Bằng phương pháp thư viện và phương pháp thực nghiệm, chúng tôi bước đầu đã xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất ván dán từ thân cây dừa có thể ứng dụng vào thực tế.. Được sự phân
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HÓC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT VÁN DÁN TỪ THÂN CÂY DỪA
Họ và tên sinh viên: PHẠM VĂN ĐÔNG
Ngành: CHẾ BIẾN LÂM SẢN Niên khóa: 2004 -2008
Tháng 7/2008
Trang 2NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT VÁN DÁN TỪ THÂN CÂY DỪA
Tác giả
PHẠM VĂN ĐÔNG
Khóa luận được đệ trình đề để đáp ứng yêu cầu
Cấp bằng Kỹ sư ngành chế biến lâm sản
Giáo viên hướng dẫn
TS Hoàng Xuân Niên
Tháng 7 năm 2008
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô Bộ Môn Chế Biến Lâm Sản Trường Đại Học Nông Lâm – Tp Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ dẫn tôi trong quá trình học tập tại trường
Thầy Tiến sĩ Hoàng Xuân Niên đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Ban lãnh đạo cùng tập thể anh em công nhân Công ty TNHH Hiệp Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài tại quý công ty
Cô Nguyễn Thị Tường Vy, đã giúp đỡ tôi trong quá trình tiến hành thí nghiệm
Công ty chế biến gỗ Trường Tiền, đã giúp đỡ tôi gia công mẫu thí nghiệm
Tập thể Trung Tâm Kỹ Thuật Đo Lường Chất Lượng 3 Tp Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi trong quá trình thử mẫu
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi để hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này
Trang 4từ thân cây dừa
Bằng phương pháp thư viện và phương pháp thực nghiệm, chúng tôi bước đầu
đã xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất ván dán từ thân cây dừa có thể ứng dụng vào thực tế
Qua quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy dừa có những đặc điểm khác gỗ: thân thẳng đứng, ít khuyết tật, không có tia gỗ Tuy nhiên, gỗ dừa vẫn đảm bảo các tiêu chuẩn của nguyên liệu cho ván dán Ván dán có chất lượng tương đối đồng đều, hầu như đảm bảo các yếu tố kỹ thuật của ván dán
Tp Hồ Chí Minh Tháng 07/2008 Phạm Văn Đông
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC BẢNG vi
DANH SÁCH CÁC HÌNH vii
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1 MỞ ĐẦU 2
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 2
1.2 Mục đích đề tài 2
1.3 Mục tiêu đề tài 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu và ứng dụng 3
Chương 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1 Giới thiệu sơ lược về cây dừa 4
2.1.1 Tên gọi 4
2.1.2 Điều kiện sinh trưởng, đặc tính sinh thái 4
2.1.2.1 Điều kiện sinh trưởng 4
2.1.2.2 Đặc điểm sinh thái 5
2.1.3 Cấu tạo 5
2.1.4 Tính chất cơ lý của gỗ dừa 7
2.1.4.1 Tính chất vật lý 7
2.1.4.2 Tính hút nước 7
2.1.4.3 Tính chất cơ học 7
2.2 Tình hình sử dụng cây dừa hiện nay 8
2.3 Thân cây dừa - Khả năng trở thành nguồn nguyên liệu chế biến gỗ 9
2.4 Ván dán, sự hình thành và phát triển 12
2.5 Nguyên lý tạo ván 12
2.6 Một số ảnh hưởng đến chất lượng ván dán 15
2.6.1 Ảnh hưởng của nguyên liệu đến chất lượng ván dán 15
2.6.2 Ảnh hưởng các yếu tố công nghệ đến chất lượng ván dán 15
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
Trang 63.1 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 18
3.1.1 Nội dung nghiên cứu 18
3.1.2 Phương pháp nghiên cứu .19
3.2 Một số yêu cầu trong ván dán 26
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Quy trình sản xuất ván dán từ cây dừa 28
4.1.1 Xén ván mỏng 28
4.1.2 Hong phơi và sấy ván 28
4.1.3 Phân loại và gia công ván mỏng 28
4.1.4 Tráng keo, xếp ván 30
4.1.5 Ép nhiệt 31
4.1.6 Ổn định ván, rong cạnh ván 32
4.2 Lập công thức sản xuất ván dán thí nghiệm 32
4.2.1 Tính toán nguyên liệu 32
4.2.2 Tính toán lượng keo chi phí cho sản xuất ván dán 32
4.2 Kết quả thí nghiệm của ván 33
4.2.1 Kết quả thu được sau 3 lần thử nghiệm 33
4.3 Đánh giá kết quả nghiên cứu 37
4.3.1 Ảnh hưởng của nguyên liệu 37
4.3.1.1 Ảnh hưởng của độ tuổi 37
4.3.1.2 Ảnh hưởng vị trí trên thân xây dừa 37
4.3.1.3 Ảnh hưởng độ ẩm đến nguyên liệu chất lượng ván 38
4.3.2 Ảnh hưởng của thông số ép 39
4.3.2.1 Ảnh hưởng của lượng keo 39
4.3.2.2 Ảnh hưởng của thời gian ép 39
4.3.3 Ảnh hưởng của các giải pháp đến chất lượng ván 39
4.3.2 Tính sơ bộ hiệu quả kinh tế 40
Chương 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .41
5.1 Kết luận 41
5.2 Kiến nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 7DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả các tính chất cơ lý theo vùng phân bố lỗ mạch 8
Bảng 2.2 Sản lượng dừa của một số địa phương Việt Nam (tấn) 10
Bảng 2.3 Thông tin chung về cây dừa khu vực Nam Bộ 11
Bảng 2.4 Thông tin về thân cây dừa 30 năm tuổi 11
Bảng 3.1: Ép ván gỗ dừa giống gỗ điều 20
