MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tài.Thành phố Việt Trì – trung tâm chính trị, hành chính và kinh tế, xã hội của tỉnh Phú Thọ và trung tâm của liên tỉnh phía Bắc. Thành phố Việt Trì còn là một trong những đô thị có nhiều tiềm năng về du lịch, là cửa ngõ giao lưu kinh tế văn hóa giữa những vùng châu thổ sông Hồng và vùng miền núi phía Tây Bắc, giữa thủ đô Hà Nội và vùng Tây Bắc Việt Nam. Gần 50 năm xây dựng và phát triển, thành phố Việt Trì đã có những bước phát triển khá cả về chất và lượng. Những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố Việt Trì đã có những bước phát triển tương đối mạnh, đồng đều tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 13,6% , thể hiện rõ vai trò của đô thị trung tâm. Tuy nhiên, khu vực nông nghiệp của thành phố vẫn còn nhiều hạn chế: nông nghiệp phát triển kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế, nông nghiệp nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước... còn kém, môi trường ô nhiễm, đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân còn hạn chế, thu nhập thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa khu vực thành thị và nông thôn thành phố gây ra những vẫn đề bức xúc. Do đó, để phấn đấu trở thành một trong mười một đô thị lớn nhất được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư và thực sự trở thành Thành phố du lịch lễ hội về với cội nguồn của dân tộc Việt Nam, thành phố phải nỗ lực phấn đấu. phát huy nội lực, tranh thủ sự giúp đỡ của tỉnh, của Trung ương và các tổ chức để xây dựng và phát triển nhanh, mạnh trong thời gian tới. Với mục đích phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân, Hội nghị lần thứ bảy khóa X, Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nghị quyết về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Để thực hiện Nghị quyết của Trung Ương, Chính phủ đã xây dựng Chương trình hành động nhằm mục tiêu: xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, tập trung đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn, nâng cao thu nhập của người dân, nâng cao chất lượng vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn, hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, xây dựng nông thôn mới bền vững theo hướng văn minh, giàu đẹp, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao năng lực phòng chống giảm nhẹ thiên tai, thích ứng và đối phó với biến đổi khí hậu. Trên cơ sở Nghị quyết và chương trình hành động của Chính phủ,Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ và thành phố Việt Trì đã tổ chức học tập, quán triệt quan điểm của Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy, Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, và lên kế hoạch triển khai những chính sách của Đảng và Nhà nước và chương trình hành động của Chính Phủ thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ bảy khóa X của Ban chấp hành trung ương Đảng. Những chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn, nông dân được thực hiện ở thành phố Việt Trì giai đoạn 20102012, mà nếu được triển khai, thực thi một cách đúng đắn, bám sát tình hình thực tiễn, sẽ đạt được mục tiêu tổng quát theo tinh thần của Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy khóa X của Ban chấp hành Trung ương Đảng : không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn, xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao, xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại, xã hội nông thôn ổn định, xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh của giai cấp công nhân nông dân trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Từ đó, tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng việc thực thi chính sách về xây dựng kinh tế nông thôn mới giai đoạn 20102012 trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ”.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Thành phố Việt Trì – trung tâm chính trị, hành chính và kinh tế, xãhội của tỉnh Phú Thọ và trung tâm của liên tỉnh phía Bắc Thành phố ViệtTrì còn là một trong những đô thị có nhiều tiềm năng về du lịch, là cửa ngõgiao lưu kinh tế văn hóa giữa những vùng châu thổ sông Hồng và vùngmiền núi phía Tây Bắc, giữa thủ đô Hà Nội và vùng Tây Bắc Việt Nam.Gần 50 năm xây dựng và phát triển, thành phố Việt Trì đã có những bướcphát triển khá cả về chất và lượng Những năm gần đây, tốc độ tăng trưởngkinh tế của thành phố Việt Trì đã có những bước phát triển tương đốimạnh, đồng đều tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 13,6% , thể hiện rõ vaitrò của đô thị trung tâm
