1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của cộng hòa ấn độ từ năm 1991 đến năm 2015

198 168 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 2,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bố cục của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục chữ viết tắt, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu bao gồm 4 chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiê

Trang 1

NGUYỄN VĂN DƯƠNG

QUÁ TRÌNH CỦNG CỐ VÀ BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CỘNG HÒA ẤN ĐỘ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ CHUYÊN NGÀNH: Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

và giải phóng dân tộc

Hà Nội - 2018

Trang 2

NGUYỄN VĂN DƯƠNG

QUÁ TRÌNH CỦNG CỐ VÀ BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CỘNG HÒA ẤN ĐỘ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ CHUYÊN NGÀNH: Lịch sử Phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc

Mã số: 62.22.03.12

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Nguyễn Tất Giáp

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Văn Dương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7

1.1 Các công trình nghiên cứu của các học giả ở Ấn Độ và trên thế giới 7

1.2 Các công trình nghiên cứu của các học giả ở Việt Nam 19

1.3 Một số nhận xét và những vấn đề chưa được giải quyết, luận án tập trung làm rõ 26

Chương 2: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CỦNG CỐ VÀ BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CỘNG HÒA ẤN ĐỘ GIAI ĐOẠN 1991 - 2015 28

2.1 Quan niệm về độc lập dân tộc và củng cố độc lập dân tộc 28

2.2 Nhân tố quốc tế 32

2.3 Nhân tố trong nước 48

Chương 3:NỘI DUNG CỦNG CỐ VÀ BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CỘNG HÒA ẤN ĐỘ GIAI ĐOẠN 1991 - 2015 64

3.1 Giai đoạn 1991 - 2000 64

3.2 Giai đoạn 2001 - 2015 85

Chương 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 132

4.1 Đánh giá chung 132

4.2 Đặc điểm của quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2015 142

4.3 Một số bài học kinh nghiệm đối với các nước đang phát triển 150

KẾT LUẬN 164

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 168

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 169

PHỤ LỤC 185

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

APEC Asia - Pacific Economic

Cooperations

Di n đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương

AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN

ASEAN Association of South East

Asian Nations Hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEM The Asia-Europe Meeting Di n đàn hợp tác Á – Âu

BIMSTEC

Bay of Bengal Initiative for Multi-Sectoral Technical and Economic Cooperation

Sáng kiến vịnh Bengal về hợp tác kinh tế và kỹ thuật đa ngành

BJP Bharatiya Janata Party Đảng Nhân dân Ấn Độ

BRICS Brazil Russia India China

South Africa Khối các nền kinh tế mới nổi

CECA Comprehensive Economic

Cooperation Agreement Hiệp định hợp tác kinh tế toàn diện

EAS East - Asia Summit Hội nghị cao cấp Đông Á

EU European Union Liên minh châu Âu

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do

GDP Gross Domestic Product Tổng sản ph m quốc dân

IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ thế giới

INC Indian National Congress Đảng Quốc Đại Ấn Độ

IT Information Technology Công nghệ thông tin

LAC Line of Actual Control Đường kiểm soát thực tế

MGC Mekong-Ganga Cooperation Hợp tác sông Hằng -sông Mêkong

NATO North Atlantic Treaty

Organization Khối Bắc Đại Tây Dương OSCE Oraganization Security Di n đàn an ninh và Hợp tác Châu Âu

Trang 6

and Cooperation Europer

SAARC South Asian Association for

Regional Cooperation Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á

SCO Shanghai Cooperation

Organization Tổ chức hợp tác Thượng Hải

WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại Thế giới

USD UnitedStatesdollar Đồng đô-la (Đơn vị tiền tệ Hoa Kỳ)

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ấn Độ là quốc gia rộng lớn và đông dân nhất khu vực Nam Á, ngày nay đã trở thành cường quốc châu Á và trên thế giới Ấn Độ còn được biết đến là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại; là quốc gia đa dạng về văn hóa, đa sắc tộc, ngôn ngữ và tôn giáo Từ một nước thuộc địa, trải qua quá trình đấu tranh kiên trì bằng phương pháp “bất bạo động”, Ấn Độ đã giành quyền tự trị vào năm 1947 và độc lập hoàn toàn (1950); là một trong những nước đầu tiên tham gia Liên hợp quốc (1945); thành viên khởi xướng của “Phong trào không liên kết”; Ấn Độ có vai trò quan trọng và có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, góp phần giữ gìn và bảo vệ nền hòa bình thế giới

Trong Chiến tranh lạnh, Ấn Độ cũng là nước chịu tác động, ảnh hưởng không nhỏ của sự đối đầu Đông Tây Mặc dù, Ấn Độ đã lựa chọn cho mình một con đường riêng, con đường “Không liên kết” để xây dựng và phát triển đất nước nhưng những hạn chế trong chính sách đối nội và đối ngoại ngày càng bộc lộ, có nguy cơ làm suy yếu sức mạnh tổng hợp của một cường quốc khu vực

Sau Chiến tranh lạnh, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp

đổ, Ấn Độ không còn sự hậu thuẫn vững chắc vốn có Ấn Độ mất đi sự viện trợ và đầu tư chủ yếu của Liên Xô là một tổn thất rất lớn, nhất là trong lĩnh vực quân sự, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực Tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh có nhiều di n biến phức tạp, làn sóng toàn cầu hóa và sự phát triển như

vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã tác động sâu sắc đến công cuộc củng cố và bảo vệ độc lập của các nước đang phát triển, trong đó có Ấn Độ Vì vậy, việc lựa chọn con đường củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc phù hợp với xu thế của thời đại và đặc thù của quốc gia dân tộc là một nhiệm vụ sống còn đối với Ấn Độ cũng như các nước đang phát triển khác

Trong bối cảnh quốc tế đầy biến động nhanh chóng, khó đoán định, cho nên nhận thức, quan niệm và cách tiếp cận về độc lập dân tộc, củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của các nước đang phát triển cũng buộc phải điều chỉnh và có các tiếp cận mới; phương pháp đấu tranh, cách thức mới Độc lập dân tộc trong bối cảnh toàn

Trang 8

cầu hóa không chỉ bao hàm quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi chủ quyền lãnh thổ Mà nó còn có mối quan hệ chặt chẽ với việc củng cố sức mạnh tổng hợp quốc gia, dân chủ, bình đẳng, hòa bình và phát triển trong quan hệ quốc tế Chúng

có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau

Đối với Ấn Độ, độc lập dân tộc là mục tiêu cao cả, là giá trị thiêng liêng, tinh thần cao quý của một dân tộc có bề dày lịch sử; khát vọng hòa bình, tự do, bình đẳng, tự lực, tự cường vươn mình trỗi dậy

Khu vực Nam Á, do những tàn dư lịch sử của thời kỳ thuộc địa, kinh tế kém phát triển, lạc hậu, mâu thuẫn, xung đột sắc tộc, tôn giáo, sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái làm cho khu vực này luôn thiếu ổn định Mâu thuẫn giữa Ấn Độ

và các nước láng giềng Pakistan, Trung Quốc về chủ quyền, biên giới lãnh thổ là một trong những thách thức lớn nhất đối với công cuộc củng cố và bảo vệ độc lập của Cộng hòa Ấn Độ Mặt khác, bản thân các nước Nam Á cũng có những điều chỉnh chính sách theo hướng mở rộng quan hệ, hợp tác với các nước ngoài khu vực, nhất là các nước lớn, các trung tâm kinh tế, nhằm làm đối trọng trong quan hệ với

xã hội, hội nhập với khu vực và thế giới

Trong quá trình cải cách, Ấn Độ thực hiện nhất quán nguyên tắc, mục tiêu bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền, an ninh và toàn vẹn lãnh thổ là không thay đổi, đồng thời xây dựng môi trường hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển, đầu tư quyết đoán cho lĩnh vực an ninh - quốc phòng

Ấn Độ đã thực sự trỗi dậy trở thành cường quốc khu vực và thế giới với tốc

độ phát triển kinh tế đứng thứ 2 thế giới (2015), thứ nhất thế giới (2017), quy mô nền kinh tế đứng thứ 7 thế giới (2015) tính theo GDP danh nghĩa và thứ 3 thế giới tính theo sức mua tương đương

Trang 9

Ấn Độ ngày nay có vị trí, vai trò quan trọng trong chiến lược của các nước lớn, các trung tâm quyền lực tranh giành ảnh hưởng tại nước này trong thế kỷ XXI

Có thể nói, với những đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng cầm quyền, đặc biệt là Đảng Quốc Đại, sự kết hợp nhuần nhuy n giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; giữa chủ nghĩa dân tộc chân chính với chủ nghĩa lý tưởng, sự quyết tâm cao của các lãnh tụ và các nhà lãnh đạo đất nước qua các thời kỳ đã đưa Ấn Độ trở thành cường quốc, có vị thế xứng đáng trên trường quốc tế

Bước sang thế kỷ XXI, Ấn Độ không chỉ mở rộng tầm ảnh hưởng mạnh mẽ

ở khu vực Nam Á, Ấn Độ Dương mà còn gia tăng sức mạnh ở khu vực Đông Nam

Á, Châu Á - Thái Bình Dương, thể hiện năng lực cạnh tranh với các nước lớn; sẵn sàng cạnh tranh gay gắt, không khoan nhượng với Trung Quốc Ấn Độ đã triển khai mạnh mẽ Chính sách Hướng Đông để khẳng định sự xuất hiện của nước này tại khu vực trên cả phương diện lý thuyết lẫn thực ti n; bảo vệ lợi ích quốc gia luôn song hành gắn kết với an ninh chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, bản sắc dân tộc và luật pháp quốc tế

Ấn Độ đã phát huy sức mạnh truyền thống văn hóa, tinh thần dân tộc bằng tất cả nội lực, sự đoàn kết thống nhất ý chí của cả dân tộc để ghi đậm thêm dấu ấn lịch sử vĩ đại đầy tự hào, kiêu hãnh và phát triển Đây là di sản nổi bật, đặc điểm riêng biệt của nhân dân Ấn Độ đã đứng dậy từ thuộc địa đến độc lập, từ phụ thuộc đến tự do; để có thể tham dự hoặc can dự và có ảnh hưởng lớn đến mọi hoạt động của đời sống quốc tế; chủ động xử lý tốt mối quan hệ với các quốc gia láng giềng mâu thuẫn và các quốc gia láng giềng trong khu vực

Trên đây là một số bài học kinh nghiệm quý báu và mang tính cấp thiết đối với các nước đang phát triển để có thể tham chiếu, áp dụng, nhằm xử lý những vấn

đề trong nước và quốc tế một cách có hiệu quả

Đối với Việt Nam, Ấn Độ là quốc gia Nam Á có mối quan hệ gắn bó lâu đời, hai nước đã từng bị chủ nghĩa đế quốc áp bức và nô dịch, cùng đoàn kết gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Trong lịch sử và hiện tại hiếm có mối quan hệ nào như Ấn Độ và Việt Nam theo lời của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đó là mối quan hệ “như bầu trời không gợn

Trang 10

bóng mây” Mối quan hệ giữa chính phủ và nhân dân hai nước được Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố Thủ tướng J.Nehru đặt nền móng luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam dày công vun đắp, đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, quan hệ giữa hai Nhà nước, hai dân tộc đã được nâng lên một tầm cao mới Chính vì vậy, việc đi sâu tìm hiểu về một thời kỳ mà mục tiêu xuyên suốt là “bảo vệ độc lập dân tộc” của đất nước Ấn Độ anh em chắc chắn sẽ mang nhiều ý nghĩa thực

ti n và khoa học và sẽ có những đóng góp nhất định vào công cuộc bảo vệ độc lập dân tộc của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa đang di n ra một cách nhanh chóng như hiện nay