Bảng 3.2: Thử nghiệm sự thay đổi nhiệt độ trong quá trình ép 20
Bảng 3.3: Thử nghiệm sự thay đổi thời gian trong quá trình ép 21
Bảng 3.4: Thử nghiệm sự thay đổi lượng keo trong quá trình ép 21
Bảng 3.5: Thử nghiệm sự thay đổi lượng keo trong quá trình ép 21
Bảng 4.1: Ép ván gỗ dừa giống gỗ điều 33
Bảng 4.2: Thử nghiệm sự thay đổi nhiệt độ trong quá trình ép 33
Bảng 4.3: Thử nghiệm sự thay đổi thời gian trong quá trình ép 34
Bảng 4.4: Thử nghiệm sự thay đổi lượng keo trong quá trình ép 35
Bảng 4.5: Thử nghiệm sự thay đổi áp suất trong quá trình ép 36
Bảng 4.6: Kết quả ván ép dọc 37
Bảng 4.7: Kết quả ván ép dọc - ngang 37
Bảng 4.1 Giá thành sản phẩm 40
Trang 8DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Hình vẽ cách đếm lỗ mạch 6
Hình 2.2 Hình vẽ mô phỏng mặt cắt ngang thân cây dừa 6
Hình 3.1a: Ván ép dọc – ngang 19
Hình 3.1b: Ván ép dọc 19
Hình 3.2: Biểu đồ ép ván 22
Hình 3.3: Mô tả cắt mẫu thử để xác định độ bền kéo trượt 25
Hình 3.4: Sơ đồ bố trí mẫu thử uốn 25
Hình 3.5: Biểu đồ tải trọng – biến dạng khi uốn tĩnh 25
Hình 4.1:Vá ván bằng băng keo 30
Hình 4.2: Tráng keo xếp ván 31
Hình 4.3: Máy ép 6 tần 31
Hình 4.1 Ván có su hướng tách lớp 34
Hình 4.2 Ván bị cháy 35
Hình 4.3 Ván bị tràng keo ra ngoài 36
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
Từ ngàn xưa, gỗ đã sớm gắn bó với đời sống con người, đặc biệt là những loại
gỗ có giá trị kinh tế cao Xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng cao Cùng với sự phát triển này nguồn nguyên liệu gỗ hiện nay đang giảm đáng kể, các loại
gỗ quý hầu như dần biến mất
Gỗ và sản phẩm từ gỗ ngày càng được người tiêu dùng ưa chuộng, gia tăng về
số lượng và chất lượng Chính vì vậy, ngành chế biến gỗ đã chuyển hướng từ mục tiêu
sử dụng gỗ rừng tự nhiên sang gỗ mọc nhanh rừng trồng và sản phẩm ván nhân tạo Ván nhân tạo là loại vật liệu góp phần thay thế gỗ tự nhiên và được sử dụng rộng rãi trong hàng mộc, xây dựng…Cho nên, việc nghiên cứu công nghệ sản xuất ván nhân tạo là rất cần thiết cho sự phát triển ngành chế biến lâm sản nói chung và công nghiệp ván nhân tạo nói riêng Ván nhân tạo có tất cả các ưu điểm và đặc tính của gỗ tự nhiên, đặc biệt có thể khắc phục được các nhược điểm của gỗ nhằm thõa mãn nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Ván nhân tạo là một loại vật liệu tự nhiên, sinh ra từ tự nhiên và có thể tái tạo lại hoặc trả về tự nhiên, không gây ô nhiễm môi trường Vì vây
mà việc nghiên cứu và sử dụng ván nhân tạo ngày càng được mở rộng
Được sự phân công của Khoa Lâm Nghiêp, dưới sự hướng dẫn của thầy Tiến sĩ Hoàng Xuân Niên chúng tôi đã nghiên cứu sản xuất ván dán từ thân cây dừa Thời gian nghiên cứu cũng như kiến thức có hạn nên trong quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong có sự góp ý của thầy cô cùng bạn bè để
đề tài hoàn chỉnh hơn
Trang 10Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, dân số không ngừng tăng lên cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế xã hội làm cho nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng nhiều Nhưng nguồn cung cấp nguyên liệu gỗ từ rừng ngày càng cạn kiệt Từ đó, nhiều quốc gia, kể cả Việt nam cũng hướng tới việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu mới, cung cấp bổ sung cho ngành chế biến lâm sản, làm giảm áp lực cung cấp gỗ từ rừng và từ nguồn nhập khẩu
Ở nước ta, cây dừa có khối lượng thể tích thân đáng kể, trữ lượng cao, phân bố nhiều ở vùng Duyên hải miền trung và Đồng bằng Nam bộ, hoàn toàn có khả năng trở thành nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến lâm sản Nhưng hiện nay, thân dừa đang được sử dụng một cách kém hiệu quả và không có một định hướng sản xuất
rỏ ràng Vì vậy, nghiên cứu những giải pháp công nghệ để chế biến thân cây dừa nhằm tạo ra những sản phẩm có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng cao, ở những khu vực đông dân, nhu cầu dung gỗ cao nhưng nguồn cung cấp từ gỗ rừng hạn chế là rất cần thiết
1.2 Mục đích đề tài
Mục đích chính của đề tài là ứng dụng công nghệ ép ván dán từ gỗ vào ép ván dán từ thân cây dừa, nhằm tạo ra một dạng sản phẩm mới bổ sung vào sản xuất ván nhân tạo và thay thế cho gỗ tự nhiên
Mở rộng hướng sử dụng của cây dừa
1.3 Mục tiêu đề tài
Bước đầu xây dựng quy trình công nghệ ép ván từ thân cây dừa từ quy trình công nghệ ép ván từ gỗ
Trang 11Ván dán từ cây dừa được dùng trong hàng mộc xuất khẩu, trang trí nội thất…
thay thế cho ván dán từ gỗ hoàn toàn
Trang 12Chương 2
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Giới thiệu sơ lược về cây dừa
2.1.1 Tên gọi
Tên Việt Nam: Cây dừa
Tên khoa học: Cocos Nucifera L
2.1.2 Điều kiện sinh trưởng, đặc tính sinh thái
2.1.2.1 Điều kiện sinh trưởng