Tuy nhiên, khu vực nông nghiệp của thành phố vẫn còn nhiều hạnchế: nông nghiệp phát triển kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyểngiao khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế, nôngnghiệp- nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giaothông thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước còn kém, môi trường ônhiễm, đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân còn hạn chế, thunhập thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa khu vực thành thị và nông thônthành phố gây ra những vẫn đề bức xúc Do đó, để phấn đấu trở thành mộttrong mười một đô thị lớn nhất được Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư
và thực sự trở thành Thành phố du lịch lễ hội về với cội nguồn của dân tộcViệt Nam, thành phố phải nỗ lực phấn đấu phát huy nội lực, tranh thủ sựgiúp đỡ của tỉnh, của Trung ương và các tổ chức để xây dựng và phát triểnnhanh, mạnh trong thời gian tới
Với mục đích phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đờisống vật chất và tinh thần của người nông dân, Hội nghị lần thứ bảy khóa
X, Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra nghị
Trang 2quyết về nông nghiệp, nông dân và nông thôn Để thực hiện Nghị quyết củaTrung Ương, Chính phủ đã xây dựng Chương trình hành động nhằm mụctiêu: xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, tập trungđào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn, nâng cao thu nhập của người dân,nâng cao chất lượng vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn, hoàn thiệnđồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới bền vữngtheo hướng văn minh, giàu đẹp, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bảnsắc văn hóa dân tộc, nâng cao năng lực phòng chống giảm nhẹ thiên tai,thích ứng và đối phó với biến đổi khí hậu Trên cơ sở Nghị quyết vàchương trình hành động của Chính phủ,Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ vàthành phố Việt Trì đã tổ chức học tập, quán triệt quan điểm của Nghị quyếthội nghị lần thứ bảy, Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp,nông dân, nông thôn, và lên kế hoạch triển khai những chính sách củaĐảng và Nhà nước và chương trình hành động của Chính Phủ thực hiệnnghị quyết hội nghị lần thứ bảy khóa X của Ban chấp hành trung ươngĐảng Những chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn, nông dân đượcthực hiện ở thành phố Việt Trì giai đoạn 2010-2012, mà nếu được triểnkhai, thực thi một cách đúng đắn, bám sát tình hình thực tiễn, sẽ đạt đượcmục tiêu tổng quát theo tinh thần của Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy khóa
X của Ban chấp hành Trung ương Đảng : không ngừng nâng cao đời sốngvật chất, tinh thần của người dân nông thôn, xây dựng nền nông nghiệpphát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn,
có năng suất, chất lượng, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao, xây dựng nôngthôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội hiện đại, xã hội nông thôn ổnđịnh, xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh của giai cấp côngnhân- nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế- xã hội và chínhtrị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Từ đó, tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Thực trạng việc
Trang 3thực thi chính sách về xây dựng kinh tế nông thôn mới giai đoạn
2010-2012 trên địa bàn thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ”.
2 Tổng thuật tài liệu nghiên cứu.
- Bài phát biểu tại cuộc họp nhóm hỗ trợ quốc tế ngày 18 tháng 11năm 2008 “ Một số nội dung cơ bản của Nghị quyết số 26- NQ/TW vàChương trình hành động của Chính phủ nhằm phát triển nông nghiệp, nôngdân và nông thôn tại Việt Nam” của Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và pháttriển nông thôn đã nêu rõ với Nghị quyết số 26- NQ/TW và Bộ chỉ tiêu doThủ tướng Chính phủ ban hành,vấn đề nông thôn mới lần đầu tiên được đềcập một cách cơ bản, toàn diện và sâu sắc, đáp ứng mong muốn nhân dân
và yêu cầu chiến lược xây dựng đất nước cơ bản trở thành một nước côngnghiệp hiện đại vào năm 2020 Để đạt được những mục tiêu mà Nghị quyết
