Tình trạng nghèo đói của đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta trong những năm gần đây và một số kiến nghị đối với công tác xóa đói giảm nghèo ở vùng núi của Nhà nước Tình trạng nghèo đói
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU 0
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÓI NGHÈO 3
1 Những khái niệm cơ bản về đói nghèo 3
1.1.Các cách tiếp cận về nghèo đói trên thế giới và Việt Nam 3
a Cách tiếp cận tiền tệ: 3
b Cách tiếp cận về năng lực: 4
1.2 Cách tiếp cận về sự loại trừ mang tính xã hội: 7
1.3 Cách tiếp cận mang tính tham gia: 7
1.4 Các phương pháp đánh giá đói nghèo 9
1.4.1 Ngưỡng nghèo (hay chuẩn nghèo): 9
1.4.2 Tỷ lệ đói nghèo: 11
1.4.3 Khoảng nghèo: 11
1.4.4 Chỉ số nghèo khổ con người: 12
2 Nguyên nhân của đói nghèo trên thế giới và ở Việt Nam 13
2.1 Giới thiệu một số nghiên cứu về nguyên nhân của đói nghèo trên thế giới: 13
2.2 Nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam 15
2.2.1 Nguyên nhân thuộc về điều kiện tự nhiên: 15
2.2.2 Nguyên nhân xuất phát từ điểm yếu của người nghèo: 16
2.2.3 Nguyên nhân về phía cơ chế chính sách của Việt Nam: 17
3 Sự cần thiết phải xóa đói giảm nghèo 17
3.1 Những tác hại mà đói nghèo gây ra: 17
3.2 Phân cách giàu nghèo là biểu hiện của bất bình đẳng: 19
3.3 Ý nghĩa của XĐGN đối với sự phát triển chung của toàn xã hội: 19
Trang 2CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO, XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO DÂN
TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM 21
1.Tổng quan về dân tộc thiểu số ở Việt Nam 21
1.1 Sự phân bố các dân tộc thiểu số 21
1.2 Cơ cấu các dân tộc thiểu số 23
1.3 Quy mô,số lượng các dân tộc thiểu số 24
2.Thực trạng về đói nghèo của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam 24
2.11.Tỷ lệ nghèo,khoảng cách nghèo của dân tộc thiểu số 24
2.2 Nghèo đói theo dân tộc 25
2.3 Phân bố theo các vùng 27
3 Chính sách về xóa đói giảm nghèo: 28
3.1.Chương trình 135 28
3.2.Các chính sách giáo dục,an sinh xã hội 33
4 Đánh giá chung về thực trạng nghèo đói của các DTTS ở Việt Nam .36
4.1 Kết quả: 36
4.2 Hạn chế còn tồn tại 40
4.3 Nguyên nhân những hạn chế còn tồn tại 43
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG XOA ĐÓI GIẢM NGHÈO ĐỐI VỚI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2015 47
1.Những vấn đề cần lưu ý trong công cuộc xóa đói giảm nghèo 47
2 Phương hướng, mục tiêu để xóa đói giảm nghèo đối với dân tộc thiểu số: .53
1 Phương hướng: 53
2 Mục tiêu 55
3 Các giải pháp xóa đói giảm nghèo: 55
3.1 Tiếp tục phát triển những cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu 55
Trang 33.2.Đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình 135 giai đoạn II và dự án
hỗ trợ cho huyện nghèo nhất 583.3.Tăng cường an sinh xã hội cho người nghèo và đồng bào dân tộcthiểu số 603.4.Nâng cao năng lực cán bộ quản lý về xóa đói giảm nghèo ở cácvùng có đòng bào dân tộc ít người 613.5.Tăng cường các chương trình tín dụng vi mô cho người nghèo 63
KẾT LUẬN 65
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Hình 1.1: Những đặc trưng của một cuộc sống đầy đủ (Nussbaum) 5
Hình 1.2: Sơ đồ kim tự tháp các khái niệm về đói nghèo của Bob Baulch 6
Bảng 1.1: Ngưỡng nghèo của TCTK qua các năm 10
Bảng 1.2: Xếp hạng một số nước theo chỉ số nghèo khổ con người HPI-1 năm 2007 12
Hình 1.3: Mô hình “Năm yếu tố lớn” của Phil Bartle 13
Bảng 2.1: Tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc giai đoạn 1995 - 2008 25
Biểu đồ 2.1: Sự khác biệt giữa dân tộc kinh và DTTS 26
Bảng 2.2: Kích thước sủ dụng đất của người Kinh so với DTTS ở 3 khu vực 27
Bảng 2.3: Tỷ lệ hộ đói nghèo 2001 - 2004 (theo chuẩn 2005) và 2005 (chuẩn mới) .28
Bảng 2.4: Kết quả của Dự án Xóa đói Giảm nghèo các tỉnh miền núi phía bắc do Ngân hàng Thế giới tài trợ (2002-2008) 39
Bảng 2.5: Tổng hợp danh sách các xã đặc biệt khó khăn hoàn thành cơ bản mục tiêu Chương trình 135 giai đoạn 1999 – 2005 41
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Đối với tất cả các nước trên thế giới, đói nghèo luôn là vấn đề được xãhội quan tâm Ở các nước phát triển, dù có mức sống cao song vẫn luôn tồntại tình trạng phân hóa giàu nghèo Còn ở những nước đang phát triển với thunhập trung bình và thấp, trong đó bao gồm Việt Nam, thì một bộ phận khôngnhỏ dân cư vẫn sống ở mức nghèo khổ, đặc biệt còn có những người sốngtrong hoàn cảnh rất khó khăn vẫn phải chịu tình trạng thiếu đói, không đủ ăntrong khi đây là nhu cầu thiết yếu của con người
Mức độ đói nghèo cũng có sự chênh lệch khác nhau giữa các vùng miềntrong cả nước do những đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xãhội Trong đó, đói nghèo ở các khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa trầmtrọng hơn các khu vực miền xuôi Tình trạng đó đã gây ảnh hưởng rất xấu tớichất lượng cuộc sống nhân dân vùng núi Trong những năm gần đây, Nhànước ta đã dành nhiều sự quan tâm, nhiều chủ trương chính sách tích cực giúpxóa đói giảm nghèo cho vùng núi và đã đạt những kết quả nhất định Songtrên thực tế, tình hình đói nghèo nơi đây vẫn còn khá nghiêm trọng bởi nhữngchính sách này chưa thật sự hoàn thiện và phù hợp với tình hình địa phương,
và do đó sự tác động của chúng tới việc khắc phục đói nghèo miền núi chưa
thật sự hiệu quả Xuất phát từ thực tế đó, ở đây, bài viết với đề tài: “Tình
trạng nghèo đói của đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta trong những năm gần đây và một số kiến nghị đối với công tác xóa đói giảm nghèo ở vùng núi của Nhà nước” đi vào nghiên cứu thực trạng nghèo đói ở miền núi
phía bắc Việt Nam trong những năm gần đây như một ví dụ điển hình cho đóinghèo ở vùng núi nói chung, từ đó đánh giá những ưu điểm và nhược điểmcủa các chính sách xóa đói giảm nghèo cho vùng núi của Nhà nước để đưa
Trang 7ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả, phát huy tác dụng của các chínhsách có ý nghĩa thiết thực này.