Nguồn gốc của loài thực vật này là chủ đề gây tranh cãi, trong đó một số học giả cho rằng nó có nguồn gốc ở khu vực Đông nam á trong khi những người khác cho rằng nó có nguồn gốc ở miền Tây bắc Nam mỹ Các mẫu hóa thạch tìm thấy ở New Zealand chỉ ra rằng các loại thực vật nhỏ tương tự như cây dừa đã mọc ở khu vực này
từ khoảng 15 triệu năm trước Thậm chí những hóa thạch có niên đại sớm hơn cũng đã được phát hiện tại Rathan và Maharashtra Ấn Độ
Dừa là cây một lá mầm, được trồng từ quả, thích hợp trên vùng đất thấp có độ cao dưới 300m, ở vĩ độ 150 với lượng mưa đều trong năm, phân bố tự nhiên là vùng đất cát ven biển, ven các sông và cửa biển Dừa phát triển trên đất pha cát, có khả năng chống chịu mặn tốt cũng như nó ưa thích các nơi có nhiều nắng và lượng mưa trung bình (750 - 2.000 mm hàng năm) Điều này giúp dừa trở thành loại cây sinh trưởng bên các bờ biển nhiệt đới một cách tương đối dễ dàng Dừa cần độ ẩm cao (70 - 80%)
để có thể phát triển một cách tốt nhất, nên rất ít khi tìm thấy trong khu vực có độ ẩm thấp (ví dụ khu vực Địa trung hải), thậm chí cả khi các khu vực này đủ cao Nó rất khó trồng và phát triển trong khu vực khô cằn
Trang 132.1.2.2 Đặc điểm sinh thái
Cây dừa có dáng thẳng đứng, hình trụ tròn độ thon ít Các tàu lá dài 2,5 - 3,5 m, mọc quanh thân Lá kép lông chim, dài 0,5 – 1 m rộng 3 - 4 cm Dừa là cây có hoa tính đơn, không cuống Hoa cái từ 25 – 35 hoa/buồng, hoa đực từ 7000 – 9000 hoa/buồng Hoa cái màu vàng pha lục nhạt, đường kính từ 1 – 2 cm Dừa ra hoa liên tục với hoa cái tạo ra hạt Quả dừa gồm có vỏ, cơm, gáo và nước dừa
Vỏ quả ngoài nổi rõ 3 gờ, lớp ngoài dày khoảng 0,5 mm, cứng nhẵn bóng Ngay sát lớp ngoài là lớp giữa gồm các sợi xơ dừa và mô mềm Bên trong vỏ là gáo dừa (hoặc sọ dừa) hoá gỗ cứng, trên sọ dừa có ba lỗ mầm cú thể nhìn thấy rất rõ từ phía ngoài (gọi là các mắt dừa) Thông qua một trong các lỗ này thì rễ mầm sẽ nứt ra khi phôi nảy mầm Bên trong gáo dừa là cơm dừa màu trắng và nước dừa
Tất cả các bộ phận cấu thành quả dừa khô đều được sử dụng Vỏ dừa được dùng làm đồ thủ công mỹ nghệ, xơ dừa làm nệm và ván dăm… Bột làm đất sạch xuất khẩu Gáo dừa sản xuất than hoạt tính, đồ thủ công mỹ nghệ Cơm dừa làm thực phẩm, bánh kẹo… và sản xuất dầu dừa Nước dừa làm thạch dừa và chế biến thực phẩm
Ở Việt nam, dừa được trồng rộng rãi ở nhiều tỉnh, tổng diện tích che phủ khoảng 185.000 ha, tập trung là Duyên hải miền trung và Tây nam bộ Sản lượng dừa bình quân 1.200.000 – 1.300.000 tấn/năm Như vậy, cây dừa có tiềm năng lớn, nếu biết khai thác và sử dụng hợp lý, nó sẽ trở thành nguồn tài nguyên có giá trị về nhiều mặt
Tóm lại, cây dừa được trồng ở nước ta từ lâu Trong khi trái dừa được sử dụng làm sản phẩm thương mại đa dạng và có giá trị cao thì thân cây dừa mới được sử dụng
ở dạng chế biến thô, chất lượng thấp, thiếu sự đầu tư, giá trị kinh tế của thân cây dừa chưa cao Vì vậy, cần sớm có những tác động công nghệ vào khâu chế biến, nâng cao giá trị của cây dừa cũng như tăng thu nhập cho người trồng dừa
2.1.3 Cấu tạo
Do không đi sâu nghiên cứu cấu tạo hiển vi, chúng tôi dùng kính lúp quan sát, tạm gọi những lỗ trên mặt cắt ngang là “lỗ mạch”
Quan sát mặt cắt ngang của thân cây dừa, cây có độ tuổi thấp hoặc đoạn ngọn
có màu trắng ngà, cây có tuổi cao có màu màu nâu nhạt, cây càng già màu nâu càng đậm, dưới gốc màu sẩm hơn phần ngọn Theo chiều xuyên tâm, có các lỗ mạch phân
bố trên khắp mặt cắt ngang, số lỗ mạch trên 1 cm2 lần lượt giảm dần từ ngoài vào
Trang 14trong
Cách đếm lỗ mạch được đếm từ trai sang phải từ vỏ vào tâm như hình vẽ 2.1 Theo chiều từ trái sang phải có sự giảm dần mật độ các lỗ mạch như sau: 115, 112,
110, 108, 85, 77, 69, 51, 45, 40 Sự giảm dần mật độ lỗ mạch lần lượt từ ô 1 đến ô 10 là: 3, 2, 2, 23, 8, 8, 18, 6,5 Kết quả này cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa ô 4 và 5, giữa
ô 7 và 8 chứng tỏ có sự phân lớp từ vỏ vào trong thân cây dừa
Hình 2.1 Hình vẽ cách đếm lỗ mạch Xung quanh các lỗ mạch có các tổ chức nhu mô màu hơi vàng, đường kính khoảng 1,0 – 1,5 mm Hệ thống vận chuyển chất dinh dưỡng gần giống như đường ống, dày, tạo nên độ cứng vững của cây Tổ chức nhu mô có chức năng chính là dự trữ chất dinh dưỡng Quan sát mặt cắt ngang cho thấy sự phân bố vật chất của cây dừa không đều cả hai phương: hướng tâm và dọc trục Mật độ vật chất phía sát vỏ cao, giảm dần đến tâm cây Theo chiều từ ngoài vào tâm, khối lượng riêng giảm dần Khối lượng riêng của cây dừa phân bố tùy thuộc vào vị trí trên thân cây, vùng sinh thái, độ tuổi, nhưng trên một đường tròn đồng tâm thì trị số tương đối đồng đều Theo chiều dọc thân cây, khối lượng riêng giảm dần Trên cở sở những khảo sát phân bố mật độ lỗ mạch trên mặt cắt ngang thân cây dừa chúng tôi đã trình bày có thể chia làm 3 vùng khác nhau để nghiên cứu tính chất cơ học, vật lý và khối lượng riêng của thân cây dừa
