 1-0,7 trong nhữngnăm 1992-1998,giảm xuống còn khoảng 1-0,3 giai đoạn 1998-2004.Bìnhquân trước đó mỗi năm giảm 34 vạ hộ nghèo

Một thực trang có thể nhìn thấy nhìn từ đói nghèo chính là sự bất bìnhđẳng trong thu nhập.Giữa các vùng:tỉ lệ hộ nghèo ở khu vực miền núi vẫn còncao,gấp từ 1,7 đến 2 lần tỉ lệ hộ nghèo bình quân của cả nước.Tỷ lê hộ nghèo

ở vùngdddoongf bào dân tộc thiểu số trong tổng số hộ nghèo của cả nước cóchiều hướng tăng từ 21% năm 1992 lên 36% năm 2005.tỷ lệ hộ nghèo tậptrung chủ yếu ở những vùng khó khăn,coa nhiều yếu tố bất lợi như điều kiện

tự nhiên khắc nghiệt,kết cấu hạ tầng thấp kém,trình độ dân trí thấp,trình độsản xuất manh mún,sơ khai.Ngoài ra xuất hiện một số đối tượng nghèo mới ởnhững vùng đang đô thị hoá và nhóm lao động nhập cư vào đô thị,hhọ thườnggặp nhiều khó khăn hơn và phải chấp nhận mức thu nhập thấp hơn lao động

sở tại.Đây là nhuẽng điều kiện cơ bản làm tăng yếu tố tái nghèo và tạo ra sựkhông đồng đều giũa tốc đọ giảm nghèo giữa các vùng.Các vùng Tây Bắc,BắcTrung Bộ và Tây Nguyên có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất sng đây cũng lànhững vùng có tỉ lệ hộ nghèo cao nhất.Chênh lệch giữa các nhóm:thu nhậpgiữa các nhóm giàu và nhóm nghèo có xu hướng gia tăng,trong những nămgần đây,chênh lệch về thu nhập giữa 20% nhóm giàu và 20% nhóm nghèo từ4,3 lần năm 1993 lên 8,14 lần năm 2002;chênh lệch giữa 10% nhóm giàu nhất

và 10% nóm nghèo nhất từ 12,5 lần năm 2002 tăng lên 13,5 lần năm

Ngày đăng: 02/07/2018, 14:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w