đề ra, cần phải có cái nhìn đúng đắn về nội dung và chức năng của nôngthôn mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đồng thời cần lưu ý một số điểm khithực hiện những giải pháp để xây dựng kinh tế nông thôn mới: nhận thức rõ
vị thế, vai trò của người nông dân; quyết định lựa chọn một cách khoa học
và sát thực tế với từng địa phương; kiên trì hỗ trợ cho nông dân về khoahọc- kỹ thuật; đầu tư nhiều nguồn cho nông dân; hình thành giá đỡ để nôngdân yên tâm sản xuất sản phẩm về nông, lâm, ngư nghiệp; tạo môi trườngtốt nhất cho các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với trình độ dân cưtừng làng, xã và cần củng cố xây dựng các tổ chức xã hội vì lợi ích trựctiếp của chính cư dân nông thôn Đồng thời xác định những nội dung cần
có nguồn lực, quyết tâm và thời gian để thực hiện: xây dựng nông thôn mới
có kết cấu hạ tầng hiện đại; chuyển dịch cơ cấu lao động trong kinh tế nôngthôn; tăng thu nhập gấp 2- 3 lần và nâng cao đời sống vật chất và tinh thầncho người dân nông thôn; tổ chức lại sản xuất gắn với mô hình hợp tác xã
và tạo lập những tổ chức chính trị- xã hội phù hợp, tập trung giải quyếtnhững mâu thuẫn lớn trong xã hội Quan trọng hơn cả là cần xây dựng
Trang 4người nông dân mới gắn với nông thôn mới, là chủ thể của nông thôn và làhạt nhân để xây dựng kinh tế nông thôn mới Do đó, cần khẳng định vai trò
và vị thế người nông dân, nâng cao nhận thức và trình độ hiểu biết cho họđồng thời chú ý đào tạo và bồi dưỡng nhân tài Đồng thời Đảng và Nhànước cần tôn trọng và lấy quyền lợi của giai cấp nông dân làm hạt nhân đểđưa ra các chính sách trong giải quyết các vấn đề nông nghiệp, nông dân vànông thôn
- Bài báo “ Thực trạng chính sách phát triển nông thôn hiện nay” củaPhó Giáo sư, Tiến sỹ Vũ Trọng Khải trên Tạp chí Phát triển kinh tế (2009)tập trung phân tích những mặt tồn tại của việc xây dựng và thực thi chínhsách nông nghiệp, nông thôn Trong hơn 20 năm đổi mới, thực hiện côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và nhà nước ta đã ban hành rấtnhiều những chính sách nông nghiệp, nông thôn Mọi chính sách của Nhànước đều nhằm mục tiêu phát triển, nhưng có đạt được mục tiêu này haykhông còn tùy thuộc vào sự đúng đắn và kịp thời của chính sách Với vaitrò thúc đẩy sự phát triển, chính sách phải được hoạch định một cách cócăn cứ khoa học và thực tiễn, đòi hỏi nhà hoạch định chính sách phải cólương tâm, dũng cảm và trí tuệ; năng lực thực thi chính sách của bộ máycông quyền và đội ngũ công chức; mặt khác cần phải luôn tổng kết kinhnghiệm thực tiễn và quốc tế để đổi mới và đàm bảo tính khả thi, hiệu quảcủa chính sách Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, sau một thời gian banhành và thực thi một chính sách nào đó, chúng ta vẫn chưa có sự đánh giáhiệu quả và tác động của các chuyên gia độc lập Những chính sách đượcban hành không dựa trên kết quả của những nghiên cứu khoa học, gây lãngphí tri thức, tiền bạc và quan trọng hơn cả là gây hậu quả nghiêm trọng donhà hoạch định lờ đi những dự báo của các nhà khoa học Hơn nữa, trướckhi xây dựng chính sách, các nhà hoạch định ít khi hỏi ý kiến của ngườinông dân và doanh nghiệp- những người trực tiếp chịu tác động của chínhsách này, cũng như không tính toán khả năng thực thi chính sách của bộ
Trang 5máy công quyền Sự thành bại của chính sách phát triển nông nghiệp, nôngthôn quyết định sự thành bại của công cuộc chấn hưng đất nước, biến nước
ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu sang một nước công nghiệp hiện đại,văn minh Do đó cần nhìn thẳng vào những mặt yếu kém, chưa hoàn chỉnh
để việc hoạch định và thực thi chính sách đúng đắn, dựa trên cơ sở khoahọc và thực tiễn, đảm bảo quyền lợi cho người nông dân và thực hiện mụctiêu phát triển khu vực nông thôn Xã hội dân sự phải có các tổ chức phichính phủ, không hoạt động bằng ngân sách nhà nước, đại diện cho cácnhóm lợi ích khác nhau tham gia vào quá trình nghiên cứu đề xuất, phảnbiện, đánh giá độc lập để hoản thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước
- Báo cáo “ Được mùa: những lựa chọn chiến lược để phát triển nôngnghiệp và nông thôn Việt Nam” xuất bản năm 2010 của Dự án “ Hỗ trợ xâydựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam thời kỳ 2011-2020” của
