Viện Đông Nam Á, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nay là Trường Đại họcKHXH & NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Vinh… Tạicác cơ sở đào tạo bộ môn Ấn Độ học trong toàn quố
Trang 2NGUYỄN ĐỨC TOÀN
Sù NGHIÖP CñNG Cè §éC LËP D¢N TéC
CñA CéNG HßA ÊN §é TRONG GIAI §O¹N 1950 - 1964
Chuyên ngành : Lịch sử Phong trào cộng sản,
công nhân quốc tế và giải phóng dân tộc
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Ngư ờ i hư ớ ng dẫ n khoa họ c: 1 PGS TS NGUYỄN HOÀNG GIÁP
2 PGS TS THÁI VĂN LONG
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Đức Toàn
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1.1 Các kết quả nghiên cứu đã công bố 61.2 Những vấn đề chưa được giải quyết nhìn từ phía Việt Nam 211.3 Những vấn đề luận án tập trung làm rõ 22
Chương 3: NỘI DUNG CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CỘNG
3.4 Trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh 993.5 Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội 110
Chương 4: NHẬN XÉT VỀ SỰ NGHIỆP CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
CỦA CỘNG HÒA ẤN ĐỘ TRONG GIAI ĐOẠN 1950 - 1964 VÀ KINH
4.2 Kinh nghiệm từ sự nghiệp củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa
Ấn Độ đối với các nước đang phát triển 143
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN
Trang 5TT Từ viết tắt Tên tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
1 AAPSO Afro-Asian People’s
Solodarity Organization
Tổ chức đoàn kết nhân dân Á - Phi
2 ASEAN Association of
Southeast Asia nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Khối Hiệp ước Trung Tâm
5 CPI Communist Party of India Đảng Cộng sản Ấn Độ
6 NATO North Atlantic Treaty
Organization
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
7 NEFA North East Frontier
Hội đồng hồi hương các quốc giatrung lập
10 Rs Rupees Đồng rupee (Đơn vị tiền tệ Ấn Độ)
11 SEATO The South East Asia
Treaty Organization
Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á
12 SEV Council of Mutual
Economic Assistance
Hội đồng Tương trợ Kinh tế
13 SRC States Reorganisation
Commission
Ủy ban Cải cách Hành chính Nhà nước
14 USD United States dollar Đồng đô-la (Đơn vị tiền tệ Hoa Kỳ)
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nhiều mối quan hệ quốc tế mới đan xen, phức tạp của xu thếquốc tế hóa, toàn cầu hóa hiện nay, để tồn tại và phát triển theo hướng độc lập tựchủ, đòi hỏi mỗi quốc gia phải tìm cho mình một hướng đi thích hợp Hướng đi đócần hợp với xu thế của thời đại, với những đặc thù của quốc gia dân tộc thì việc bảo
vệ và củng cố nền độc lập cho dân tộc sẽ được thực hiện một cách thuận lợi Vì vậy,việc nghiên cứu, tìm hiểu những con đường đấu tranh bảo vệ, củng cố độc lập vàphát triển quốc gia dân tộc của các nước trên thế giới có một ý nghĩa quan trọng cả
về lý luận lẫn thực tiễn
Nằm ở khu vực Nam Á, Ấn Độ không chỉ được biết đến như một trongnhững quốc gia rộng lớn và đông dân, mà thế kỷ XX, Ấn Độ từ một nước thuộc địa,vươn lên trở thành một cường quốc, đã và đang tham gia vào các vấn đề chung củakhu vực và quốc tế Thật vậy, trong lịch sử, Ấn Độ còn được biết đến như là mộttrong những cái nôi của nền văn minh nhân loại, một trong những thuộc địa vô cùng
quan trọng, là “xương sống” của đế quốc Anh, một “viên kim cương trên vương miện Nữ hoàng Anh”, một quá trình đấu tranh kiên trì và bền bỉ để được tự trị
(1947) và độc lập hoàn toàn (1950), một thành viên sáng lập “Phong trào không liênkết” Ấn Độ cũng là một quốc gia có vai trò quan trọng và những đóng góp tíchcực cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giữ gìn bảo vệ hòa bình trên thếgiới cũng như sự ổn định và phát triển của khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Sau khi giành được độc lập và bắt đầu bước vào kỷ nguyên mới xây dựng
nền Cộng hòa, nhiệm vụ lịch sử đặt ra cho dân tộc Ấn Độ hết sức to lớn: đó là lựa chọn con đường đi đến tương lai, tiến theo kịp sự phát triển của thế giới văn minh Đây không phải là một công việc đơn giản, bởi vì với phương châm “đi mà ở” của thực dân Anh, Ấn Độ phải giải quyết những hậu quả hết sức nặng nề: một nền kinh
tế khủng hoảng với những tàn dư dai dẳng mang tính chất thuộc địa; một chế độ chính trị xã hội phức tạp với những mâu thuẫn về dân tộc, những bất hòa về tín ngưỡng; sự bỏ dở vấn đề Kashmir trong quan hệ Ấn Độ - Pakistan Tuy nhiên, các
Trang 7vấn đề này được giải quyết một cách khá hiệu quả dưới thời Chính phủ Thủ tướng
J Nehru, từ năm 1950 đến năm 1964
Với những biện pháp nhằm ổn định tình hình và phát triển đất nước tronghơn một thập niên đầu nền Cộng hòa, chính phủ của Thủ tướng J Nehru từng bướcgiải quyết đồng bộ, có kế hoạch các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, sự mềm dẻo, tích cực
trong đường lối đối ngoại, sự kiên quyết đấu tranh trong việc thu hồi lãnh thổ… nền độc lập được củng cố, uy tín và vị thế của Ấn Độ được khẳng định trên trường quốc
tế Đây cũng là nền tảng để các chính phủ tiếp theo tiếp tục lãnh đạo đất nước đạt
nhiều thành tựu về sau Đúng như lời phát biểu ngày 15/8/1947 của Thủ tướng J.Nehru tại Nghị viện Ấn Độ:
Từ bao năm qua chúng ta đã ước hẹn với số phận, và nay là lúc chúng tathực hiện lời hứa, không phải một cách đầy đủ hay trọn vẹn mà là mộtcách cơ bản Ngay vào thời khắc lúc nửa đêm, khi cả thế giới đang chìmtrong giấc ngủ thì Ấn Độ sẽ thức giấc để được sống và hưởng tự do Thờikhắc lịch sử hiếm hoi đang đến, khi chúng ta bước ra khỏi quá khứ đểđến với tương lai, khi một thời đại sẽ kết thúc, khi hồn thiêng dân tộc,vốn bị áp bức bao lâu nay, sẽ bắt đầu cất tiếng [146]
Chính vì thế, việc nghiên cứu sự nghiệp củng cố nền độc lập dân tộc củaCộng hòa Ấn Độ trong giai đoạn 1950 - 1964, phân tích quá trình bền bỉ và giankhổ của nhân dân Ấn Độ, từng bước củng cố nền Cộng hòa, đánh giá được nhữngthành tựu, hạn chế, rút ra đặc điểm con đường xây dựng và bảo vệ đất nước theo
đường lối J Nehru có giá trị cao về lý luận lẫn thực tiễn.
Hơn nữa, Ấn Độ là một nước lớn ở châu Á, có mối quan hệ lâu đời và chặtchẽ với khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Mối quan hệ hữu nghị, hợptác giữa Việt Nam và Ấn Độ trong thời kỳ cận - hiện đại được các lãnh tụ của haidân tộc, Hồ Chí Minh và J Nehru, đặt nền móng và luôn được Đảng và Nhà nước
ta quan tâm, vun đắp Từ thực tế trên đặt ra yêu cầu cần tìm hiểu về lịch sử và vănhóa Ấn Độ để hiểu rõ, phát huy tình đoàn kết và quan hệ giữa hai nước trong giaiđoạn cách mạng mới
Trang 8Xuất phát từ tầm quan trọng của những vấn đề nêu trên, tác giả quyết định
chọn đề tài “Sự nghiệ p củ ng cố độ c lậ p dân tộ c củ a Cộ ng hòa Ấ n Độ trong giai đoạ n 1950 - 1964” để nghiên cứu viết luận án Tiến sĩ Lịch sử.
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mụ c đích
Mục đích của luận án là nghiên cứu có hệ thống về sự nghiệp củng cố độclập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ từ góc độ của nhà nghiên cứu Việt Nam trên cáclĩnh vực: kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninhtrong giai đoạn 1950 - 1964 Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với các nướcđang phát triển
- Phân tích việc thực thi các chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa, ngoại
giao, quốc phòng - an ninh trong việc bảo vệ và củng cố nền Cộng hòa Ấn Độ tronggiai đoạn 1950 - 1964 Qua đây làm rõ sự thành công và hạn chế từ sự nghiệp củng
cố độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ trong giai đoạn 1950 - 1964
- Bước đầu rút ra đặc điểm về sự nghiệp củng cố độc lập dân tộc của Cộnghòa Ấn Độ và một số kinh nghiệm đối với các nước đang phát triển
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 9- Về không gian, luận án nghiên cứu quốc gia Ấn Độ kể từ khi thiết lập nền
Cộng hòa
- Về thời gian, luận án nghiên cứu sự nghiệp củng cố độc lập dân tộc của
Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1950 đến năm 1964 Tuy nhiên, để có một cái nhìn tổngthể trong tiến trình lịch sử, nhằm rút ra những đánh giá, kết luận xác đáng, tác giảcũng đề cập đến một số nội dung liên quan đến giai đoạn trước và sau thời giannêu trên
Mốc thời gian năm 1950, mà cụ thể là ngày 26/1/1950 là mốc thời gian Hiếnpháp Ấn Độ - văn bản có tính pháp lý cao nhất của quốc gia - có hiệu lực trên thực
tế, khẳng định nền Cộng hòa Ấn Độ sau hơn 2 thế kỷ dưới sự thống trị của thựcdân Anh Từ đây, Ấn Độ bước vào thời kỳ xây dựng, bảo vệ và củng cố nền Cộnghòa, gắn liền với sự lãnh đạo của Chính phủ Ấn Độ, đứng đầu là Thủ tướngJawaharlal Nehru Mốc năm 1964 là dấu mốc kết thúc thời kỳ lãnh đạo của Thủtướng Jawaharlal Nehru (J Nehru qua đời ngày 27/5/1964) mà lịch sử vẫn thường
gọi “kỷ nguyên Nehru” Ấn Độ tiếp tục công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
trên cơ sở những nền tảng ban đầu đã được Chính phủ J Nehru tạo dựng thời kỳ(1950 - 1964)
- Về nội dung: luận án nghiên cứu toàn diện những biện pháp củng cố độc
lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, ngoại giao, vănhóa - xã hội, quốc phòng - an ninh…
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở phư ơ ng pháp luậ n
Luận án quán triệt những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về một số vấn đềnhư: vấn đề dân tộc và quyền tự quyết dân tộc, đảng cầm quyền trong hệ thốngchính trị; độc lập dân tộc và đấu tranh củng cố độc lập dân tộc trong bối cảnh hiệnnay… Những quan điểm này được xem là kim chỉ nam trong quá trình xử lý, hệthống tư liệu và thực hiện luận án
4.2 Phư ơ ng pháp nghiên cứ u
Luận án vận dụng linh hoạt phương pháp nghiên cứu chuyên ngành: sưutầm, chọn lọc, phân loại, tổng hợp, so sánh, đối chiếu… để xử lý tư liệu trước khi
Trang 10tạo dựng bức tranh toàn diện về sự nghiệp củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa
Ấn Độ từ năm 1950 đến năm 1964 Đồng thời, luận án sử dụng phương pháp phântích để đánh giá các biện pháp cũng như kết quả đạt được của nền Cộng hòa Ấn Độtrong giai đoạn 1950 - 1964 Quan trọng hơn, phương pháp logic, phương pháp lịch
sử và quan điểm của Đảng ta nhất là các vấn đề về quốc tế, đường lối đối ngoạiđược tác giả chú trọng để giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
5.1 Luận án được trình bày một cách có hệ thống trên cơ sở khai thác và xử
lý các tài liệu thu thập được về sự nghiệp củng cố nền độc lập của Cộng hòa Ấn Độtrong giai đoạn 1950 - 1964, từ củng cố nền chính trị - hành chính quốc gia đến chủquyền lãnh thổ, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng - an ninh thời kỳChiến tranh lạnh