Hình 2.2 Hình vẽ mô phỏng mặt cắt ngang thân cây dừa Trên hình 2.2, vùng I từ ngoài vào là vùng có mật độ lỗ mạch cao, vùng II trung bình và vùng III thấp
Trang 152.1.4 Tính chất cơ lý của gỗ dừa
Do cây dừa chưa được nghiên cứu đầy đủ, nên những tính chất cơ lý chưa được công bố hệ thống để làm cơ sở cho nghiên cứu bóc ván mỏng từ thân cây dừa, chúng tôi xác định một số thông số sau:
2.1.4.1 Tính chất vật lý
Vì điều kiện kinh tế cũng như lý do khách quan và chủ quan khác, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu một số tính chất cơ lý của gỗ dừa và chỉ tiến hành cho lớp I và lớp II để kiểm chứng những dự đoán và làm cơ sở cho nghiên cứu công nghệ bóc ván mỏng
Khối lượng thể tích phụ thuộc: tuổi dừa, loại dừa, vị trí trên thân, vị trí mặt cắt ngang Cây già thường có khối lượng thể tích lớn hơn cây con Khối lượng thể tích cũng phụ thuộc phần lớn vào mật độ phân bố lỗ mạch Chúng tôi đếm số lỗ mạch trên
1 cm2 lần lượt từ ngoài vào trong là 115, 112, 110, 108, 85, 77, 69, 51, 45, 40, do vậy lớp ngoài có khối lượng thể tích lớn hơn lớp trong, càng gần gốc khối lượng thể tích càng lớn hơn
Lớp I: giá trị trung bình 55,24%
LớpII: giá trị trung bình 108,33%
2.1.4.3 Tính chất cơ học
Chúng tôi tiến hành thử lực tại Trung tâm kỹ thuật đo lường chất lượng 3 Tp
Hồ Chí Minh kết quả cho thấy rằng cường độ cơ học của cây dừa là khá thấp, có sự khác biệt rõ ràng giữa các lớp Càng vào trong ruột chúng tôi nhận thấy rằng cường độ
cơ học càng giảm
Trang 16 Cường độ chịu nén thớ
Lớp I: đạt giá trị trị trung bình 260,16 kG/cm3
Lớp II: đạt giá trị trung bình 101,721 kG/cm3
Cường độ chịu trượt
Lớp I: đạt giá trị trị trung bình 61, 358 kG/cm3
Lớp II: đạt giá trị trị trung bình 31,767 kG/cm3
Những chất chứa trong thân cây dừa
Chúng tôi tiến hành phân tích độ pH và lượng muối trong thân cây dừa tại Trung tâm công nghệ quản lý môi trường và tài nguyên Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM kết quả như sau:
Cường độ chịu trượt (kG/ cm3) 61,358 31,767
2.2 Tình hình sử dụng cây dừa hiện nay
Ở đây chúng tôi dùng thuật ngữ “gỗ dừa” để chỉ thân cây dừa Các tỉnh trồng dừa ở miền Nam đều có các xưởng chế biên gỗ dừa, nhưng hầu hết với quy mô nhỏ, gồm 1 - 2 cưa CD4 và 1 - 3 cưa đĩa Đối với cây dừa già được xẻ thành ván hoặc thanh trong xây dựng (làm vách hoặc cột) Đối với cây dừa non thì xẻ làm ván cotpha
Trong sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ chỉ sử dụng được phần gốc dừa khoảng 0,8 - 1,5 m
Thân cây dừa còn được sử dụng làm cầu bắt qua các con mương ở các tỉnh miền Tây
Công nghệ gia công và thiết bị chế biến gỗ dừa gần giống như trong gia công
Trang 17gỗ Công nghệ chế biến gỗ dừa hiện nay còn mang tính tập quán cũ, thiếu hiệu quả Mặt hàng cây dừa có trên 20 nhóm, nhìn chung vẫn chưa có tác động nhiều về khoa học kỹ thuật để nâng cao hiệu quả sử dụng thân cây dừa nói riêng và cây dừa nói chung
Cây dừa có dáng thẳng đứng, độ thót ngọn nhỏ Từ gốc đến ngọn, tính chất cơ học giảm, độ ẩm tăng Độ ẩm ở gốc từ 50 – 60 %, ở ngọn là 35 % Chiều dài thõn cây trưởng thành trung bình là 15 - 17 m
Đoạn thân cây dừa có giá trị kinh tế, được dùng trong chế biến các mặt hàng mộc gia dụng, dùng làm đồ mỹ nghệ hoặc làm vật liệu cho một số công trình xây dựng (nổi tiếng nhất là cung điện Dừa tại Manila)
Ngoài ra, thân cây dừa cũng có một số đặc điểm khác là: Gỗ dừa xẻ ngâm trong nước không bị côn trùng phá hoại Khi sử dụng ngoài trời, gỗ dừa bị phá hoại nhanh vì vậy cần bảo quản
Khi sử dụng các loại đinh kim loại làm mối ghép sẽ bị hủy hoại nhanh và tại chỗ đóng đinh gỗ dừa cũng bị phân hủy
2.3 Thân cây dừa - Khả năng trở thành nguồn nguyên liệu chế biến gỗ
Để trở thành nguồn nguyên liệu cho một ngành công nghiệp chế biến tồn tại và phát triển thì loại nguyên liệu sử dụng cần có những đặc điểm sau:
Đạt yêu cầu về chất lượng
Số lượng khai thác hàng năm và trữ lượng phải lớn
Thuận tiện khai thác và vận chuyển
Chi phí cho một đơn vị nguyên liệu thấp
Trên cơ sở đó xem xét khả năng trở thành nguồn nguyên liệu công nghiệp chế biến của thân dừa
Theo thống kê của Hiệp hội dừa châu Á - Thái Bình Dương vào thời điểm
1989, Việt Nam có 333.000 ha dừa, đạt sản lượng 1.200 triệu quả Còn theo thống kê của tổ chức FAO vào thời điểm năm 2004, diện tích dừa của Việt Nam chỉ còn 153.000 ha Tuy nhiên, qua khảo sát, đánh giá của Viện Nghiên cứu Dầu thực vật thuộc Bộ Công nghiệp thì diện tích trồng dừa thực tế của nước ta hiện nay vào khoảng 180.000 ha
Qua khảo sát, đánh giá của Viện nghiên cứu Dầu thực vật cho thấy các vườn
Trang 18dừa ở nước ta hiện nay nhìn chung đa số còn trẻ so với tuổi giới hạn của khai thác kinh