Bộ Kế hoạch và đầu tư cùng với Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc làbáo cáo nghiên cứu phân tích kinh nghiệm và thông lệ quốc tế trong việc:(1) thúc đẩy năng suất và tăng khả năng cạnh tranh của ngành nông nghiệp,(2) kích thích phát triển kinh tế nông thôn và (3) đưa ra những kiến nghị cụthể về những biện pháp thúc đẩy phát triển nông thôn trong giai đoạn đếnnăm 2020 Báo cáo chỉ ra rằng, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế hiện naydẫn đến hệ quả tất yếu là sự sụt giảm tương đối của nông nghiệp, thì cùngvới đầu tư và thương mại quốc tế, chính sách của chính phủ có tác động rấtlớn đến tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp và khu vực nông thôn.Những chính sách này có tác dụng thông qua các kênh: kết cấu hạ tầng, sửdụng đất, giá cả theo ngành và môi trường kinh tế vĩ mô Có ba nhóm độnglực lớn làm tăng sản lượng nông nghiệp: sự gia tăng các nguồn lực đất đai
và các nguồn tài nguyên khác và các đổi mới về công nghệ; sự tăng giá vàcác biện pháp khuyến khích kinh tế theo ngành; và việc cải cách có tácđộng tới thị trường đất đai và các yếu tố sản xuất khác Đồng thời nhữngcải cách về chính sách ngành và chính sách kinh tế vĩ mô góp phần làm
Trang 6tăng mức giá hiệu dụng mà người nông dân nhận được từ sản phẩm của họ
đã đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện các điều kiện thương mạigiữa nông nghiệp và các ngành còn lại của nền kinh tế Do đó, câu hỏi quantrọng nhất được đặt ra là: hoạch định các chính sách duy trì sự phát triểnbền vững của nông nghiệp Việt Nam như thế nào trong bối cảnh toàn cầuhóa và thay đổi cơ cấu diễn ra rất nhanh như hiện nay Tháng 10 năm 2008,Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 26/2008/NQ-CP về nôngnghiệp, nông dân và nông thôn, hay còn gọi là Nghị quyết Tam nông Theonhận định của nhóm tác giả báo cáo, nghị quyết này đã đặt nền móng chomột loạt chính sách và chương trình rất tham vọng nhằm nâng cao hiệuquả, năng suất và khả năng cạnh tranh trong ngành nông nghiệp, tạo ra lựclượng lao động nông thôn có năng suất và tay nghề cao hơn, cũng như cácmục tiêu xã hội và môi trường khác, phù hợp với mức sống tốt hơn củangười dân nông thôn Tuy nhiên phạm vi và tham vọng của các chươngtrình này rất lớn và áp lực đối với ngân sách cũng rất nhiều Trong bối cảnhthâm hụt ngân sách chính phủ vẫn kéo dài và ở mức cao và cam kết củanhững nhà tài trợ ngày càng giảm, cần xem xét cẩn trọng những đề xuấtnày để đảm bảo các nguồn lực rất khan hiếm được sử dung một cách hiệuquả nhất có thể Trước khi đưa ra bất cứ một quyết định nào để tăng chitiêu công cho phát triển nông nghiệp và nông thôn, cần phải cân nhắc kỹlưỡng chi phí cơ hội của nó về việc làm, thu nhập, giảm nghèo và các chỉtiêu xã hội khác
Những nghiên cứu trên mang đến cái nhìn tổng quan về vấn đềnghiên cứu từ các góc độ khác nhau: từ phía nhà nước, từ phía nhà khoahọc và từ phía cơ quan phát triển quốc tế Mỗi nghiên cứu đều nhằm chỉ ravai trò và thực trạng của việc xây dựng và thực thi chính sách phát triểnkinh tế nông thôn, những thách thức, những mặt đạt được và chưa đạt được
để từ thực tế đề xuất những kiến nghị, những giải pháp góp phần vào việchoạch định và thực thi chính sách một cách có hiệu quả nhất
Trang 73 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1 Đề tài được tiến hành nhằm:
- Tìm hiểu việc thực hiện những chính sách của Đảng và Nhà nước
về xây dựng kinh tế nông thôn mới trên địa bàn thành phố Việt Trì
- Xem xét hiệu quả kinh tế của việc thực hiện những chính sách kinh
tế nông thôn đối với địa phương
- Đưa ra những kết luận góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việcthực thi các chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần phát triển kinh tếnông thôn theo hướng hiện đại và nâng cao cuộc sống của người nông dân
- Phân tích các báo cáo của Ủy ban nhân dân xã, Ủy ban thành phốViệt Trì và các tài liệu có liên quan đến việc thực hiện chính sách về nôngthôn mới
- Phân tích số liệu định tính có liên quan đến việc thực hiện chínhsách về xây dựng kinh tế nông thôn mới của cán bộ xã và người dân khuvực nông thôn: tìm hiểu thực trạng và đánh giá hiệu quả
- Chỉ ra được thực trạng viêc thực thi chính sách phát triển kinh tếnông thôn mới trên địa bàn thành phố
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế của việc áp dụng những chính sáchnày vào thực tiễn dựa theo tiêu chí của Bộ Tiêu chí Quốc gia xây dựngnông thôn mới
- Đưa ra các kết luận nhằm tăng cường hiệu quả của việc xây dựng
và thực thi chính sách về nông thôn
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu.