5.2 Luận án khái quát các chính sách mà Chính phủ Ấn Độ đề ra và thực
hiện trong giai đoạn 1950 - 1964 nhằm củng cố nền độc lập, chỉ ra những thànhcông, hạn chế của quá trình này, từ đó rút ra những kinh nghiệm đối với cácnước đang phát triển Do đó, nội dung luận án sẽ góp phần hiểu rõ hơn vai tròcủa “kiến trúc sư” Thủ tướng J Nehru trong công cuộc đấu tranh vì một nước
Ấn Độ phát triển
5.3 Thông qua việc thực hiện luận án, giai đoạn 1950 - 1964 trong lịch sử
Ấn Độ được làm sáng tỏ hơn Do vậy, luận án có thể dùng để tham khảo trongnghiên cứu và giảng dạy các vấn đề khác nhau về lịch sử bảo vệ, củng cố độc lậpdân tộc của Cộng hòa Ấn Độ, nhất là về sự lựa chọn thể chế chính trị, mô hình kinh
tế - xã hội, chính sách quốc phòng - an ninh, về chủ trương thống nhất đoàn kếtquốc gia - dân tộc cũng như về lịch sử đấu tranh vì nền độc lập dân tộc và pháttriển đất nước của các nước đang phát triển
6 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nộidung chính của luận án được trình bày trong 4 chương, 12 tiết
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Với bề dày lịch sử, đất nước Ấn Độ thật sự đã thu hút sự chú ý, quan tâm củanhiều học giả trên thế giới nghiên cứu về những giá trị truyền thống, lịch sử pháttriển và cả những biến động xã hội đang diễn ra Đối với Việt Nam, công tác nghiên
cứu về lịch sử, văn hóa Ấn Độ đã đạt được những kết quả cụ thể Ngoài cuốn “Ấn
Độ cách mạng” của tác giả Minh Tranh do Tổng bộ Việt Minh xuất bản năm 1946, đến nay đáng chú ý nhất là cuốn chuyên sử “Lịch sử Ấn Độ” do GS Vũ Dương
Ninh chủ biên, xuất bản 1996 Qua tìm hiểu cho thấy, ở Việt Nam đã xuất hiện một
số tác giả chuyên tìm hiểu về lịch sử Ấn Độ cận - hiện đại như: Vũ Dương Ninh,Nguyễn Văn Hồng, Nguyễn Quốc Hùng, Phan Văn Ban, Nguyễn Thừa Hỷ, ĐinhTrung Kiên, Nguyễn Công Khanh, Trần Thị Lý, Văn Ngọc Thành… Tuy nhiên vấn
đề được các tác giả quan tâm nhiều nhất là quan hệ Việt Nam - Ấn Độ, còn lịch sử
Ấn Độ giai đoạn 1950 - 1964 vẫn chưa được nghiên cứu chuyên sâu Do vậy, nguồnkiến thức về giai đoạn này của lịch sử Ấn Độ và việc tiếp cận rất khó khăn, nhưng
đó cũng là cơ sở để tác giả định hướng cho việc tìm hiểu tư liệu tiếng Anh của cáchọc giả nước ngoài
1.1 CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ
1.1.1 Tiếp cận dưới góc độ nghiên cứu về lịch sử của Ấn Độ
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứ u củ a các họ c giả nư ớ c ngoài
Trên phương diện lịch sử phát triển và cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộccủa Ấn Độ, hầu hết các học giả nước ngoài và kể cả những nhà viết sử ở Ấn Độ đềutập trung nghiên cứu theo hướng các giai đoạn trong tiến trình lịch sử ở mức độkhái quát Chính vì vậy, số lượng các công trình nghiên cứu về nội dung này tương
đối phong phú Cụ thể: một số công trình tiêu biểu như: India since partition [113],
của tác giả Andrew Mellor Cuốn sách gồm 8 chương phản ánh tương đối rõ néttình hình Ấn Độ giai đoạn 1947 - 1950 trên một số phương diện như: quá trình đàmphán dẫn tới Kế hoạch Mountbatten, sự chia cắt, tình hình xã hội, mâu thuẫn Ấn -
Hồi và vấn đề Kashmir… Nhà nghiên cứu Romesh Thapar với cuốn India in
Trang 12transition [134] Đây là công trình nghiên cứu có giá trị về lịch sử Ấn Độ giai đoạn
sau năm 1947 Cuốn sách chỉ rõ những biến động sâu sắc trong bối cảnh Trật tự haicực của thế giới tác động đến tình hình Ấn Độ, đồng thời cũng nghiên cứu sự ứngphó của chính quyền Thủ tướng J Nehru đối với các vấn đề quốc tế sau năm 1947
Học giả T F Devakina với cuốn Đảng Quốc đại Ấn Độ 1947 - 1964, (tiếng Nga)
[82] Công trình là kết quả nghiên cứu có hệ thống của học giả Liên Xô về ĐảngQuốc đại Ấn Độ từ năm 1947 đến năm 1964 Nội dung công trình gồm 7 chương:Đảng Quốc đại nắm chính quyền và hoạt động của đảng trong những năm đầu Ấn
Độ độc lập; những nguyên tắc tổ chức và cấu trúc của Đảng Quốc đại, Đảng Quốcđại và quần chúng; quan hệ tương hỗ của tổ chức trung ương và địa phương củađảng; Đại hội Đảng Quốc đại ở Avadi và cương lĩnh xây dựng xã hội theo kiểu mẫu
xã hội chủ nghĩa, các cuộc Tổng tuyển cử và lập trường của Đảng Quốc đại; ĐảngQuốc đại sau cuộc Tổng tuyển cử lần 3 Thông qua đó, lịch sử Đảng Quốc đại vớinhững hoạt động phong phú trong giai đoạn này được làm rõ trên nhiều phươngdiện khác nhau Đồng thời, tác giả cũng lý giải những nguyên nhân dẫn đến sự suyyếu, mất dần ảnh hưởng của đảng trong quần chúng nhân dân Ấn Độ trước cácđảng đối lập Nhóm các tác giả người Nga: K Antonova, G Bougard - Levin, G
Kotovsky với cuốn A history of India, Book 2 [76] Cuốn sách lần lượt trình bày
khái lược về lịch sử của Ấn Độ từ năm 1885 đến 1985, trong đó cũng có đề cập đếngiai đoạn nền Cộng hòa của Ấn Độ từ 1950 đến 1964 trên một số phương diện khácnhau như: cải cách ruộng đất, sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản nhànước, các cuộc Tổng tuyển cử 1951 - 1952, 1957 và 1962, các đảng đối lập ở Ấn
Độ, những nét đặc trưng của quá trình công nghiệp hóa…
Ngoài ra còn phải kể đến một số công trình khác như: tác giả Arthur Lall với
cuốn The Emergence of Modern India [109] Công trình nghiên cứu về lịch sử Ấn
Độ từ khi giành độc lập cho đến đầu những năm 1980, đặc biệt nhấn mạnh tớinhững thành tựu Ấn Độ đạt được dưới thời Thủ tướng J Nehru và Indira Gandhi,nguyên nhân dẫn đến thất bại của Đảng Quốc đại trong cuộc bầu cử năm 1977 Bêncạnh đó, tác giả còn chú ý nhiều đến ảnh hưởng của Liên Xô, Mỹ, Trung Quốc lênchính sách đối nội và đối ngoại của Ấn Độ Tác giả Judith M Brown với công trình
Trang 13Modern India [79] Tác giả đã nghiên cứu sâu về quá trình hình thành nhà nước Ấn
Độ, một nhà nước dân chủ lớn nhất thế giới thông qua sự tác động giữa một xã hội
ổn định với truyền thống văn hóa phong phú và các lực lượng hình thành từ nền vănminh phương Tây xâm nhập vào Ấn Độ Qua đó, tác giả cũng làm rõ tư tưởng,niềm tin của dân chúng vào các thể chế nhà nước và chính trị tạo ra nền dân chủ ở
Ấn Độ Tác giả Stanley Wolpert với cuốn A new history of India [141] Cuốn sách
đã phác họa khái quát cho độc giả những kiến thức cơ bản về lịch sử Ấn Độ từ 2500TCN qua các thời kỳ cho tới những năm 70 của thế kỷ XX Nguồn gốc, nội dung vàgiá trị nền văn minh Ấn Độ Tôn giáo và các cuộc đụng độ tôn giáo, vấn đề sắc tộc,
về sự phát triển hiện đại của Ấn Độ sau khi giành được độc lập với thời đại J.Nehru Tác giả cũng đề cập đến Ấn Độ từ năm 1950 đến năm 1964 nhưng chỉ ởmức độ khái quát…
Đặc biệt, sử gia người Ấn Độ Bipan Chandra có công trình India after independence (1947 - 2000) [81] Công trình thể hiện sự nghiên cứu công phu của
tác giả về lịch sử Ấn Độ từ khi giành độc lập đến năm 2000 Qua thời kỳ cầm quyềncủa các Thủ tướng Đảng Quốc đại Ấn Độ như: J Nehru, L B Shastri, IndiraGandhi, Rajiv Gandhi… những nét khái quát về lịch sử Ấn Độ từ năm 1947 đếnnăm 2000 được thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau Ví như: những năm đầusau khi giành độc lập, di sản để lại của chủ nghĩa thực dân, những khó khăn trongquá trình soạn thảo Hiến pháp Ấn Độ năm 1950, phong trào dân tộc, các đảngphái chính trị, tình hình kinh tế, xã hội Đây là cơ sở quan trọng giúp tác giả cóthêm tư liệu phục vụ đề tài Hai tác giả Hermann Kulke và Dietmar Rothermund
có cuốn A history of India [107] Với 8 chương và 488 trang, cuốn sách giới thiệu
khái lược về lịch sử Ấn Độ bắt đầu từ nền văn minh tiền sử đến quá trình xâmchiếm và cai trị của chủ nghĩa thực dân; quá trình đấu tranh giành độc lập củanhân dân Ấn Độ cũng như những vấn đề về kinh tế, chính trị trong thời kỳ đầu củanền Cộng hòa
1.1.1.2 Các công trình khoa họ c củ a các nhà nghiên cứ u trong nư ớ c
Nghiên cứu về Ấn Độ ở Việt Nam được tập trung vào nửa cuối của thế kỷ
XX, chủ yếu là tại các trường, trung tâm nghiên cứu, Viện nghiên cứu lớn như:
Trang 14Viện Đông Nam Á, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại họcKHXH & NV, Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Sư phạm Vinh… Tạicác cơ sở đào tạo bộ môn Ấn Độ học trong toàn quốc những năm gần đây cũng tồntại một thực tế: số lượng các luận án, luận văn về Ấn Độ tuy có tăng lên, nhưng chỉtập trung chủ yếu vào các vấn đề kinh tế - xã hội, văn hóa, văn học, tôn giáo, kiếntrúc, mà ít thấy những công trình mang tính lịch sử, đặc biệt là dưới góc độ củng cốđộc lập dân tộc của Ấn Độ Để tham khảo nguồn tư liệu bằng tiếng Việt liên quanđến luận án do các nhà nghiên cứu Việt Nam viết, tác giả đã khảo cứu ở một số
công trình tiêu biểu như: Cuốn Ấn Độ, một cường quốc thế giới [10] của tác giả
Nguyễn Viết Chung đi vào giới thiệu về đất nước, con người, chế độ chính trị, sựphát triển kinh tế, đời sống văn hóa của nhân dân Ấn Độ từ trước khi độc lập đếnnăm 1956 Bên cạnh đó, tác giả còn tiếp cận nguồn tư liệu của học giả nước ngoài(chủ yếu là tiếng Nga, tiếng Anh) được dịch sang tiếng Việt như: tác giả R P Dutt
với cuốn Ấn Độ hôm nay và ngày mai [16] Đây là công trình nghiên cứu quý báu
về lịch sử Ấn Độ thuộc Anh của tác giả từng là phó chủ tịch Đảng Cộng sản Anh ởkhía cạnh quá trình xâm nhập của thực dân phương Tây vào Ấn Độ, nền thống trịcủa thực dân Anh và chủ nghĩa đế quốc hiện đại cũng như sự phát triển của Ấn Độtrên một số lĩnh vực sau khi độc lập đến năm 1956 Công trình là cơ sở quan trọng
để chúng tôi định hướng trong nghiên cứu luận án Cuốn Lịch sử hiện đại, tập II từ
1939 đến 1959 [2], của Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Cuốn
sách bao gồm 28 chương trình bày tóm tắt lịch sử các nước trong hệ thống xã hộichủ nghĩa thế giới, lịch sử các nước tư bản lớn nhất và hàng loạt nước đã giànhđược độc lập và tự do Trong đó ở chương thứ XVI, tác giả trình bày khái lược vềcuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân Ấn Độ và sự thành lập nướcCộng hòa Ấn Độ
Ngoài ra, viết về Ấn Độ với những nét khái quát chung nhất được xem lànhững cuốn “sổ tay” tuyên truyền phổ biến thời kỳ trước năm 1991 còn phải kể đến
như: Cuốn Ấn Độ qua các thời đại [30] của tác giả Nguyễn Thừa Hỷ, giới thiệu
những nét cơ bản về lịch sử, nền văn hóa, phong tục tập quán, phong trào đấu tranh,những vị anh hùng… của đất nước Ấn Độ qua các thời kỳ lịch sử cổ trung đại, cận
Trang 15hiện đại Riêng giai đoạn 1950 - 1964 trong lịch sử Ấn Độ, công trình đề cấp tương