Năm 2015 là mốc son đánh dấu 65 năm kể từ khi Ấn Độ tuyên bố độc lập (26/01/1950) và 25 năm sau tiến trình cải cách toàn diện (1991) Việc nghiên cứu quá trình đổi mới, củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ có ý nghĩa tổng kết lịch sử, đánh giá những thành tựu đã đạt được và những vấn đề còn tồn tại, từ đó rút

ra bài học kinh nghiệm cho các nước đang phát triển là vấn đề mang tính thời sự và cấp thiết

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả chọn đề tài “Quá trình củng cố

và bảo vệ độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2015” để

nghiên cứu viết luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ giai đoạn 1991 -2015 trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng, văn hóa - xã hội Từ đó, đánh giá những thành công, hạn chế và rút ra một

số bài học kinh nghiệm trong quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc đối với các nước đang phát triển hiện nay

Trang 11

từ năm 1991 đến năm 2015 trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị - ngoại giao, an ninh

- quốc phòng, văn hóa - xã hội

- Đánh giá những thành tựu, hạn chế trong quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc giai đoạn 1991 - 2015 và rút ra một số bài học kinh nghiệm đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Đề tài tập trung nghiên cứu về quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng và văn hóa - xã hội từ năm 1991 đến năm 2015

3.2 Phạm vi

- Về nội dung, đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu chính sách cải cách trên

các lĩnh vực kinh tế, chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng và văn hóa - xã hội nhằm củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của nền Cộng hòa Ấn Độ

- Về thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu trong thời gian từ năm 1991 đến năm

2015: Năm 1991, Ấn Độ tiến hành cải cách kinh tế và đổi mới toàn diện đất nước; năm

2015 có ý nghĩa tổng kết lịch sử, đánh giá những thành tựu đã đạt được trong 65 năm

kể từ khi Ấn Độ tuyên bố độc lập ngày 26/1/1950 và 25 năm sau cải cách

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận án là phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, logic, đối chiếu, so sánh…

5 Những đóng góp mới của luận án

5.1 Về lý luận

- Luận án nghiên cứu một cách có hệ thống các chính sách của chính phủ Ấn

Trang 12

Độ hướng vào các nội dung củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của Ấn Độ từ đó làm sáng tỏ hơn một thời kỳ lịch sử quan trọng của cường quốc mới nổi này (1991 - 2015) Từ đặc điểm của quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của Cộng hòa

Ấn Độ, luận án góp phần làm phong phú thêm con đường củng cố và bảo vệ độc lập trong bối cảnh quốc tế mới đối với các nước đang phát triển

- Từ việc phân tích những chiến lược, sách lược phát triển đất nước mà Ấn

Độ đã thực hiện giai đoạn 1991 - 2015, luận án đánh giá những thành công, hạn chế cũng như những tác động của chính sách đó đối với việc củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ

- Qua việc phân tích thực ti n quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ, luận án đã rút ra một số kinh nghiệm, từ đó góp phần gợi mở những chính sách phù hợp nhằm giữ vững nền độc lập dân tộc và định hướng phát triển đất nước bền vững trong điều kiện cụ thể của Ấn Độ cũng như các nước đang phát triển

5.2 Về thực tiễn

- Luận án có thể dùng để tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy nói chung

về lịch sử Ấn Độ, quá trình củng cố và bảo vệ độc lập của Cộng hòa Ấn Độ, các chính sách Ấn Độ đã thực hiện trong quá trình cải cách, mở cửa và những vấn đề liên quan

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục chữ viết tắt, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu bao gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 2: Những nhân tố tác động đến quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ giai đoạn 1991 - 2015

Chương 3: Nội dung củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ giai đoạn 1991 - 2015

Chương 4: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm đối với các nước đang phát triển

Trang 13

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu về Ấn Độ đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu, chính trị gia và các học giả tại Ấn Độ và trên thế giới Ở những nước lớn như Nga, Mỹ, Pháp, Anh, Úc… đã hình thành ngành Ấn Độ học và có các cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về Ấn Độ Tại

Ấn Độ, có nhiều Trung tâm nghiên cứu lớn, các Viện nghiên cứu, các Trường Đại học, một số cơ quan như Hội đồng nghiên cứu về quan hệ kinh tế quốc tế Ấn Độ (ICRIER), Viện nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS), Viện nghiên cứu và phân tích quốc phòng (IDSA), Viện nghiên cứu xung đột và hòa bình (IPCS),

Ở Việt Nam, các cơ quan nghiên cứu như: Viện nghiên cứu Ấn Độ và Tây Nam Á thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu Ấn

Độ thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các trường Đại học và các cơ quan nghiên cứu khác trên cả nước

Để đảm bảo tính khoa học, trong quá trình nghiên cứu, tác giả có sử dụng một

số tư liệu gốc như Hiến pháp Ấn Độ, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm của chính phủ Ấn Độ; báo cáo thường niên của chính phủ Ấn Độ và đặc biệt là các bài phát biểu của các Thủ tướng Ấn Độ trong các ngày l lớn của đất nước và ngày Quốc khánh

Bên cạnh đó, tác giả cũng tiếp cận một số lượng lớn các nguồn tài liệu của các nhà nghiên cứu, các học giả ở Việt Nam nghiên cứu về Ấn Độ; các học giả ở Ấn Độ

và trên thế giới nghiên cứu về Ấn Độ trên các lĩnh vực khác nhau như: lịch sử, văn hóa - xã hội, chính trị - ngoại giao, kinh tế, an ninh - quốc phòng Đây là cơ sở và tư

liệu khoa học quan trọng để tác giả kế thừa tham khảo trong quá trình viết luận án:

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA CÁC HỌC GIẢ Ở ẤN ĐỘ VÀ TRÊN THẾ GIỚI

- Nghiên cứu về lịch sử Ấn Độ, quá trình đấu tranh giành độc lập, vai trò của các nhà lãnh tụ và tình hình kinh tế - xã hội của Ấn Độ sau khi giành được độc lập

có những công trình tiêu biểu sau:

Cuốn sách “India’s struggle for Independence 1857 - 1947” (1987) (Cuộc

Trang 14

đấu tranh giành độc lập của Ấn Độ giai đoạn 1857 – 1947) [89] gồm 39 chương dày 528 trang của 5 tác giả, trong đó có một sử gia nổi tiếng của Ấn Độ BiPan Chandra Đây là công trình khái quát lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của Ấn

Độ, bắt đầu từ cuộc chiến binh đầu tiên năm 1857 đến thắng lợi cuối cùng năm 1947 Nội dung của cuốn sách đi sâu phân tích những tác động và hệ quả của các phong trào đấu tranh khác nhau và các nhà lãnh đạo Ấn Độ dẫn dắt các phong trào đó; phần lớn nội dung viết về Đảng Quốc đại Ấn Độ trong việc lãnh đạo đấu tranh giành độc lập dân tộc; trong đó nhấn mạnh vai trò của Mahatma Gandhi trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc của Ấn Độ và lý giải vì sao nhân dân Ấn Độ gọi ông là vị Cha già của dân tộc Đây là tư liệu quan trọng, không chỉ có giá trị tổng kết lịch sử; mà còn được kế thừa, áp dụng trong quá trình điều hành đất nước đối với các Chính phủ

Ấn Độ qua các thời kỳ, làm cơ sở cho việc nghiên cứu quá trình củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ

Cuốn sách “India since partition” (1951) (Ấn Độ kể từ khi bị chia cắt) [83] của tác giả Andrew Mellor, 156 trang gồm 8 chương; phản ánh tình hình xã hội Ấn

Độ giai đoạn sau khi giành độc lập (1947 - 1950) với những mâu thuẫn bắt đầu từ tôn giáo, lịch sử và vấn đề Kashmir Thực dân Anh thấy rằng để làm cho Ấn Độ suy yếu, cần phải chia cắt Ấn Độ khi trao trả độc lập; chia cắt Ấn Độ theo tôn giáo, với hai tôn giáo chính là Ấn giáo và Hồi giáo Ấn Độ theo Ấn giáo, Pakistan theo Hồi giáo, sự chia cắt và mâu thuẫn giữa Ấn Độ và Pakistan đã khiến cho bạo động, bạo loạn, phong trào nhân dân nổ ra và đặc biệt đã dẫn đến chính sách phát triển vũ khí hạt nhân sau này của cả hai nước Quan hệ Ấn Độ và Pakistan chưa bao giờ thực sự xóa bỏ được mối nghi kỵ, điều này luôn là những khó khăn, thách thức rất lớn để

Ấn Độ đề ra chính sách hòa giải dân tộc; xây dựng hình ảnh và niềm tin của một nước lớn trong khu vực Nam Á trong quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc

Cuốn “India since transition” (1956) (Tạm dịch là: Ấn Độ kể từ khi chuyển giao chính quyền) [154] của tác giả Romesh Thapar phát hành với 272 trang, giới thiệu về lịch sử Ấn Độ giai đoạn sau năm 1947 dưới sự tác động của trật tự thế giới hai cực Yalta và những chính sách của chính quyền Thủ tướng J Nehru đối với các vấn đề quốc tế và nội bộ đất nước Ấn Độ “Ấn Độ hôm nay và ngày mai” (1960) [48]

Trang 15

của tác giả R.P Dutt được nhà xuất bản Sự thật dịch từ cuốn “India today” cho độc giả thấy được thực trạng về cảnh nghèo khổ của Ấn Độ; nền thống trị của Anh và chủ nghĩa đế quốc hiện đại ở Ấn Độ; phong trào dân tộc và ba giai đoạn của cuộc đấu tranh dân tộc ở Ấn Độ; sự phát triển của giai cấp công nhân; những vấn đề về dân chủ

sử của tiểu lục địa Ấn Độ trong thời kỳ đầu của nền cộng hòa Tác ph m thiên về đề cập đến yếu tố cấu trúc hơn là liệt kê các sự kiện theo thời gian

Tiếp theo cuốn “India’s struggle for Independence 1857 - 1947”, sử gia nổi tiếng người Ấn Độ BiPan Chandra lại cho ra đời ấn ph m “India after independence” (2008) (Ấn Độ kể từ khi giành độc lập) [90] Tác ph m đã phân tích những khó khăn, thách thức và những thành tựu Ấn Độ đã đạt được trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc Cuốn sách cũng miêu tả quá trình soạn thảo hiến pháp

Ấn Độ và những chính sách về kinh tế, chính trị trong thời đại của J.Nehru được phát triển như thế nào Tác giả tập trung đi sâu vào phân tích quá trình củng cố độc lập dân tộc, những vấn đề còn nhiều tranh cãi giữa các đảng phái chính trị ở chính quyền trung ương với các bang, vấn đề Punjab Đồng thời, tác giả cũng mang tới cho độc giả những thông tin về sự thất bại của Liên minh dân chủ quốc gia trong cuộc tổng tuyển cử 2004, sự vươn lên cầm quyền của Liên minh cấp tiến quốc gia

và thỏa thuận hạt nhân giữa Ấn Độ và Mỹ Ngoài việc phân tích những cải cách kinh tế từ năm 1991, cải cách ruộng đất và cuộc cách mạng xanh, phiên bản mới này còn đưa ra bức tranh tổng quan về nền kinh tế Ấn Độ trong thiên niên kỷ mới Đặc biệt, ấn ph m còn khái quát vai trò lãnh đạo của các lãnh tụ qua các thời kỳ như Jawaharlal Nehru, Indira Gandhi, Jayaprakash Narayan, Lal Bahadur Shastri, Rajiv Gandhi, Vishwanath Pratap Singh, Atal Bihari Vajpayee and Manmohan Singh