tế do được phục hồi và phát triển chủ yếu sau năm 1975 Tuy nhiên, ở Duyên hải miền Trung và Khu vực Nam Trung bộ (Phú Yên, Bình Thuận, Khánh Hòa, Bình Định, Quảng Ngãi ), diện tích dừa lão chiếm tới 50% trong tổng số 32.000 ha, có thể khai thác gỗ và đi kèm với chương trình trồng lại các vườn dừa lão Đối với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, nơi trồng tập trung diện tích, quyết định năng suất và sản lượng dừa ở nước ta chủ yếu được trồng mới sau chiến tranh (80%); các vườn dừa này có tuổi 25 đến 30 năm Như vậy, hiện nay cả nước có từ 27.000 đến 30.000 ha dừa trong giai đoạn dừa lão (tương đương với 4,3 đến 4,8 triệu cây dừa), năng suất giảm cần đốn
đi và trồng lại bằng các giống cao sản Nếu tính trung bình mỗi cây dừa lão sau khi được đốn ngã có chiều dài khoảng 10 m, đường kính 25 cm, tính ra tương đương 0,3
m3 Với khoảng 4,5 triệu cây dừa lão sẽ có 1.350.000 m3 gỗ dừa
Bảng 2.2: Sản lượng dừa của một số địa phương Việt Nam (tấn)
1.335.758 137.646 102.214 902.928 218.986 120.305 171.253 115.213
1.317.797 142.463 100.134 1.040.558 212.520 106.779 171.256 116.213 150.225
1.280.345 152.079 87.621 1.008.059 200.930 156.200 154.657 126.082 150.225
1.234.512 155.344 63.290 977.818 205.025 160.000 154.657 126.082 108.000 Nguồn: Số liệu thống kê tình hình phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 của nhà xuất bản thống kê và qua mạng internet trong các địa phương
Trang 19Bảng 2.3: Thông tin chung về cây dừa khu vực Nam Bộ
Số cây trồng /ha
Năng suất trái/cây/ha
Năng suất trái/ha/năm
Giá một quả dừa (VNĐ)
Giá một tấn xơ dừa loại một (USD)
Giá một tấn than từ gáo dừa (USD)
Giá một tấn bột xơ dừa (USD)
Giá một một thân cây dừa (VNĐ)
Cây dừa tập trung nhiều ở khu vực Nam bộ và Duyên hải miền trung Hằng năm có một khối lượng đáng kể thân cây dừa được chặt để trồng mới Theo thống kê của các địa phương, có những năm nhiều tỉnh chặt hạ từ 2000 – 3000 ha dừa, còn bình thường hàng năm chặt hạ khoảng twg 500 – 1500 ha dừa Thông thường trước khi chặt người ta đã trồng một cây con thay thế trước đó vài năm, nên vườn dừa luôn có một mật độ ổn định
Bảng 2.4: Thông tin về thân cây dừa 30 năm tuổi
Số lượng cây dừa/ha (cây/ha)
Đường kính gốc trung bình (cm)
Đường kính ngọn trung bình (cm)
Chiều dài thân trung bình (m)
Thể tích trung bình cây dừa (m3)
Khối lượng tính cho 100 cây/ha (m3)
Khối lượng thân cây dừa tính cho tổng diện tích (m3)
140 - 150
30
20
20 0.9
90 16.650.000 Nguồn: Số liệu thống kê tình hình phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 của nhà xuất bản thống kê và qua mạng internet trong các địa phương
Diện tích trồng dừa ở Nam bộ khoảng 155.000 ha, Duyên hải miền trung khoảng 30.000 ha như vậy có khoảng 17 triệu m3 gỗ dừa ở hai vùng trọng điểm trồng dừa là rất đáng quan tâm để xây dựng một ngành công nghiệp chế biến gỗ dừa
Trang 20Ván dán có một số ưu điểm: dễ nâng cao tỉ lệ lợi dụng gỗ, sản phẩm đồng đều
về độ ẩm, linh động khi liên kết, khắc phục một số nhược điểm ván từ gỗ nguyên, có thể ép thành ván có kích thước lơn hơn gỗ tự nhiên
2.5 Nguyên lý tạo ván
Trong công nghệ sản xuất ván nhân tạo, ván dán được hình thành theo phương pháp.ép các tấm ván mỏng lại với nhau theo chiều dày hay theo theo lớp với nguyên lý các lớp ván là số lẻ thường là 3, 5, 7, 9, Để được một tấm ván có kích thước theo đúng như ý muốn ta cần tiến hành ép các lớp ván mỏng lại với nhau, trong quá trình ép cần chú ý các vấn đề sau.Lựa chọn và sắp xếp sao cho sự co rút về ứng suất và dãn nở toàn bộ sau khi tấm ván hoàn thiện không bị cong vênh, mo và chiều dày của ván phải đồng đều.Tránh hiện tượng tập trung ứng suất trên tấm ván, Các ván mỏng trên cùng một tấm ván thương chung một loại gỗ nhằm gia tăng tính đồng nhất của tấm ván.Các lớp ván mỏng ép lại với nhau phải đảm bảo gia công đúng quy cách, phải đảm bảo độ kín khích của các ván mỏng khi xếp ván
Một số giải pháp hình thành ván dán
Ván dán là một loại ván nhân tạo và sản phẩm thu được là một ván gồm nhiều tấm ván mỏng ép lại với nhau nhờ keo Các tấm ván mỏng có kích thước gần như bằng nhau được ép lại bằng các giải pháp sau đây:
Tráng keo ván mỏng
Trong sản xuất ván dán điều quan trọng của việc tráng keo ván mỏng là sự phân
bố đồng đều của màng keo Màng keo phải phẳng và phù hợp với màng đối diện, nếu
bề mặt của vật tráng keo không phẳng gây khó khăn cho quá trình tráng keo dẫn đến màng keo không đồng đều và rất tốt keo
Có hai phương pháp tráng keo là: Tráng keo một phía và tráng keo hai phía
Trang 21được thực hiện trên máy tráng keo về nguyên lý cấu tạo gồm nhiều kiểu khác nhau
- Các phương pháp tráng keo
Tráng keo kiểu phun: Dùng máy nén khí để phun keo, ván mỏng được đặt