đối khái quát Hay như cuốn tự truyện Chân lý của tôi [20] của Indira Gandhi Cuốn
sách đi vào trình bày một số nét khái quát về cuộc đời và quá trình hoạt động của I.Gandhi - con gái của Thủ tướng J Nehru từ năm 1917 đến năm 1977 Phần lớn các
sự kiện được nhắc tới là những hoạt động chính trị đối nội, đối ngoại của bà cho nềnđộc lập đất nước và tự do hạnh phúc của nhân dân Ấn Độ, trong đó giai đoạn 1950 -
1964 cũng được đề cập tới
Cuốn Ấn Độ hôm qua và hôm nay [38] của tác giả Đinh Trung Kiên (1995)
là một công trình giới thiệu những nét khái quát về đất nước, con người Ấn Độ: vềlịch sử, những giá trị văn hóa truyền thống, quá trình xây dựng nước Cộng hòa Ấn
Độ, chính sách đối ngoại của Ấn Độ và quan hệ giữa Ấn Độ với Việt Nam
Đặc biệt, cuốn Lịch sử Ấn Độ [55], do tác giả Vũ Dương Ninh (1996) chủ
biên Đây được coi là công trình chuyên khảo có giá trị và toàn diện nhất về lịch sử
Ấn Độ cho đến nay tại Việt Nam Với 5 chương và 200 trang, công trình lần lượt đềcập khái quát về đất nước con người và nền văn hóa truyền thống Ấn Độ (chương1), những nét chính về lịch sử của Ấn Độ qua từ thời cổ trung đại, chặng đường dài
từ một thuộc địa trở thành quốc gia độc lập từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XX, vàthời kỳ xây dựng đất nước phồn vinh (chương 2, 3, 4), quan hệ Việt Nam - Ấn Độqua những thời kỳ lịch sử (chương 5) Riêng giai đoạn 1950 - 1964, các tác giả dành
10 trang để trình bày về nước Cộng hòa Ấn Độ qua 3 kế hoạch 5 năm (1951 1964) Công trình này là tư liệu và định hướng tốt để chúng tôi tiếp tục đi sâu làm
-rõ hơn khi thực hiện luận án
Viện nghiên cứu Đông Nam Á với cuốn Ấn Độ xưa và nay [60] Công trình
là kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Cao Xuân Phổ; Trần Thị Lý chủ biên, lầnlượt khái quát về đất nước, con người và truyền thống lịch sử Ấn Độ từ thời tiền
sử đến khi giành độc lập năm 1947, những thành tựu lớn về văn hóa, kinh tế từ saukhi giành độc lập đến những năm 90 của thế kỷ XX Bên cạnh đó, công trình cũngtrình bày khái lược về chính sách đối ngoại hòa bình, độc lập và không liên kếtcủa Ấn Độ cũng như mối quan hệ giữa hai dân tộc Ấn Độ - Việt Nam từ trong lịch
sử đến nay
Trang 16Xét trên phương diện lý luận về bản chất và nội dung của phong trào giảiphóng dân tộc nói chung và của châu Á nói riêng phải kể đến hai công trình do tác
giả Đỗ Thanh Bình chủ biên là cuốn Con đường cứu nước trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở một số nước châu Á (từ cuối thế kỷ XIX đến 1945) [5] Đây
được coi là một chuyên luận toàn diện nhất về chủ đề đấu tranh giành độc lập dântộc, bao quát những nét chung cả về lý luận lẫn thực tiễn của các phong trào ở châu
Á, châu Phi và khu vực Mỹ latinh Và cuốn Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc thế kỷ XX - một cách tiếp cận [4], đã đi sâu phân tích về điều kiện đặc thù của các
quốc gia Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia… có ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựachọn con đường giành độc lập dân tộc Qua đó, công trình gợi ý hướng tiếp cận mớikhi nghiên cứu về con đường phát triển đất nước của các quốc gia trên thế giới
Ngoài ra, tác giả Đào Việt Trung với cuốn Ấn Độ và quan hệ Việt Nam - Ấn
Độ [71] Cuốn sách giới thiệu toàn cảnh về lịch sử, đất nước, con người cùng với sự
phát triển của khoa học công nghệ, kinh tế, giáo dục, văn hóa, văn học và điện ảnhcủa Ấn Độ Ngoài ra, cuốn sách còn tập hợp các bài viết về quan hệ giữa Việt Nam
- Ấn Độ, thể hiện sâu sắc trên phương diện về lịch sử và văn hóa, quan hệ hữu nghịtruyền thống và hợp tác toàn diện giữa hai nước phát triển lên tầm đối tác chiến
lược Cuốn 5000 năm lịch sử và văn hóa Ấn Độ [7] của tác giả Anjana Mothar
Chandra Cuốn sách giới thiệu tất cả những giai đoạn lịch sử chính của đất nước từnhững ngày đầu mới hình thành nền văn minh lưu vực sông Ấn đến sự chia cắt đauthương của một tiểu lục địa Ấn Độ và những năm sau ngày giành độc lập Ngoài racuốn sách còn cung cấp những thông tin đáng tin cậy nhất về địa lý, tôn giáo, tínngưỡng, lễ hội, ca múa nhạc, phim ảnh, văn chương, nghệ thuật và thủ công của đấtnước giàu truyền thống này
1.1.2 Tiếp cận dưới góc độ về việc xây dựng, lựa chọn con đường phát triển kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa, quốc phòng - an ninh, xác lập đường lối đối ngoại đặc thù để củng cố độc lập dân tộc và phát triển đất nước Ấn Độ
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứ u củ a các họ c giả nư ớ c ngoài
Các học giả nước ngoài chủ yếu là người Mỹ, Anh, Nga và chính những họcgiả Ấn Độ rất quan tâm đến việc nghiên cứu về nền chính trị - xã hội của Ấn Độ từ
Trang 17thời thuộc địa cho tới sự phát triển đất nước trong thời kỳ Cộng hòa Tiêu biểu là
một số công trình như: tác giả Norman Dunbar Palmer với cuốn The Indian political system [127] Cuốn sách đi vào nghiên cứu về hệ thống và bản chất của
nền chính trị, nhà nước Ấn Độ, kỷ nguyên người Anh thống trị, phong trào giảiphóng dân tộc, chính quyền trung ương trong tiến trình bầu cử và quan hệ ngoạigiao Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh đến yếu tố truyền thống cũng góp phần chi phối
nền chính trị của đất nước Ấn Độ W H Morris Jones với cuốn The government and politics of India [98] Tác giả đi vào nghiên cứu về khung cảnh chính trị Ấn Độ
một cách sâu sắc và có hệ thống bao gồm những nội dung cơ bản như: sự kế thừatrong các hoạt động chính trị và xã hội của Ấn Độ ở giai đoạn trước khi giành độclập Với 236 trang, những sự kiện và vấn đề mới của chính phủ từ sau năm 1947,sức mạnh chính trị và sự sắp xếp cơ cấu cũng như khuynh hướng tư tưởng xuất hiệntrong nền Cộng hòa Ấn Độ cũng được tác giả trình bày khái lược Tác giả Marcus
F Franda với cuốn West Bengal and the federalizing process in India [86] Cuốn
sách giới thiệu tình hình chính trị Ấn Độ với việc cơ cấu lại các bang do nhu cầuphát triển của đất nước và của các bang, những nội dung trong chính sách cải cáchruộng đất Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích mối quan hệ giữa nhà nước trungương và sự phát triển của chính sách cải cách ruộng đất cho bang Tây Bengal, cũngnhư mối liên hệ giữa chính quyền trung ương và các đảng chính trị
Tác giả T V Kunhi Krishnan với cuốn Chavan and the troubled decade
[106] Cuốn sách nói về những kết quả nghiên cứu của Y B Chavan từng là Bộtrưởng Quốc phòng, Tài chính, Nội vụ về tình hình chính trị tại Ấn Độ trong thập
kỷ 60 với các sự kiện: chiến tranh với Trung Quốc và Pakistan, cái chết của hai thủtướng chính phủ, sự tranh giành quyền lực của thủ tướng, ba cuộc Tổng tuyển cử,
sự chia rẽ trong Đảng Quốc đại sau các bất đồng giữa Đảng Cộng sản và Xã hội,nảy sinh các thế lực của phe cực tả và cực hữu, sự rối loạn của các tín đồ đạo Hindu
và đạo Hồi cũng như những thử thách nghiêm trọng về kinh tế của Ấn Độ trong
những năm 60 của thế kỷ XX Tác giả Sunil Kumar Sen với cuốn Working class movements in India 1885 - 1975 [130] Cuốn sách trình bày lịch sử của phong trào
công nhân toàn Ấn Độ từ năm 1885 đến 1975, vai trò của tổ chức công đoàn và tổ
Trang 18chức Liên đoàn phụ nữ quốc gia Ấn Độ (NFIW) trong phong trào công nhân, nhấnmạnh tầm quan trọng của liên minh công - nông trong việc thúc đẩy những thay đổi
xã hội Trên cơ sở đó, tác giả phân tích tác động của phong trào công nhân đối với
sự thay đổi trong xã hội Ấn Độ và đi đến khẳng định: những cuộc đấu tranh của giaicấp công nhân là một phần trong nền chính trị Ấn Độ bất chấp những tiến bộ củaphong trào dân chủ
Mặt khác, với đường lối ngoại giao đặc thù, Ấn Độ đã gặt hái được nhiều
thành công trong các mối quan hệ quốc tế, vấn đề biên giới trong quan hệ giữa cácquốc gia láng giềng cũng là mảng đề tài được các học giả đi sâu nghiên cứu quamột khối lượng lớn các công trình Trên cơ sở tổng hợp nguồn tài liệu này, chúngtôi có thể lựa chọn những thông tin khoa học, phục vụ cho luận án Tiêu biểu là một
số công trình: cuốn The China - India border: the origins of the disputed boundaries [110], của tác giả Alastair Lamb Trên cơ sở trình bày lịch sử biên giới
Trung - Ấn (từ thời Ấn Độ thuộc Anh rồi từ năm 1947 khi Anh trao trả quyền độclập cho Ấn Độ, đến thỏa thuận biên giới giữa Trung Quốc - Pakistan), cuốn sáchxem xét nguyên nhân của các cuộc tranh chấp biên giới giữa Trung Quốc và Ấn Độ,không chỉ trong khu vực dãy Himalaya mà còn ở các vùng biên giới khác giữa
Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan Cuốn Indian Foreign Policy in Cambodia, Laos and Vietnam 1947 - 1964 [129] của tác giả D R SarDesai Với 9 chương và 336
trang, tác giả đi sâu nghiên cứu các vấn đề chính trong chính sách đối ngoại của Ấn
Độ đối với ba nước Đông Dương là: Campuchia, Lào và Việt Nam trong giai đoạn
1947 - 1964 Qua đây, công trình làm nổi bật lên vai trò của Ấn Độ với phong tràogiải phóng dân tộc ở Đông Dương, thái độ của Ấn Độ đối với phong trào chia cắtnước Việt Nam (1954 - 1958), mối quan hệ ngoại giao giữa Ấn Độ với Lào vàCampuchia, xung đột Trung - Ấn và quan hệ giữa Ấn Độ và Việt Nam, vai trò của
Ấn Độ trong cuộc khủng hoảng ở Lào (1959 - 1962) Cuối cùng, tác giả chỉ ranhững hậu quả của sự xâm lược mà Trung Quốc gây ra ở Ấn Độ… Tác giả Neville
Maxwell với cuốn India’s China War [111] Trên cơ sở phân tích chính sách của
Trung Quốc đối với đường biên giới McMahon (McMahon Line) cũng như đốisách của Ấn Độ về vấn đề biên giới, lãnh thổ, tác giả Neville Maxwell đã chỉ ra căn
Trang 19nguyên cơ bản dẫn tới xung đột của hai quốc gia trong những năm 50 và đỉnh điểm
là cuộc chiến tranh biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc năm 1962 Bên cạnh đó,tác giả phân tích hậu quả của cuộc chiến tranh giữa hai nước sau khi lệnh ngừngbắn được thực hiện
Tác giả Bhabani Sen Gupta với cuốn The fulcrum of Asia: relations among China, India, Pakistan and the USSR [92] Trên cơ sở tương quan lực lượng của cục
diện thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tác giả đi sâu phân tích đặc điểm mốiquan hệ giữa Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan và Liên Xô những năm 50 của thế kỷ
XX, cũng như sự tiếp cận của Liên Xô đối với châu Á Bằng các dẫn chứng khoa học
và thuyết phục, tác giả chỉ ra sự thách thức của nhân tố Trung Quốc trong những năm
60 đã dẫn tới sự đối kháng giữa 4 nước và hệ quả đặt ra trong quan hệ giữa các quốc
gia này Cuốn Jawaharlal Nerhu and India foreign’s policy [118], của tác giả I.
Nasenko Tác giả đã nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Ấn Độ dưới thời Thủtướng J Nehru, trong đó đề cập đến chính sách của Ấn Độ với Pakistan, với TrungQuốc, với khối Liên hiệp Anh, vấn đề Triều Tiên, Hội nghị Bandung…
Ngoài ra, việc lựa chọn con đường phát triển kinh tế và những thành tựu
trong quá trình phát triển , xây dựng, củng cố nền quốc phòng - an ninh được cáchọc giả dành nhiều thời gian quan tâm, nghiên cứu Tiêu biểu có các công trình:
Lorne J Kavic với cuốn India’s quest for security: defence policies 1947 - 1965 [101] Đây là công trình nghiên cứu toàn diện về chính sách quốc phòng và lực
lượng quân đội của Ấn Độ từ năm 1947 đến năm 1965 Với 11 chương, tác giả kháilược về nguồn gốc, nền tảng và mục đích của chính sách quốc phòng Ấn Độ từ năm
1947 đến năm 1961 Bên cạnh đó, tác giả đi sâu nghiên cứu các lực lượng quân đội:lục quân, hải quân, không quân, cũng như những xung đột dọc biên giới thuộc dãyHimalaya từ năm 1961 đến năm 1965 Từ kết quả nghiên cứu, tác giả giới thiệu cơ
sở để xây dựng một chương trình quốc phòng mới của Ấn Độ về sau này Tác giả
Wilfred Malenbaum với cuốn Modern India’s economy: two decades of planed growth [112] Công trình đề cập tới sự phát triển kinh tế Ấn Độ trong hai thập niên
kể từ khi giành độc lập năm 1947 Với 4 kế hoạch 5 năm được khái quát trong nộidung công trình, những thành tựu phát triển về nông nghiệp, công nghiệp, thươngmại cũng được tác giả tập trung làm rõ
Trang 20Đặc biệt tác giả Jag Mohan với Twenty five years of Indian independence
[116] Công trình là kết quả nghiên cứu về Ấn Độ sau 25 năm kể từ khi giành độclập 1947 trên nhiều phương diện khác nhau Nội dung công trình được chia làm 4phần: phần 1: Tình hình chính trị của Ấn Độ từ khi độc lập Qua đây, công trình đã
hệ thống những sự kiện lớn như: sự chuyển giao quyền lực, sự phát triển trongnhững năm 1951 - 1962, chiến tranh với Pakistan - 1965, sự bất ổn trong nhữngnăm 1966 - 1970, sự xuất hiện của Bangladesh…; phần 2: Kinh tế Ấn Độ từ khi độclập Công trình đã nghiên cứu về các kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế, cải cáchruộng đất, hướng tới một nền công nghiệp mở, những thách thức từ sự nghèo đói,thất nghiệp và sự chậm phát triển; phần 3: Tình hình văn hóa và xã hội Công trình
đề cập đến những nội dung như: chương trình phát triển giáo dục, giai cấp côngnhân Ấn Độ kể từ khi giành độc lập, khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật sau 25 nămđộc lập; phần 4: Biên niên các sự kiện lịch sử của Ấn Độ từ 1947 đến 1971
Với 198 trang, công trình India: problems of development [97], đi vào
nghiên cứu những vấn đề trong sự phát triển ở Ấn Độ như: sự hình thành tư bảncông nghiệp, sự phát triển của khoa học và công nghệ, chính sách hợp nhất kinh tế,cấu trúc đảng phái ở Ấn Độ Bên cạnh đó, cuốn sách còn đề cập đến quá trình hìnhthành một cấu trúc mới phù hợp với quyền lực chính trị của đất nước này Tác giả
Dharma Kumar với cuốn The Cambridge economic history of India, Vol 2: 1757
-1970 [108] Với 1.048 trang và được chia làm 3 phần: phần 1: gồm 6 chương (từ
chương 1 đến chương 6), phác họa lại bức tranh kinh tế của Ấn Độ vào giữa thế kỷXVIII, các xu hướng kinh tế nói chung trong 4 khu vực phía Tây, Bắc, Đông, vàNam của Ấn Độ, những thay đổi trong cơ cấu nông nghiệp trước độc lập; phần 2:gồm 6 chương (từ chương 7 đến chương 12), tác giả làm rõ một số lĩnh vực cơ bảncủa kinh tế Ấn Độ trước độc lập như: về công nghiệp, thủy lợi, thương mại, hệthống tài chính…; phần 3: gồm 2 chương, tác giả tiếp tục nghiên cứu sự phát triểnkinh tế của Ấn Độ và Pakistan từ khi độc lập đến đầu những năm 70 của thế kỷ XX
Tác giả B R Tomlinson với cuốn The economy of morden India 1860
-1970 [136] Đây là tài liệu giới thiệu tổng quát và phân tích cụ thể về quá trình thay
đổi kinh tế ở Ấn Độ từ năm 1860 đến 1970, bao gồm: quá trình phát triển nông
Trang 21nghiệp, công nghiệp hóa và lịch sử kinh doanh, thực hiện quy hoạch nhà nước saunăm 1947, sự xuất hiện của cuộc “Cách mạng xanh” Bằng những số liệu cụ thể,trong 5 chương, tác giả Tomlinson đã khôi phục lại bức tranh kinh tế Ấn Độ dướiách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, tiến trình lịch sử qua sự thay đổi trong nôngnghiệp, thương mại và sản xuất, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, nền kinh tế vànhà nước trước và sau năm 1947.
Ngoài ra, chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Ấn Độ còn được phản
ánh trong các kế hoạch 5 năm, cụ thể First Five Year Plan (1951 - 1956), Second Five Year Plan (1956 - 1961), Third Five Year Plan (1961 - 1965)… tại địa chỉ:
http://planningcommission.nic.in/plans/planrel/fiveyr/default.html [149] Đây làtrang website chính thống chứa đựng thông tin nội dung về các kế hoạch phát triểnkinh tế xã hội ngắn hạn 5 năm của Ấn Độ Qua mỗi kế hoạch 5 năm, nội dungwebsite lần lượt giới thiệu những thành tựu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáodục, y tế, dịch vụ xã hội… với những số liệu được đề cập cụ thể
Sự nghiệp củng cố, phát triển quốc gia, dân tộc của đất nước Ấn Độ, thời kỳThủ tướng J Nehru nắm quyền thật sự mang lại nhiều thành tựu rực rỡ cho buổiđầu của nền Cộng hòa Chính vì vậy, nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của J.Nehru thu hút sự quan tâm của nhiều học giả nước ngoài Trên cơ sở kế thừa nguồn
tư liệu này, chúng tôi rút ra đánh giá, nhận định khách quan vai trò của ông trong sựnghiệp củng cố độc lập dân tộc giai đoạn 1950 - 1964 Một số công trình tiêu biểu:
cuốn Jawaharlal Nehru: A political leader [99] là tập kỷ yếu tại Hội thảo kỷ niệm
85 năm ngày sinh và 10 năm ngày mất của Jawaharlal Nehru Đây là cuốn sách tập
hợp một số công trình nghiên cứu của các học giả xoay quanh “kiến trúc sư” vĩ đại
đất nước Ấn Độ J Nehru trên một số phương diện như: đường lối chính trị, tư
tưởng, chính sách ngoại giao… với một số bài viết tiêu biểu: Jawaharlal Nehru and the principle of secularism in India politics của tác giải Jan Marek; The role of tradition in Nehru’s thought của tác giả Ondrej Novák; Nehru as a political thinker
của tác giả Jan Filipsky…
Tác giả Sarvepalli Gopal với cuốn Jawaharlal Nehru: A biograph, vol 2:
1947 - 1956 [90] và cuốn Jawaharlal Nehru: A biograph, vol 3: 1956 - 1964 [91].