Trang 16

Đây là nguồn tài liệu có giá trị quý báu, tham khảo rất lớn cho luận án

Cuốn “The emergence of modern India” (1981) (sự trỗi dậy của Ấn Độ hiện đại) [84] của nhà ngoại giao người Ấn Độ Arthur Lall với 259 trang Tác giả là một trong số những người được sống và làm việc giữa hai thời kỳ lịch sử của Ấn Độ (thời

kỳ thuộc địa và kỷ nguyên độc lập) Sau khi nước Cộng hòa Ấn Độ được thành lập, ông đã tham gia làm việc trong chính phủ của J.Neru Vì vậy, công trình này của ông giới thiệu về lịch sử Ấn Độ trong những năm đầu thế kỷ XX, thời kỳ Ấn Độ dưới sự thống trị của đế quốc Anh với sự phát triển về văn hóa, sự khác biệt về tôn giáo, chính trị đạo đức Đồng thời, tác giả cũng cung cấp cho độc giả những dữ liệu về Ấn

Độ sau khi giành độc lập dân tộc từ tay đế quốc Anh; chính sách đối ngoại dưới thời J.Neru, cuộc đàm phán với Trung Quốc về tranh chấp biên giới năm 1962; các vấn đề chính trị dưới thời bà Indira Gandi

“A history of modern India”(2014) (Lịch sử Ấn Độ hiện đại) [117] một tác

ph m của nhà sử học người Mexico, Ishita Banerjee-Dube, đây là cuốn giáo trình rất hữu ích cho các học giả nghiên cứu về lịch sử Ấn Độ Với 11 chương dày 519 trang, cuốn sách miêu tả khá toàn diện về lịch sử Ấn Độ thế kỷ XVIII và thế kỷ XX, thời kỳ đặc trưng của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa dân tộc và sự vươn mình của một Ấn Độ độc lập Ấn ph m tái hiện những bàn luận mang tính lịch sử về giới tính, môi trường sinh thái, địa vị xã hội và lao động của xã hội Ấn Độ thời bấy giờ Tác ph m kết hợp phân tích về một Ấn Độ thuộc địa và một Ấn Độ độc lập để nhấn mạnh đến ý thức hệ, các chính sách và quá trình định hình một nhà nước thuộc địa cũng như một nhà nước Ấn Độ độc lập như thế nào

Ấn ph m “Lịch sử văn minh Ấn Độ” (1971) [81] của một sử gia nổi danh thế giới Will Durant được dịch giả Nguy n Hiến Lê dịch sang tiếng Việt Tác ph m này

là một những cuốn trong bộ “Lịch sử văn minh” của Will Durant mà ông đã giành nhiều tâm huyết để viết Với 9 chương và 439 trang ấn ph m đã nghiên cứu tổng quan về Ấn Độ, sự phát triển của văn hóa, tôn giáo, xã hội từ trước công nguyên cho tới nay; nguồn gốc của Phật thích ca, đời sống thường ngày cũng như đời sống tâm linh của quần chúng nhân dân; văn học, nghệ thuật và đạo Ki tô giáo

Cuốn sách “5000 năm lịch sử và văn hóa Ấn Độ” (2010) [1] của tác giả

Trang 17

Anjana Mothar Chandra Cuốn sách dày 215 trang gồm 10 phần đã giới thiệu khái quát các giai đoạn chính của đất nước Ấn Độ từ những ngày đầu của nền văn minh lưu vực sông Ấn đến sự chia cắt đau thương của một tiểu lục Ấn Độ; những nét văn hóa đặc trưng của đất nước và con người Ấn Độ Đặc biệt, phần cuối của cuốn sách

đã phác họa một Ấn Độ chuyển mình sau những cơn khủng hoảng kinh tế vào năm

1991 Với những chính sách đổi mới của các nhà lãnh đạo Ấn Độ qua từng thời kỳ,

Ấn Độ đang từng bước gây dựng hình ảnh ấn tượng của mình trên toàn thế giới

“Jawaharlal Nehru: A biograph - Vol 2: 1947 - 1956, Vol 3: 1956 - 1964” (Tiểu sử Jawaharlal Nehru Tập 2, Tập 3) [158] của tác giả Sarvepalli Gopal, tái bản năm 2014 Với 346 trang, Vol 2 thuật lại chín năm đầu của Thủ tướng Jawaharlal Nehru cầm quyền; miêu tả và phân tích những vấn đề của Ấn Độ và thế giới; cuộc đấu tranh giữa Ấn Độ và Pakistan về vấn đề Kashmir; cuộc bầu cử tự do đầu tiên của Ấn Độ, khủng hoảng vấn đề Triều Tiên và kênh đào Suye Đồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh đến vai trò của J.Nehru đối với sự nghiệp dân tộc của Ấn Độ và trên trường quốc tế Ông được đánh giá là ánh sáng của Châu Á, đạt tới đỉnh cao của quyền lực Tập 3 dài 336 trang cũng là tập cuối cùng về tiểu sử và cuộc đời của Jawaharlal Nehru Ấn ph m số 3 này nói về tám năm cuối cùng của cuộc đời ông trên cương vị là Thủ tướng Ấn Độ với những nỗ lực, hy sinh để duy trì sự phát triển của nền kinh tế và sự tiến bộ xã hội của người dân Ấn Độ nhưng không làm mất đi những nguyên tắc trong chính sách ngoại giao của ông ngay cả khi quan hệ với Trung Quốc xấu đi, mà đỉnh cao là cuộc xâm lược với quy mô lớn ở Phía Đông và Phía Tây của biên giới hai nước

“Mahatma Gandhi: Người đã giải phóng Ấn Độ và dẫn dắt thế giới vào cuộc đổi thay bất bạo động” (2000) [39] của tác giả Michael Nicholson do Thủy Nguyên dịch sang tiếng Việt từ cuốn sách tiếng Anh nhan đề “Mahatma Gandhi” Cuốn sách tổng hợp những câu chuyện về cuộc đời và sự nghiệp của vĩ nhân Mahatma Gandhi, cái chết của ông và những cống hiến của Gandhi cho Ấn Độ và thế giới

Cuốn “The Politics of India since Independence” (1994) (Tình hính chính trị

Ấn Độ kể từ khi giành độc lập) [147] của giáo sư người Mỹ Paul R Brass, được tác giả viết vào giữa những năm 1986 - 1989 phản ánh những lo ngại của tác giả về bộ

Trang 18

máy chính quyền thời kỳ hậu J.Nehru trong việc hoạch định chính sách và kiểm soát các nguồn lực kinh tế Tất cả những nỗ lực của nhà lãnh đạo thời kỳ này đang tạo ra những phản ứng ngược Các tổ chức chính trị bị xói mòn về tư tưởng, bạo lực và xung đột sắc tộc, tôn giáo, giai cấp, văn hóa giữa các vùng miền đang có nguy cơ gia tăng Trước tình hình đó, tác giả đặt ra một vấn đề cần tranh luận là: Nên chăng

Ấn Độ cần phải thay đổi lãnh đạo với những chính sách mới để phát triển đất nước?

- Nghiên cứu về những chính sách mà Ấn Độ triển khai để củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc trên các lĩnh vực và sự trỗi dậy của Ấn Độ những năm đầu thế kỷ XXI :

Cuốn sách “India’s Foreign Policy and Its Neighbours” (2001) (Chính sách đối ngoại của Ấn Độ và các nước láng giềng) [123] của tác giả J.N Dixit dày 351 trang với hai phần lớn: Phần 1: Chính sách đối ngoại của Ấn Độ (India’s foreign policy); Phần 2: Các nước láng giềng của Ấn Độ (India’s neighbours) Công trình là tập hợp những nghiên cứu của tác giả trong nhiều năm đã được đăng trên các tờ tạp chí uy tín của Ấn Độ và thế giới Ấn ph m đã phân tích tổng quan chính sách đối ngoại của Ấn Độ trong bối cảnh thế giới sau chiến tranh lạnh với những thay đổi về cục diện chính trị, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, toàn cầu hóa Đặc biệt, sự tan rã của Liên Xô đã tác động đến Ấn Độ trên mọi bình diện, những biến động chính trị ở khu vực Trung Á, Nam Phi, mối quan hệ Ấn Độ - Trung Quốc, Ấn Độ - Mỹ và Ấn Độ với các nước láng giềng, những thách thức rất gay gắt đối với chính sách đối ngoại của Ấn Độ Trong phần 2 của tác ph m, tác giả luận giải các nhân tố chính trị trong nước của Pakistan tác động đến chính sách của Ấn

Độ, mối quan hệ giữa Ấn Độ với các nước Bangladesh, Trung Quốc, Nepal, Myanmar Cuốn sách chứa đựng những đánh giá và quan điểm cá nhân của tác giả

về những di n biến đang di n ra gợi mở cho các nhà nghiên cứu những tranh luận, bàn luận cũng như có thể hình dung ra một chính sách đối ngoại đương thời của Ấn

Độ Đây là nguồn tài liệu rất hữu ích để tham khảo cho luận án của mình

Cuốn “India in the Contemporary World” (2014) (Ấn Độ trong thế giới đương đại) [120] là tập hợp nghiên cứu của nhiều tác giả nổi tiếng của Ấn Độ, Ba Lan và các nước, do các tác giả Jakub Zaiaczkowski, Jivanta Schottli, Manish

Trang 19

Thapa đồng chủ biên Với bốn phần, 19 chương, 507 trang, cuốn sách là công trình nghiên cứu chuyên sâu về Ấn Độ đương đại trên các bình diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quan hệ quốc tế Phần 1 gồm 5 chương các tác giả đi sâu luận giải về nền dân chủ phản thực tế ở Ấn Độ, vấn đề bầu cử, hệ chu n về văn hóa Phần 2 gồm

3 chương phân tích về những vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế của Ấn Độ như tác động của toàn cầu hóa đến nền kinh tế Ấn Độ, khu vực dịch vụ, hệ thống ngân hàng Phần 3 gồm 7 chương đề cập đến chính sách đối ngoại và chính sách an ninh của Ấn Độ Phần 4 gồm 4 chương nhấn mạnh đến mối quan hệ Ấn Độ - Liên minh Châu Âu (EU)

Cuốn “India’s Foreign Policy: Retrospect and Prospect” (Chính sách đối ngoại của Ấn Độ: Nhìn lại và triển vọng) (2010) [159] là tập hợp những nghiên cứu của 15 tác giả trên thế giới và do giáo sư Sumit Ganguly chủ biên Cuốn sách dày

347 trang với 15 chương cung cấp cho độc giả những nghiên cứu sâu sắc về chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ năm 1947 đến nay và được thể hiện qua mối quan hệ của Ấn Độ với các nước láng giềng cũng như các nước lớn trên thế giới như Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc và Nga Tất cả các chương của cuốn sách được các tác giả sử dụng phương pháp tiếp cập lý thuyết cấp độ trong quan hệ quốc tế (cấp độ hệ thống, cấp độ quốc gia và cấp độ cá nhân), các yếu tố này tác động đến chính sách đối ngoại của Ấn Độ như thế nào? Từ việc phân tích mối quan hệ của Ấn Độ với các nước, ba chương cuối của ấn ph m, tác giả đưa ra phân tích vấn đề cốt lõi trong chính sách hạt nhân, chính sách kinh tế và chính sách năng lượng của Ấn Độ được định hình và phát triển như thế nào Đây là một công trình nghiên cứu rất hữu ích cho các học giả nghiên cứu về Ấn Độ