Căn cứ vào yêu cầu của đề tài, nội dung của chuyên đề được kết cấuthành ba chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung về đói nghèo
- Chương 2: Thực trạng đói nghèo, xóa đói giảm nghèo cho dân tộc thiểu số ở Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp tăng cường xóa đói giảm nghèo đối với dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Trang 8CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÓI NGHÈO
1 Những khái niệm cơ bản về đói nghèo
1.1.Các cách tiếp cận về nghèo đói trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới tồn tại nhiều định nghĩa về đói nghèo Nhìn chung, trênbình diện quốc tế, hai khái niệm “đói” và “nghèo” thường được gộp chungthành khái niệm “đói nghèo” và được hiểu như là “nghèo khổ” Đó là tìnhtrạng thiếu “một cái gì đó” ở mức tối thiểu cần thiết Sự cụ thể hóa “cái gì đó”
đã hình thành nên những cách tiếp cận khác nhau về nghèo đói Có thể tậphợp các quan niệm về nghèo đói trên thế giới vào bốn cách tiếp cận cơ bảnsau đây:
a Cách tiếp cận tiền tệ:
Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, cách tiếp cận tiền tệ thường được sử dụng kếthợp với ngưỡng nghèo (sẽ được giải thích trong phần 1.2.a) và dựa trên chỉtiêu thu nhập hoặc tiêu dùng để quy cho đói nghèo một giá trị tiền tệ Nhữngngười có thu nhập nằm dưới ngưỡng nghèo thì được coi là nghèo
Đại biểu cho cách tiếp cận này là Martin Ravallion, coi tình trạng đóinghèo của một xã hội là tình trạng một hay nhiều cá nhân trong xã hội đókhông có được một mức phúc lợi kinh tế cần thiết để đảm bảo cuộc sống tốithiểu hợp lý theo tiêu chuẩn của xã hội đó “Cái gì đó”, theo ông, chính là
“mức phúc lợi kinh tế”, thường được đo lường bằng mức sống mà chỉ tiêu quantrọng nhất là thu nhập, đặc biệt là thu nhập từ tiền mặt Ngoài ra còn có thể đolường qua giá trị của lượng hàng hóa và dịch vụ được tiêu dùng bời một hộ giađình có xem xét tới quy mô và thành phần nhân khẩu của hộ gia đình đó
Tổ chức Y tế Thế giới WHO cũng định nghĩa nghèo theo tiêu chí thunhập Theo đó, một người được coi là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn
Trang 9một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm của quốc gia (chỉ
số Per Capita Income, PCI)
Cách tiếp cận này có ưu điểm là dễ đo lường vì số lượng tiền tệ dễ xácđịnh, vì vậy nó được sử dụng khá phổ biến mặc dù chỉ xem xét đói nghèotheo nghĩa hẹp Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm ở chỗ nó dựa vào giả thiếtngười nghèo sử dụng thu nhập của mình theo cách hiệu quả nhất để muanhững hàng hóa như thực phẩm, nhà ở, quần áo, giáo dục, y tế ở mức cơ bảnchứ không bao gồm những hàng hóa mà không thật sự thiết yếu cho cuộcsống Ngoài ra, thu nhập thực tế của người nghèo có thể dao động lên trênhoặc xuống dưới ngưỡng nghèo ở những thời điểm khác nhau do nhiều yếu tốtác động nên có khi họ được coi là người nghèo, có lúc không
Như vậy, với quan niệm của trường phái này thì để loại bỏ đói nghèo,các biện pháp xóa đói giảm nghèo (XĐGN) cần định hướng vào mục đíchtăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người nghèo như tạo công ăn việc làm,cải tiến nâng cao năng suất lao động
Sở dĩ cách tiếp cận tiền tệ được cho là chỉ tìm hiểu đói nghèo theo nghĩahẹp bởi trên thực tế, những nhu cầu của con người không chỉ bao gồm yếu tốvật chất, thu nhập mà còn gồm nhiều yếu tố phi tiền tệ khác Đói nghèo cònđược biểu hiện ở phương diện tinh thần hoặc những hình thái trừu tượng kháckhông thể lượng hóa thành tiền - những nhu cầu bậc cao hơn của con người -không được đáp ứng Hiểu đói nghèo theo ý nghĩa này được gọi là đói nghèotheo nghĩa rộng Với cách hiểu này, chúng ta có ba cách tiếp cận khác về đóinghèo
b Cách tiếp cận về năng lực:
Cách tiếp cận về năng lực chú trọng vào sự tự do của con người và mộtcuộc sống có giá trị thì định nghĩa đói nghèo là sự thất bại trong việc đạt tớinhững khả năng, năng lực cơ bản và tối thiểu trong cuộc sống
Trang 10Chỉ số HPI (chỉ số nghèo khổ con người) do Liên Hợp Quốc đưa racũng dựa trên cơ sở cách tiếp cận về năng lực để phản ánh đói nghèo theo bayếu tố năng lực điển hình là tuổi thọ, hiểu biết và mức sống Trên thực tế, rấtnhiều nhà học giả đã cố gắng liệt kê đầy đủ các năng lực mà con người hướngtới trong cuộc sống song hầu như chưa có nghiên cứu nào bao quát được tất
cả bởi tính đa dạng và phong phú của chúng Ở đây, tác giả xin dẫn ra danhsách các đặc trưng cần thiết cho một cuộc sống đầy đủ do Nussbaum đề xuất:
Hình 1.1: Những đặc trưng của một cuộc sống đầy đủ (Nussbaum)
a Tuổi thọ bình thường
b Sức khỏe tốt, dinh dưỡng đầy đủ
c Có nhà ở
d Sự toàn vẹn về thể chất, hoạt động và quyền lựa chọn sinh sản
e Trí tưởng tượng, cảm xúc, suy nghĩ được truyền thụ qua giáo dục
f Lập kế hoạch cho cuộc sống
g Hòa nhập với xã hội, được bảo vệ khỏi sự kỳ thị và phân biệt
h Được tôn trọng
i Quyền lợi về mặt chính trị và mặt vật chất
Như vậy, có thể dễ dàng thấy rằng vấn đề thu nhập được đề cập đếntrong cách tiếp cận tiền tệ chỉ là một phần trong số các yếu tố năng lực, và vìvậy, cách tiếp cận đói nghèo trên phương diện năng lực của con người có ưuđiểm là phản ánh đầy đủ, sâu sát và chính xác hơn tình trạng nghèo đói củacon người Bởi thế, đây là cách tiếp cận về đói nghèo được sử dụng rộng rãinhất về mặt lý thuyết Tuy nhiên, cách tiếp cận này không phải là không cónhược điểm, mà nhược điểm đó được thể hiện rõ nhất ở mặt áp dụng trongthực tế để nghiên cứu về đói nghèo Điểm yếu của cách tiếp cận này là khóxác định được đầy đủ số lượng cũng như mức độ của các khả năng để đánhgiá tình trạng nghèo khổ trong thực tiễn Thực tế, việc đo lường đói nghèotheo cách hiểu này thường chỉ sử dụng một số khả năng cơ bản dễ được định
Trang 11lượng như cách tính chỉ số HPI của Liên Hợp Quốc được đề cập đến ở trên.Tương tự với quan điểm của Amatya Sen về các khía cạnh của đóinghèo, Bob Baulch đã đưa ra sơ đồ kim tự tháp các khái niệm về nghèo đóinhư sau:
Hình 1.2: Sơ đồ kim tự tháp các khái niệm về đói nghèo của Bob Baulch
1 Tiêu dùng
2 Tiêu dùng + Tài sản
3 Tiêu dùng + Tài sản + Con người
4 Tiêu dùng + Tài sản + Con người + Văn hóa XH
5 Tiêu dùng + Tài sản + Con người + Văn hóa XH + Chính trị
6 Tiêu dùng + Tài sản + Con người + Văn hóa XH + Chính trị + Bảo vệ
(Trong đó:
Tiêu dùng là thu nhập/tiêu dùng
Tài sản là tài sản tự nhiên : đất đai, của cải vật chất, khả năng tài chínhCon người là giáo dục, kỹ năng, sức khỏe
Văn hóa xã hội là hệ thống các mối quan hệ xã hội
Chính trị là khả năng tham gia và trao quyền
Bảo vệ là khả năng chống đỡ và giảm thiểu rủi ro)
Tuy chưa có được một định nghĩa về đói nghèo thống nhất theo cách tiếpcận về năng lực, song từ các quan niệm kể trên, Ngân hàng thế giới đã đưa ramột cách hiểu về đói nghèo bao gồm tương đối đầy đủ những khía cạnh cơbản:
- sự khốn cùng về mặt vật chất, được đo lường qua mức thu nhập bấpbênh
Trang 12- bị giới hạn về sức khỏe thể chất
- năng lực, hiểu biết bị kìm hãm
- sự phân biệt về giới tính
- dễ gặp nguy cơ bị tổn thương và rủi ro do thiếu sự bảo vệ, bị lạm dụngbởi các thế lực và gặp phải các vấn đề trong giao tiếp với xã hội
- các tổ chức cộng đồng đại diện yếu
Theo quan điểm này, các chính sách XĐGN cần đi theo hướng tạo ranhững cơ hội cho người nghèo để họ được tự do phát huy năng lực của mình
để hướng tới một cuộc sống sung túc theo mong muốn của riêng họ
1.2 Cách tiếp cận về sự loại trừ mang tính xã hội:
Một cách tiếp cận khác về đói nghèo theo nghĩa rộng là cách tiếp cận về
sự loại trừ mang tính xã hội Sự loại trừ mang tính xã hội là việc các cá nhânhay nhóm người, một phần hoặc hoàn toàn, bị ngăn chặn khỏi sự tham gia vào
xã hội mà họ sinh sống Townsend định nghĩa sự tước đoạt theo ý nghĩa đóinghèo là tình trạng con người bị loại ra khỏi lối sống, tục lệ và hoạt động của
xã hội Nguyên nhân của việc này thường xuất phát từ những đặc điểm riêngcủa nhóm người trong xã hội đó như người già, người tàn tật, người thuộc dântộc, chủng tộc khác… Atkinson xác định một ảnh hưởng quan trọng của sựloại trừ xã hội là tính động lực: do một số bất lợi từ đói nghèo mà ngườinghèo bị cô lập khỏi xã hội, tình trạng đó càng làm cho họ mất đi những cơhội để thỏa mãn tình trạng thiếu thốn của mình và để thoát nghèo, do đó càngtrở nên bất lợi, càng bị loại trừ, và bởi thế càng trở nên nghèo đói hơn nữa.Nói chung, cách tiếp cận này tuy mở rộng một cách xem xét mới về đói nghèosong được sử dụng ít phổ biến do tính tương đối (chỉ xảy ra ở một số cộngđồng xã hội nhất định) và rất khó đo lường
1.3 Cách tiếp cận mang tính tham gia:
Trong khi cách tiếp cận tiền tệ và cách tiếp cận theo năng lực - khả năng
Trang 13bị chỉ trích là chỉ mang ý kiến của người “ngoài cuộc”, không chứa đựng cáchnhìn nhận về đói nghèo của chính những người nghèo thì cách tiếp cận mangtính tham gia do Chambers khởi xướng 1 đã khắc phục được những hạn chếnày Cách tiếp cận này khuyến khích người nghèo tham gia vào việc ra quyếtđịnh và đánh giá thế nào là đói nghèo, mức độ ảnh hưởng quan trọng đếncuộc sống của chính họ và họ cần phản ứng lại như thế nào đối với đói nghèo.Mục đích của nó là giúp cho người nghèo có thể chia sẻ, phân tích và tăngthêm hiểu biết về cuộc sống và điều kiện sống để họ lập được kế hoạch hànhđộng cho mình Cách tiếp cận này nhìn vào đói nghèo từ nhiều phương diện:
xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị và phòng vệ, và do đó, nó cung cấp một cáinhìn đa dạng, nhiều mặt về đói nghèo Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế, nóthường chỉ được sử dụng bổ trợ cho những nghiên cứu sâu hơn về đói nghèonhư các “Báo cáo về Đói nghèo” và ấn phẩm “Tiếng nói của người nghèo”của Ngân hàng Thế giới Hạn chế đầu tiên là do tính chất tham gia của ngườinghèo vào việc đánh giá đói nghèo, cách tiếp cận này không chỉ ra được cáchgiải quyết khi có sự khác nhau trong cách nhìn nhận của những đối tượngkhác nhau: phụ nữ và nam giới, những người theo trường phái truyền thống
và trường phái hiện đại, những cộng đồng nghèo khác nhau… Lí do thứ hai,
do sự yếu thế của người nghèo trong xã hội, chưa chắc đã có thể khẳng định
họ dám nói lên những suy nghĩ của mình một cách trung thực và đầy đủ Thứ
ba, đánh giá của một người nghèo, chỉ giới hạn trong tình cảnh nghèo củachính họ, chưa phản ánh được bức tranh toàn cảnh về đói nghèo
Ở Việt Nam, chúng ta thừa nhận định nghĩa về nghèo theo cách tiếp cận
về năng lực do Hội nghị Chống đói nghèo khu vực châu Á – Thái BìnhDương do ESCAP tổ chức ở Bangkok, Thái Lan đưa ra vào tháng 9/1993:
“Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các1
Trang 14nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừanhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội và phong tục tập quán của địaphương” Do đặc thù của một nước đang phát triển, đã từng tồn tại tình trạngthiếu lương thực trong một thời gian dài nên chúng ta còn phân tách hộ đóivới hộ nghèo Những hộ đói được hiểu là một bộ phận trong những hộ giađình nghèo mà không có được đủ lương thực để ăn hai bữa cơm hàng ngày,chỉ đủ khả năng đảm bảo mức lương thực ít ỏi cần thiết để tồn tại, do đó tiêuchuẩn thu nhập bình quân đầu người quy gạo của Bộ LĐTBXH đối với hộ đóithấp hơn so với mức quy gạo của hộ nghèo
1.4 Các phương pháp đánh giá đói nghèo
1.4.1 Ngưỡng nghèo (hay chuẩn nghèo):
Đây là một trong những thước đo quan trọng được sử dụng chủ yếutrong việc xác định tình trạng đói nghèo Ngưỡng nghèo là một mức độ phânchia ranh giới giữa “nghèo” và “không nghèo” Gồm có 2 loại: ngưỡng nghèotuyệt đối và ngưỡng nghèo tương đối
Ngưỡng nghèo tuyệt đối là chuẩn tuyệt đối về mức sống tối thiểu cần
thiết để con người có thể tồn tại khỏe mạnh Ngưỡng nghèo tuyệt đối cũnggồm 2 loại : ngưỡng nghèo LTTP (được xác định bằng số tiền cần có để muađược một rổ LTTP thiết yếu hàng ngày) và ngưỡng nghèo chung (có tính đến
số tiền chi tiêu cho cả các sản phẩm phi lương thực khác) Ngưỡng nghèoLTTP thường chỉ được dùng phổ biến ở các nước đang phát triển và nhìnchung là thường thấp hơn ngưỡng nghèo chung
Ngân hàng thế giới World Bank (WB) đã đưa ra ngưỡng nghèo tuyệt đối(được hiểu như là ngưỡng nghèo chung) quốc tế là 1$/ ngày cho các nước cóthu nhập thấp (GNP/người từ 755$/năm trở xuống, theo giá gốc năm 1999) vàcho các nước có thu nhập trung bình thấp (GNP/người từ 756 đến 2.995$/năm, giá gốc năm 1999) là 2$/ngày Tính theo ngang giá sức mua, ở Việt
Trang 15Nam, hai ngưỡng này tương đương 20 và 40 cent/ ngày
Ở Việt Nam, Tổng cục thống kê (TCTK) đưa ra hai ngưỡng Ngưỡng thứnhất, nghèo đói LTTP là tình trạng mức thu nhập không bảo đảm được nhu cầudinh dưỡng tối thiểu 2100 Kcal/người/ngày đêm Ngưỡng thứ hai là nghèo đóichung, coi LTTP ứng với 70% nhu cầu cơ bản tối thiểu, 30% là các nhu cầu khác
Bảng 1.1: Ngưỡng nghèo của TCTK qua các năm
- Giai đoạn 1996 – 2000:
+ Nông thôn miền núi, hải đảo: 55.000 đồng/người/tháng
+ Nông thôn đồng bằng: 70.000 đồng/ người/tháng
+ Thành thị: 90.000 đồng/người/tháng
- Giai đoạn 2000 – 2005:
+ Nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng
+ Nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng
Trang 16- Giai đoạn 1993 – 1995:
+ Thành thị: dưới 13kg
+ Nông thôn: dưới 8kg
- Giai đoạn 1995 – 2000: dưới 13kg cho tất cả các vùng
- Giai đoạn 2000 đến nay: Bộ LĐTBXH không tiếp tục đưa ra mứcchuẩn đói do cơ bản đã giải quyết được tình trạng hộ đói kinh niên
Ngưỡng nghèo tương đối là một mức phần trăm so với thu nhập trungbình chung của toàn xã hội mà những người dân trong xã hội đó nếu có mứcthu nhập ròng thấp hơn mức này thì được coi người nghèo Tỷ lệ phần trămnày thường được xác định ở mức 50% hoặc 60% của thu nhập trung bình
1.4.2 Tỷ lệ đói nghèo:
Tỷ lệ đói nghèo được xác định bằng số lượng người nghèo trên tổng dân
số, thể hiện quy mô số người nằm dưới ngưỡng nghèo, và thường được biểnhiện dưới dạng phần trăm
Tỷ lệ nghèo chung (%) = (Số người nghèo chung) : Tổng dân số x 100
Tỷ lệ nghèo LTTP (%) = (Số hộ nghèo LTTP) : Tổng số hộ x 100
Đây cũng là một thước đo đói nghèo thông dụng, tuy nhiên nó có hạnchế là không quan tâm đến mức độ đói nghèo (mức độ nằm dưới, cách xangưỡng nghèo) do đó không biểu hiện được kết cấu đầy đủ của sự đói nghèo.Bởi vậy, nếu chỉ căn cứ vào tỷ lệ đói nghèo thì sẽ khó có thể đưa ra được mộtchính sách XĐGN sâu sát tới từng loại đối tượng thuộc diện này
1.4.3 Khoảng nghèo:
Khoảng nghèo được tính bằng tổng mức thiếu hụt của tất cả những ngườinghèo so với ngưỡng nghèo, hay được hiểu là chi phí để đưa tất cả những ngườinằm dưới ngưỡng nghèo lên mức sống ngang bằng với ngưỡng nghèo Nóichung, thước đo này được sử dụng ít phổ biến hơn so với hai thước đo kể trên
Trang 171.4.4 Chỉ số nghèo khổ con người:
Chỉ số nghèo khổ con người Human Poverty Index (HPI) là chỉ số đolường mức độ nghèo khổ của con người trên ba phương diện cơ bản: tuổi thọ,hiểu biết và mức sống Chỉ số này ở một quốc gia càng cao thì chứng tỏ tìnhtrạng đói nghèo của quốc gia đó càng nghiêm trọng Liên Hợp Quốc sử dụngHPI-1 cho các nước đang phát triển, HPI-2 cho các nước OECD
Ở các nước đang phát triển, UNDP đưa ra công thức đo lường chỉ số nàynhư sau:
HPI1 = [1/3(P13 + P23 + P33)]1/3
P1 : tỷ lệ người không sống đến 40 tuổi
P2 : tỷ lệ người lớn không biết chữ
P3 : tỷ lệ phần trăm dân số không được tiếp cận với nguồn nước sạch và
tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng
Bảng 1.2: Xếp hạng một số nước theo chỉ số nghèo khổ con người
HPI-1 năm 2007 Xếp hạng HPI(%) Quốc gia Xếp hạng HPI(%) Quốc gia
Trang 182 Nguyên nhân của đói nghèo trên thế giới và ở Việt Nam
2.1 Giới thiệu một số nghiên cứu về nguyên nhân của đói nghèo trên thế giới:
Một nhà nghiên cứu có tên là Phil Bartle cho rằng những nguyên nhânlịch sử sâu xa của đói nghèo là chiến tranh, chủ nghĩa thực dân, chế độ nô lệ
và sự xâm lược Còn ngày nay, có những yếu tố khác tạo ra sự tiếp tục tiếpdiễn của đói nghèo Ông đã đưa ra mô hình “Năm yếu tố lớn” (The Big Five)xác định năm nguyên nhân tạo nên đói nghèo như một vấn đề xã hội là: sựthiếu hiểu biết, bệnh tật, sự lãnh đạm, tính không trung thực và tính lệ thuộc
Hình 1.3: Mô hình “Năm yếu tố lớn” của Phil Bartle
Nguồn: WorldBank
Theo ông, sự thiếu hiểu biết ở đây không giống với sự ngu dốt mà bản
chất là vấn đề thiếu những thông tin cần thiết hữu ích cho người nghèo Giáodục có thể là một giải pháp tốt nhưng cần chọn lọc kiến thức phù hợp đểgiảng dạy, ví dụ như người nông dân cần biết loại cây trồng nào thích nghi
được với chất đất của địa phương Bệnh tật làm giảm năng suất lao động và
Trang 19tổng sản lượng, và tạo ra ít sự thịnh vượng của quốc gia hơn Ông cho rằng
“phòng bệnh hơn chữa bệnh” và đề cao vai trò của y tế cơ sở Sự lãnh đạm là
khi con người cảm thấy bất lực, không muốn và không còn ý chí cải thiện tìnhtrạng tồi tệ của mình, cảm thấy ghen tị với những người có quyết tâm vươn
lên và tìm cách ghìm kéo họ xuống tình cảnh của mình Sự thiếu trung thực
mà Phil Bartle đề cập đến chủ yếu là tệ nạn tham nhũng: một số tiền mà quanchức chính phủ bỏ vào túi riêng có thể làm giảm giá trị đáng lẽ mà cả xã hội
có thể nhận được đi một khoản lớn hơn số tiền hối lộ đó nhiều lần Cuối cùng
là sự phụ thuộc hay là tính ỷ lại của người nghèo, của quốc gia nghèo vào các
nguồn viện trợ làm cho họ mất đi động lực tự phấn đấu và cuối cùng, nghèovẫn hoàn nghèo
Năm yếu tố lớn này dẫn đến những yếu tố cấp hai tạo nên đói nghèo làthiếu thốn cơ sở vật chất hạ tầng cho người nghèo, thiếu thị trường, sự quản lýcủa chính phủ yếu kém, thiếu công ăn việc làm, thiếu kĩ năng tay nghề, thiếuvốn và các yếu tố khác
Theo một nghiên cứu khác của Maxwell School, Syracuse University thì
có thể chia ra hai cách tiếp cận về đói nghèo là thuyết “Hoàn cảnh” (Casetheory) và lý thuyết “Chung” (Generic theory) Theo “Case theory” thì đóinghèo xuất phát từ nguyên nhân tổng hợp của các đặc điểm riêng của ngườinghèo như là:
- Giáo dục, kĩ năng, kinh nghiệm, trí thông minh
- Sức khỏe, tuổi tác
- Định hướng công việc, tầm nhận thức, văn hóa
- Sự phân biệt về tầng lớp, giai cấp, chủng tộc, giới tính…
Còn theo “Generic theory” thì đói nghèo lại được hiểu là tình trạng xuấtphát từ những vấn đề chung mang tính vĩ mô của nền kinh tế: thiếu những cơhội nghề nghiệp, tổng cầu thấp, thu nhập quốc gia thấp
Trang 20Trong khi đó, tổ chức MSU Women and International Development chỉđưa ra những nguyên nhân gây nên đói nghèo theo hướng liệt kê mà khôngphân nhóm:
- Lịch sử bị cai trị và xâm lược
- Chiến tranh và xung đột vũ trang
- Chu trình sản xuất nông nghiệp
- Thảm họa tự nhiên và thiên tai
2.2 Nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam
2.2.1 Nguyên nhân thuộc về điều kiện tự nhiên:
Đất nước ta được chia làm nhiều vùng miền có vị trí địa lý và địa hìnhrất khác nhau Ở những vùng có tính đặc thù như miền núi, vùng sâu vùng xa,hải đảo, vị trí địa lý khá cách biệt các vùng khác, cộng thêm địa hình gậpghềnh hiểm trở đã tạo khó khăn trong việc giao thông liên lạc với các khu vựckhác, tạo ra sự cô lập tương đối về mọi mặt đời sống Nhiều nơi ở nước ta nhưvùng núi phía bắc, các tỉnh miền trung: Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa…thường xuyên phải gánh chịu hậu quả to lớn của các trận lũ lụt gây ra thiệt hại
Trang 21to lớn về người và của, rơi vào tình trạng đói nghèo triền miên Những vùngcanh tác nông nghiệp lại gặp phải vấn nạn về sâu bệnh, mưa đá, sương muối,rét đậm rét hại… dẫn đến mất mùa, thất bát, mất đi các nguồn lực sản xuất.Việt Nam từ lâu đã được coi là rừng vàng biển bạc, có nhiều tài nguyên.Tài nguyên rừng, biển, đất đai, sinh vật, khoáng sản đều rất phong phú, đadạng Tuy nhiên, theo thời gian, chúng đã bị khai thác gần như cạn kiệt.Những tài nguyên đó khi còn dồi dào đã giúp nhiều người Việt Nam có thunhập tương đối, song hành động quá khứ đã để lại hậu quả cho thế hệ ngàynay Giờ đây, một bộ phận dân cư sống dựa vào tự nhiên đã mất đi nguồn thunhập đáng kể Những tài nguyên còn lại đều ở tình trạng gặp khó khăn trongviệc khai thác.
2.2.2 Nguyên nhân xuất phát từ điểm yếu của người nghèo:
Những yếu tố như sự thiếu hiểu biết, sự lãnh đạm, bệnh tật và tính phụthuộc mà Phil Bartle nhắc tới trong lý thuyết “Năm yếu tố lớn” và các nguyênnhân theo “Case theory” của Maxwell School, Syracuse University có thể xếpvào nhóm nguyên nhân lớn này Phần lớn người nghèo ở Việt Nam sinh sốngtập trung ở vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa, chỉ một phần nhỏ rải rác ở cácvùng thành thị đồng bằng Đa số hoạt động nông nghiệp với lối canh tác truyềnthống lạc hậu, cho năng suất thấp Những người làm việc trong các lĩnh vực phinông nghiệp thì có tay nghề kỹ thuật yếu Bản thân họ có trình độ học vấn khôngcao, nhiều người thất học Cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo cũng được thể hiệnrất rõ Một là, các hộ thuộc diện đói nghèo thì thường đông con (xuất phát từ nhucầu về lao động kiếm sống) song cũng chính vì thế lại tạo thêm gánh nặng về cáckhoản chi tiêu cho gia đình Thứ hai, thu nhập thấp, điều kiện ăn ở thiếu thốnkhông đảm bảo được sức khỏe, dẫn đến tình trạng ốm yếu, bệnh tật của ngườinghèo, mà đến lượt nó thì chính bệnh tật lại là nguồn gốc làm cho đói nghèo
Trang 22thêm trầm trọng vì người nghèo không đủ sức lực để làm việc.
Một vấn đề khác cũng nổi cộm lên trong đó là tình trạng bất bình đẳnggiới Trọng nam khinh nữ là quan niệm còn ăn sâu trong tiềm thức nhiềungười dân Việt Nam Sinh nhiều con cũng do mong có được đứa con trai Congái thường bị bắt nghỉ học sớm ở nhà giúp đỡ cha mẹ, vô hình trung gây lãngphí nguồn chất xám lớn do cách nhìn thiển cận Ở nhiều vùng núi có tục “thờchồng”, phụ nữ dù sức yếu vẫn phải làm lụng vất vả nuôi cả gia đình
Cuối cùng, mặc dù thời gian gần đây Nhà nước đã có nhiều chính sáchXĐGN song ở nhiều nơi, nghèo vẫn hoàn nghèo Đó là do tâm lý trì trệ,trông chờ vào trợ cấp Nhà nước của bà con Trong khi đó, trợ cấp thì có hạn.Chừng nào chưa xóa bỏ được tâm lý ỷ lại này để tự lực vươn lên XĐGN thìngười nghèo chưa thể có được mức sống khá hơn một cách bền vững
2.2.3 Nguyên nhân về phía cơ chế chính sách của Việt Nam:
Đây là những nguyên nhân ở tầm vĩ mô gây tác hại duy trì tình trạng đóinghèo, có sự tương đồng với “Generic theory” của Maxwell School, SyracuseUniversity Trong những năm qua, Nhà nước ta đã tích cực thực hiện nhiềuchương trình dự án nhằm XĐGN, song hiệu quả đạt được chưa như mongmuốn và số hộ nghèo vẫn không giảm, vẫn còn tình trạng tái nghèo Nguyênnhân là do các biện pháp chính sách XĐGN được thực hiện còn thiếu tính đồng
bộ, nội dung chưa sát với thực tiễn địa phương, vì vậy khiến cho việc thực hiệncòn nặng về hình thức, chỉ giải quyết phần “ngọn” của vấn đề gây lãng phínguồn lực đầu tư vô ích Tình trạng này sẽ được xem xét kỹ hơn ở mục II.3.2
3 Sự cần thiết phải xóa đói giảm nghèo
3.1 Những tác hại mà đói nghèo gây ra:
Đối với bản thân người nghèo, hậu quả của đói nghèo có thể được nhìnthấy hết sức rõ ràng Vì “đói” mà thiếu ăn thường xuyên, vì “nghèo” mà các
Trang 23nhu cầu sống bị hạn chế ở mức thấp Cuộc sống thiếu thốn, nhà cửa tạm bợ,
đồ dùng chỉ đủ ở mức thiết yếu nhất Tình trạng ốm đau bệnh tật, trẻ em suydinh dưỡng xảy ra ở nhiều nơi Không đủ ăn, mặc, ở, việc học hành bị coi nhẹdẫn đến sự thất học, thiếu hiểu biết, tư duy con người trở nên lạc hậu Các tệnạn xã hội như trộm cắp, nghiện hút, mại dâm… có cơ hội phát sinh Ngườinghèo, vì thế, hầu như không có tiếng nói và vị thế ngoài xã hội và dễ trởthành nạn nhân của sự đối xử bất công như bị trả lương thấp, bị coi thường.Đói nghèo gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường theo cơ chế về
“cầu”, người nghèo triệt để khai thác tài nguyên tự nhiên để phục vụ cuộcsống Để đánh bắt cá với số lượng lớn, ngư dân sẵn sàng cho nổ mìn Vì mụctiêu sinh lợi, phong trào nuôi ốc bươu vàng rầm rộ một thời gian đã gây nênnhững mối nguy về mất cân bằng sinh thái Việc sử dụng thuốc bảo vệ thựcvật quá liều lượng, những làng tái chế phế thải nhựa thành túi nilon… làm ônhiễm môi trường trầm trọng Ở vùng cao, rừng bị đốt làm rẫy, bị “xẻ thịt”đem bán, khoáng sản bị khai thác bừa bãi, động vật rừng bị săn bắn ồ ạt, đấtđai bạc màu theo nạn du canh du cư… khiến cho tài nguyên thiên nhiên ngàymột cạn kiệt
Không những vậy, đói nghèo còn gây ra ảnh hưởng đến vấn đề ổn địnhchính trị quốc gia Những năm qua, việc đồng bào dân tộc bị các thế lực phảnđộng nước ngoài mua chuộc, xúi giục gây mất an ninh, trật tự xã hội đã trởthành điểm nóng khiến cả xã hội phải quan tâm Tất cả cũng do cuộc sống cònkhó khăn đã khiến người nghèo dễ bị lay động bởi những mối lợi trước mắt.Nếu không giải quyết được dứt điểm nạn đói nghèo thì lòng tin của nhân dânvào Đảng, vào Nhà nước còn có thể bị kẻ thù lợi dụng vào âm mưu phá hoạicủa chúng
Trang 243.2 Phân cách giàu nghèo là biểu hiện của bất bình đẳng:
Phân hóa giàu nghèo chính là bất bình đẳng trong phân phối thu nhậpbởi vì: Con người sinh ra đều có những yếu tố tự nhiên như nhau cho phép họhưởng thụ cuộc sống như nhau trong tương lai, nhưng trên thực tế thì thunhập mà họ nhận được khi trưởng thành, làm việc lại là khác nhau Chủ tịch
Hồ Chí Minh từng nói: “Mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng”, nhưng
sự khác nhau về điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường bên ngoài ảnh hưởngđến cuộc sống đã không cho con người có sự bình đẳng về mức sống Trênthực tế, bất bình đẳng trong phân phối thu nhập bắt nguồn từ hai nhómnguyên nhân chính là từ việc sở hữu các nguồn lực (các nguồn lực này cóđược là do được thừa kế tài sản, do hành vi tiêu dùng và tiết kiệm hoặc do sảnxuất kinh doanh) và từ lao động (do khác nhau về khả năng và kĩ năng laođộng, do khác nhau về cường độ làm việc, về nghề nghiệp và tính chất côngviệc, do bị phân biệt đối xử…) Người nghèo không có điều kiện, và nhiều
khi không thể tự tác động lên các nguyên nhân đó để tự thay đổi cuộc sống
cho mình Mức sống thấp lại mang đến các hệ quả cho người nghèo là thiếuthốn về hưởng thụ các dịch vụ xã hội, dễ bị tổn thương và yếu thế (như địnhnghĩa về đói nghèo của Ngân hàng Thế giới đã đề cập) làm cho sự chênh lệch
về chất lượng cuộc sống của người giàu và người nghèo càng thêm đậm nét.Nhà nước ta là Nhà nước do dân, của dân và vì dân có chức năng quantrọng là phân phối lại thu nhập để khắc phục tình trạng bất bình đẳng này, thuhẹp khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo công bằng xã hội
3.3 Ý nghĩa của XĐGN đối với sự phát triển chung của toàn xã hội:
Các Mác đã nói: “ Gia đình là tế bào của xã hội”, mỗi con người lại làmột tế bào của gia đình Một nền kinh tế dù phát triển đến mấy song vẫn để
Trang 25cho một bộ phận dân cư phải chịu cảnh sống thiếu thốn thì không thể là một
sự tăng trưởng bền vững Những khu vực nghèo đói ít nhiều kìm hãm sự pháttriển chung vì nó gây ra lãng phí nguồn lực cho phát triển kinh tế như nguồnnhân lực, đất đai và các tài nguyên thiên nhiên khác Vì vậy, thực hiện XĐGNđồng nghĩa với quá trình giải phóng sức sản xuất, nâng cao hiệu quả và tiềmnăng kinh tế của đất nước Một khi người nghèo được hưởng cuộc sống sungtúc, đã có sự tương đồng về trình độ phát triển giữa các khu vực thì sẽ tạo rathêm nhiều thế và lực mới (ưu thế của tăng trưởng bền vững, sự cạnh tranh và
hỗ trợ giữa các vùng kinh tế …) đóng góp trở lại vào sự phát triển kinh tếchung, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trang 26
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO, XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO
DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
1.Tổng quan về dân tộc thiểu số ở Việt Nam
1.1 Sự phân bố các dân tộc thiểu số
Cùng chung sống lâu đời trên một đất nước, các dân tộc có truyềnthống yêu nước, đoàn kết giúp đỡ nhau trong chinh phục thiên nhiên và đấutranh xã hội, suốt quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng pháttriển đất nước
Lịch sử chinh phục thiên nhiên là bài ca hùng tráng, thể hiện sự sáng tạo
và sức sống mãnh liệt, vượt lên mọi trở ngại thích ứng với điều kiện tự nhiên
để sản xuất, tồn tại và phát triển của từng dân tộc Với điều kiện địa lý tựnhiên (địa mạo, đất đai, khí hậu ) khác nhau, các dân tộc đã tìm ra phươngthức ứng xử thiên nhiên khác nhau
Ở đồng bằng và trung du, các dân tộc làm ruộng, cấy lúa nước, dựngnên nền văn hoá xóm làng với trung tâm là đình làng, giếng nước cây đa,bao bọc bởi luỹ tre gai góc đầy sức sống dẻo dai Đồng bằng, nghề nông,xóm làng là nguồn cảm hứng, là "bột" của những tấm áo mớ ba mớ bảy, củadải yếm đào cùng nón quai thao, của làn điệu quan họ khoan thai mượt mà
và của khúc dân ca Nam Bộ ngân dài chứa đựng sự mênh mông của đồngbằng sông Cửu Long
Ở vùng thấp của miền núi, các dân tộc trồng lúa nước kết hợp với sảnxuất trên khô để trồng lúa nương, trồng ngô, bước đầu trồng các cây côngnghiệp lâu năm (cây hồi, cây quế ), thay thế cho rừng tự nhiên Họ sống trênnhững nếp nhà sàn, mặc quần, váy, áo màu chàm với nhiều mô típ hoa văn
mô phỏng hoa rừng, thú rừng Đồng bào có tục uống rượu cần thể hiện tình
Trang 27cảm cộng đồng sâu sắc Người uống ngây ngất bởi hơi men và đắm say bởitình người.
Ở vùng cao Việt Bắc, Tây Nguyên, đồng bào chọn phương thức phátrừng làm rẫy - là cách ứng xử thiên nhiên của thời đại tiền công nghiệp Vùngcao, khí hậu á nhiệt đới, việc trồng trọt chủ yếu thực hiện trong vụ hè thu Đểtranh thủ thời tiết và quay vòng đất, từ ngàn xưa người vùng cao đã phát triểnxen canh gối vụ, vừa tăng thu nhập vừa bảo vệ đất khỏi bị xói mòn bởi nhữngcơn mưa rào mùa hạ Bàn tay khéo léo và tâm hồn thẩm mỹ của các cô gái đãtạo ra những bộ trang phục: váy, áo với những hoa văn sặc sỡ hài hoà về mầusắc, đa dạng về mô típ, mềm mại về kiểu dáng, thuận cho lao động trênnương, tiện cho việc đi lại trên đường đèo, dốc Núi rừng hoang sơ cùng vớiphương thức canh tác lạc hậu là mảnh đất phát sinh và phát triển các lễ nghiđầy tính huyền bí, huyền ảo Hầu hết các cư dân Tây Nguyên đều có tục đâmtrâu làm lễ cúng Giàng (trời), cầu xin sự phù hộ của Giàng cho người sứckhoẻ, cho gia súc và cho mùa màng bội thu Đây cũng là vùng tiềm ẩn nhiềutruyện thần thoại, nhiều sử thi anh hùng mà giá trị của nó có thể sánh đượcvới các truyện thần thoại của Trung Quốc, ấn Độ nhưng chưa được sưu tầm
và nghiên cứu đầy đủ Đồng bào là chủ nhân sáng tạo ra những bộ đàn đá, đànT'rưng, đàn Krông pút những bộ cồng chiêng và những điệu múa tập thểdân dã, khẻo khoắn kết bó cộng đồng
Dọc theo bờ biển từ Bắc vào Nam, các dân tộc sống bằng nghề chài lưới
Cứ sáng sáng đoàn thuyền của ngư dân giăng buồm ra khơi, chiều lại quay vềlộng Cuộc sống ở đây cũng nhộn nhịp, khẩn trương như nông dân trên đồngruộng ngày mùa
Ở khắp nơi, con người hoà nhập vào thiên nhiên, thiên nhiên cũng biếtchiều lòng người, không phụ công sức người
Trang 281.2 Cơ cấu các dân tộc thiểu số
Sống trên mảnh đất Đông Dương - nơi cửa ngõ nối Đông Nam á lục địavới Đông Nam á hải đảo, Việt Nam là nơi giao lưu của các nền văn hoá trongkhu vực ở đây có đủ 3 ngữ hệ lớn trong khu vực Đông Nam á, ngữ hệ Namđảo, và ngữ hệ Hán - Tạng Tiếng nói của các dân tộc Việt Nam thuộc 8 nhómngôn ngữ khác nhau
Mặc dù tiếng nói của các dân tộc thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau,song do các dân tộc sống rất xen kẽ với nhau nên một dân tộc thường biếttiếng các dân tộc có quan hệ hàng ngày, và dù sống xen kẽ với nhau, giao lưuvăn hoá với nhau, nhưng các dân tộc vẫn lưu giữ được bản sắc văn hoá riêngcủa dân tộc mình ở đây cái đa dạng của văn hoá dân tộc được thống nhấttrong quy luật chung - quy luật phát triển đi lên của đất nước, như cái riêngthống nhất trong cái chung của cặp phạm trù triết học
Thời đại Hồ Chí Minh mở đầu bằng thắng lợi của cách mạng tháng8/1945 đã đổi đời các dân tộc Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước tanhất quán từ đầu là bình đẳng, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, cùng nhau xâydựng đất nước theo mục tiêu: dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng vănminh, văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc
Thực hiện chính sách dân tộc đúng đắn và sáng tạo trong các lĩnh vựckinh tế, xã hội, chúng ta đã đạt được những thành tựu rất to lớn, rất mới mẻ,rất hiện đại Cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông đường bộ, thuỷ lợi, viễnthông đã phát triển đến tuyến huyện và đang chuyển dần về xã, bản, nhanh,chậm tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng Với tư cách là người làmchủ đất nước, các dân tộc tham gia vào cơ quan quyền lực Nhà nước ngàycàng nhiều, cao hơn Đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật được Đảng và Nhànước quan tâm đào tạo Số cán bộ có trình độ đại học và trên đại học ngàycàng tăng trong các dân tộc Vốn văn hoá, nghệ thuật cổ truyền của các dân
Trang 29tộc được sưu tầm, bảo tồn, nghiên cứu, phát huy.
Thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng, các dân tộc vốn gắn bóvới nhau trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, nay lại càng gắn bó đoànkết với nhau hơn trong công cuộc xây dựng đất nước Những thành tựu đạtđược trên là cơ sở vững chắc góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc,nâng cao dân trí, nâng cao đời sống, phát triển các dân
1.3 Quy mô,số lượng các dân tộc thiểu số
DANH MỤC THÀNH PHẦN CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
Nhóm Việt - Mường có 4 dân tộc là: Chứt, Kinh, Mường, Thổ
Nhóm Tày - Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay,Tày, Thái
Nhóm Môn - Khmer có 21 dân tộc là: Ba na, Brâu, Bru-Vân kiều,
Chơ-ro, Co, Cơ-ho, Cơ-tu, Gié-triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ mú, Mạ, Mảng,M'Nông, Ơ-đu, Rơ-măm, Tà-ôi, Xinh-mun, Xơ-đăng, Xtiêng
Nhóm Mông - Dao có 3 dân tộc là: Dao, Mông, Pà thẻn
Nhóm Kađai có 4 dân tộc là: Cờ lao, La Chí, La ha, Pu péo
Nhóm Nam đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu-ru, Ê đê, Gia-rai, Ra-glai Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán dìu
Nhóm Tạng có 6 dân tộc là: Cống, Hà nhì, La hủ, Lô lô, Phù lá, Si la
2.Thực trạng về đói nghèo của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
2.11.Tỷ lệ nghèo,khoảng cách nghèo của dân tộc thiểu số
Theo số liệu của tổng cuc thống kê qua các cuộc khảo sát về mức sốngdân cư Việt Nam thì tỷ lệ nghèo của cả nước từ 58% năm 1995 giảm xuốngcòn 14,87% năm 2008(khoảng 13 triệu người).Trong vòng 14 năm đã giảm
35 triệu người nghèo
Khoảng cách nghèo (chỉ số nghèo) giữa các nhóm người DTTS và ngườiKinh,người Hoa cũng có sự chênh lệch đáng kể (chỉ số nghèo là khoảng cách
Trang 30chênh lệch trung bình giữa chi tiêu của nhóm nghèo với chuẩn nghèo tính theochi tiêu); khoảng cách nghèo của nhóm dân tộc thiểu số là 34,7% năm 1995xuống còn15,4% năm 2008,trong khi đó khoảng cách nghèo của người Kinh vàngười Hoa là 10% năm 1995 giảm xuống còn 2% năm 2008 (sát chuẩn nghèo).Cùng với kết quả đó,vùng có đồng bào dân tộc thiểu số cũng có tỷ lệ nghèogiảm nhanh,song so với tỷ lệ chung của cả nước vẫn là vùng có tỷ lệ nghèocao,cụ thể như sau:Vùng Tây Bắc:49%:Vùng Bắc Trung Bộ:29,1%:Vùng TâyNguyên:28,6%;Vùng Đông Bắc:25%;Vùng Nam Trung Bộ:12,6%;Các vùngcòn lại đều dưới 10% Cả nước hiện còn 58 huyện có tỷ lệ nghèo trên 50% và
3006 xã tỷ lệ nghèo treen 25%,nơi dây tập trung đông đồng bào DTTS
Bảng 2.1: Tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc giai đoạn 1995 - 2008
Năm Số hộ nghèo (1000 hộ) Tỷ lệ hộ nghèo (%)
Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội
2.2 Nghèo đói theo dân tộc
Từ những nghiên cứu,thống kê,phân tích,có thể rút ra 1 số nhận định như sau:
- Đồng bào DTTS chiếm khoảng 14% dân số cả nước nhưng lạichiếm gần 44% tổng số người nghèo,hay nói cách khác cứ 100 người nghèothì có gần 44 người là đồng bào DTTS
Trang 31- Tốc độ giảm nghèo của đồng bào DTTS cũng chậm hơn nguời Kinh vàngười Hoa;tỷ lệ nghèo của đồng bào DTTS từ 86,4% năm 1995 xuống còn52,3% vào năm 2008(trên 7 triệu người),trung bình mỗi năm giảm2,4%.Trong khi đó tỷ lệ nghèo của người kinh và hoa là 53,9% năm 1995giảm còn 10,36% vào năm 2008 trung binh mỗi năm giảm3,15%.
- Tiếp cận các dịch vụ giáo dục cũng như thành tựu về giáo dục giữanhóm DTTS và người Kinh,người Hoa cũng có sự khác biệt đáng kể.Năm
1995 trên 50% người Kinh và Hoa chưa hoàn thành bặc nào,đến năm 2008giảm xuống còn trên 20%,tỷ lệ này của nhóm DTTS là trên 70% và trên45%.Giáo dục trung học cơ sở cũng có tình trạng tương tự.Năm 1995 chỉ cókhoảng 8% đồng bào DTTS và vào năm 2008 đã tăng lên 17%.Tỷ lệ này ởnhóm người kinh và người Hoa là 10% và 25%
Biểu đồ 2.1: Sự khác biệt giữa dân tộc kinh và DTTS
0 20
Nguồn: tổng cục thống kê
Trang 32-Tỷ lệ nghèo giữa các DTTS cũng khác nhau.Nhóm dân tộc Tày,Thái,Mường,Nùng tỷ lệ nghèo là 82% xuống còn khoảng 42% năm 2008.Cácnhóm dân tộc thiểu số khác từ 84% (1995) giảm xuống còn 50%.Trong khi đóngười Kinh từ 52% (1995) xuống còn 10% (2008);người Hoa từ 15% (1995)xuống còn 7% (2008).
2.3 Phân bố theo các vùng
-Tỷ lệ nghèo của đồng bào DTTS giữa các vùng khó khăn nhất cũng có
sự khác biệt: Tỷ lệ nghèo của đồng bào DTTS vùng Tây Bắc từ gần 90% năm
1995 giảm xuống còn dưới 60% năm 2008;trong khi đó tỷ lệ nghèo của đồngbào DTTS giảm từ 90% xuống còn 70% trong cùng thời gian trên
-Nhóm các DTTS ít người ở Tây Nguyên từ 96% giảm xuống còn 73%cùng trong khoảng thời gian trên (Ede,Raglai…).Nhóm DTTS ít người khác ởmiền núi phía bắc từ 85% (1995) xuống còn trên 70% (2008).Nhìn chungnhóm DTTS có tỷ lệ nghèo cao gấp nhiều lần so với cả nước,nhát là nhómdân tộc ít người tập trung ở vùng Tây Nguyên,Tây Bắc, Đông Bắc,Tây BắcTrung Bộ,Nam Trung Bộ
Bảng 2.2: Kích thước sủ dụng đất của người Kinh so với DTTS ở 3 khu vực Đông Bắc Tây Bắc Tây Nguyên
Trang 33chuyển biến của công tác XĐGN chậm hơn.Cụ thể năm 2001,các vùng ĐôngBắc,Tây Bắc,Bắc Trung Bộ,Nam Trung Bộ và Tây Nguyên có tỷ lệ đói nghèotrên 29%,có những nơi như Tây Bắc là 33.96% là những vùng là những vùng
có tỷ lệ hộ thoát khỏi diện,nghèo cao.Từ năm 2005 đến 2008 tây Bắc đã giảm19,08% số hộ nghèo đói.Trong khi đó,vùng ĐBSCL có mức giảm từ 3,6&đến 6,78%
Bảng 2.3: Tỷ lệ hộ đói nghèo 2001 - 2004 (theo chuẩn
Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội
3 Chính sách về xóa đói giảm nghèo:
3.1.Chương trình 135
+)MỤC TIÊU TỔNG QUÁT:
- Tạo chuyển biến nhanh về sản xuất;
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuấtgắn với thị trường;
- Cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân
- Giảm khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và giữa các vùng trong
cả nước;
- Đến năm 2010: trên địa bàn cơ bản không còn hộ đói, giảm hộ nghèo
Trang 34- Nâng cao kỹ năng, xây dựng tập quán sản xuất mới;- Tạo chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiêp;
- Tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững;
- Xã có cơ sở hạ tầng thiết yếu, nâng cao đời sống và phát triển sản xuất,tăng thu nhập;
- Nâng cao đời sống văn hóa xã hội cho nhân dân ở các xã ĐBKK miềnnúi, vùng đồng bào dân tộc nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, giảm
sự chênh lệch giữa các dân tộc
Chỉ tiêu kinh tế đến năm 2010:
- Trên 70% số hộ đạt thu nhập bình quân đầu người trên 3,5 triệuđồng/năm;
- Trên 80% xã có đường giao thông từ trung tâm xã đến thôn bản;
- Trên 80% xã có công trình thủy lợi nhỏ đủ năng lực tưới tiêu cho 85%diện tích đất ruộng lúa nước;
- 100% xã có trường, lớp học kiên cố, lớp bản trú nơi cần thiết;
- 100% xã có trạm y tế kiên cố;
- 80% số thôn, bản có điều kiện ở cụm dân cư
Chỉ tiêu xã hội đến năm 2010:
- Thụ hưởng các dịch vụ: 80% số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp
Trang 35vệ sinh, 80% hộ được sử dụng điện sinh hoạt;
- Về y tế chăm sóc sức khỏe; kiểm soát, ngăn chặn các bệnh dịch nguy hiểm; tăng tỷ lệ hộ có hố xí hợp vệ sinh lên 50%;
- Về giáo dục: trên 95% số học sinh tiểu học, 75% học sinh THCS trong
độ tuổi đến trường và không bỏ học giữa chừng;
- Về hỗ trợ pháp luật: 100% số xã triển khai hoạt động trợ giúp pháp lý; 95% người dân các xã ĐBKK được trợ giúp pháp lý khi có nhu cầu;
- Đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cơ sở, cán bộ chuyên môn nghiệp
vụ cơ bản được đào tạo chuẩn hóa theo quy định, đáp ứng yêu cầu Nâng cao năng lực cộng đồng
+)Nội dung Chương trình:
Hợp phần 3: Đàotạo, bồi dưỡng cán
bộ cở sở, nâng caotrình độ quản lýhành chính vàkinh tế, đào tạonâng cao năng lựccộng đồng
Hợp phần 4: Hỗtrợ các dịch vụ cảithiện và nâng caođời sống nhândân, trợ giúp pháp
lý để nâng caonhận thức phápluật
Đào tạo cán bộ
khuyến nông thôn
bản
Làm đường dânsinh từ thông bảnđến trung tâm xãphù hợp khả nănghuy động vốn,công khai địnhmức hỗ trợ củaNhà nước
Bồi dưỡng cán bộchủ chốt củaĐảng, Chính phủ
Mặt trận các Tổchức, chính trị xãhội
- Hỗ trợ đồng bàodân tộc các xãĐBKK về văn hóa
- Hỗ trợ nâng caochất lượng giáodục nâng cao dântrí