Trang 22Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống của tác giả S Gopla về cuộc
đời và sự nghiệp của J Nehru Trong vol 2, nội dung công trình thuật lại 9 năm đầu
làm Thủ tướng của J Nehru, phân tích những vấn đề về tình hình của Ấn Độ cũngnhư trên thế giới bao gồm: cuộc đấu tranh của Ấn Độ và Pakistan về vấn đềKashmir, cuộc bầu cử tự do đầu tiên ở Ấn Độ, khủng hoảng Triều Tiên và kênh đàoSuez… Từ đó, tác giả đưa ra những nhận định chủ quan của mình về vai trò của J
Nehru trên trường quốc tế từ năm 1947 đến năm 1956 Tiếp nối thành công của vol
2, Sarvepalli Gopal tập trung nghiên cứu hoạt động trong những năm cuối cùng của Thủ tướng Ấn Độ trong thời gian từ 1956 đến 1964 trong vol 3 Tác giả khẳng định:
tám năm cuối đời là những cố gắng không mệt mỏi để phát triển kinh tế và xã hội
Ấn Độ, xây dựng những nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối ngoại của J Nehrunhư: cải thiện quan hệ với Trung Quốc, Pakistan, các nước phương Đông lẫnphương Tây, cuộc vận động cho vấn đề Congo, những nỗ lực ngoại giao để thu hồilãnh thổ Goa… Có thể nói, dưới nhãn quan của tác giả, thành tựu vĩ đại nhất trongcuộc đời Thủ tướng J Nehru là đã xây dựng Ấn Độ thành một quốc gia hiện đại,khẳng định vai trò và vị thế quan trọng trên trường quốc tế
1.1.2.2 Các công trình nghiên cứ u trong nư ớ c
Nghiên cứu con đường củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ đượcnhận diện qua các công trình nghiên cứu chuyên sâu của các học giả trong nướctrên nhiều khía cạnh khác nhau như: kinh tế, chính trị - hành chính, ngoại giao, quốcphòng - an ninh Tiêu biểu là một số công trình sau: trước hết phải kể đến tập hợpcác công trình nghiên cứu chuyên sâu về Ấn Độ đầu tiên của các nhà khoa họctrong nước nhân kỷ niệm Quốc khánh Ấn Độ do tác giả Phan Văn Ban chủ biên,
Thông báo khoa học: đặc san kỷ niệm 43 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Ấn Độ [3] Một số công trình tiêu biểu liên quan tới hướng nghiên cứu của tác giả được đề cập như: Chủ tịch Hồ Chí Minh trong trái tim nhân dân Ấn Độ; Lịch sử Ấn Độ và những mối liên hệ Việt Nam - Ấn Độ trong lịch sử; Tư tưởng dân tộc của J Nehru trong tác phẩm “Phát hiện Ấn Độ”; Những trang sử quan hệ Việt Nam - Ấn Độ giai đoạn 1945 - 1954… từ đó gợi mở cho các nhà nghiên cứu hướng tiếp cận
chuyên sâu về Ấn Độ
Trang 23Tác giả Đỗ Đức Định với cuốn 50 năm kinh tế Ấn Độ [18] Công trình đã
tổng kết 50 năm phát triển kinh tế Ấn Độ từ trước cải cách đến quá trình cải cáchvào đầu những năm 90 của thế kỷ XX Trong đó, tác giả làm rõ một số vấn đề như:
mô hình công nghiệp hóa tự lực tự cường trước cải cách, công nghiệp hóa nôngnghiệp và phát triển nông thôn, xây dựng chính sách ngoại thương, đầu tư nướcngoài công nghiệp và du lịch… Qua đó, thành quả của quá trình cải cách và triểnvọng phát triển kinh tế Ấn Độ cũng được tác giả tiếp cận dưới nhiều góc độ khác
nhau Ngoài ra, tác giả Đỗ Đức Định còn chủ biên cuốn Giáo trình kinh tế Ấn Độ
[19] Cuốn sách trình bày tiến trình phát triển kinh tế Ấn Độ từ khi giành độc lậpđến nay, tập trung hai giai đoạn phát triển của nền kinh tế Ấn Độ: thời kỳ trước cảicách (1947 - 1990) và thời kỳ cải cách (1991 đến nay) Mặt khác, tác giả cũngnghiên cứu sự phát triển của các ngành kinh tế cơ bản, trên cơ sở đó phân tích quátrình chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phântích chính sách ưu tiên phát triển khoa học công nghệ của Ấn Độ; nghiên cứu những
nỗ lực mới của Ấn Độ nhằm xây dựng một cường quốc vào thế kỷ XXI và đề cậpđến mối quan hệ hợp tác giữa Ấn Độ và Việt Nam
Tác giả Trần Thị Lý với cuốn Sự điều chỉnh chính sách của Cộng hòa Ấn
Độ từ 1991 đến 2000 [45] Trong đó, tác giả đã trình bày một số nguyên nhân trực
tiếp dẫn đến sự điều chỉnh chính sách cải cách kinh tế và chính sách đối ngoại củaCộng hòa Ấn Độ cũng như những thành tựu mà quốc gia này đạt được sau 10 nămđiều chỉnh chính sách Ngoài ra, nội dung công trình cũng liệt kê một số sự kiệnliên quan tiêu biểu trong chính sách đối ngoại của Cộng hòa Ấn Độ ở giai đoạn
Trang 24Hai tác giả Phan Văn Rân, Nguyễn Hoàng Giáp với cuốn Chủ quyền quốc gia dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa và vấn đề đặt ra với Việt Nam [62] Nghiên
cứu về nội hàm của chủ quyền quốc gia dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa, sosánh quan niệm về chủ quyền quốc gia dân tộc trong thời kỳ Chiến tranh lạnh làmột trong những nội dung chính của công trình Theo đó, vấn đề này tác động tớiphương thức củng cố độc lập dân tộc của các quốc gia trong thời kỳ Chiến tranhlạnh và trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Vì vậy, công trình gợi mở mộthướng tiếp cận về cách thức bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc Ấn Độ trong thời
kỳ sau độc lập
Ngoài ra, nghiên cứu những khía cạnh cụ thể về bối cảnh lịch sử, chính sách
đối ngoại, những vấn đề phức tạp trong sự nghiệp củng cố độc lập của Ấn Độ cũngđược đề cập trong một số công trình tiêu biểu như: tác giả Võ Anh Tuấn với cuốn
Phong trào không liên kết [72] Cuốn sách nghiên cứu cụ thể về Phong trào không
liên kết trên các khía cạnh: quá trình hình thành và phát triển của phong trào, nhiệm
vụ đặt ra trong từng giai đoạn lịch sử và vị thế của phong trào trong đời sống chínhtrị thế giới, các hội nghị cấp cao của phong trào từ 1961 đến 1999 Trong đó, Ấn Độvới Phong trào không liên kết giai đoạn 1950 - 1964 cũng được tác giả đề cập đến ở
mức độ khái lược Hai tác giả Trần Văn Đào, Phan Doãn Nam với cuốn Giáo trình Lịch sử quan hệ quốc tế 1945 - 1990 [17] Cuốn sách hệ thống hóa các sự kiện quan
trọng trong tiến trình lịch sử quan hệ quốc tế của nhân loại từ sau Chiến tranh thếgiới thứ hai đến kết thúc Chiến tranh lạnh Nội dung cuốn sách cũng đề cập tớimột số sự kiện trong quan hệ quốc tế có tác động đến lịch sử Ấn Độ giai đoạn
1950 - 1964
Tác giả Trình Mưu, Vũ Quang Vinh (đồng chủ biên) với cuốn Quan hệ quốc
tế những năm đầu thế kỷ XXI - vấn đề, sự kiện và quan điểm [47] Công trình làm rõ
sự vận động của những mối quan hệ quốc tế trên thế giới từ sau Chiến tranh lạnhđến những năm đầu thế kỷ XXI như: chủ nghĩa khủng bố, khủng hoảng TrungĐông, Triều Tiên, Đài Loan… và chính sách đối ngoại của Việt Nam trong điều
kiện hội nhập quốc tế Trong đó, Vấn đề Kashmir trong quan hệ giữa Ấn Độ và Pakistan cũng được các tác giả đề cập ở khía cạnh khái lược.
Trang 25Đặc biệt, tác giả Nguyễn Công Khanh với công trình Jawaharlal Nehru, tiểu
sử và sự nghiệp [34] Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu về Thủ
tướng Ấn Độ J Nehru ở nước ta dựa trên cơ sở Đề tài Nghiên cứu khoa học do BộGiáo dục và Đào tạo (mã số B.96.42.04) quản lý, chủ trì là TS Nguyễn Công
Khanh Công trình khảo cứu về cuộc đời và sự nghiệp “kiến trúc sư” vĩ đại của đất
nước Ấn Độ trên nhiều phương diện: các chặng đường chính trong cuộc đời J.Nehru (1889 - 1964), vạch ra và thực hiện đường lối giải phóng dân tộc, chính sáchđối nội và đối ngoại Công trình là nguồn tư liệu tham khảo quý giá, định hướngcho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận án
Bên cạnh các công trình đã được xuất bản mà tác giả đề cập trong tài liệutham khảo, còn có khá nhiều các luận văn, luận án đã được bảo vệ liên quan đến đề
tài như: Luận án tiến sĩ lịch sử của Đinh Trung Kiên với “Quan hệ Việt Nam - Ấn
Độ (thời kỳ 1945 - 1975)” [37], Hoàng Thị Điệp với “Quá trình phát triển quan hệ Việt Nam - Ấn Độ từ năm 1986 đến năm 2004”, Trần Thị Thanh Vân với “Chính sách thực dân của Anh ở Ấn Độ từ thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XX” [74], Lê Thế Cường với “Quan hệ Ấn Độ - Liên Xô từ năm 1947 đến 1991” [12] Một số luận văn thạc sĩ như: tác giả Lê Thế Cường: Ấn Độ từ tự trị đến độc lập (1947 - 1950) [11]; Trần Thị Thuận với “Quan hệ chính trị - ngoại giao giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Ấn Độ từ năm 1949 đến năm 1991” [69]; Hà Thị Lịch, Vấn đề Casơmia trong quan hệ Ấn Độ - Pakistan từ 1947 đến nay … Tuy nhiên,
hiện nay chưa có một luận án nào chuyên sâu nghiên cứu sự nghiệp củng cố độc lậpdân tộc trong những năm đầu nền Cộng hòa ở Ấn Độ (1950 - 1964), gắn liền vớithời kỳ lãnh đạo, kỷ nguyên của Thủ tướng J Nehru
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu của các học giả trong cũng như
ngoài nước đề cập đến lịch sử Ấn Độ giai đoạn 1950 - 1964 từ nhiều góc độ vàquan điểm tiếp cận khác nhau, nhưng tất cả nhằm đi đến khái quát hoặc làm rõ từngvấn đề cụ thể trên các lĩnh vực của đất nước Ấn Độ Điểm qua các công trìnhnghiên cứu, về cơ bản, các nhà khoa học đã giải quyết những vấn đề sau:
- Lịch sử hình thành và phát triển của Ấn Độ qua các thời kỳ cụ thể; nhữngđặc trưng về văn hóa, ngôn ngữ, tộc người, tôn giáo, truyền thống, bản sắc dân tộc
Trang 26- Chính sách đối ngoại của Ấn Độ đối với các nước ở khu vực và các nướclớn trên thế giới (Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc).
- Những vấn đề trong sự phát triển về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốcphòng - an ninh để củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ
- Cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của “kiến trúc sư” đất nước Ấn Độ - Thủ
tướng Jawaharlal Nehru
Trên cơ sở nguồn tài liệu là thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học đitrước mà chúng tôi tiếp cận trên, tuy đa dạng và phong phú, đề cập đến hầu hết cácvấn đề về lịch sử phát triển của Ấn Độ ở những giai đoạn khác nhau, nhưng nhìnchung, tại Việt Nam vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, mang tính
hệ thống về sự nghiệp củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ trong thời kỳ từnăm 1950 đến năm 1964 với bối cảnh phức tạp thời kỳ Chiến tranh lạnh Hơn thếnữa, việc nghiên cứu, đánh giá về cách thức củng cố độc lập dân tộc Ấn Độ trongthời kỳ này vẫn ít được đề cập trong các công trình nêu trên
1.2 NH NG V N CH A C GI I QUY T NHÌN T PHÍA
VI T NAM
Một là, mặc dù việc nghiên cứu về Ấn Độ đã thu hút sự quan tâm của nhiều
nhà khoa học trong và ngoài nước với nhiều công trình được công bố, đề cập đếnquá trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, hoàn thiện nền chính trị - hành chínhquốc gia, củng cố quốc phòng - an ninh, nền ngoại giao đặc thù của Ấn Độ kể từkhi nước này bước vào thời kỳ xây dựng nền Cộng hòa Tuy nhiên, qua tìm hiểunhững nguồn tài liệu nêu trên, chúng tôi nhận thấy, các công trình này chủ yếu đượcphân tích đơn lẻ, chưa đặt chúng trong tổng thể chính sách phát triển quốc gia cũngnhư trong sự biến đổi bên trong và bên ngoài Ấn Độ
Hai là, một số công trình chỉ trình bày một cách khái quát về lịch sử phát
triển của đất nước Ấn Độ nói chung, quá trình ra đời và phát triển của Ấn Độ từnăm 1947 đến nay; hoặc chỉ đi sâu tìm hiểu, phân tích, đưa ra nhận định trên mộtvấn đề cụ thể như: về hoạt động của Đảng Quốc đại, chính sách đối ngoại của Ấn
Độ trong từng thời kỳ, về tình hình chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa,quốc phòng an ninh… Trong khi đó, còn một số vấn đề chưa được làm sáng tỏ như:
Trang 27những thành công và hạn chế, đánh giá về vai trò Thủ tướng J Nehru, đặc điểm,cách thức, bài học kinh nghiệm của sự nghiệp củng cố độc lập dân tộc Ấn Độ giaiđoạn 1950 - 1964 trong mối quan hệ biện chứng với xu hướng chung của tình hìnhthế giới thời kỳ Chiến tranh lạnh… Do vậy, cần phải làm rõ hơn về những vấn đềtrên, góp phần cung cấp cứ liệu khoa học, làm sáng tỏ một thời kỳ lịch sử đặc biệt ở
Ấn Độ - kỷ nguyên J Nehru
Xuất phát từ yêu cầu này, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài với hy vọngnghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề đặt ra trên cơ sở tổng hợp côngtrình của các nhà khoa học đi trước Đó là nguồn tư liệu có ý nghĩa, gợi mở đểchúng tôi hình thành và là những tư liệu quý có giá trị tham khảo trong việc triểnkhai thực hiện đề tài
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG LÀM RÕ
Trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, luận
án tập trung làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản sau:
Một là, phân tích bối cảnh trong nước, khu vực, và thế giới tác động đến sự
nghiệp củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ giai đoạn 1950 - 1964
Hai là, làm rõ nội dung những chính sách cơ bản phát triển đất nước và quá
trình thực hiện trong giai đoạn 1950 - 1964 để củng cố độc lập dân tộc của Chínhphủ Ấn Độ mà đứng đầu là Thủ tướng J Nehru
Ba là, đánh giá thành công và hạn chế trong sự nghiệp củng cố độc lập dân
tộc của Cộng hòa Ấn Độ giai đoạn 1950 - 1964, từ đó rút ra một số đặc điểm cũngnhư những kinh nghiệm của quá trình này đối với các nước đang phát triển, trong
đó có Việt Nam
Tiểu kết chương 1
Nghiên cứu về Ấn Độ được các học giả trong và ngoài nước rất quan tâm vớihướng nghiên cứu cho đến nay chủ yếu tập trung vào lịch sử phát triển Ấn Độtrên các lĩnh vực cụ thể cũng như quan hệ Ấn Độ - Việt Nam… Giai đoạn lịch sử
1950 - 1964 và nội dung đấu tranh bảo vệ củng cố độc lập dân tộc hầu như chưa được
Trang 28đề cập một cách cụ thể, hệ thống qua bất kỳ tài liệu nào Vì vậy, nguồn tư liệuphong phú mà tác giả luận án có thể tiếp cận trên một số phương diện: về độc lậpdân tộc, lịch sử, đặc điểm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cách thức giảiquyết vấn đề dân tộc, ngôn ngữ, về nền quốc phòng - an ninh… là vô cùng quantrọng, đặt cơ sở cho việc nghiên cứu, hệ thống hóa, chọn lọc và xử lý để hoàn thànhnội dung nghiên cứu của luận án.
Luận án sẽ là công trình nghiên cứu có hệ thống về một giai đoạn phát triểnđặc thù của lịch sử Ấn Độ tiếp sau thời kỳ đấu tranh tự trị (1947 - 1950) trên một sốlĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, ngoại giao, quốc phòng - an ninh Trênthực tế, giai đoạn 1950 - 1964 là quá trình chính phủ và nhân dân Ấn Độ tiếp tụcđấu tranh nhằm bảo vệ, củng cố, xây dựng và phát triển đất nước, khẳng định vị thếcủa quốc gia, dân tộc trong khu vực và trên thế giới Có thể nói, đây là giai đoạn đặtnền tảng, cơ sở quan trọng cho bước phát triển mạnh mẽ của quốc gia Ấn Độ trongnhững thời kỳ tiếp sau
Trang 29Chương 2 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ NGHIỆP
CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA CỘNG HÒA ẤN ĐỘ
TRONG GIAI ĐOẠN 1950 - 1964
2.1 TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC NAM Á SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
2.1.1 Chiến tranh lạnh và cuộc đối đầu hai cực Xô - Mỹ
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, những thay đổi căn bản về tương quanlực lượng của cục diện thế giới đã dẫn tới sự hình thành nên Trật tự hai cực với hai
hệ thống chính trị - quân sự đối lập nhau trong quan hệ quốc tế Các nước phát xítĐức, Italia, Nhật Bản bị đánh bại hoàn toàn Anh và Pháp bước ra khỏi chiến tranhvới tư thế của người thắng trận nhưng chịu nhiều tổn thất nghiêm trọng Cán cânquyền lực chỉ còn là sự đối trọng giữa hai cường quốc Mỹ và Liên Xô Từ Hội nghịIanta (Liên Xô) tháng 2/1945 đến Hội nghị Potsdam (Đức) tháng 7/1945, thế giới
đã phân thành hai cực do Liên Xô và Mỹ đứng đầu, đặt nhân loại đứng trước nguy
cơ một cuộc chiến tranh thế giới mới
Với sự lớn mạnh về mọi mặt của Liên Xô và Mỹ sau chiến tranh đã làm giatăng nhanh chóng ảnh hưởng của hai nước này, tạo điều kiện vươn lên vị trí siêucường, chi phối mạnh mẽ tình hình chính trị quốc tế Liên Xô bước ra khỏi chiếntranh với những thiệt hại nặng nề về người và của Tuy vậy, Liên Xô vẫn là quốcgia có nhiều ưu thế đặc biệt Liên Xô có lực lượng quân sự hùng mạnh với nền côngnghiệp quân sự quy mô, đứng đầu thế giới về lục quân, chế tạo thành công bomnguyên tử năm 1949, tổng thể thực lực quân sự chỉ đứng sau Mỹ Ngoài ra, cốnghiến có tính chất quyết định của Liên Xô trong chiến thắng vĩ đại trước chủ nghĩaphát xít khiến nước này dành được uy tín rất cao đối với tất cả các lực lượng tiến bộtrên toàn thế giới, kể cả trong lòng chủ nghĩa tư bản và trở thành ngọn cờ đầu trongphong trào cộng sản, công nhân và giải phóng dân tộc trên thế giới
Mỹ không những không bị chiến tranh phá hoại mà còn là kẻ trục lợi trên sự
đổ nát của châu Âu và thế giới với hơn 114 tỷ USD lợi nhuận do buôn bán vũ khí.Hơn nữa, sau chiến tranh, Mỹ trở thành quốc gia giàu mạnh nhất, chiếm ưu thế
Trang 30tuyệt đối trong thế giới tư bản chủ nghĩa về kinh tế tài chính, khoa học kỹ thuật vàquân sự Sản lượng công nghiệp Mỹ chiếm 56,4% sản lượng công nghiệp thế giới,
dự trữ vàng chiếm 3/4 lượng vàng thế giới Về quân sự, Mỹ đứng đầu thế giới vềhải quân, không quân và là nước duy nhất có vũ khí hạt nhân [66, tr.288-289] Vớithế mạnh ấy, Mỹ từng bước lũng đoạn, tìm mọi cách chi phối chính sách đối nội vàđối ngoại các nước Tây Âu, Nhật Bản, vươn lên vị trí đứng đầu trong các nước tưbản chủ nghĩa Trên cơ sở đó, Mỹ đã vạch ra “Chiến lược toàn cầu” với tham vọng
bá chủ thế giới
Từ bài diễn văn của nguyên Thủ tướng Anh W Churchil ở Fulton (3/1946)đến bài phát biểu trước Quốc hội của Tổng thống H Truman (3/1947) kêu gọi việntrợ 400 triệu USD cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, trên thực tế Mỹ đã khởi đầu quá
trình “ủng hộ các dân tộc tự do” chống lại phong trào cách mạng mang tính chất
cộng sản và chống sự can thiệp của Liên Xô [70, tr.54-55] Sự ra đời của “Họcthuyết Truman” cộng với kế hoạch Marshall ồ ạt đổ tiền vào châu Âu (6/1947),thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO, 4/1949), đưa ra “Kếhoạch 4 điểm” viện trợ các nước chậm tiến, dựng chính quyền tay sai ở TriềuTiên… Mỹ đã gây ra bầu không khí ngột ngạt và căng thẳng trong quan hệ quốc tế
Tham vọng của Mỹ và thế giới tư bản chủ nghĩa gặp phải lực cản lớn nhấtđến từ Liên Xô Liên Xô cũng tìm cách để củng cố vị thế của mình bằng việc kýhàng loạt các hiệp ước hữu nghị, hợp tác, liên minh và tương trợ song phương vớicác nước Đông Âu, thành lập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV, 1/1949), Tổ chứcWarsaw (5/1955)… Như vậy, trong thời gian này, hàng loạt các công cụ, biện pháp,thiết chế, chiến lược, nguồn lực… được cả hai phe huy động để phục vụ cho cạnhtranh ảnh hưởng về quyền lực Sự thay đổi về tương quan lực lượng, sự khác nhau
về lợi ích và ý thức hệ giữa một bên là Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân, vớimột bên là Mỹ và các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây đã đưa nhân loại bướcvào thời kỳ Chiến tranh lạnh kéo dài hơn 40 năm, toàn bộ đời sống quốc tế bị baophủ bởi không khí đối đầu căng thẳng
Bối cảnh quốc tế ấy đã biến thế giới thứ ba các nước mới được giải phóng trở thành đối tượng trực tiếp của cuộc chạy đua nhằm lắp đầy “khoảng trống quyềnlực”, chiếm giữ vị trí xung yếu và tạo ảnh hưởng giữa hai cường quốc Xô - Mỹ
Trang 31-nhằm lôi kéo các nước này về phía mình Họ buộc phải đứng trước sự lựa chọn
mang tính sống còn trên con đường phát triển: hoặc là ngã hẳn về khối các nước tư bản chủ nghĩa, hoặc là đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, hoặc là tìm kiếm một hướng đi thích hợp mới Tình hình đó ảnh hưởng trực tiếp đến con đường đấu tranh
củng cố độc lập dân tộc của các quốc gia dân tộc trên thế giới nói chung và Ấn Độnói riêng Là một quốc gia rộng lớn, lại vừa mới giành được độc lập, Ấn Độ cũngkhông nằm ngoài sự tác động của ván bài nêu trên
Đó cũng chính là nhân tố quan trọng dẫn đến sự ra đời con đường không liênkết và Phong trào không liên kết mà Ấn Độ là một trong những quốc gia tiên phongsáng lập Hơn nữa, Trật tự hai cực và Chiến tranh lạnh cũng buộc các nước lớn cócách nhìn mới hơn về thuộc địa, đặc biệt là những quốc gia có vị trí chiến lược quantrọng, hoặc những nơi mà phong trào giải phóng dân tộc do giai cấp tư sản lãnh đạo
Cả Liên Xô và Mỹ đều nhận thức tầm quan trọng của khu vực Nam Á, nhất là Ấn
Độ đối với thế giới nên có những chính sách đặc biệt với khu vực này
2.1.2 Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào giải phóng dân tộc bùng nổ, pháttriển và đạt được những thành tựu chưa từng có cả chiều rộng lẫn chiều sâu Sự pháttriển mạnh mẽ của phong trào đã lôi cuốn hàng triệu nhân dân các nước Á, Phi, Mỹlatinh vào cuộc đấu tranh rộng lớn, không ngừng tấn công vào chủ nghĩa thực dân
cũ và mới, làm sụp đổ hệ thống thuộc địa vốn đã được thiết lập từ nhiều thế kỷtrước Trước ý chí độc lập của các dân tộc trên thế giới, trong khóa họp lần thứ XVnăm 1960 của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua văn kiện quan trọng
“Tuyên ngôn về thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa thực dân, trao trả độc lập cho các quốc gia và các dân tộc thuộc địa” Tuyên ngôn nhấn mạnh các nước thực dân vi
phạm nguyên tắc quan trọng nhất của luật pháp quốc tế, khẳng định rõ ràng cơ sởpháp lý quốc tế của cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc Tuyên ngôn phithực dân hóa đã góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộcthuộc địa Tiếp đó, khóa họp lần thứ XVIII của Đại hội đồng Liên hợp quốc năm
1963 thông qua “Tuyên ngôn đòi xóa bỏ mọi đạo luật, mọi quy chế phân biệt chủng tộc”, trong đó khẳng định việc xóa bỏ mọi đạo luật, mọi quy chế phân biệt chủng
Trang 32tộc, lên án mọi hành động tuyên truyền của các tổ chức phân biệt chủng tộc Hàngloạt các quốc gia ở châu lục Á, Phi, Mỹ latinh đã tuyên bố độc lập Bộ mặt của cácchâu lục Á, Phi và Mỹ latinh từng bước thay đổi căn bản: từ những thuộc địa củachủ nghĩa thực dân lần lượt trở thành các quốc gia độc lập và tham gia vào đời sốngchính trị quốc tế, tạo ra sự thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho phong trào cáchmạng, tiến bộ trên thế giới.
Để sức mạnh đó thật sự phát huy vai trò của mình, một số quốc gia đã thamgia sáng lập Phong trào không liên kết Đó là phong trào quốc tế rộng lớn bao gồmcác nước với chủ trương không liên kết trong chính sách đối ngoại, không tham giavào bất cứ khối quân sự - chính trị nào, đấu tranh giành độc lập về chính trị, kinh tế,văn hóa, hợp tác quốc tế trên cơ sở cân bằng và có lợi, thiết lập nền kinh tế quốc tếmới công bằng, hợp lý, bảo vệ hòa bình và an ninh của các dân tộc Với tư cách làthành viên sáng lập của tổ chức, Ấn Độ ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trongdiễn đàn này
Mặt khác, sau khi giành độc lập, các nước Á, Phi, Mỹ latinh đều bắt tay vàocông cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế xã hội Bởi lẽ, độc lập về chính trịvẫn chưa phải là độc lập hoàn toàn, các nước đế quốc không dễ dàng từ bỏ quyềnlợi của mình ở các thuộc địa, do đó nguy cơ lệ thuộc dưới nhiều hình thức mới là rấtlớn Công cuộc xây dựng được bắt đầu ở những thời gian sớm muộn khác nhau,nhưng đối với tất cả các nước này là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ Trongquá trình đó, cuộc chiến đấu vì sự phát triển sẽ khó khăn hơn gấp nhiều lần so vớicuộc chiến đấu vì tự do Nhiều nước đã đạt được những tiến bộ và tạo nên biến đổinhất định trong đời sống kinh tế xã hội Rõ ràng sự phát triển về kinh tế của cácnước có được xuất phát từ sự mở đường độc lập về chính trị, góp phần quan trọngvào củng cố độc lập chính trị
Tuy nhiên, những thành tựu mà các nước Á, Phi, Mỹ latinh đạt được cũngchưa đủ để làm thay đổi bức tranh kinh tế lạc hậu, lệ thuộc vào các nước tư bản chủnghĩa, thường chịu thua thiệt, bất bình đẳng trong quan hệ với các cường quốc củathế giới tư bản Đứng trước điều này, sau khi đạt được quyền tự trị và bắt tay vàocông cuộc xây dựng, củng cố nền Cộng hòa, Chính phủ Ấn Độ đã nỗ lực tìm kiếm
Trang 33những giải pháp, chiến lược phát triển đất nước, chủ động điều chỉnh cho phù hợpvới yêu cầu của thực tiễn đặt ra, đưa đất nước đi tới sự ổn định và phát triển.
đó Ấn Độ là nước có tuyến đường biển kéo dài trên 7.600 km, với 11 cảng lớn vàtrên 200 cảng vừa và nhỏ…
Do vị trí chiến lược quan trọng của khu vực, sau Chiến tranh thế giới thứ hai,cũng như các khu vực khác, tình hình Nam Á không nằm ngoài những toan tínhchiến lược của các cường quốc, đặc biệt là Anh, Mỹ, Liên Xô và phần nào là TrungQuốc Điều đó làm cho tình hình khu vực vốn đã phức tạp lại càng thêm phức tạphơn, nhất là dễ bùng phát những cuộc xung đột lớn
Về phía Anh, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, do những thắng lợi trong cuộc
đấu tranh của nhân dân Nam Á, Anh buộc phải rút quân khỏi các nước này nhưngvẫn tìm cách duy trì ảnh hưởng của mình Với bản chất thâm độc của chủ nghĩathực dân, Anh không dễ gì từ bỏ mọi quyền lợi ở khu vực Nam Á, đặc biệt là Ấn
Độ Anh thực hiện ở đây chính sách “đi mà ở”, “chia để trị” [66, tr.363] Kế hoạch
Mounbatten chia Ấn Độ thành hai quốc gia trên cơ sở tôn giáo chính là sự tiếp tục
và cụ thể hóa cho chính sách trên Chính sách này đã làm gia tăng những rạn nứtsẵn có trong quan hệ giữa các tôn giáo, tộc người trong từng vùng, từng nước ở
Trang 34Nam Á và hậu quả của nó cho đến nay vẫn khó khắc phục được Chúng ảnh hưởngrất lớn đến an ninh và hòa bình ở khu vực này.
Thấy rõ vị trí trọng yếu của Kashmir về chiến lược, thực dân Anh muốn biếnkhu vực này thành căn cứ quân sự lâu dài nên đã đưa ra một phương án lập lờ,không rõ ràng về chủ quyền đối với Kashmir, kích động Ấn Độ và Pakistan tranhchấp nhau để mưu lợi ích riêng Âm mưu của Anh trong vấn đề này là muốn xúigiục tiểu vương của Kashmir tuyên bố độc lập để khống chế khu vực trọng yếu này.Tuy nhiên, thực tế lịch sử đã diễn ra khác với mong muốn của người Anh bởi vì tiểuvương Kashmir là Hari Singh đã quyết định ngả theo Ấn Độ, âm mưu của ngườiAnh đã thất bại hoàn toàn Và từ đây, Anh đã mất dần vai trò và ảnh hưởng củamình đối với Ấn Độ, Pakistan và khu vực Nam Á, thay vào đó sẽ là Mỹ và Liên Xô
Về phía Mỹ, Nam Á là một trong những địa bàn địa chiến lược đặc biệt quan
trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ Trong số các quốc gia lớn ở Nam Á, Ấn
Độ là một trong những mục tiêu quan trọng Quốc gia với diện tích 3.287.263 km2,nằm ở phía Nam Liên Xô, có đường biên giới chung với Trung Quốc cộng sản này
sẽ là “con đê lớn nhất ngăn chặn làn sóng đỏ” lan tràn ra khắp châu Á, cũng là một
nhân tố lớn trong nền chính trị thế giới Mặt khác, ý đồ chiến lược của Mỹ ở Nam Áluôn gắn với việc thiết lập một “vòng cung” bao vây chiến lược chạy từ Đông Bắc
Á sang tới Đại Tây Dương nhằm ngăn chặn sự mở rộng chủ nghĩa cộng sản củaLiên Xô Để duy trì địa vị chiến lược của mình ở Nam Á, Mỹ còn cố gắng lôi kéo
cả Ấn Độ và Pakistan vào mặt trận chống cộng Mỹ đã nhiều lần tuyên bố muốnthiết lập một sự giám sát liên minh chiến lược với Ấn Độ và Pakistan thông qua cácbiện pháp như ký kết hiệp uớc, viện trợ kinh tế, quân sự… Đặc biệt, trước nhữngmâu thuẫn trong quan hệ Ấn Độ - Pakistan xung quanh vấn đề Kashmir, Mỹ chuyểnhướng sang ủng hộ Pakistan bằng một loạt các biện pháp: ký Hiệp ước quân sự Mỹ
- Pakistan (1954), lôi kéo tham gia vào tổ chức SEATO (9/1954), áp sát biên giớiLiên Xô và Trung Quốc, cản trở tiến trình hòa bình Nam Á…
Tuy nhiên, thế đối đầu hai cực đã hoàn toàn chi phối quá trình hoạch định vàtriển khai chính sách của Mỹ đối với các quốc gia Nam Á Việc Ấn Độ tích cựctham gia Phong trào không liên kết đã khiến cho quan hệ song phương với Mỹ luôn
ở vào tình thế bế tắc với những bất đồng và mâu thuẫn Tình thế này đòi hỏi Mỹ
Trang 35phải tìm một đồng minh khác ở Nam Á, và Washington đã quyết định chọnIxlamabad Điều này một mặt có tác dụng kiềm chế, đe dọa đối với Ấn Độ, nhưngmặt khác đã đẩy Ấn Độ vào hoàn cảnh xích lại gần hơn với Liên Xô nhằm đáp ứngnhu cầu xây dựng và củng cố tiềm lực quốc phòng.
Về phía Liên Xô, trước những biến động to lớn của thế giới trong Chiến tranh
lạnh, với tư cách là một nước lớn, đi đầu trong hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới,
để tạo ra một cực đối trọng với Mỹ, Liên Xô đã tìm đến với các nước thuộc thế giớithứ ba Liên Xô ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụthuộc, góp phần tiêu diệt chủ nghĩa thực dân Trước những toan tính của các nướcthực dân Anh, Mỹ tại Nam Á, Liên Xô cũng thể hiện rõ quan điểm của mình khi coiNam Á là khu vực chiến lược quan trọng, một trong những tiêu điểm trong trậntuyến đối đầu Đông - Tây Cả Mỹ và Liên Xô đều cho rằng việc khống chế khu vựcNam Á sẽ giúp họ không chỉ kiểm soát được khu vực Ấn Độ Dương rộng lớn màcòn củng cố vị thế của họ ở khu vực Trung Đông giàu có về dầu lửa Mặt khác, vớiLiên Xô, củng cố vị thế ở Nam Á cũng đồng nghĩa với việc làm gia tăng ảnh hưởngchủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội không chỉ với khu vực địa chiến lược quantrọng này mà còn rộng xuống phía Nam châu Á - Thái Bình Dương
Khác với các nước Anh, Mỹ, Liên Xô tìm cách xích lại gần hơn với Ấn Độ một nhân tố lớn trong nền chính trị thế giới - ủng hộ mạnh mẽ phong trào giảiphóng dân tộc và nền dân chủ nơi đây Đối với vấn đề Kashmir và quan hệ Ấn Độ -Pakistan, Liên Xô thể hiện chính kiến rất rõ khi lên án hậu quả của thực dân Anh đểlại, đồng thời ủng hộ Ấn Độ trên trường quốc tế và Liên hợp quốc Chính sự tươngđồng về quan điểm này đã giúp quan hệ Liên Xô - Ấn Độ trở nên bền vững hơnnhất là sau khi nước Cộng hòa Ấn Độ ra đời, làm đối trọng trong quan hệ với cácnước lớn, chi phối mạnh mẽ quan hệ quốc tế ở Nam Á
-Như vậy, bối cảnh quốc tế và khu vực sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã có
ảnh hưởng nhất định đến sự nghiệp củng cố độc lập dân tộc của Cộng hòa Ấn Độtrên một số phương diện:
Thứ nhất, trong bối cảnh Chiến tranh lạnh, sự chi phối bởi Trật tự thế giới
hai cực đứng đầu là hai siêu cường Xô - Mỹ, việc xem xét quan hệ quốc tế theologic thông thường là đứng về phe tư bản chủ nghĩa hoặc phe xã hội chủ nghĩa,
Trang 36những nước đi theo mô hình tư bản chủ nghĩa thường là đứng về phe tư bản chủnghĩa và ngược lại Vì vậy, vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia dân tộc cũng bị biếndạng theo hai hướng: đóng cửa biệt lập với bên ngoài; hoặc tập hợp lực lượng, thựchiện liên minh liên kết theo phe, khối, theo hệ tư tưởng Đứng trước tình hình trên,
Ấn Độ cần phải nhạy bén nắm bắt tình hình, phân tích thời cuộc, đặt trong thếtương quan chiến lược, cân bằng lực lượng của các nước lớn trong trận tuyến đốiđầu Đông - Tây, lựa chọn con đường đi phù hợp với đặc thù xã hội, tránh tình trạngnghiêng về một khối trong Trật tự hai cực Và Ấn Độ đã lựa chọn con đường điriêng trong phương thức củng cố độc lập dân tộc, quốc gia là đứng giữa hai khối.Đây là cơ sở để Ấn Độ xây dựng nên một đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, trunglập và không liên kết
Thứ hai, bối cảnh đó cũng đặt Ấn Độ trước nhiều điều kiện thuân lợi, nhất là
tranh thủ sự giúp đỡ, viện trợ về vật chất của cả hai hệ thống để củng cố, xây dựng
và phát triển kinh tế độc lập tự chủ, có kế hoạch, tự lực tự cường, củng cố quốcphòng - an ninh vững mạnh, đưa Ấn Độ trở thành một chủ thể lớn trong khu vực vàtrên thế giới
Thứ ba, trong sự chi phối của Trật tự thế giới hai cực, Ấn Độ nổi lên như là
một nước đi đầu, cổ vũ và ủng hộ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc, đấutranh xóa bỏ chủ nghĩa thực dân Sức mạnh đó được tập hợp lại trong Phong tràokhông liên kết Vì thế, bước đầu đã tạo cho Ấn Độ có vai trò, tiếng nói quan trọngtrong các nước thế giới thứ ba, đưa ra nhiều giải pháp hòa bình thiết thực, góp phầnlàm hòa dịu một số vấn đề quan hệ quốc tế ở khu vực và thế giới
2.2 TÌNH HÌNH ẤN ĐỘ SAU KHI ĐƯỢC TỰ TRỊ
2.2.1 Kế hoạch Mountbatten và sự chia cắt Ấn Độ
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, từ kết quả đấu tranh của nhân dân Ấn Độ,thực dân Anh đã phải lo lắng và tự nhận thấy rằng khó có thể giữ vững được địa vịthống trị của mình ở Ấn Độ như trước Ngày 20/2/1947, Thủ tướng Anh Attleetuyên bố trước Hạ viện: “Chính phủ Hoàng gia loan báo rằng, chính phủ có ý địnhdứt khoát là dùng mọi biện pháp cần thiết để tiến hành việc chuyển giao quyền hànhcho một Chính phủ Ấn Độ có trách nhiệm, chậm nhất là tháng 6/1948” [16, tr.310]
Trang 37Để thực hiện sứ mệnh này, Phó vương Weywell bị triệu hồi về nước, Huân tướcMountbatten được bổ nhiệm làm Phó vương mới ở Ấn Độ.