Trang 84.1 Đối tượng nghiên cứu.
Thực trạng việc thực hiện chính sách về xây dựng kinh tế nông thônmới Việc thực hiện chính sách được thể hiện ở:
- Việc triển khai kế hoạch, tổ chức thực hiện và lãnh đạo của Ủy bannhân dân thành phố và Ủy ban xã
- Sự tham gia thực hiện của người dân
- Thời gian: Từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2013
5 Câu hỏi nghiên cứu.
- Những chính sách về xây dựng kinh tế nông thôn mới được thựchiện ở thành phố Việt Trì từ năm 2010 đến 2012 là gì?
- Kế hoạch triển khai các chính sách về kinh tế nông thôn mới củathành phố Việt Trì là gì?
- Trên thực tế việc thực thi các chính sách đó đến các xã như thếnào?
- Hiệu quả kinh tế của các chính sách đó từ năm 2010 đến năm 2012
6 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích tài liệu:
+ Phân tích các tài liệu có liên quan đến Chương trình mục tiêu quốcgia về xây dựng nông thôn mới
+ Phân tích số liệu có sẵn của Ủy ban nhân dân thành phố Việt Trì:báo cáo tổng kết đánh giá kết quả thực hiện chương trình mục tiêu quốc giaxây dựng nông thôn mới trong hai năm 2011 và 2012
- Phương pháp nghiên cứu định tính:
Trang 9+ Tiến hành nghiên cứu định tính để lấy thông tin bằng phương phápphỏng vấn sâu đối với một số cán bộ chính quyền cấp xã và các hộ giađình.
+ Chọn ra 2 xã trong số 10 xã thực hiện Chương trình quốc gia mụctiêu Quốc gia xây dựng nông thôn với 1 xã đạt nhiều tiêu chí củaChương trình nhất và 1 xã đạt ít tiêu chí của Chương trình nhất
+ Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện: khi tới từng xã,người nghiên cứu sẽ xin gặpvà phỏng vấn sâu đối với cán bộ xã và các
hộ gia đình Với mỗi xã sẽ tiến hành phỏng vấn sâu 2 cán bộ xã và 5 hộgia đình
+ Phương pháp xử lý thông tin: phân tích thủ công do số lượng cuộcphỏng vấn sâu không nhiều và thông tin thu được chỉ mang tính chất bổsung, làm rõ thêm những thông tin đã có
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài.
7.1 Ý nghĩa lý luận.
Nghiên cứu này góp phần làm phong phú thêm những nghiên cứu vềchính sách, đặc biệt là chính sách phát triển kinh tế nông thôn và là tài liệutham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về đề tài này
7.2 Ý nghĩa thực tiễn.
-Thông qua phân tích thực trạng việc thực thi chính sách phát triểnkinh tế nông thôn giúp cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sáchnắm được tình hình thực tiễn và có cơ sở khoa học cho việc sửa đổi, bổsung và xây dựng những chính sách mới sau này
- Từ đó nâng cao hiệu quả và tính khả thi của chính sách, góp phầnvào việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và tăng cường niềm tin củanông dân nói riêng và người dân nói chung vào chính sách của Đảng vàNhà nước
8 Kết cấu luận văn.
Trang 10Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung bài khoá luận gồm 2chương với các tiểu mục cụ thể như sau.
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
1 Các khái niệm liên quan
2 Một số cách tiếp cận vấn đề về phương diện lý thuyết
3 Nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nôngthôn mới và kế hoạch hành động của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ vàthành phố Việt Trì
Chương 2: Phân tích thực trạng của việc thực thi chính sách về xây dựngkinh tế nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2012
cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế - xã hội nhằmgiải quyết các vấn đề và thực hiện các mục tiêu nhất định
Có rất nhiều loại chính sách, trong đó có loại chính sách chung như:chính sách đối ngoại, chính sách kinh tế, chính sách xã hội, chính sách tiềntệ có chính sách chung, có chính sách cụ thể tùy thuộc vào nội dung vàlĩnh vực kinh tế xã hội Chính sách được thực thi khi được thể chế hóa bằngpháp luật Nói cách khác, pháp luật chính là kết quả thể chế hóa đường lốichính sách, là công cụ để thực thi chính sách
Về nguồn chính sách: do chính sách có các loại và các cấp độ khácnhau, có những chính sách mang tính định hướng, có những chính sách cụ
Trang 11thể, nên các cấp phê duyệt chính sách và nguồn chính sách cũng khác nhau,như: Nghị quyết của Đảng, Nghị quyết, ý kiến của Bộ chính trị, Hiến phápnăm 1992, Nghị quyết của Quốc hội, Cam kết quốc tế, chiến lược, quyhoạch, kế hoạch, đề án phát triển ngành…