trong một máng (khay) với mục đích thu hồi lượng keo rơi vãi ra ngoài
Tráng keo kiểu rulô: Được sử dụng rộng rãi hầu hết ở các cơ sở sản xuất ván
dán, bộ phận chủ yếu là trống tráng keo Có ưu điểm là keo được đưa lên đồng đều cả hai bề mặt, tiết kiệm được diện tích nhà xưởng, thiết bị gọn nhẹ Tuy nhiên còn tồn tại một số nhược điểm là tiêu hao lượng keo lớn 150 – 200 g/m2, năng suất thấp màng keo khó ổn định, lượng keo mất mát lớn
Tráng keo kiểu rót: Phương pháp này không dùng áp lực chỉ tráng keo trên bề
mặt của ván Keo được rót nhờ hệ thống rãnh kéo dài theo phương chiều rộng của ván, ván được đẩy nhờ hệ thống băng tải với vận tốc u = 2,5 – 3,5 m/s Năng suất cao, lượng keo tiêu hao ít Nhược điểm, rãnh rót hay bị tắc khó bảo dưỡng, tốn diện tích nhà xưởng
Xếp ván
Khâu xếp ván được tiến hành ngay sau khi tráng keo, mục đích xếp các tấm ván mỏng đã tráng keo để tạo thành tấm ván dán và xếp thành từng chồng các tấm ván dán chưa ép lại
Yêu cầu đối với khâu xếp ván:
+ Đủ số lớp
+ Đúng quy cách sản phẩm
+ Các bề mặt tiếp xúc ít nhất phải có một bề mặt được tráng keo
+ Hạn chế tối đa sự xê dịch của các lớp ván mỏng trước khi ép
+ Khâu xếp ván phải đảm bảo năng suất máy ép Tiết kiệm nhà xưởng và nhân lực
Các phương pháp xếp ván:
Trong sơ đồ xếp ván trên băng chuyền, bộ phận chủ yếu là băng chuyền hoạt động theo nhịp Ưu điểm các tấm ván mỏng của một sản phẩm được xếp trong cùng một thời gian do vậy cho năng suất cao, phù hợp với việc xếp ván nhiều lớp Nhược điểm chiếm nhiều diện tích nhà xưởng
Trang 22Dán ép ván
Ép sơ bộ: Mục đích làm tăng chất lượng cho sản phẩm, tăng năng suất máy ép
chính Ép sơ bộ, các bề mặt dán dính đã có một lực liên kết nhất định, chiều cao chồng ván giảm một cách đáng kể
Ép nhiệt: Khâu ép nhiệt là khâu quan trọng nhất trong dây chuyền sản suất ván
dán Máy ép nóng là một khâu chủ đạo quyết định toàn bộ khả năng hoạt động của dây chuyền công nghệ Hiện nay phương pháp này được dùng khá phổ biến Với phương pháp này ván mỏng được sấy khô ở độ ẩm W = 6 – 8% Chế độ ép bao gồm nhiệt độ
ép (toC), áp suất ép (P) kG/cm2 và thời gian ép (s) Đối với phương pháp dán nóng nhiệt độ ép phụ thuộc vào loại keo
Thiết bị ép: Tùy thuộc vào các phương pháp ép, các kiểu gia nhiệt đối với bàn
ép có thể phân loại thiết bị ép như sau:
+ Máy ép thủy lực một tầng: Thường dùng để ép sơ bộ trước khi đưa vào máy
ép nóng hoặc kết hợp với gia nhiệt làm máy ép nóng ở các cơ sở sản xuất nhỏ
+ Máy ép băng truyền: Hoạt động liên tục, áp lực ép đuợc tạo ra nhờ hệ thống rulô nén Hệ thống thiết bị gia nhiệt phức tạp thường được gia nhiệt bằng dòng điện cao tần
+ Máy ép thủy lực nhiều tầng: Được sử dụng rộng rãi trong sản xuất ván dán nói riêng và ván nhân tạo nói chung Máy ép hoạt động nhờ hệ thống thuỷ lực pittông nằm ở mặt bàn dưới, bàn ép dưới chuyển động lên xuống nhờ hệ thống thủy lực, bàn
ép trên cố định Tùy theo kích thước bàn ép mà máy ép có thể từ 1- 8 xi lanh, những xi lanh đựợc bố trí đối xứng nhằm phân bố lực ép đồng đều trên mọi điểm của bàn ép Đường kính xilanh thông thường D = 200- 600 mm Ngoài ra, ở một số máy ép được
bố trí thêm hệ thống pittông phụ có áp lực bé, tốc độ hành trình lớn, có nhiệm vụ đóng
mở các khoang ép Đường kính xi lanh phụ d = 100- 160 mm
- Bàn ép: Là một trong những bộ phận ảnh hưởng phần lớn đến chất lượng sản phẩm, bàn ép có chiều dày từ 38 – 55 mm, kích thước bàn ép phụ thuộc vào đặc tính của máy ép Bề mặt bàn ép cần phải phẳng và được gia nhiệt đồng đều trên toàn bộ bề mặt, gia nhiệt bằng hơi nước Độ phẳng 0,05 – 0,1 mm Chênh lệch nhiệt độ trên bàn
ép < 2oC
Trang 232.6 Một số ảnh hưởng đến chất lượng ván dán
2.6.1 Ảnh hưởng của nguyên liệu đến chất lượng ván dán
Ảnh hưởng của chủng loại nguyên liệu dán
Tùy thuộc vào chủng loại, nguyên liệu mà ta chọn phương pháp dán cho hợp lý Nếu ta chọn phương pháp không hợp lý sẽ ảnh hưởng đến chất lượng ván sau này
Ảnh hưởng của độ ẩm nguyên liệu khi dán
Độ ẩm của ván mỏng là một yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm ván dán Nếu độ ẩm phôi ghép lớn sẽ làm giảm độ nhớt của keo do đó dễ tạo màng keo không liên tục và kéo dài thời gian đóng rắn của keo Ngược lại khi độ ẩm ván mỏng nhỏ, gỗ sẽ hút nước của dung dịch keolàm cho nồng độ keo tăng lên dẫn đến khó trải màng keo trên bề mặt nguyên liệu, dẫn đến chất lượng dán dính giảm
Ảnh hưởng đến chất lượng bề mặt ván mỏng khi dán
Trong quá trình bóc có thể lưỡi dao bị cùn, do đó bề mặt nguyên liệu dán bị mấp mô Lượng mấp mô càng lớn khi tráng keo màng keo sẽ không đồng đều ảnh hưởng đến chất lượng dán dính
2.6.2 Ảnh hưởng các yếu tố công nghệ đến chất lượng ván dán
Chất lượng sản phẩm ván dán phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như chất lượng ván mỏng, sai số gia công ván mỏng, chất lượng keo tráng cũng như hàng loạt các yếu
tố về chế độ dán ép như nhiệt độ ép, áp suất ép, thời gian ép…Chúng ta có thể biểu diễn mối quan hệ này theo phương trình sau:
Y = f(x, z, t) Trong đó: y: là chất lượng sản phẩm
x: các thông số thuộc về vật dán ( ván mỏng)
z: các thông số thuộc về chất kết dính
t: các thông số thuộc về chế độ ép
Ảnh hưởng của ván mỏng (vật dán)
Ảnh hưởng của độ nhẵn bềmặt ván mỏng: Độ mấp mô càng lớn khi tráng keo
màng keo sẽ không đồng đều dẫn đến khi ép nóng nảy sinh ứng suất trong ván, chất lượng mối giảm
Ảnh hưởng của độ ẩm ván mỏng: Là một yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến
chất lượng sản phẩm Nếu độ ẩm ván mỏng lớn sẽ giảm độ nhớt của keo do đó sẽ tạo
Trang 24màng keo không liên tục và kéo dài thời gian đóng rắn của keo Ngược lại khi độ ẩm ván mỏng nhỏ, gỗ sẽ hút nước của dung dịch keo làm cho nồng độ keo tăng lên dẫn đến khó trải màng keo trên bề mặt ván dẫn đến chất lượng dán dính giảm
Ảnh hưởng của sai số chiều dày ván mỏng: Trong quá trình bóc ván mỏng do
lắp dao và thước nén không chính xác hoặc do quan hệ động học giữa dao và gỗ dừa, thường tạo ra các tấm ván mỏng không đồng đều Sai số chiều dày của ván mỏng càng lớn sẽ làm chiều dày màng keo không đồng đều làm cho chất lượng mối dán giảm
Ảnh hưởng của keo dán: Trong sản xuất ván dán keo đóng vai trò quan trọng
trong công nghệ
Keo dán chất lượng tốt thì độ bền ván được nâng lên và ngược lại
Ảnh hưởng của nồng độ keo: Nồng độ keo có ảnh hưởng đến chất lượng mối
dán nếu nồng độ keo thấp thì độ ẩm sản phẩm sẽ cao Ngoài ra, khi nồng độ keo thấp keo dễ đóng rắn trước khi đưa vào dán ván Ngược lại nếu nồng độ keo dán cao màng keo trải sẽ khó đồng đều trên bề mặt vật dán, chất lượng mối dán giảm
Ảnh hưởng của độ nhớt keo: Độ nhớt của keo thể hiện nội lực của keo sinh ra
khi các phân tử chuyển động, nó quyết định khả năng thấm ước của keo trên bề mặt
gỗ Khi độ nhớt của keo phù hợp sẽ đảm bảo được màng keo liên tục và đủ mỏng, chất lượng dán dính sẽ tốt
+ Độ nhớt của keo thấp chứng tỏ mức độ trùng ngưng thấp, chất lượng dán dính giảm
+ Độ nhớt của keo quá cao sản sinh nội lực của keo lớn dẫn đến khó trải đều màng keo và màng keo không liên tục
- Ảnh hưởng của lượng keo tráng: Lượng keo tráng phải tạo thành màng keo
liện tục và đủ mỏng
Hiện nay việc tráng keo phụ thuộc rất nhiều vào thiết bị công nghệ tráng keo, loại keo và còn phụ thuộc vào bề mặt tráng
Ảnh hưởng của các thông số chế độ ép
-Nhiệt độ ép: Nhiệt độ ép phụ thuộc vào loại keo Dùng phương pháp dán nóng
tốt hơn dán nguội , khi nhiệt độ cao gỗ sẽ hóa dẻo và độ nhớt keo giảm giúp trải đều màng keo làm tăng khả năng tiếp xúc giữa các lớp ván mỏng Tuy nhiên khi ép nhiệt
độ cao hơn hay thấp hơn nhiệt độ đóng rắn cho phép của keo đều không tốt đến độ bền
Trang 25dán dính
- Áp suất ép: Để có đươc sự tiếp xúc tốt giữa màng keo và gỗ khả năng trải đều
của màng keo thì áp suất phải phù hợp, áp suất ép phụ thuộc vào các yếu tố như trạng thái gỗ( độ ẩm, độ nhẵn bề mặt gỗ ép….)
- Thời gian ép: Là khoảng thời gian cần thiết để duy trì ván dán trong máy sao
cho thu được cường độ dán dính tốt nhất Ngoài ra thời gian ép còn phụ thuộc vào thời gian đóng rắn của keo Hiện nay trong sản suất ván dán còn phụ thuộc vào điều kiện
thực tế của từng xí nghiệp sao cho chất lượng ván đạt chất lượng tốt nhất
Trang 26Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Nội dung nghiên cứu
Đặc trưng quan trọng nhất của mọi loại ván là các tính chất cơ lý của chúng như khối lượng thể tích, độ dãn nở…
Cây dừa có đặc điểm là thân khá thẳng, ít khuyết tật, không có tia gỗ, trên cùng một đường tròn thì tỉ trọng và kết cấu gỗ khá đồng đều nên có thể chia (từ ngoài vỏ vào ruột ) ra ba phần hoặc có thể nhiều hơn theo mục đích sử dụng gỗ có tính chất cơ
lý đồng đều nhau
Qua đó chúng tôi thực hiện các phưong pháp dán là
Phương pháp dán 1: Ép các lớp ván mỏng cùng lớp lại với nhau
Phương pháp dán 2: Ép các lớp ván mỏng khác lớp lại với nhau
Phân tích ưu nhược điểm của từng phương pháp
Phương pháp 1: Tạo ván có tính chất cơ lý tốt, mặt ván đẹp, ván đảm bảo sự đồng
màu, độ bền cơ học cao không sinh ra ứng suất, ván không bị cong vênh… Nhược điểm của ván là trong khâu bóc ván mỏng phải phân loại ván tốn nhiều công và phức tạp
Phương pháp 2: Dễ thực hiện, dễ cơ giới hóa và tự động hóa Nhược điểm là sinh ra
ứng suất, ván dễ cong mo, độ bền không cao
Qua quá trình tìm hiểu nguyên liệu và hai phương pháp dán chúng tôi nhận thấy phương pháp 1 là hiệu quả nhất Nhưng không thể có nhiều ván mỏng trên cùng một lớp Trong quá trình sản suất để đạt hiệu quả kinh tế cao người ta thường dung phương pháp
Trang 27Các thông số cần kiểm tra
Khối lượng thể tích ván (g/cm2)
Độ hút nước của ván sau 2 giờ ngâm (%); (theo tiêu chuẩn ngành 04TCN2 – 1999)
Độ trương nở của ván sau 2 giờ ngâm (%); theo tiêu chuẩn ngành 04TCN2 – 1999) Giới hạn kéo trượt bền của ván
Ảnh hưởng đến thời gian ép (phút / tấm)
Ảnh hưởng của vị trí trên thân cây đến chất lượng ván
3.1.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên thực tế có nhiều cách để tiếp cận vấn đề nghiên cứu Nhưng đề tài còn mới với thời gian và điều kiện kinh phí có hạn, cho nên chúng tôi chưa quy hoạch thực nghiệm để đưa ra thông số tối ưu nhất Chúng tôi chọn phương pháp khảo nghiệm ép ván trong thực tế của công ty TNHH Hiệp Nguyên tại Bến Cát – Bình Dương, dựa trên
cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước đây từ công nghệ ép ván dán từ gỗ Từ đó đi đến kết luận ban đầu về khả năng sản xuất ván dán từ gỗ dừa và đưa ra một số trị số cụ thể của thông số công nghệ ép ván từ gỗ dừa
Do dừa có cấu tạo khác gỗ, dừa có cấu tạo bỡi sợi và mô mềm nên chúng tôi tiến hành hai cách ép là: Ép dọc và ép dọc – ngang sau đó đối chứng kết quả hai cách
ép này
Hình 3.1a: Ván ép dọc – ngang Hình 3.1b: Ván ép dọc
Trang 28Phương pháp được thực hiện như sau:
Dựa trên cơ sở những thông số ép ván của ván dán từ gỗ tại Công Ty TNHH Hiệp Nguyên chúng tôi ép thăm dò đối với ván mỏng gỗ dừa
Chúng tôi thực hiện các lần thử nghiệm như sau, mỗi lần thử nghiệm chúng tôi tiến hành ép 3 lần
Lần ép 1: Thử nghiệm ép ván gỗ dừa giống gỗ điều
Bảng 3.1: Ép ván gỗ dừa giống gỗ điều
Thông số ép ván gỗ điều Thông số ép ván gỗ dừa
Nhiệt
độ (oC)
Thời gian (phút)
Áp lực (kG)
Lượng keo (g/m2)
Nhiệt
độ (oC)
Thời gian (phút)
Áp lực (kG)
Lượng keo (g/m2) Trị số
Lần ép 2: Giữ nguyên thời gian ép 10 phút, áp suất và lượng keo (ở đây chúng
tôi sử dụng lượng keo giống gỗ 180 g/m2) thay đổi nhiệt độ ép
Bảng 3.2: Thử nghiệm sự thay đổi nhiệt độ trong quá trình ép
1 90
2 100
3 110
Trang 29Lần ép 3: Giữ nguyên nhiệt độ ép 100 C, áp suất và lượng keo (ở đây chúng tôi
sử dụng lượng keo giống gỗ 180 g/m2) thay đổi thời gian ép
Bảng 3.3: Thử nghiệm sự thay đổi thời gian trong quá trình ép
1 5
2 10
3 15
đổi lượng keo
Bảng 3.4: Thử nghiệm sự thay đổi lượng keo trong quá trình ép
1 250
2 300
3 350
thay đổi áp suất
Bảng 3.5: Thử nghiệm sự thay đổi lượng keo trong quá trình ép
Lần ép Áp suất ép Kết quả
1 90
2 110
3 120
Trang 30Chúng tôi thực hiện biểu đồ ép như sau:
P (kg/cm2)
Pmax
Hình 3.2: Biểu đồ ép ván
Trong thời gian t1 tăng nhiệt độ
Thời gian t2 giữ cho nhiệt độ ổn định
Thời gian t3 hạ nhiệt
Xác định tính chất của ván dán
Việc xác định tính chất của ván là rất quan trọng vì nó cho biết ván có đạt chất
lượng hay không
Xác định khối lượng thể tích
- Khối lượng thể tích ván được xác định theo tiêu chuẩn TOCT 9620 _ 61
- Kích thước mẫu: LxBxS = 50x50x10
- Phương pháp xác định: cân – đo
- Mẫu được trên cưa đĩa cắt ngang
- Sau đó dùng thước kẹp có độ chính xác 0.1mm để đo kích thước ba chiều:
LxBxS
- Dùng cân điện tử có độ chính xác 0.001g để cân mẫu (chúng tôi cân ở
phòng thí nghiệm khoa lâm nghiệp)
- Số lượng mẩu thử: 3 mẫu/ 1tấm ván lấy giá trị trung bình
- Đo chiều dày các điểm rồi lấy giá trị trung bình
- Khối lượng thể tích ván tiến hành theo công thức
Trang 31P = m/(l x b x t)
Trong đó:
m khối lượng mẫu (g)
l chiều dài mẫu (cm)
b chiều rộng mẫu (cm)
t chiều dày mẫu (cm)
Độ hút nước, trương nở thể tích của ván
Mẫu được cắt theo kích thước: LxBxS = 50x50x10
- Dùng thước kẹp có độ chính xác 0.1 mm để đo kích thước mẫu, dùng ống thủy
để đo nhiệt độ phòng thí nghiệm khoa lâm nghiệp đo nhiệt độ nước: 230C
- Số lượng mẫu: 3 mẫu/ 1 tấm Mỗi loại ván chúng tôi tiến hành thử trên 3 tấm Sau đó chúng tôi tiến hành lấy giá trị trung bình
- Mẫu thử được ngâm chìm trong nước ở nhiệt độ 230C sau 2 giờ vớt ra đem cân lại, đo độ trương nở
- Phương pháp thí nghiệm: cân – đo
- Độ trương nở tính theo công thức:
AV =V2V1V1
Trong đó:
V1 thể tích mẫu thử trước khi ngâm nước (cm3)
V2 thể tích mẫu sau khi ngâm nước (cm3)
- Độ hút nước tính theo công thức:
Am = [(m2- m1)/ m1] x 100 ( %)
Trong đó:
M1 khối lượng ván trước khi ngâm nước
M2 khối lượng ván sau khi ngâm nước
Xác định ứng suất trượt theo tiêu chuẩn TCVN 2007
Ở đây chúng tôi tiến hành thử cho hai loại mẫu thử Một là ép dọc và một mẫu
ép một lớp dọc một lớp ngang, từ đó so sánh hai cách ép Để rút ra phương pháp ép tốt nhất
Mẫu thử được ổn định sau một thời gian sau đó chúng tôi đem thử ứng suất
Trang 33Hình 3.3: mô tả cắt mẫu thử để xác định độ bền kéo trượt
Xát định ứng suất theo công thức
t: chiều dày mẫu thử (cm)
Hình 3.4: Sơ đồ bố trí mẫu thử uốn
Hình 3.5: Biểu đồ tải trọng – biến dạng khi uốn tĩnh