Ngày 22/3/1947, Mountbatten đến Ấn Độ Ngày 31/3/1947, Phó vương bắtđầu thực hiện nhiều cuộc tiếp xúc với M Gandhi và M Jinnah nhằm thảo luận vềgiải pháp cho vấn đề Ấn Độ Thái độ của hai vị lãnh tụ khiến cho Mountbattennhanh chóng nhận thức được trách nhiệm tất yếu của mình về tương lai của tiểu lụcđịa: M Jinnah muốn lập nên xứ Pakistan gồm 6 tỉnh Bengal, Assam, Sind, Punjab,Beluchistan, Northwest Province; còn M Gandhi thì kiên quyết giữ nguyên sựthống nhất Ấn Độ bằng mọi giá, kể cả việc duy trì quyền thống trị của người Anhhoặc người Anh rút quân để cho nhân dân Ấn Độ tự quyết định tương lai của mình.Bất đồng quan điểm giữa lãnh tụ hai đảng làm cho tình thế chia cắt ngày càng lộ rõ
Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh quần chúng và cuộcvận động rầm rộ của Liên đoàn Hồi giáo được sự ủng hộ của người Anh nhằmthành lập quốc gia Hồi giáo Pakistan, Đảng Quốc đại hiểu rằng không thể bảo toàn
sự thống nhất Ấn Độ được nữa Ngày 8/4/1947, Uỷ ban lâm thời Đảng Quốc đạicông khai ra Nghị quyết chấp nhận chia cắt Ấn Độ thành hai xứ tự trị Tiếp theo đó,
J Nehru tuyên bố: “Liên đoàn Hồi giáo có thể có Pakistan nếu họ muốn, nhưng với điều kiện họ sẽ không tách khỏi Ấn Độ các vùng không muốn sáp nhập vào Pakistan”, nghĩa là Punjab và Bengal phải được chia cắt thành hai vùng theo cộng
đồng nguời Hồi và người Hindu [113, tr.20] M Jinnah mặc dù tuyên bố việc chiacắt Punjab và Bengal là một động thái tồi tệ nhưng vẫn chấp nhận để đạt tới tậncùng mục đích là thành lập Pakistan
Trước sự thỏa hiệp từ hai phía, đầu tháng 5/1947, những điểm căn bản nhấttrong giải pháp về Ấn Độ đã được Mountbatten soạn thảo và thông qua tại Londonvào ngày 15/5/1947 Ngày 3/6/1947 tại Simla, bản kế hoạch do Phó vương soạnthảo, lịch sử thường gọi là “Kế hoạch Mountbatten”, được công bố trong cuộc họp
của các đảng phái chính trị Ấn Độ (Chú giải 1) Ngày 15/8/1947, “Kế hoạch
Mountbatten” với tư cách là “Đạo luật về nền độc lập của Ấn Độ” được Nghị việnAnh biểu quyết thông qua Cũng trong ngày này, tại Thành Đỏ lịch sử ở Delhi, J.Nehru đã trịnh trọng kéo quốc kỳ Ấn Độ đánh dấu sự ra đời quốc gia Ấn Độ tự trị
Trang 38Sự kiện này đã tạo nên bước ngoặt căn bản chấm dứt hơn 200 năm cai trịtrực tiếp Ấn Độ của thực dân Anh, mở ra một giai đoạn mới trong phong trào đấutranh giành độc lập ở Ấn Độ Lần đầu tiên, Ấn Độ mới bắt đầu thật sự làm chủ vậnmệnh của mình - dù còn rất nhiều hạn chế - dưới sự lãnh đạo của một Chính phủLiên bang tự trị của chính nguời Ấn với toàn quyền về đối nội Nó đánh dấu thắnglợi đầu tiên trên con đường từ tự trị đến độc lập, tạo bước đệm nền tảng để Ấn Độvươn lên giành độc lập hoàn toàn.
Tuy nhiên, đằng sau ý nghĩa to lớn ấy, Kế hoạch Mountbatten không phải làmột thắng lợi trọn vẹn của Ấn Độ và cũng chưa hẳn là sự thất bại hoàn toàn củangười Anh ở thuộc địa béo bở này Kế hoạch đó đã chia cắt Ấn Độ thành hai nhànước Ấn Độ và Pakistan trên cơ sở tôn giáo Nó không phản ánh được nguyện vọngcủa nhân dân Ấn Độ, chính vì thế đã để lại những hậu quả nghiêm trọng:
Thứ nhất, đã tạo ra một cuộc di cư chưa từng thấy trong lịch sử Ấn Độ Ngay
sau tuyên bố của Chính phủ Anh, tại tiểu lục địa Ấn Độ đã diễn ra một cuộc di dân
ồ ạt của khoảng “9 triệu người Hồi giáo chạy sang Pakistan và gần 8 triệu người Ấn
Độ giáo di cư sang Ấn Độ” [27, tr.78] Cuộc di dân này đã tạo nên một cục diện hỗnđộn, mất ổn định đối với cả hai quốc gia, khiến cho đời sống của người dân Ấn Độ
bị xáo trộn, đi kèm với nó là những xung đột sự phân biệt giữa người Ấn Độ giáo
và Hồi giáo
Thứ hai, là nguyên nhân gây tình trạng mâu thuẫn gay gắt và tranh chấp
thường xuyên giữa hai chính phủ Ấn Độ và Pakistan, trong đó đặc biệt nghiêmtrọng là vấn đề Kashmir đến tận ngày nay vẫn chưa tìm được lối ra
Thứ ba, việc chia cắt này đã để lại những hậu quả nặng nề đối với nền kinh
tế của cả hai nước Nhiều vùng công nghiệp và nông nghiệp tuỳ thuộc lẫn nhau đã
bị chia cắt, những hệ thống đường sắt và thủy lợi cũng bị phân chia, gây ảnh hưởngnghiêm trọng đến đời sống sản xuất của Ấn Độ và Pakistan
Như vậy, thông qua kế hoạch Mountbatten, mọi ý đồ của người Anh đã được
thực hiện Đây là sự thể hiện rõ nét của âm mưu của người Anh trong những cụm từ
mà họ đã có tính toán từ lâu: chia để trị, tự trị (Dominion) và đi mà ở Hậu quả của
chia cắt - sự phản ánh sinh động âm mưu của thực dân Anh - là vết thương nhứtnhối đối với lịch sử Ấn Độ cận hiện đại Nó đặt Chính phủ Ấn Độ đứng trước
Trang 39những nhiệm vụ hết sức nặng nề Đó là đấu tranh nhằm xoá bỏ những hậu quả dochia cắt mang lại, đồng nghĩa với việc triệt tiêu những tàn dư của chủ nghĩa thựcdân, giành và củng cố độc lập hoàn toàn Mặt khác, thông qua việc phân chia, thựcdân Anh cũng tạo cơ hội thuận lợi cho các cường quốc bên ngoài khai thác các vấn
đề về tôn giáo và quan hệ giữa hai nước, làm sâu sắc hơn mâu thuẫn từ hai dân tộc,tăng cường ảnh hưởng của họ ở khu vực này
2.2.2 Đấu tranh bước đầu trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao của
quốc gia Ấn Độ tự trị (1947 - 1950)
Hơn hai thế kỷ dưới ách thống trị của thực dân Anh, Ấn Độ đạt được mụctiêu cuối cùng là nền độc lập Tuy nhiên, nền độc lập ấy vẫn chưa trọn vẹn Hậu quảcủa một thời gian dài do chế độ cai trị thuộc địa mà thực dân Anh để lại cho Ấn Độtrên các mặt là rất nặng nề Do vậy, khi Ấn Độ bắt tay vào quá trình xây dựng đấtnước sau khi được tự trị và những năm đầu của nền Cộng hòa, ngoài những yếu tốthuận lợi, tình hình kinh tế, chính trị - xã hội đều có nhiều khó khăn phức tạp
Về kinh tế, Ấn Độ vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu Những tàn tích
phong kiến - chế độ Daminda về sở hữu và canh tác đất đai - vẫn còn thống trị Vịtrí của tư bản Anh, Mỹ ở Ấn Độ vẫn còn rất lớn Tư bản nước ngoài kiểm soát 47%
số vốn đầu tư vào công nghiệp khai thác và chế biến dầu lửa, 90% ở ngành đườngsắt… [55, tr.138] Thiên tai tàn phá, nạn đói lan tràn khắp nước, kho dự trữ nhànước không đủ cấp lương thực để cứu tế Thu nhập quốc dân rất thấp (dưới 60USD/người/năm)
Về chính trị - xã hội, một số vùng lãnh thổ Ấn Độ còn nằm trong sự kiểm soát của Pháp và Bồ Đào Nha, sự xung đột về tôn giáo khá gay gắt… Về mặt xã hội,
gần 90% dân số bị mù chữ, những tập tục lạc hậu còn nhiều và gây tác hại cùng với
sự tồn tại trên thực tế chế độ đẳng cấp từ xa xưa Tình trạng dịch bệnh xảy ra liênmiên Các đảng cánh hữu, kể cả phái hữu trong Đảng Quốc đại, gây không ít trởngại cho việc xây dựng một nước Ấn Độ mới
Bên cạnh những khó khăn trên, đất nước và nhân dân Ấn Độ cũng có nhiềuthuận lợi Việc giành được độc lập hoàn toàn sau hơn hai thế kỷ bị thực dân thốngtrị đã đưa lại cho Ấn Độ - đất nước với số dân đông thứ hai trên thế giới - một sứcmạnh mới Ấn Độ có tài nguyên phong phú, tiềm năng thủy điện dồi dào, vị trí
Trang 40chiến lược thuận lợi cho giao thông, buôn bán quốc tế cũng là một thế mạnh của Ấn
Độ Ngoài ra, Ấn Độ xây dựng đất nước trong điều kiện quốc tế khá thuận lợi.Phong trào chống đế quốc thực dân đang dâng cao ở các nước châu Á, châu Phi và
Mỹ latinh Sự đồng tình ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, các nước đang pháttriển và các lực lượng tiến bộ là nguồn cổ vũ lớn đối với Ấn Độ
Đứng trước thực tế trên, sau khi giành độc lập về chính trị, nhiệm vụ lịch sửđặt ra cho Ấn Độ trong thời kỳ đấu tranh từ tự trị đến Cộng hòa (1947 - 1950) làphải thực hiện một loạt biến đổi sâu sắc về kinh tế, chính trị - xã hội, ngoại giaonhằm xóa bỏ nghèo nàn lạc hậu, thủ tiêu tàn tích xã hội cũ, bước đầu xây dựngđường lối kinh tế tự chủ và đối ngoại độc lập, đặt nền tảng cho sự phát triển của Ấn
Độ trong giai đoạn đầu của nền Cộng hòa (1950 - 1964)
2.2.2.1 Trên lĩnh vự c kinh tế
Trước cuộc khủng hoảng công nghiệp những năm đầu tự trị buộc Chính phủ
Ấn Độ nhanh chóng đề ra một chính sách kinh tế phù hợp với lợi ích giai cấp vàdân tộc, nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, từng bước thay đổitính chất phụ thuộc của nền kinh tế, xây dựng và phát triển đường lối kinh tế độclập Nhiệm vụ hoạch định đường lối phù hợp không những là điều kiện thúc đẩynền kinh tế phát triển mà còn thể hiện rõ tính độc lập của quốc gia, bản chất giai cấp
và sự tiến bộ của đảng cầm quyền
Sau khi giành được quyền tự trị, bản Cương lĩnh kinh tế của Đảng Quốc đại
dự kiến sẽ có những thay đổi lớn trong cơ cấu, trong đó nêu rõ quan điểm rằng:
“Chính phủ sẽ quốc hữu hóa các nguồn lợi và những ngành công nghiệp chủ yếu;việc đẩy mạnh quốc hữu hóa như thế được coi là cần thiết không những kiến thiết
có tính chất tiến bộ mà còn để trừ bỏ xâm nhập của tư bản nước ngoài vào nền kinh
tế Ấn Độ” [16, tr.320] Tuy nhiên, ngay từ khi mới ra đời, bản Cương lĩnh đã không
có chỗ đứng trong nền kinh tế Ấn Độ, và đã bị bãi bỏ, bởi cho dù là cấp tiến nhưng
nó đụng chạm tới lợi ích của giai cấp tư sản - giai cấp đang cầm quyền
Trước tình hình đó, ngày 17/2/1948, J Nehru tuyên bố: “sẽ không có sự thayđổi đột ngột trong cơ cấu kinh tế Chúng ta sẽ cố gắng không quốc hữu hóa cácngành công nghiệp hiện có trong 10 năm tới” [16, tr.320] Cụ thể hóa tuyên bố của
J Nehru, ngày 6/4/1948, tại Quốc hội lập pháp, Chính phủ Ấn Độ chính thức công