1.1.2 Kinh tế nông thôn.
Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địabàn nông thôn Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng chung củanền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế…vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn
Xét về mặt kinh tế- kỹ thuật, kinh tế nông thôn có thể bao gồm nhiềungành kinh tế như: nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịchvụ… trong đó nông, lâm, ngư nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu Nôngnghiệp là ngành kinh tế lâu đời, có tính quyết định bởi nông nghiệp là cơ sở
để nuôi sống 80% dân cư nông thôn Các bộ phận khác như tiểu, thủ côngnghiệp, dịch vụ hình thành sau và chiếm tỷ trọng nhỏ hơn trong kinh tếnông thôn nhưng đó là những bộ phận quyết định sự phát triển của kinh tếnông thôn bởi đem lại tỷ suất sinh lợi cao, góp phần vào sự tiến bộ của kinh
tế nông thôn Xét về mặt kinh tế- xã hội, kinh tế nông thôn cũng bao gồmnhiều thành phần như kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể,kinh tế cá thể… Xét về không gian lãnh thổ, kinh tế nông thôn bao gồmnhững vùng như vùng chuyên canh lúa, vùng chuyên canh cây màu, vùngtrồng cây ăn quả…
1.1.3 Nông thôn.
Theo cách hiểu thông thường, nông thôn là vùng dân cư sinh sốngbằng nông nghiệp Trên thực tế, nông thôn là một hiện tượng phức tạp hơnnhiều Ở những thời đại trước, cư dân nông thôn sống bằng cách hái lượm,săn bắt, dần dần đi đến chỗ canh tác, tạo ra của cải mới trong môi trường tựnhiên Cùng với sự phát triển của xã hội, xã hội nông thôn ngày càng tiến
bộ hơn Sự phân công lao động trong cư dân nông thôn diễn ra ngày càng
Trang 12rõ rệt, tiến tới một bộ phận dân cư đã trở thành những người làm việc kiểunông nghiệp Tiếp đó là quá trình công nghiệp hóa cũng diễn ra trên địabàn nông thôn tạo ra những giá trị tương đương với sản xuất nông nghiệp.Nếu trước đây, nông thôn đồng nghĩa với nông nghiệp và nông dân thìngày nay người ta bắt đầu nói tới một “nông thôn đa chức năng” Tuynhiên, ở những nước đang phát triển hiện nay như Việt Nam, nông thônvẫn chủ yếu là nông nghiệp, nông thôn của nông dân.
1.1.5 Nông thôn mới:
Từ năm 2009, khi chủ trương phát triển đất nước, đặc biệt là phát triểnvùng nông thôn Việt Nam được ban hành thì khái niệm nông thôn mới mớithực sự phổ biến Có thể định nghĩa nông thôn mới là vùng nông thôn đượcxây dựng theo chủ trương chính sách mới của Nhà Nước, phù hợp với sựphát triển xã hội
Có 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới theo chủ trương của chính phủgồm: Quy hoạch và phát triển theo quy hoạch; Giao thông; Thủy lợi; Điện;Trường học; Cơ sở vật chất văn hoá; Chợ nông thôn; Bưu điện; Nhà ở dâncư; Thu nhập; Hộ nghèo; Cơ cấu lao động; Hình thức tổ chức sản xuất;Giáo dục; Y tế; Văn hóa; Môi trường; Hệ thống chính trị xã hội; An ninh,trật tự xã hội
1.2 Lý thuyết áp dụng trong đề tài.
1.2.1.Lý thuyết phát triển bền vững.
Khái niệm “phát triển bền vững” chính thức xuất hiện năm 1987trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới vềmôi trường và phát triển (WCED) Khái niệm này được định nghĩa nhưsau: Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại củacon người mà mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệtương lai
Trang 13Để xây dựng một xã hội phát triển bền vững, Chương trình môitrường của Liên Hiệp Quốc đã đề ra 9 nguyên tắc:
+ Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng
+ Cải thiện chất lượng cuộc sống con người
+ Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái Đất
+ Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được
+ Tôn trọng khả năng tái tạo của Trái Đất
+ Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân
+ Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình
+ Tạo ra môt khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc pháttriển và bảo vệ
+ Xây dựng một khối liên minh toàn cầu
Phát triển bền vững đang là thách thức, là mục tiêu của mỗi quốc gia,nhất là trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế Việc lựachọn con đường, biện pháp và thể chế, chính sách đảm bảo phát triển bềnvững là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trong bước đường pháttriển