Tiến sĩ Harish Kapur, chuyên gia về quan hệ quốc tế người Thụy Sỹ với tác

ph m “Foreign policies of India’s Prime Ministers” (2013) (Chính sách đối ngoại của các Thủ tướng Ấn Độ) [108] Cuốn sách gồm 16 chương dày 444 trang là một công trình chuyên khảo nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ khi giành độc lập năm 1947 Công trình là bức tranh toàn cảnh về chính sách đối ngoại của các Thủ tướng Ấn Độ qua các thời kỳ từ nhà lãnh đạo đầu tiên Jawaharlal Nehru đến Thủ tướng Momanhan Singh Mỗi đời Thủ tướng tương ứng một chương của cuốn sách

Trang 20

trong đó tập trung vào phân tích chính sách đối ngoại của họ, bắt đầu từ việc nhận thức của họ về tình hình quốc tế, khu vực đến việc định hình chính sách và cách thức triển khai Kết thúc mỗi chương là sự đánh giá vai trò của các thủ tướng và chính sách của họ đối với sự phát triển của đất nước Ấn Độ

Cuốn “India - US Relations and Asian Rebalancing” (2015) (Quan hệ Ấn - Mỹ

và chiến lược tái cân bằng châu Á) [158] của tác giả Josukutty C.A là tập hợp 13 bài nghiên cứu của các học giả về vi n cảnh trỗi dậy ở châu Á - Thái Bình Dương Các bài viết nhấn mạnh sự trỗi dậy của châu Á về kinh tế và quân sự tạo thành một sự phát triển quan trọng nhất trong chính trị quốc tế sau Chiến tranh lạnh Nó đã tạo ra một trật tự thế giới mới nơi mà các nước lớn có dấu hiệu cân bằng quyền lực Mục tiêu và lợi ích của Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia khu vực cùng với vai trò chiến lược của Biển Hoa Đông và Biển Đông đã khiến cho khu vực này càng trở nên năng động Sự trỗi dậy của Trung Quốc và tham vọng bá chủ ở châu Á đã thách thức vị trí đứng đầu của Mỹ Trước bối cảnh đó, Ấn Độ và Mỹ tăng cường quan hệ

để kiềm chế sự bành chướng của Trung Quốc

Bản báo cáo đặc biệt của Trung tâm nghiên cứu xung đột và hòa bình Ấn Độ (IPCS) năm 2009 với tựa đề “India - Asean Relations – Analysing Regional Implications” (Quan hệ Ấn Độ - ASEAN- phân tích hàm ý khu vực) [146] đã phân tích lịch sử mối quan hệ Ấn Độ - ASEAN, sự nổi lên của chủ nghĩa khu vực tại Đông Nam Á đã thu hút sự quan tâm của Ấn Độ; lợi ích của ASEAN tại Ấn Độ cũng như lợi ích của Ấn Độ tại ASEAN và các hợp tác kinh tế, thương mại giữa hai bên

“Rediscovering Asia: Evolution of India’s Look East Policy” (Khám phá lại châu Á - bước phát triển mới của Chính sách hướng của Đông Ấn Độ) [150] của tác giả Prakash Nanda gồm 8 chương, 639 trang Ý tưởng viết cuốn sách này bắt đầu vào năm 1999 khi ông sang học tập và nghiên cứu tại Hàn Quốc và là một công trình mà ông đã dày công nghiên cứu Nội dung chính của cuốn sách đề cập đến thuật ngữ “phía Đông”, phạm vi hướng Đông, những lỗ hổng cũng như các bước thăng trầm trong quan hệ Ấn Độ với các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, các nguyên nhân hình thành “Chính sách hướng Đông” và các bước triển

Trang 21

khai chính sách này bằng cách tăng cường các mối quan hệ với các nước ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia Phần cuối của cuốn sách tác giả đề cập đến những thách thức trước mắt mà Ấn Độ phải đối mặt trong đó có yếu tố Trung Quốc

Học giả người Pháp Isabelle Saint-Mézard với ấn ph m “Eastward Bound: India’s New Positioning in Asia” (2006) (Hướng về phía Đông: vị trí mới của Ấn

Độ ở châu Á) [118] với 10 phần dài 499 trang do Manohar Publishers and Distributors ấn hành năm 2006 Trong cuốn sách này, tác giả phân tích Chính sách hướng Đông một cách toàn diện, xâu chuỗi sự phát triển với những đặc trưng của

nó trong vòng hơn một thập kỷ rưỡi qua Tác giả tập trung vào phân tích khía cạnh kinh tế - chính trị của chính sách Đồng thời, bà nhấn mạnh đến tính nhiều mặt của

nó liên quan đến ý thức hệ, văn hóa và khía cạnh an ninh Nghiên cứu của bà cũng

đề cập đến phản ứng của các quốc gia và tổ chức khu vực ở Đông Á đối với chính sách này của Ấn Độ Công trình nghiên cứu khẳng định rằng Chính sách hướng Đông đem lại sự gắn kết về chiến lược, thể chế, chính trị, kinh tế với Đông Á và rộng hơn là khu vực châu Á Cuối ấn ph m, tác giả khẳng định Chính sách hướng Đông trở thành một hướng đối ngoại mới của Ấn Độ thời kỳ sau Chiến tranh lạnh Tiến sỹ David.A.Robinson, Viện nghiên cứu Future Directions International, AustraliaFuture Directions International, Australia với bài nghiên cứu “India’s Rise

as a Great Power” (2011) (Ấn Độ - một cường quốc trỗi dậy) [94], Đây là công trình nghiên cứu về sự “trỗi dậy” của Ấn Độ về mặt kinh tế, những thay đổi về chính sách đối ngoại trong mối tương quan cân bằng chiến lược với Mỹ, Trung Quốc, Nga và triển vọng tương lai của Ấn Độ hướng tới trở thành cường quốc thế giới

Ấn ph m “India’s rise as Asian power, Nation, Neighborhood and Region” (2014) (Ấn Độ nổi lên như là một cường quốc châu Á, các vấn đề trong nước, láng giềng và khu vực) [155] được tác giả Sandy A Gordon viết với 6 chương dài 269 trang Ông không đi sâu vào phân tích sự trỗi dậy của Ấn Độ như thế nào mà tác giả phân tích những thách thức mà Ấn Độ phải đối mặt cả trong nước cũng như trong khu vực trong quá trình trỗi dậy như tình trạng khủng bố, bạo lực, tranh chấp biên giới, thiếu nước Gordon nhấn mạnh rằng Ấn Độ muốn khoác lên mình một tấm áo choàng của một cường quốc khu vực và thế giới, Ấn Độ phải tìm cách cải thiện tình

Trang 22

hình chính trị - an ninh của mình, nếu không các thế lực cạnh tranh tại khu vực Nam Á sẽ khai thác những lỗ hổng này để đạt được mục đích của họ Giáo sư Baldev Raj Nayar, Đại học Mc Gill, Canada với cuốn “Globalization and India’s economic intergration” (2014) (Toàn cầu hóa và Ấn Độ hội nhập kinh tế)[88] Đây được đánh giá là ấn ph m phân tích sâu sắc về sự thay đổi của nền kinh tế Ấn Độ trong bối cảnh toàn cầu hóa Với 4 chương, 316 trang đã phác họa được bức tranh tổng quát của nền kinh tế Ấn Độ trước tự do hóa kinh tế Theo một số nhà phê bình, toàn cầu hóa gây ra sự phân khúc kinh tế và thậm chí làm tan vỡ nền kinh tế Ấn Độ, nhưng Baldev Raj Nayar đã chứng minh rằng với những chính sách cải cách kinh

tế, đặc biệt là trong lĩnh vực thuế và thương mại, đầu tư, kinh doanh đã giúp cho nền kinh tế Ấn Độ hội nhập và không tăng phân khúc Tác giả khẳng định rằng Ấn

Độ hưởng lợi từ toàn cầu hóa nhiều hơn là nạn nhân của nó

Tại hội thảo về Quan hệ quốc tế do Viện Quốc tế học Symbiosis (2014), Trường Đại học quốc tế Symbiosis, Ấn Độ với chủ đề “India’s Look East - Act East Policy:

A Bridge to the Asian Neighbourhood” (Chính sách hướng Đông – Chính sách hành động ở phía Đông của Ấn Độ: cầu nối tới các nước châu Á) [161] đã tập hợp được các bài nghiên cứu về Chính sách hướng Đông và Hành động phía Đông của Ấn Độ Tập hợp các bài viết này được chia làm 5 phần với các nội dung về: đầu tư thương mại của Ấn Độ tại Nam Á và Đông Nam Á; vấn đề về giao thông hàng hải, an ninh - quốc phòng, giáo dục và văn hóa, các yếu tố mà Ấn Độ chú trọng trong Chính sách hành động phía Đông

Một tác giả người Anh Matthew McCartney với ấn ph m “Political economy, growth and liberalisation in India, 1991 - 2008” (2010) (Kinh tế chính trị, sự tăng trưởng và tự do hóa ở Ấn Độ giai đoạn 1991 - 2008) [132] Với 236 trang, tác giả

đã tìm hiểu và đánh giá lại các kinh nghiệm lịch sử của Ấn Độ trong việc thúc đ y kinh tế và tự do hóa từ giữa năm 1950 đến 1980 Thông qua phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng và tự do hóa, cũng như tính bền vững của mối quan hệ này trong môi trường kinh tế Ấn Độ giai đoạn 1991-2008 cuốn sách góp phần làm sáng tỏ nhiều luận điểm liên quan đến phát triển kinh tế ở Ấn Độ và một số quốc gia đang phát triển khác

Trang 23

“India foreign and security policy in South Asia: Regional power strategies” (2012) (Chính sách đối ngoại và an ninh ở khu vực Nam Á: Chiến lược cường cuốc khu vực) [156] của tác giả Sandra Destradi Với trên 200 trang và 7 phần nội dung, cuốn sách đã phân tích sâu sắc chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với ba nước láng giềng phía đông là Sri Lanka, Nepal và Bangladesh Đặc biệt, ấn ph m đề cập đến vai trò của Ấn Độ trong những năm cuối cùng của cuộc nội chiến ở Sri Lanka, tiến trình hòa bình và dân chủ hóa tại Nepal; những đe dọa về an ninh từ phía Bangladesh Cuối tác ph m, tác giả đã đánh giá và đưa ra những bài học từ khu vực Nam Á này

Năm 2014, khi Thủ tướng Modi lên nắm quyền đã có rất nhiều các bài nghiên cứu của các chuyên gia trên thế giới về chính sách của nhà lãnh đạo mới này Điển hình là những công trình nghiên cứu sau: Bản báo cáo “The evolving domestic drivers of India foreign policy” (2016) (Những nhân tố trong nước tác động đến chính sách đối ngoại của Ấn Độ) [129] của hai giáo sư Jason Miklian (Trường Đại học Na uy) và Atul Misha (Trường Đại học Jawaharlal Nehru) đề cập đến những nhân tố trong nước tác động đến chính sách đối ngoại của Ấn Độ Bài viết nhấn mạnh về thắng lợi của ông Narendra Modi trong cuộc bầu cử năm 2014 Với thắng lợi này, ông trở thành thủ tướng của Ấn Độ với một sự ủy thác lớn là định hình lại chính sách đối ngoại của Ấn Độ Các chuyên gia chính trị và nhân dân Ấn Độ trông đợi những gì ông đã cam kết thực hiện trong lúc tuyển cử để đưa đất nước Ấn Độ thoát khỏi những trì trệ trong nhiều năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc đại Ấn

ph m không phân tích những chính sách đối ngoại của Thủ tướng Modi mà đi sâu phân tích năm yếu tố trong nước tác động đến việc hoạch định chính sách đối ngoại của Ấn Độ cũng như đưa ra năm thách thức quan trọng mà năm yếu tố này ảnh hưởng đến khả năng thực hiện “tham vọng toàn cầu” của Ấn Độ

Ấn ph m “India’s foreign policy toward East Asia and the neighborhood under Modi: Implications for Europe” (2015) ( Chính sách đối ngoại của Ấn Độ hướng tới Đông Á và các nước láng giềng: một vài gợi mở cho châu Âu) [93] của Tiến sỹ Daniel Twining Bài nghiên cứu gồm 9 phần phản ánh về chính phủ mới của Ấn Độ do Thủ tướng Narenda Modi điều hành đang mang lại sức sống mới cho

Trang 24

chính sách kinh tế và ngoại giao của quốc gia này sau nhiều năm trì trệ Ấn Độ ngày nay đang thể hiện một sức mạnh mới trong việc thực hiện cam kết với các cường quốc Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản và với các quốc gia láng giềng Nam Á Chính quyền mới cũng đang nỗ lực cải tổ nền kinh tế để tạo đà cho sự phát triển, tạo công ăn việc làm và trở thành nước có thị trường lao động lớn nhất thế giới Bài viết cũng đưa ra những gợi mở cho châu Âu và đề xuất một số chính sách hợp tác giữa

Ấn Độ và châu Âu

Viện nghiên cứu Institute Australia - India với ấn ph m “India foreign policy under Modi” (2014) (Chính sách đối ngoại của Ấn Độ dưới thời Thủ tướng Modi) [149] cũng của tác giả Prakash Nanda với 7 phần nói về những thay đổi trong chính sách đối ngoại của chính quyền Thủ tướng Modi; vai trò toàn cầu và sức mạnh mềm của Ấn Độ; một số điều chỉnh trong Chính sách Hướng Đông và các nước láng giềng khu vực cũng như chính sách hạt nhân của nước này

“The Engagement of India, Strategies and Responses” (2014) (Hợp tác với Ấn

Độ, chiến lược và phản ứng của Ấn Độ) ( [110] là tập hợp bài viết của các chuyên gia quan hệ quốc tế trên thế giới, do tác giả Ian Hall, Khoa Quốc tế, Đại học Australia chủ biên Với 224 trang, 10 chương và được giới chuyên môn đánh giá là nguồn tài liệu hữu ích cho các học giả, sinh viên nghiên cứu về quan hệ quốc tế; về chính sách ngoại giao và khu vực Nam Á Khi Ấn Độ nổi lên như một cường quốc khiến các quốc gia trên thế giới tìm cách quan hệ với Ấn Độ bằng các chương trình nghị sự khác nhau Trong khi một số quốc gia mong muốn cải thiện mối quan hệ với New Delhi, thì một số quốc gia khác tận dụng sự chuyển giao trong chính sách đối ngoại

để đạt được lợi ích của họ Cuốn sách này đã giúp độc giả hiểu được chiến lược mà các nước lớn sử dụng để thu hút và hình thành mối quan hệ với một Ấn Độ năng động mới nổi, những thành công, những thất bại của họ và những phản ứng của Ấn

Độ (tích cực, nước đôi và đôi khi là thù địch) trước những mối quan hệ này Các bài viết phân tích cách thức mà Úc, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga và Mỹ đã hợp tác với

Ấn Độ với những mục đích khác nhau Đồng thời, tác ph m cũng đánh giá chiến lược của Ấn Độ với Singapore, Việt Nam, Indonesia và các nước Cộng hòa Trung Á Đây

là một ấn ph m phân tích sâu về chính sách đối ngoại của Ấn Độ - một cường quốc

Trang 25

đang lên và so sánh những chiến lược ngoại giao để làm sáng tỏ những thay đổi về bản chất của chính sách đối ngoại và quá trình định hình nó trong tương lai

Cuốn sách “Ấn Độ và Đông Nam Á: Hướng đến nền an ninh chung” (2015) [56] của tác giả Sudhir Devare do Lê Thị Sinh Hiền và Phạm Thị Ngọc Hiếu dịch sang tiếng Việt Với 281 trang, tác ph m giới thiệu về tình hình an ninh - chính trị ở Nam Á và Đông Nam Á; vấn đề hợp tác về an ninh chung cũng như những triển vọng cho hợp tác biển, hội nhập kinh tế; yếu tố con người đóng vai trò quan trọng trong việc hợp tác an ninh toàn diện; giải quyết vấn đề biên giới Myanmar như là một vấn đề thiết yếu ảnh hưởng đến hợp tác an ninh của Ấn Độ với Đông Nam Á Cuốn “Ấn Độ sự trỗi dậy của một cường quốc” (2013) của nhóm tác giả Tarun Das, Colette Mathur, Frank - Jurggen Richter [57] Cuốn sách gồm 3 phần: Phần 1, các tác giả nói về những thành tựu đáng kinh ngạc của nền kinh tế Ấn Độ thời gian qua và từ đó thúc đ y các điều kiện xã hội của đất nước cũng phát triển Phần 2, tác giả đề cập đến 10 trụ cột của tăng trưởng bền vững để tạo nên một Ấn Độ hùng mạnh Phần 3, là cái nhìn về vi n cảnh tương lai đầy hứa hẹn của Ấn Độ Theo các tác giả, với điều kiện kinh tế bền vững, kết cấu dân số trẻ, tình hình chính trị ổn định, vị thế của Ấn Độ trên trường quốc tế hiện nay, triển vọng phía trước của Ấn

Độ là hết sức khả quan Viết về sự trỗi dậy của Ấn Độ còn có cuốn “Nghịch lý Ấn Độ: Bất chấp thần thánh Ấn Độ trỗi dậy” (In spite of the Gods: The rise of Modern India) của tác giả Edward Luce (2013) [17] Với 362 trang, cuốn sách là một cái nhìn sinh động, chiếu rọi vào những thế lực định hình của Ấn Độ khi nước này cố cân bằng truyền thống ương ngạnh của quá khứ với một hiện tại hiện đại hóa thất thường Nhà báo Edward Luce đã thực hiện bản tường trình sắc nét với những ý kiến và nhận định về Ấn Độ từ mọi ngóc ngách cuộc sống của một Ấn Độ chứa đựng đầy mâu thuẫn Ông miêu tả hai chính đảng của Ấn Độ thắng cử như thế nào, mối quan hệ giữa triều đại Nehru và sự tiến triển của cuộc thí nghiệm lớn nhất thế giới trong chế độ dân chủ đại diện Bất chấp những đối nghịch giữa lịch sử và hiện tại và ngay cả trong những gì đang di n ra tại một Ấn Độ đương đại, nhưng Ấn Độ vẫn vươn lên trở thành một trong những cường quốc thế giới

1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA CÁC HỌC GIẢ Ở VIỆT NAM

Trang 26

- Nghiên cứu về đất nước, con người, lịch sử, văn hóa Ấn Độ:

Cuốn “Ấn Độ hôm qua và hôm nay” (1995) [34], Phó tiến sĩ Đinh Trung Kiên,

và cuốn: “Ấn Độ xưa và nay” (1997) [43] là công trình nghiên cứu của nhóm tác giả trong đó Cao Xuân Phổ và Trần Thị Lý chủ biên gồm 348 trang đã giới thiệu khái quát về đất nước, con người, lịch sử, văn hóa và quá trình xây dựng nước Cộng hòa

Ấn Độ Đặc biệt, cả hai ấn ph m đều nhấn mạnh đến những thành tựu về chính trị, kinh tế và văn hóa mà nhân dân Ấn Độ đã giành được sau hơn 40 năm kể từ khi độc lập; chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập, trung lập và không liên kết của Ấn Độ

và quan hệ giữa Việt Nam và Ấn Độ đến năm 1995

Giáo sư Vũ Dương Ninh với cuốn “Lịch sử Ấn Độ” (1996) [42] với 5 chương

và 204 trang Tác ph m giới thiệu về đất nước, con người và nền văn hóa truyền thống của Ấn Độ; khái quát về lịch sử Ấn Độ thời cổ đại, trung đại, cận đại, hiện đại: Ấn Độ từ một thuộc địa trở thành quốc gia độc lập và bắt tay vào xây dựng đất nước phồn vinh thể hiện qua các kế hoạch 5 năm; quan hệ Việt - Ấn trong lịch sử Đây có thể coi là một công trình nghiên cứu sâu có giá trị toàn diện nhất về lịch sử

Ấn Độ cho đến nay tại Việt Nam

Cuốn “Ấn Độ qua các thời đại” (1986) [27] của tác giả Nguy n Thừa Hỷ, 154 trang giới thiệu những nét cơ bản về lịch sử, nền văn hóa, phong tục tập quán của Ấn

Độ Đặc biệt, tác giả miêu tả các cuộc đấu tranh, những vị anh hùng qua các thời kỳ của lịch sử phát triển của Ấn Độ

Tác giả Nguy n Công Khanh với cuốn “Jawaharlal Nehru tiểu sử và sự nghiệp” (2001) [32] giới thiệu những nét chính về tiểu sử và những cống hiến của J Nehru cho phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ

- Nghiên cứu về độc lập dân tộc và những chính sách trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng mà Ấn Độ triển khai để củng cố và bảo

vệ độc lập dân tộc:

Cuốn chuyên khảo “Mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay” (2015) do Nguy n Hoàng Giáp, Nguy n Thị Quế, Mai Hoài Anh đồng chủ biên [30] Ấn ph m gồm 4 chương, cung cấp cho bạn đọc những luận giải về lý luận, thực ti n của mối quan hệ giữa độc lập dân tộc, tự chủ và hội

Trang 27

nhập quốc tế; kinh nghiệm xử lý mối quan hệ này ở một số quốc gia trên thế giới như Hàn Quốc, Liên bang Nga, các nước Trung - Đông Âu và SNG và các nước ASEAN; thực ti n xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, từ đó đưa ra các quan điểm định hướng và một

số kiến nghị nhằm xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Việt Nam đến năm 2020 Cùng vấn đề này, tác giả Thái Văn Long với

ấn ph m “Độc lập dân tộc của các nước đang phát triển trong xu thế toàn cầu hóa”(2006) [36] Cuốn sách gồm 4 chương dài 275 trang giúp cho độc giả hiểu được những nhân tố tác động đến độc lập dân tộc của các nước đang phát triển; những lực lượng chính tham gia đấu tranh bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc hiện nay; những nội dung cơ bản về đấu tranh vì độc lập dân tộc của các nước đang phát triển

Tác giả Phan Văn Rân và Nguy n Hoàng Giáp với cuốn “Chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” (2010) [49] Công trình đã luận giải vấn đề độc lập dân tộc của các nước đang phát triển trên cơ

sở phân tích những vấn đề và thực ti n về chủ quyền quốc gia dân tộc, về toàn cầu hóa và những tác động của nó đối với chủ quyền quốc gia dân tộc, từ đó các tác giả làm rõ một số những nội dung mới và cấp thiết đối với chủ quyền quốc gia dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa Ấn ph m cũng đưa ra quan điểm của Việt Nam về chủ quyền quốc gia dân tộc và thực ti n bảo vệ quốc gia dân tộc của Việt Nam và một

số nước Đây là tài liệu hữu ích để tác giả có thể tham khảo và đối sánh trường hợp của Ấn Độ với Việt Nam và các nước đang phát triển

Cũng viết về những cải cách kinh tế của Ấn Độ, tác giả Lê Nguy n Hương Trinh với cuốn “Chính sách ngoại thương Ấn Độ thời kỳ cải cách” (2005) [69] với 3 chương,

223 trang Ngoài việc phân tích những cơ sở lý luận và thực ti n về vai trò của ngoại thương và chính sách ngoại thương trong phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển, tác giả tập trung phần lớn nội dung cuốn sách trình bày về sự chuyển hướng trong chính sách ngoại thương Ấn Độ thời kỳ cải cách và sự phát triển của chính sách này trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, đầu tư, tài chính và ngân hàng cũng như ý nghĩa của việc cải cách chính sách ngoại thương đối với nền kinh tế Ấn Độ

Trang 28

Luận án tiến sĩ lịch sử: “Quan hệ Ấn Độ - Liên Xô từ 1947 đến 1992” (2011) [9], Lê Thế Cường nghiên cứu về mối quan hệ Ấn Độ - Liên Xô thời kỳ 1947 -

1991 từ góc độ nhà nghiên cứu Việt Nam, góp phần lý giải những đặc trưng, vai trò

và tác động của mối quan hệ Ấn Độ - Liên Xô đối với sự phát triển của mỗi nước, với quốc tế và khu vực Trên cơ sở đó góp phần nhận thức sâu sắc hơn về lợi ích dân tộc nước lớn trong thời kỳ chiến tranh lạnh

Luận án tiến sĩ “Quá trình phát triển quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ năm 1986 đến năm 2004” (2006) [13] của tác giả Hoàng Thị Điệp đã khái quát quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trước năm 1986; quá trình phát triển quan hệ giữa hai nước từ năm

1986 - 2004 trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, khoa học - kỹ thuật, văn hóa, giáo dục; những thuận lợi, khó khăn, thành tựu và triển vọng của mối quan hệ này

“Quan hệ của Ấn Độ với Đông Á sau Chiến tranh lạnh” (2014) [54], là Luận án tiến sĩ lịch sử của tác giả Nguy n Trường Sơn, nghiên cứu về sự điều chỉnh chính sách của Ấn Độ sau Chiến tranh lạnh với Đông Á và quan hệ của quốc gia này với các nước Đông Á trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh - quốc phòng, y tế, giáo dục, văn hóa Đồng thời, luận án cũng phân tích quan hệ Ấn Độ và Việt Nam trong Chính sách hướng Đông của Ấn Độ Từ đó, tác giả đưa ra những đánh giá về đặc điểm trong quan

hệ Ấn Độ với Đông Á, những thuận lợi, thách thức trong việc thúc đ y mối quan hệ này và triển vọng của quan hệ Ấn Độ - Đông Á Cùng tác giả có cuốn “Hướng về phía Đông - Một chiến lược lớn của Ấn Độ” (2015) [55] Với 248 trang, tác giả đã trình bày khái quát các khía cạnh về chiến lược hướng Đông của Ấn Độ, những mối quan hệ truyền thống giữa Ấn Độ và Đông Á Công trình cũng phân tích những đặc trưng, bản chất của mối quan hệ đa dạng, phức tạp của khu vực trong thời kỳ sau Chiến tranh lạnh; quan hệ Ấn Độ - Việt Nam cùng tiềm năng và triển vọng to lớn của hai nước trong thời gian tới

Luận án tiến sĩ lịch sử “ASEAN trong chính sách hướng đông của Ấn Độ” (2011) của tác giả Võ Xuân Vinh [79] Với 3 chương, 221 trang, tác giả đã phân tích chính sách đối ngoại của Ấn Độ thời kỳ hậu chiến tranh lạnh và phân tích các nội dung cơ bản của Chính sách hướng Đông Luận án đưa ra những đánh giá về vai trò, đóng góp của ASEAN đối với Chính sách hướng Đông qua các giai đoạn phát triển

Trang 29

và tác động đến Ấn Độ, ASEAN và quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong các lĩnh vực Tác giả cũng phát triển luận án tiến sĩ này và cho ra đời cuốn sách cùng tên được nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 2013 dày 348 trang Đây cũng là nguồn tài liệu có giá trị tham khảo có ý nghĩa đối với các học giả nghiên cứu về Ấn Độ

Luận án tiến sĩ “Sự nghiệp củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ trong giai đoạn 1950-1964” (2014) [68] Với 187 trang, tác giả Nguy n Đức Toàn đã trình bày những nhân tố tác động đến sự nghiệp củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa

Ấn Độ trong giai đoạn 1950 - 1964; nội dung củng cố và những nhận xét về sự nghiệp củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ trong giai đoạn này, từ đó rút

ra bài học kinh nghiệm đối với các nước đang phát triển

Tác giả Trần Nam Tiến (chủ biên), Nguy n Tuấn Khanh, Võ Minh Tập (2016) với cuốn “Ấn Độ với Đông Nam Á trong bối cảnh quốc tế mới” [67] dài 383 trang Công trình nghiên cứu về quan hệ của Ấn Độ với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong thế kỷ XXI; tìm hiểu mối quan hệ giữa Ấn Độ và Đông Nam Á trong lịch sử và hiện tại; phân tích lợi ích và sự can dự của Ấn Độ với Biển Đông; thành tựu và triển vọng của quan hệ Việt Nam - Ấn Độ

Đề tài cấp Bộ của Bộ Ngoại giao “Quan hệ Ấn Độ - Pakistan và tác động đến an ninh khu vực Nam Á” (2002) [7] đã làm rõ mối quan hệ lịch sử giữa Ấn Độ và Pakistan với những tồn tại và hệ lụy trong lịch sử Đề tài cung cấp cho độc giả những thông tin về mối quan hệ phức tạp này bắt nguồn từ vấn đề tranh chấp biên giới lãnh thổ giữa Ấn Độ và Pakistan ở khu vực Kashmir Đây chính là yếu tố cản trở việc bình thường hóa quan hệ hai nước và dẫn đến 3 cuộc chiến tranh lớn giữa hai nước vào các năm 1947, 1965 và 1971, đồng thời cũng gây ra bầu không khí bất ổn về chính trị - an ninh ở Nam Á Cũng chính sự bất hòa này khiến cho các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc tranh thủ những căng thẳng giữa hai nước để phục vụ cho lợi ích riêng của mình Ngô Xuân Bình (chủ biên) với cuốn “Những vấn đề kinh tế - chính trị cơ bản của Ấn Độ thập niên đầu thế kỷ XXI và dự báo xu hướng đến năm 2020” (2013) [3] Ấn ph m cung cấp cho độc giả cái nhìn tổng quan về vị trí địa lý, lịch sử, văn hóa, hệ thống chính trị của Ấn Độ và đặc biệt là phân tích thực trạng phát triển kinh

tế của Ấn Độ Từ đó, đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế

Trang 30

thế giới Phần cuối của ấn ph m, các tác giả đưa ra dự báo về triển vọng của Ấn Độ đến năm 2020 Cùng tác giả, còn có cuốn “Thúc đ y quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong bối cảnh mới” (2012) [4] và cuốn “Việt Nam - Ấn Độ và Tây Nam Á: Những mối liên hệ trong lịch sử và hiện tại” (2013) là tập hợp các bài tham luận hội thảo quốc tế về Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, Quan hệ Việt Nam - Tây Nam Á và Quan hệ

Ấn Độ - Tây Nam Á trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

PGS.TS Phạm Thái Quốc (chủ biên) với cuốn “Trung Quốc và Ấn Độ trỗi dậy: Tác động và đối sách của các nước Đông Á” (2013) [46], với 355 trang và 3 chương Với lối trình bày khoa học, d hiểu, cuốn sách đã phác họa chân thực về bối cảnh quốc tế và khu vực những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, sự nổi lên của Ấn

Độ và Trung Quốc cũng như tác động của sự trỗi dậy này đối với các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước Đông Á Qua đó, tác giả đưa ra các hàm ý cho Việt Nam trong việc đối phó với những thách thức từ sự trỗi dậy của Trung Quốc và Ấn Độ Cùng viết về sự phát triển của Ấn Độ và Trung Quốc, tác giả còn có cuốn “Nghiên cứu so sánh tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc và Ấn Độ” (2008) [47]

Ngoài ra còn có một số lượng lớn các bài nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Nghiên cứu Ấn Độ, Nghiên cứu Đông Nam Á, Châu

Mỹ ngày nay, Nghiên cứu Trung Quốc… Tiêu biểu là những bài viết sau: “Hòa giải giữa Ấn Độ và Pakistan”, Đặng Văn Hùng, Nghiên cứu quốc tế (2004), số 1, tr.78-85; “Ấn Độ và cuộc chạy đua vào không gian”, Tạp chí Thông tin khoa học kỹ thuật

và bưu điện (2007), số 9, tr.30-31; “Thăng trầm trong quan hệ Hoa Kỳ - Ấn Độ”,

Đỗ Trọng Quang, Châu Mỹ ngày nay (2007), số 8, tr.21-28; “Xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Ấn Độ”, Nguy n Văn Lịch, Tạp chí Lao động và xã hội (2008), số 3, tr.18-20; “Trung Quốc và Ấn Độ đổi mới công nghệ để tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu”, Trần Văn Tùng, Nghiên cứu kinh tế (2009), số 1, tr.66-77; “Sự cạnh tranh vị thế giữa Trung Quốc và Ấn Độ tại Châu Phi những năm đầu thế kỷ XXI”, Trần Bách Hiếu, Tạp chí nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông (2009), số 11, tr.12-18; “Những thành tựu văn hóa - xã hội của 20 năm cải cách ở Ấn Độ (1991-2011)”, Văn Ngọc Thành, Nguy n Thị Hoa, Nghiên cứu Đông Nam Á (2011), số 9, tr.74-81; “Ảnh hưởng của phong trào giải phóng dân tộc Ấn Độ tới phong trào đấu tranh

Trang 31

giành độc lập ở Miến Điện trong những năm đầu thế kỷ 20”, Đào Tuấn Thành, Nghiên cứu Đông Nam Á (2011), số 9, tr.16-25; “Ấn Độ với phong trào không liên kết”, Nguy n Quốc Hùng, Nghiên cứu Đông Nam Á (2011), số 11, tr.24-30; “Cạnh tranh chiến lược của Trung Quốc, Mỹ, và Ấn Độ ở Mianma: Thực trạng và triển vọng”, Trần Khánh, Nghiên cứu quốc tế (2012), số 12, tr.131-153; “Kinh tế Ấn Độ trong nền kinh tế toàn cầu”, Lê Hải Vân, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (2012), số 381, tr.39-42; “Viện trợ chính thức của Nhật Bản cho Ấn Độ giai đoạn 2001 - 2011”, Hoàng Minh Hoa, Nguy n Văn Sang, Nghiên cứu Đông Bắc Á (2012), số 4, tr.32-40; “Quan hệ Australia - Ấn Độ trong thập niên đầu thế kỷ 21,

Đỗ Thanh Hà, Nghiên cứu quốc tế (2012), số 12, tr.185-204 Bên cạnh những ấn

ph m đã được in ấn, phát hành còn có các luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quan hệ quốc tế và Lịch sử thế giới nghiên cứu về Ấn Độ nổi bật là những công trình sau:

Lưu Thị Mai Hương với đề tài “Sự trỗi dậy của Ấn Độ trong những năm đầu thế kỷ XXI” (2013) [24] Phân tích những nhân tố dẫn đến sự trỗi dậy của Ấn Độ trong

những năm đầu thế kỷ XXI, tác giả đề cập đến những nét chính của bối cảnh quốc

tế và trong nước di n ra trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI Dựa trên bối cảnh đó, tác giả xem xét sự trỗi dậy của Ấn Độ đạt được trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng, trong đó tập trung chủ yếu vào lĩnh vực kinh tế Đánh giá những tác động của sự trỗi dậy mạnh mẽ này đến thế giới và Việt Nam Tác giả Lục Minh Tuấn với đề tài

“Quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ (giai đoạn 2001 - 2011)” (2012)

[67] Luận văn trình bày cơ sở lý luận và thực ti n hình thành quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Ấn Độ từ trước thế kỷ XXI và những thập niên đầu thế kỷ XXI Tìm hiểu sự tăng cường nhận thức về vai trò của mỗi nước trong chính sách đối ngoại của nhau; phân tích những tác động của mối quan hệ này đối với sự phát triển của hai nước, của khu vực Đông Nam Á, liên khu vực Đông Nam Á - Nam Á và trên cả cấp độ quốc tế để từ đó đưa ra những dự báo về triển vọng phát triển của

mối quan hệ này “Quan hệ Ấn Độ - ASEAN sau chiến tranh lạnh (1991 - 2010)”

(2012) [16] của tác giả Đinh Văn Hà trình bày những yếu tố địa lý và những ảnh hưởng về văn hóa, tư tưởng Ấn Độ đối với khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt

Trang 32

Nam Phân tích mối quan hệ Ấn Độ - ASEAN giai đoạn 1991 - 2010, trong đó tập trung nghiên cứu về “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ, lấy “Chính sách hướng Đông” làm cơ sở để phân tích và đánh giá quan hệ Ấn Độ - ASEAN sau Chiến tranh lạnh Nghiên cứu triển vọng, xu hướng phát triển quan hệ Ấn Độ - ASEAN, qua đó đồng thời đánh giá mối quan hệ Ấn Độ - Việt Nam sau chiến tranh lạnh và hợp tác Ấn Độ - Việt Nam trong tương lai

1.3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHƢA ĐƢỢC GIẢI QUYẾT, LUẬN ÁN TẬP TRUNG LÀM RÕ

1.3.1 Một số nhận xét về tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Như vậy, việc nghiên cứu về Ấn Độ thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả tại Việt Nam, ở Ấn Độ cũng như trên thế giới với nhiều công trình có giá trị đã được công bố Tuy nhiên, mục đích, phạm vi, thời gian nghiên cứu, lĩnh vực nghiên cứu của các công trình đã chỉ dẫn và gợi mở cho độc giả các góc nhìn, cách phân tích theo những hướng khác nhau; hầu hết các công trình nghiên cứu khái quát về lịch sử, văn hóa, đất nước và con người Ấn Độ, lịch sử đấu tranh giành độc lập của Ấn Độ; về các vấn đề riêng lẻ như tình hình chính trị - xã hội, các chính sách phát triển đất nước của

Ấn Độ, vai trò của các Đảng cầm quyền, các lãnh tụ trong quá trình củng cố và bảo

vệ độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ Khoảng trống của các công trình trên chính là: việc nghiên cứu chuyên sâu mang tính hệ thống, tổng thể, xuyên suốt về quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2015; chưa có công trình nào đánh giá về cách thức củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa

Ấn Độ trong bối cảnh mới, và cũng chưa có công trình nào đưa ra những bài học kinh nghiệm về củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc đối với các nước đang phát triển ở giai đoạn này từ thực ti n của trường hợp Ấn Độ

Đây là nguồn tư liệu để tác giả luận án tham khảo trong quá trình triển khai

đề tài, từ đó có những đối sánh, tư duy phản biện và luận giải những vấn đề chưa được làm rõ để đưa ra quan điểm riêng của mình

1.3.2 Những vấn đề chƣa đƣợc giải quyết, luận án tập trung nghiên cứu, làm rõ

Trang 33

Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu ở trên, luận án tập trung làm rõ những vấn đề sau:

Thứ nhất, phân tích bối cảnh trong nước, tình hình quốc tế và khu vực,

nguyên nhân của việc Ấn Độ thực hiện cải cách sâu rộng, toàn diện hệ thống các chính sách; nhằm phát triển kinh tế, đổi mới đất nước, củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, khẳng định vai trò và vị thế của

Ấn Độ trên trường quốc tế trong giai đoạn 1991 - 2015

Thứ hai, nghiên cứu quá trình Ấn Độ triển khai thực hiện các chính sách để

củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc, vươn lên trở thành một cường quốc trong khu vực và trên thế giới giai đoạn 1991 - 2015

Thứ ba,đánh giá những thành công và hạn chế của quá trình củng cố độc lập

dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ giai đoạn 1991 - 2015, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với các nước đang phát triển

Trang 34

Chương 2 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH CỦNG CỐ VÀ BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CỘNG HÒA ẤN ĐỘ

GIAI ĐOẠN 1991 - 2015

2.1 QUAN NIỆM VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC

Theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “độc lập dân tộc” của một nước vừa là tính

từ vừa là danh từ Trên phương diện tính từ thì độc lập dân tộc là không phụ thuộc vào nước khác hoặc dân tộc khác; còn trên phương diện danh từ thì độc lập dân tộc là trạng thái của một nước hoặc một dân tộc có chủ quyền về chính trị, không phụ thuộc vào nước khác hoặc dân tộc khác [44, tr.342]

Trong tác ph m Cương lĩnh về vấn đề dân tộc, V.I.Lê-nin đã nêu ra nhiều vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa các quốc gia dân tộc phù hợp với đặc điểm tình hình quốc gia lúc bấy giờ, đồng thời giải quyết vấn đề quốc gia dân tộc trong thời đại chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, phụ thuộc Đó là việc mỗi quốc gia đều có quyền tự quyết, tự chủ đối với vận mệnh quốc gia, dân tộc mình, bao gồm tự quyết về chính trị - xã hội và con đường phát triển Quyền tự quyết cũng được thể hiện ở quyền tự do phân lập thành quốc gia độc lập dân tộc hay quyền tự nguyện liên hiệp là giữa các quốc gia dân tộc trên cơ sở bình đẳng, cùng

có lợi và đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân lao động về mục tiêu hòa bình, phát triển, phồn vinh và hữu nghị Đây là một quan điểm tiến bộ, khắc phục được những hạn chế của các quan niệm trước kia

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc không phải một khái niệm chung mà nó chứa đựng những nội dung cụ thể, cốt tử Trong tư tưởng của Người, độc lập dân tộc phải gắn liền với thống nhất chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; độc lập dân tộc là quốc gia đó phải có quyền tự quyết trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, toàn vẹn lãnh thổ mà trước hết và quan trọng nhất là quyền

quyết định về chính trị: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”[41, tr.146]; độc lập dân tộc bao

Trang 35

giờ cũng gắn với tự do dân chủ, ấm no hạnh phúc của nhân dân: “Chúng ta đấu tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm được gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi được ăn no, mặc đủ ” [40,tr.258]

Theo Hiến chương Liên hợp quốc (1945) và Tuyên bố về những nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc (1970) đã xác định nội hàm của độc lập dân tộc bao gồm quyền toàn vẹn lãnh thổ, quyền bình đẳng, quyền dân tộc tự quyết, nghĩa vụ tôn trọng các quyền con người cơ bản, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tự nguyện tiến hành các cam kết quốc tế

Theo Thủ tướng Ấn Độ qua các thời kỳ: Dù lãnh đạo đất nước ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, nhưng nhìn chung, họ đều cho rằng Ấn Độ chưa thực sự độc lập nếu người dân còn nghèo khổ, bất bình đẳng Ngay từ khi Ấn Độ chưa giành được độc lập, Mahatma Gandhi đã từng mơ ước về một Ấn Độ độc lập mà ở

đó “người nghèo nhất trong số những người nghèo cảm thấy quốc gia - dân tộc này

là thuộc về họ và họ có một vai trò trọng yếu trong việc xây dựng đất nước; một Ấn

Độ độc lập mà ở đó không có sự phân biệt đẳng cấp, sắc tộc, mọi cộng đồng người sống trong sự hài hòa và là bằng hữu; một Ấn Độ độc lập mà người phụ nữ và nam giới đều có quyền bình đẳng [142] Còn theo Jawaharlal Nehru, độc lập dân tộc là

người dân phải có chủ quyền; độc lập dân tộc phải kết thúc được nghèo đói, ngu dốt, bệnh tật và bất bình đẳng Trong bài phát biểu nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Độc lập (15/8/1947 - 15/8/1998), Thủ tướng Shri Atal Bihari Vajpayee nhấn

mạnh:“Độc lập dân tộc là sự hòa hợp giữa các dân tộc trong một quốc gia dân tộc

và hội nhập quốc tế, độc lập dân tộc phải gắn với dân chủ và chủ nghĩa thế tục”

[102, tr.2] Đồng thời, Thủ tướng Shri Atal Bihari Vajpayee cũng trích dẫn quan điểm của nhà chính trị gia nổi tiếng của Ấn Độ - Bharat Ratna Baba Sahed Ambedkar, nguyên Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên thuộc Chính phủ của Thủ tướng

J.Neru: “Độc lập về chủ quyền và chính trị thì chưa được gọi là hoàn toàn độc lập nếu không có độc lập về kinh tế và xã hội” [102, tr.3] Thủ tướng Manmohan Singh

Trang 36

và tất cả các quốc gia trên toàn thế giới; một Ấn Độ có được một vị trí đích thực trong lòng các bạn bè quốc tế [105, tr3]

“Củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc” trong bối cảnh hiện nay là tổng thể hoạt

động của các chủ thể nhằm làm cho nền độc lập dân tộc trở nên bền vững, chắc chắn hơn; là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn các hoạt động xâm phạm, phá hoại để giữ gìn, bảo vệ độc lập dân tộc; là một nhiệm vụ cơ bản thường xuyên của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện hội nhập quốc tế [44, tr 233] Trong bài phát biểu nhân dịp kỷ niệm Ngày Độc lập (15/8/1947 - 15/8/2017), Thủ tướng

N.Modi nhấn mạnh về củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc: “An ninh quốc gia được chú trọng và ưu tiên hàng đầu, bao gồm chủ quyền trên biển, biên giới lãnh thổ, không phận và không gian mạng Ấn Độ có khả năng giữ gìn và đảm bảo an ninh quốc gia của mình và đủ mạnh để chống lại bất kỳ sự đe dọa xâm phạm đến chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của chúng ta” [101, tr.3] Cũng theo ông N.Modi, củng

cố và bảo vệ độc lập dân tộc là đất nước phải được tự do, dân tộc phải được giải phóng, người dân được thực hiện những điều hết sức cụ thể, hiện thực và bình dị:

Giải phóng dân tộc là khi đất nước được tự do: người thầy giáo được giảng bài trên lớp, người nông dân được làm việc trên cánh đồng, người công nhân được làm việc trong nhà máy, người dân được đoàn tụ trong bữa tối sau giờ làm việc trở về nhà Tất cả họ đều biết trong trái tim mình, bất kỳ điều gì họ đang làm đều xây dựng cho nền độc lập của đất nước [101,tr.5]

Theo các học giả Việt Nam, củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa ngoài việc phải giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, các quốc gia

Trang 37

phải coi trọng việc xác lập, bảo vệ và củng cố các giá trị truyền thống, bản sắc dân tộc; thực thi nhiều chính sách phát triển kinh tế - xã hội tích cực bắt nhịp với nền kinh

tế toàn cầu, khắc phục sự mất cân đối, cố gắng tạo lập sự hài hòa lãnh thổ, vùng miền, sắc tộc , hướng tới sự đồng thuận, gắn kết dân tộc; tăng cường hiệp thương chính trị giữa các lực lượng trong nước nhằm ổn định thể chế; linh hoạt trong xử lý các điểm nóng nhằm hóa giải các mâu thuẫn và nguy cơ bùng nổ từ bên trong Nền độc lập của các nước bị đe dọa bởi các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài, yếu tố truyền thống và yếu tố phi truyền thống [30,36,49] Vì vậy, để củng cố và bảo vệ độc lập, các nước đang phát triển nói chung và Ấn Độ nói riêng phải có cách tiếp cận linh hoạt, đúng đắn, tìm kiếm các giải pháp khả thi vừa mang tính tổng kết, toàn diện vừa mang tính cụ thể, đặc thù nhằm tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, hóa giải thành công các nguy cơ do tác động xấu từ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

Như vậy, “Độc lập dân tộc”,“củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc” là khát

vọng chính đáng của các dân tộc trên thế giới, bao gồm quyền làm chủ và phát triển đất nước, sự thống nhất lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, độc lập tự chủ trong quan

hệ với các dân tộc khác dựa trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi Độc lập dân tộc là một chân lý có ý nghĩa lý luận và thực ti n quan trọng, là giá trị tinh thần cao cả không chỉ đối với Ấn Độ mà còn là giá trị mang tính phổ quát đối với tất cả các dân tộc đã hoặc đang đấu tranh để giải phóng dân tộc và tìm con đường phát triển phù hợp cho đất nước mình Củng cố độc lập dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của Ấn Độ là một bộ phận cấu thành của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của Cộng hòa Ấn Độ trong tình hình mới Củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc còn là yêu cầu tất yếu của hội nhập, là yếu tố bảo đảm thành công của hội nhập quốc tế

Tóm lại, tác giả có thể đưa ra quan niệm về “độc lập dân tộc”, “củng cố và bảo

vệ độc lập dân tộc” với các nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, độc lập dân tộc của Ấn Độ cần được hiểu là sự độc lập về chủ quyền

quốc gia, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; độc lập về quyền tự chủ, tự quyết của Ấn

Độ trong việc hoạch định chính sách đối nội, đối ngoại mà không bị lệ thuộc hay bị chi phối bởi bất kỳ quốc gia nào

Thứ hai, để củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc, trước hết, Ấn Độ phải giữ vững

Trang 38

được môi trường hòa bình, ổn định chính trị, đoàn kết, thống nhất trong đa dạng; tập trung xây dựng một nền kinh tế phát triển, một nền quốc phòng đủ mạnh, giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội còn tồn tại ở đất nước đông dân thứ hai thế giới này như phân biệt đẳng cấp, phân hóa giàu nghèo, mù chữ, bệnh tật

Thứ ba, độc lập dân tộc có mối quan hệ biện chứng với củng cố sức mạnh tổng

hợp quốc gia và hội nhập quốc tế; chịu tác động từ cả yếu tố an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống Để củng cố và bảo vệ độc lập trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Ấn Độ cần có những chính sách đối ngoại linh hoạt mềm dẻo nhằm cân bằng quan hệ giữa các nước lớn, hài hòa với các nước láng giềng khu vực, phát huy vai trò của Ấn Độ trong giải quyết các vấn đề quốc tế trong đó đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên hàng đầu

2.2 NHÂN TỐ QUỐC TẾ

2.2.1 Tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh

Sau Chiến tranh lạnh, Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ làm cho cục diện thế giới thay đổi Thế giới bước vào thời kỳ quá độ, hình thành một trật tự thế giới mới

So sánh lực lượng trên phạm vi toàn cầu từ chỗ cân bằng giữa hai hệ thống chính trị -

xã hội đối lập chuyển sang thế có lợi cho Mỹ và các nước tư bản Quá trình hình thành trật tự thế giới mới chứa đựng nhiều yếu tố bất trắc, khó đoán định, trong đó nổi lên hai khuynh hướng đối nghịch: Mỹ chủ trương thiết lập một thế giới đơn cực, trong khi các trung tâm quyền lực khác như Nga, Trung Quốc, EU, Nhật Bản lại đấu tranh cho một trật tự thế giới đa cực mà ở đó vị trí bá quyền của Mỹ được kiềm chế, quyền lãnh đạo thế giới được chia sẻ cho các nước lớn Mỹ trở thành siêu cường duy nhất còn lại và chiếm ưu thế vượt trội về khoa học, kỹ thuật, kinh tế, chính trị, quân sự và giữ vai trò chủ đạo trong thiết chế kinh tế, tài chính, thương mại chủ chốt toàn cầu

Trong bối cảnh đó, Ấn Độ là một trong các nước thế giới thứ ba lo ngại về ý

đồ của Mỹ thiết lập trật tự thế giới đơn cực do Mỹ đứng đầu và chi phối nhằm áp đặt chính sách lên các quốc gia khác Mỹ không chỉ tuyên bố thiết lập trật tự thế giới mới đơn cực do Mỹ làm bá chủ mà còn ráo riết hành động để đạt mục đích

“Sen đầm quốc tế” bằng việc thi hành một chính sách đơn phương, vị kỷ trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế, bất chấp sự phản đối của nhiều nước lớn và cộng

Trang 39

đồng quốc tế như cuộc chiến tranh Vùng Vịnh (1991), Nam Tư (1999) Sau sự kiện 11/9/2001, chính sách của Mỹ được điều chỉnh theo hướng chú ý hơn đến hành động hợp tác đa phương nhằm giành sự ủng hộ quốc tế để phát động cuộc chiến tranh nhân danh chống khủng bố ở Afganistan Tuy nhiên, sự sa lầy trong cuộc chiến ở Iraq và Afganistan, những sai lầm trong chính sách đối nội lẫn đối ngoại của Mỹ và khủng hoảng tài chính năm 2008 đã đưa nước Mỹ từ một siêu cường quốc duy nhất tới chỗ đánh mất vị thế gần như độc tôn Do những khó khăn và hạn chế không nhỏ khiến Mỹ khó có thể thực hiện được tham vọng thiết lập một thế giới đơn cực, trong đó đáng chú ý là mâu thuẫn giữa âm mưu và hành động của Mỹ với lợi ích của các nước lớn, với lợi ích của hòa bình, độc lập và phát triển của các quốc gia, dân tộc trên thế giới

Trong khi vị thế đơn cực của Mỹ suy giảm, trên thế giới đang nổi lên các quốc gia mới là những ứng cử viên sáng giá trong trật tự thế giới đa cực Sự trỗi dậy của Trung Quốc như một trung tâm kinh tế chính trị của Châu Á với chiến lược vươn ra Biển Đông, Nhật Bản muốn nhanh chóng cường quốc hóa quân sự để có tiếng nói trọng lượng hơn trên trường quốc tế, nhất là các vấn đề an ninh ở Đông Á Ngoài ra, sự phát triển của EU, sự trở lại của Nga, sự nổi lên của Ấn Độ, Braxin, Nam Phi… đã làm nền kinh tế và chính trị thế giới chuyển biến theo hướng đa cực hóa, bắt đầu hình thành một trật tự thế giới mới, được biểu hiện rất rõ ở vai trò ngày càng quan trọng của G20 trong giải quyết các vấn đề toàn cầu, dần thay thế G7 Có thể nói cấu trúc chiến lược quốc tế đã phát triển từ “nhất siêu đa cường” sang “đa cực hóa” vừa có nhân tố trỗi dậy của EU, Nga, Trung Quốc và Ấn Độ, vừa có sự gia tăng chủ nghĩa đơn cực và bá quyền của Mỹ Trật tự này sẽ chi phối lại các định hướng quan hệ quốc tế Theo các nhà quan sát, cuộc cạnh tranh ảnh hưởng giữa các cường quốc phản ánh thực tế rằng một thế giới đa cực là một xu thế vận động tất yếu khách quan Sự vận động này sẽ tiếp tục được duy trì và phát triển đa dạng, nhiều tầng nấc hơn trong thời gian tới

Mặc dù là một nước Không liên kết nhưng Ấn Độ lại có nhiều quan điểm gần gũi với Liên Xô như: chống chủ nghĩa đế quốc, ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc bảo vệ hòa bình trên thế giới Đặc biệt, sau cuộc chiến tranh Trung -

Trang 40

Ấn năm 1962, quan hệ Ấn - Xô ngày càng trở nên mật thiết với bằng chứng là Hiệp ước hòa bình hữu nghị và hợp tác mà hai bên đã ký vào năm 1971 Sau khi Liên Xô tan rã, Ấn Độ mất đi một chỗ dựa vững chắc về mọi mặt đã tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình củng cố và bảo vệ độc lập dân tộc của Cộng hòa non trẻ này

Sau Chiến tranh lạnh, thế giới phát triển theo một số xu thế mới, có tác động sâu rộng đến tất cả các quốc gia dân tộc Đó là:

Thứ nhất, xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa và xu thế lấy kinh tế làm trọng điểm trong các mối quan hệ quốc tế Toàn cầu hóa đang di n ra mạnh mẽ trên tất cả

các lĩnh vực của đời sống xã hội hiện đại, từ kinh tế, văn hóa cho đến lĩnh vực chính trị Nó là kết quả của sự phát triển mang tính chất đột biến của khoa học và công nghệ cao, trước hết là công nghệ thông tin, đồng thời nó cũng là sản ph m của kinh tế thị trường hiện đại Quá trình này ngày càng lôi cuốn nhiều nước tham gia với hình thức hợp tác, liên kết ngày càng đa dạng và phong phú Tuy nhiên, toàn cầu hóa vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa hợp tác, vừa đấu tranh và đây là một quá trình đầy mâu thuẫn Mặc dù có những hạn chế, nhưng toàn cầu hóa là một xu thế phù hợp với quy luật phát triển và đáp ứng những nhu cầu tiến bộ của xã hội loài người

Cùng với xu thế toàn cầu hóa, xu thế khu vực hóa cũng phát triển mạnh mẽ thời kỳ sau Chiến tranh lạnh Nó được coi là xu thế ứng phó với những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa vì vậy thu hút được sự tham gia của nhiều quốc gia dân tộc Ở hầu khắp các lục địa, khu vực đều hình thành các tổ chức với quy mô lớn nhỏ khác nhau như Liên minh Châu Âu (EU) năm 1992, Thị trường tự do thương mại Bắc Mỹ (gồm Mỹ, Canada, Mehico) năm 1994, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) phát triển mạnh và trở thành Cộng đồng ASEAN năm 2015, Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC), Di n đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức và hợp tác kinh tế (OECD), Khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) Các tổ chức này đang có chiều hướng mở rộng hơn và liên kết chặt chẽ với nhau hơn Do ảnh hưởng của xu thế khu vực hóa, Ấn Độ cùng các nước ven bờ

Ấn Độ Dương thành lập Hiệp hội hợp tác kinh tế vành đai Ấn Độ Dương (IOR-ARC)

và tổ chức hợp tác kinh tế ở vùng vịnh Bengan (BISMT-EC) năm 1996

Ngày đăng: 28/06/2018, 07:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w