1.2.2 Lý thuyết phát triển nông thôn.
Lý thuyết sử dụng trong đề tài này đó là những quan điểm của Giáo
sư Michael Dower thuộc trường đại học Gloucester, Vương quốc Anh vềphát triển nông thôn Những quan điểm này đã được nông trình bày trong
bộ Cẩm nang Đào tạo và thông tin về phát triển nông thôn toàn diện Bộcẩm nang này dựa trên chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn doĐại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX năm 2001 đề ra.Chính vì vậy, những quan điểm trong bộ cẩm nang này rất thích hợp sửdụng để lý giải cho các phát hiện của một đề tài liên quan trực tiếp tớichính sách nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Theo GS Dower, phát triển nông thôn là một quá trình thay đổi bềnvững có chủ ý về xã hội, kinh tế, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao
Trang 14chất lượng đời sống của người dân địa phương Theo đó, phát triển nôngthôn là một quá trình thay đổi bền vững có chủ ý về xã hội, kinh tế, văn hóa
và môi trường hằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân địaphương
Phát triển nông thôn đang được theo đuổi ở hầu hết các nước đangphát triển trên thế giới Phát triển nông thôn có một số đặc điểm, đó là:
- Toàn diện: phát triển nông thôn toàn diện nhằm:
+ Cần nhấn mạnh vào khía cạnh xã hội và kinh tế và môi trường.+ Phát triển là phải cả “ từ trên xuống dưới” và “ từ dưới lên trên”
Nó phải bao trùm chính sách, tiền tệ và hỗ trợ của Chính phủ ( ở mọi cấp)
và năng lực, tài nguyên và sự tham gia của người dân
+ Phải có sự tham gia của mọi khu vực
+ Phải dựa trên tinh thần hợp tác và cộng tác
4 trụ cột của phát triển nông thôn: các trụ cột trên phải được giữ ởthế cân bằng với nhau, như các trụ của một tòa nhà
Trang 15- Dựa vào cộng đồng: phát triển nông thôn phải dựa trên lợi ích, sựtham gia của cộng đồng sống trong khu vực đó Nói “cộng đồng” chúng tanói đến tất cả người già và người trẻ, đàn ông và đàn bà, người giàu vàngười nghèo… Họ là cơ sở cho sự phát triển nông thôn bền vững.
- Bền vững: Bền vững không chỉ là vấn đề tôn trọng môi trường Nóliên quan đến bốn chân hoặc trụ cột của phát triển nông thôn: con người,kinh tế, môi trường và tổ chức Các tiêu chí sau có thể được áp dụng vàocác chương trình hoặc dự án phát triển nông thôn, thể hiện tầm quan trọng
Chất lượng cuộc sống cho mọi người dân
Hành động của người dân trong hợp tác với Chính phủ
Tôn trọng với tổ tiên và quyền lợi với những người chưa được sinh ra
+ Đối với kinh tế: phát triển phải:
Hỗ trợ để tăng cường và đa dạng hóa nền kinh tế nông thôn
Đảm bảo cho người dân có lợi ích đáng kể từ hoạt động địa phương
Thúc đẩy phồn vinh lâu dài ở nông thôn, hơn là lợi ích trước mắt
Tránh gây tác động xấu đến các khu vực khác trong nền kinh tế quốc dân
và các khu vực địa phương khác trên lãnh thổ địa lý
+ Đối với môi trường: phát triển phải:
Tôn trọng tài nguyên và tính toàn vẹn của môi trường
Trang 16 Giảm thiểu sử dụng nguồn tài nguyên không có khả năng tái tạo.
Sử dụng tài nguyên thiên nhiên với tốc độ không nhanh hơn khả năng cóthể tái tạo của thiên nhiên
Sử dụng tài nguyên có hiệu quả
Tránh gây ô nhiễm và ảnh hưởng xấu tới môi trường
+ Đối với tổ chức: phát triển phải:
Nằm trong giới hạn đáp ứng năng lực của các tổ chức kinh tế để khống chế
và quản lý, để có thể đáp ứng các tiêu chí nói trên
Không gây ra loại chi phí không được hỗ trợ trong tương lai
- Hợp tác: Phát triển nông thôn là công tác phức tạp Nó đòi hỏi sựđóng góp của toàn dân, của tất cả các tổ chức cũng như sự hỗ trợ của Nhànước Đó là “sự cộng tác giữa chính phủ và nhân dân” Phát triển nông thôn
là công việc của chính người dân với sự giúp đỡ tích cực của Chính phủ.Một trong những nội dung của lý thuyết chính là chỉ ra vai trò của Chínhphủ trong phát triển nông thôn Vai trò của Chính phủ trong phát triển nôngthôn là vai trò lãnh đạo, nhưng không phải chỉ ra vai trò diễn xuất Chínhphủ tổ chức, chỉ đạo và phối hợp hành động của hàng loạt các cơ quan , tổchức và lợi ích, những người đóng góp cho quá trình phát triển nông thôn
to lớn này Vai trò trước tiên của Đảng và Chính phủ là xây dựng chiếnlược quốc gia về phát triển nông thôn, và làm rõ chiến lược này về:
+ Các chính sách của Chính phủ áp dụng đối với các ngành khácnhau, và đối với hành động ở cấp quốc gia, tỉnh, huyện và cơ sở
+ Nêu rõ những ưu tiên và mục tiêu để đảm bảo rằng nguồn lực hiện
có sẽ được sử dụng một cách có hiệu quả nhất
Chiến lược và chính sách này cần phải dựa vào sự phân tích sâu sắc
và thường xuyên được cập nhật tình trạng xã hội, kinh tế và môi trường ởcác vàng nông thôn Sự phân tích này bao gồm việc giám sát thường xuyên,thu nhập một cách có hệ thống cách dữ liệu, các thông tin phản hồi về kinhnghiệm đề nghị từ cấp cơ sở, cấp huyện , tỉnh cho Chính phủ Trung ương
Trang 18CHƯƠNG II.
NỘI DUNG
2.1 Giới thiệu về Chương trình Quốc gia nông thôn mới.
2.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước.
2.1.1.1 Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ƯơngĐảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Hội nghị lần thứ bảy khóa X, Ban chấp hành Trung Ương ĐảngCộng sản Việt Nam (ngày 5 tháng 8 năm 2008) đã đưa ra nghị quyết vềnông nghiệp, nông dân và nông thôn, trong đó nêu rõ quan điểm của Đảng
và Nhà nước về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn cũng như mụctiêu và những biện pháp
- Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyếtđồng bộ, găn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân, nông thôn,nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắnvới xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quyhoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là thenchốt
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất,tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường đinh hướng
Trang 19xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện từng vùng, từng lĩnh vực, để giảiphóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động,đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhậpkinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nôngthôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xãhội, ứng dụng nhanh các thành tực khoa học- công nghệ tiên tiến cho nôngnghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông thôn.
- Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụcủa cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thầnyêu nước, tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân Xây dựng xã hộinông thôn ổn định, hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú,đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp vàxây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân
b Mục tiêu đến năm 2020:
- Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thủy sản đạt 3,5-4%/ năm, sử dụngđất nông nghiệp tiết kiệm và hiệu quả; duy trì diện tích đất lúa đảm bảovững chắc an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài Phát triểnnông nghiệp kết hợp với phát triển công nghiệp dịch vụ và ngành nghềnông thôn, giải quyết cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập dân cư nông thônlên mức gấp 2,5 lần so với hiện nay
- Lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỉ lệ laođộng nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thônmới khoảng 50%
- Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng – kinh tế xã hội nông thôn hệthống thủy lợi đảm bảo tưới tiêu chủ động; đảm bảo giao thông thông suốt
và cơ bản có đường ô tô tới các thôn, bàn; xây dựng cảng cá và khu neođậu tàu thuyền và hạ tầng nghề cá; đảm bảo cấp điện sinh hoạt, đảm bảođiều kiện học tập, sinh hoạt văn hóa, thể dục thể thao ở hầu hết các vùngnông thôn
Trang 20- Nâng cao chất lượng cuộc sống cho dân cư nông thôn, thực hiệngiảm nghèo bền vững.
- Nâng cao năng lực phòng chống, giảm nhẹ thiên tai Ngăn chặn, xử
lý ôn nhiễm môi trường , nâng cao chất lượng môi trương nông thôn
c Nhiệm vụ và giải pháp:
- Xây dựng nền công nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng
thời phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn
- Xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn gắn với phát triển các đô thị.
- Nâng cao đời sống vật chất tinh thần người nông thôn, nhất là
những vùng khó khăn
- Đổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ có
hiệu quả ở nông thôn
- Phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học,
công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để hiện đại hóa, côngnghiệp hóa nông thôn
- Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động nâng cao các
nguồn lực, phát triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất,tinh thần của người nông dân
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy
sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là hội nôngdân
2.1.1.3 Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới
Ngày 4/6/2010, Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Chương trìnhmục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 với mụctiêu xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh
tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triểnnhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quyhoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môitrường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất