1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đối chiếu thuật ngữ thông tin thư viện anh việt

304 206 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 304
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, xu hướng hội nhập quốc tế đã đặt ra những yêu cầu cho nhiều ngành khoa học, trong đó có cả khoa học thông tin – thư viện đó là phải có sự hoàn thiện và phát triển hệ thống thuậ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THANH HẢI

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ THÔNG TIN – THƯ VIỆN

ANH – VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu

Mã số: 9222024

Hà Nội, năm 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THANH HẢI

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ THÔNG TIN – THƯ VIỆN

ANH – VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu

Mã số: 9222024

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Quang Thiêm

Hà Nội, năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ Đối chiếu thuật ngữ thông tin – thư viện Anh – Việt là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những tư

liệu, số liệu và kết quả trình bày trong luận án là trung thực Đề tài nghiên cứu và các kết quả chưa được ai công bố

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Hải

Trang 4

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 8

1.2 Lý luận chung về thuật ngữ và thuật ngữ thông tin – thư viện 25 1.3 Lý thuyết chung về ngôn ngữ học so sánh đối chiếu 57

Chương 2 – ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ 61

THÔNG TIN – THƯ VIỆN ANH – VIỆT 2.1 Đối chiếu phương thức cấu tạo thuật ngữ thông tin – thư viện 61 tiếng Anh và tiếng Việt

2.2 Đối chiếu đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thông tin – thư viện 71 Anh – Việt

2.3 Đối chiếu mô hình cấu tạo thuật ngữ thông tin – thư viện 85 trong tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 5

CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH THUẬT NGỮ 105

THÔNG TIN - THƯ VIỆN ANH – VIỆT 3.1 Đối chiếu đặc điểm định danh thuật ngữ thông tin – thư viện 105

Anh – Việt

3.2 Đối chiếu mô hình định danh thuật ngữ thông tin – thư viện 109

Anh – Việt 3.3 Đối chiếu đặc điểm định danh thuật ngữ thông tin – thư viện 142

Anh – Việt Tiểu kết chương 3 144

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 150

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Chương 2:

Bảng 2.1 Số lượng thuật tố cấu tạo thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Anh 71 Bảng 2.2 Số lương thuật tố cấu tạo thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt 72 Bảng 2.3 Phương thức kết hợp thuật ngữ thông tin - thư viện là từ ghép 76 Bảng 2.4 Thống kê từ loại thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Anh 1 thuật tố 77 Bảng 2.5 Thống kê từ loại thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt 1 thuật tố 78 Bảng 2.6 Thống kê từ loại thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Anh 2 thuật tố 80 Bảng 2.7 Thống kê từ loại thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt 2 thuật tố 81 Bảng 2.8 Thống kê từ loại thuật ngữ thông tin – thư viện ba thuật tố 83 Bảng 2.9 Thống kê từ loại thuật ngữ thông tin – thư viện bốn thuật tố 84 Bảng 2.10 Thống kê từ loại thuật ngữ thông tin – thư viện năm thuật tố 85 Bảng 2.11 Mô hình cấu tạo thuật ngữ thông tin – thư viện trong tiếng Anh 99

và tiếng Việt

Chương 3

Bảng 3.1 Mô hình định danh thuật ngữ chỉ sản phẩm thông tin – thư viện 115

trong tiếng Anh và tiếng Việt

Bảng 3.2 Mô hình định danh thuật ngữ chỉ dịch vụ thông tin – thư viện 123

trong tiếng Anh và tiếng Việt

Bảng 3.3 Mô hình định danh thuật ngữ chỉ hoạt động thông tin – thư viện 132

trong tiếng Anh và tiếng Việt

Bảng 3.4 Mô hình định danh thuật ngữ chỉ chủ thể tham gia hoạt động 140

thông tin – thư viện trong tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 7

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khoa học thông tin – thư viện là một ngành khoa học có lịch sử phát triển lâu đời Lần đầu tiên nghiệp vụ thư viện được tổ chức giảng dạy như một ngành khoa học vào ngày 01 tháng 01 năm 1887 tại Trường Kinh tế Thư viện thuộc Đại học Columbia, Hoa Kỳ Ở Việt Nam, trong Pháp lệnh Thư viện năm 2000, Điều 1 đã ghi rõ: “Thư viện là nơi gìn giữ di sản thư tịch của dân tộc; thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng chung vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớn nhân dân, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [27, tr.9] Điều này càng khẳng định rõ vai trò quan trọng của thư viện trong mọi mặt của đời sống xã hội

Ngày nay, xu hướng hội nhập quốc tế đã đặt ra những yêu cầu cho nhiều ngành khoa học, trong đó có cả khoa học thông tin – thư viện đó là phải có sự hoàn thiện và phát triển hệ thống thuật ngữ khoa học tiếng Việt sao cho phù hợp với chuẩn mực chung của thế giới Là một ngành khoa học có đóng góp lớn cho sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội, việc cập nhật tri thức mới của ngành thông tin – thư viện thông qua việc hệ thống hóa và xây dựng hệ thuật ngữ khoa học chuẩn được sử dụng trong lĩnh vực này vừa có giá trị khoa học, vừa mang giá trị thời sự thực tiễn rất rõ rệt

Có một thực tế là hầu hết các thuật ngữ biểu đạt các khái niệm, phạm trù, sự vật, hiện tượng trong lĩnh vực thông tin – thư viện thường được sao phỏng hoặc vay mượn từ tiếng nước ngoài như tiếng Pháp, tiếng Nga và sau này là tiếng Anh

Sự thiếu nhất quán trong cách giải nghĩa, phiên âm, gọi tên các thuật ngữ còn khá phổ biến Nhiều thuật ngữ thông tin - thư viện tiếng Việt chưa biểu đạt được chính

Trang 9

xác khái niệm mà chỉ mang tính chất giải thích, những thuật ngữ vay mượn nước ngoài được sử dụng với nhiều biến thể khác nhau., Những vấn đề này gây khó khăn cho giảng viên, sinh viên trong giảng dạy, học tập và công tác nghiên cứu, phổ biến khoa học thông tin – thư viện trong điều kiện tài liệu chuyên môn, sách tham khảo còn hạn chế

Những năm gần đây, công tác nghiên cứu các hệ thuật ngữ thuộc một số ngành khoa học kỹ thuật đã rất được quan tâm Tuy nhiên, hệ thuật ngữ thông tin – thư viện hầu như chưa được nghiên cứu, đặc biệt là chưa có công trình nào đặt vấn

đề nghiên cứu thuật ngữ thông tin – thư viện một cách toàn diện về mặt lý thuyết cũng như về cấu tạo, ngữ nghĩa và cách định danh Để đảm bảo những thuật ngữ đó biểu đạt được một cách chính xác những các khái niệm, biểu tượng, phạm trù, các

sự vật, hiện tượng tương ứng với ngôn ngữ gốc, việc khảo sát, đối chiếu thuật ngữ thông tin – thư viện Anh - Việt một cách toàn diện và hệ thống là một việc vô cùng hữu ích và cần thiết

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài luận án “Đối chiếu thuật ngữ thông tin - thư viện Anh – Việt” Đề tài nghiên cứu của chúng tôi sẽ tập trung

khảo sát, phân tích các đặc điểm về cấu tạo, định danh và đặc trưng ngữ nghĩa hệ thuật ngữ thông tin – thư viện trong tiếng Anh và tiếng Việt Đồng thời tiến hành

đối chiếu để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau của hai hệ thuật ngữ này

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là nhằm làm rõ đặc điểm cấu tạo và đặc điểm định danh hệ thuật ngữ thông tin – thư viện Anh - Việt thông qua việc khảo sát, phân tích hệ thuật ngữ TTTV trong cả hai ngôn ngữ Trên cơ sở kết quả khảo sát và phân tích, tiến hành đối chiếu để làm rõ những điểm giống nhau và khác nhau giữa hai hệ thuật ngữ TTTV tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 10

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là cơ sở góp phần hệ thống hóa và hoàn thiện hệ thuật ngữ TTTV tiếng Việt cho nhu cầu phát triển và hội nhập với khoa học thông tin - thư viện toàn cầu; nâng cao chất lượng giảng dạy môn tiếng Anh chuyên ngành, tạo điều kiện thuật lợi cho giảng viên, sinh viên trong giảng dạy, học tập, tra cứu tài liệu và nghiên cứu khoa học cũng như cho công tác biên soạn từ điển chuyên môn

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài tập trung giải quyết những vấn đề sau: 1) Khái quát tình hình nghiên cứu thuật ngữ khoa học nói chung và hệ thuật ngữ khoa học thông tin – thư viện nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam;

2) Xác lập cơ sở lý luận cho luận án qua việc hệ thống hóa các quan điểm lý luận

về thuật ngữ, các phương thức xây dựng hệ thuật ngữ khoa học nói chung và hệ thuật ngữ TTTV nói riêng trong tiếng Anh và tiếng Việt;

3) Xác định mô hình kết hợp, các thành tố để tạo thành thuật ngữ thông tin – thư viện, xác định mô hình và phương thức định danh thuật ngữ thông tin – thư viện trong tiếng Anh và tiếng Việt;

4) Đối chiếu hệ thuật ngữ thông tin – thư viện Anh – Việt về các phương diện đặc điểm, mô hình cấu tạo và phương thức định danh thuật ngữ nhằm tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thuật ngữ này;

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thuật ngữ thông tin – thư viện trong tiếng Anh và tiếng Việt, cụ thể là các thuật ngữ là từ và ngữ biểu đạt các khái niệm, đối tượng được sử dụng trong chuyên ngành thông tin – thư viện Anh – Việt và sự đối chiếu các thuật ngữ này trong hai ngôn ngữ Trong đó tiếng Anh được chọn là ngôn ngữ chuẩn và tiếng Việt là ngôn ngữ được đối chiếu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 11

Trong phạm vi luận án, chúng tôi tập trung nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ thông tin – thư viện trong tiếng Anh và tiếng Việt trên hai phương diện: đặc điểm cấu tạo, đặc điểm và phương thức định danh để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau của hai hệ thuật ngữ này, ưu nhược điểm của thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt, từ đó góp phần hoàn thiện lý thuyết thuật ngữ học nói chung và hệ thuật ngữ thông tin – thư viện nói riêng, hướng tới việc xây dựng hệ thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt phù hợp với những chuẩn mực chung của tiếng Việt

và xu hướng quốc tế hóa

3.3 Ngữ liệu nghiên cứu

Ngữ liệu nghiên cứu của luận án là 1500 thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Anh và 1500 thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt, được thu thập từ các cuốn từ điển song ngữ, đa ngữ, từ điển giải thích, bao gồm:

1 John Feather, Paul Sturges (1997), International encyclopedia of information and library science London - New York : Routledge

2 Ray Prytherch (1995), Harrod's librarians' glossary, published by Gower., England;

3 Reitz, Joan M., (2004), ODLIS: Online Dictionary of Library and Information Sciences http://www.abc-clio.com/ODLIS/odlis_A.aspx

4 ALA - Từ điển giải nghĩa thư viện học và tin học Anh-Việt: Glossary of Library and Information Science (tài liệu dịch), Arizona: NXB Galen Press, Ltd 1996

5 Từ điển thuật ngữ thư viện học Việt – Anh – Pháp, Thư viện Khoa học Tổng hợp

thành phố Hồ Chí Minh, 1997

6 Từ điển Danh từ Thư viện – Thông tin Anh – Việt, Nguyễn Hữu Viêm (2000)

7 Từ điển chuyên ngành Thư viện – Thông tin Anh – Việt, Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2010

8 Từ điển chuyên ngành Thư viện – Thông tin Việt – Anh, Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2013

Trang 12

Ngoài ra, các thuật ngữ còn được thu thập từ những giáo trình chuyên ngành thông tin – thư viện, các tài liệu, tạp chí, bài báo chuyên đề chuyên ngành thông tin –

thư viện bằng tiếng Anh và tiếng Việt

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

4.1 Phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp này được sử dụng để so sánh, đối chiếu các đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa, đặc điểm định danh thuật ngữ thông tin – thư viện Anh – Việt trong các trường hợp cụ thể, nhằm chỉ ra cái chung hay cái riêng, những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thuật ngữ được đối chiếu; mức độ tương đương thuật ngữ giữa hai hệ thuật ngữ thông tin – thư viện Anh – Việt

4.2 Phương pháp miêu tả

Phương pháp này được sử dụng để miêu tả, phân tích đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thông tin – thư viện Anh – Việt về phương thức cấu tạo, từ loại, mô hình câu tạo; xác định cơ sở đối chiếu, đặc điểm định danh thuật ngữ thông tin – thư viện về phương diện ngữ nghĩa, hình thức biểu thị và đặc trưng định danh thuật ngữ TTTV

trong cả hai ngôn ngữ

4.3 Phương pháp phân tích theo thành tố cấu tạo

Phương pháp phân tích thành tố cấu tạo dùng để phân tích các từ, ngữ định danh để xác định các yếu tố cấu tạo cơ sở trong hệ thống thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Anh và tiếng Việt; xác định mô hình cấu tạo, trên cơ sở phân tích các thành tố trực tiếp cũng như mối quan hệ giữa các thành tố trực tiếp cấu tạo nên

thuật ngữ thông tin – thư viện trong cả hai ngôn ngữ Anh – Việt

4.4 Thủ pháp nghiên cứu

Thủ pháp được sử dụng trong luận án này là thủ pháp thống kê từ vựng Thủ pháp được áp dụng để hệ thống số liệu về hệ thuật ngữ thông tin – thư viện Anh – Việt như: thống kê từ loại, thống kê yếu tố cấu tạo Kết quả số liệu thống kê được

Trang 13

sử dụng làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đối chiếu hai hệ thuật ngữ thông tin – thư viện Anh – Việt

Ngoài ra, phương pháp luận mà luận án tuân thủ dựa trên trình tự logic và tư duy khoa học thông qua những phương pháp phân tích, tổng hợp cả về định lượng

và định tính, diễn dịch, quy nạp kết hợp với ví dụ minh họa cụ thể

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Có thể nói đây là luận án đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu đối chiếu một cách

hệ thống về thuật ngữ thông tin – thư viện trong tiếng Anh và tiếng Việt trên phương diện đặc điểm cấu tạo và phương thức định danh

Trên cơ sở đối chiếu hai hệ thống thuật ngữ thông tin – thư viện Anh – Việt, luận án làm rõ hơn đặc điểm cấu tạo, phương thức tạo lập và đặc điểm định danh thuật ngữ TTTV tiếng Việt, bổ sung cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt nói riêng và thuật ngữ học nói chung, góp phần hoàn thiện hệ thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt theo định hướng ngôn ngữ học, đáp ứng được các yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập toàn cầu của Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án

6.1 Về mặt lý luận

- Đề tài làm rõ những điểm giống và khác nhau về phương thức tạo lập, phương thức định danh thuật ngữ thông tin – thư viện trong hai ngôn ngữ Anh-Việt Chúng là tên gọi trực tiếp hay gián tiếp của các khái niệm, đối tượng trong lĩnh vực thông tin – thư viện;

- Đề tài chỉ ra những đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ thông tin - thư viện tiếng Anh trong sự đối chiếu với thuật ngữ thông tin - thư viện tiếng Việt;

- Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện lý thuyết về ngôn ngữ học nói chung

và thuật ngữ học nói riêng, Từ đó góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho

Trang 14

việc xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học ở Việt Nam đáp ứng các yêu cầu của

xã hội trong thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế

6.2 Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị về mặt thực tiễn đó là

- Đóng góp thiết thực cho việc chỉnh lý, tiến tới hoàn thiện hệ thống thuật ngữ thông tin – thư viện hiện có của tiếng Việt;

- Là cơ sở để xây dựng, biên soạn từ điển thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt phục vụ cho sự phát triển ngành thông tin – thư viện nước ta;

- Phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy, biên dịch và biên soạn giáo trình, tử điển chuyên ngành thông tin – thư viện

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu thuật ngữ học nói chung, thuật ngữ TTTV nói riêng và các

cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thông tin - thư viện ở Việt Nam

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận án được chia thành làm

3 chương bố cục như sau:

CHƯƠNG 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

CHƯƠNG 2: Đối chiếu đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thông tin – thư viện Anh - Việt

CHƯƠNG 3: Đối chiếu đặc điểm định danh thuật ngữ thông tin - thư viện Anh - Việt

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ trên thế giới

Thuật ngữ học bắt đầu được hình thành và khẳng định như một ngành khoa học vào những năm 1930 của thế kỷ 20 Các hoạt động nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới trong thời kỳ đầu tập trung ở hai trung tâm thuật ngữ học lớn đặt tại Áo và Liên Xô với những nghiên cứu về thuật ngữ được tiến hành bởi các nhà học giả Xô Viết, Cộng hòa Séc và Áo, hình thành nên ba trường phái lý thuyết thuật ngữ học: trường phái thuật ngữ học Áo, trường phái thuật ngữ học Xô-viết và trường phái thuật ngữ học Cộng hòa Séc

Đại diện nổi bật nhất cho trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Áo là nhà

ngôn ngữ học Eugen Wüster (1898 -1997) Ông được coi là người khởi xướng trong

các công tác nghiên cứu thuật ngữ, những nghiên cứu của ông mang lại những đóng góp rất lớn cho sự phát triển thuật ngữ học thời kỳ đầu và là người có ảnh hưởng

lớn đến nghiên cứu thuật ngữ của nhiều học giả sau này Trong tác phẩm Lí luận chung về thuật ngữ (1931), Wuster đã đề cập đến những khía cạnh ngôn ngữ học

khi nghiên cứu thuật ngữ, hệ thống hóa các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ, đưa

ra một số nguyên tắc khi sử dụng thuật ngữ và chỉ ra những điểm chính của phương pháp xử lí dữ liệu thuật ngữ

Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Xô Viết được biết đến với nhiều nhà

học giả nổi tiếng như D.S Lotte, A.I Moiseev, A.A Reformatskij, V.P Danilenko, A.S Gerd, T.L Kandelaki, N.K Xukhov… Những nghiên cứu của họ đi sâu vào phân tích bản chất, chức năng, khái niệm của thuật ngữ và đã tìm định nghĩa cho thuật ngữ khoa học [16], [23], [52], [77], [78], [94], [137].Bên cạnh đó, do Liên Xô trước đây là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ nên trường phái Xô Viết cũng nghiên cứu về vấn đề chuẩn hóa các khái niệm và thuật ngữ trên tinh thần của những vấn đề liên quan đến chủ nghĩa đa ngôn ngữ của Xô Viết

Trang 16

Tiêu biểu cho trường phái nghiên cứu thuật ngữ Xô Viết là D.S Lotte (1898

– 1950) Ông được coi là người đi đầu trong công tác phát triển hệ thuật ngữ hiện đại của Nga và là người sáng lập Ủy ban thuật ngữ khoa học kỹ thuật thuộc Viện

Hàn lâm khoa học Liên Xô Trong công trình nghiên cứu “Những nguyên lý của việc xây dựng thuật ngữ khoa học kỹ thuật: những vấn đề lý thuyết và phương pháp luận” (1961), ông đã đề xuất những yêu cầu về thuật ngữ và đưa ra những luận

điểm có tính chất phương pháp luận trong công tác tiêu chuẩn hóa thuật ngữ Quan điểm của Lotte thể hiện ở hai ý tưởng: Một là, hệ thuật ngữ là toàn bộ các thuật ngữ phù hợp với hệ thống khái niệm của một lĩnh vực khoa học hay kĩ thuật đó; Hai là,

hệ thống thuật ngữ thể hiện cái gọi là hệ thống khái niệm

Về trường phái thuật ngữ học của Cộng hòa Séc, các nghiên cứu tập trung

vào việc miêu tả cấu trúc và chức năng của các ngôn ngữ chuyên ngành, trong đó thuật ngữ đóng vai trò quan trọng, vấn đề chuẩn hóa các ngôn ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ cũng rất được quan tâm Đại diện tiêu biểu, được coi là tiên phong của

trường phái này là L.Drodz Nghiên cứu của ông tập trung vào chức năng của ngôn

ngữ, theo hướng tiếp cận ngôn ngữ của trường phái ngôn ngữ học Praha Xuất phát

từ luận điểm ngôn ngữ là công cụ giao tiếp, các nhà nghiên cứu theo trường phái ngôn ngữ học Praha đi tìm chức năng của các yếu tố, các lớp, các cơ chế xuất hiện trong ngôn ngữ Vì thế, trường phái ngôn ngữ học Praha còn gọi được gọi là trường phái chức năng Các ngôn ngữ chuyên ngành theo trường phái này coi thuật ngữ

như là những đơn vị tạo nên văn phong nghề nghiệp mang tính chức năng, tồn tại

cũng những văn phong khác như: văn học, báo chí và hội thoại

Bên cạnh đó, khi nói đến thuật ngữ học giai đoạn cuối thế kỷ 20, không thể không nhắc đến các nhà thuật ngữ học Âu – Mỹ như Brown R.W [148], Cabré T.W [149] (Tây Ban Nha), Sager J.C (Mỹ) [167] Ngoài việc định nghĩa thuật ngữ, nêu bản chất khái niệm và chức năng của chúng, các nhà nghiên cứu này còn có xu hướng tìm cách xác định các tiêu chuẩn cụ thể cần phải có của thuật ngữ và công tác chuẩn hóa thuật ngữ

Trang 17

Theo Auger (1988), quá trình phát triển của thuật ngữ học hiện đại thế kỷ 20

trải qua bốn giai đoạn chủ yếu là: giai đoạn sơ khai (1930 – 1960), giai đoạn cấu trúc (1960-1975); giai đoạn bùng nổ (1975-1985) và giai đoạn mở rộng (1985 – cuối thế kỷ 20) [Dẫn theo 149, tr.5-6]

Đại diện tiêu biểu cho giai đoạn hình thành và phát triển thuật ngữ học này là

các học giả Wüster E (Áo) và D.S Lotte (Xô Viết) với những cơ sở lý thuyết ban

đầu về thuật ngữ học và các phương thức xây dựng thuật ngữ khoa học một cách hệ thống Trong giai đoạn phát triển thứ hai, nhờ sự phát triển của công nghệ vi tính máy chủ và xây dựng vốn tài liệu, công tác nghiên cứu thuật ngữ đã đạt những bước tiến quan trọng Trên cơ sở những ngân hàng dữ liệu máy tính đầu tiên, một bộ nguyên tắc quốc tế về xử lý dữ liệu thuật ngữ được đề xuất và phương hướng xây dựng, phát triển hệ thuật ngữ đi cùng với chuẩn hóa thuật ngữ trong ngôn ngữ bắt đầu hình thành

Thời kỳ 1975 – 1985 được coi là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của thuật ngữ học Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã mang lại sự thay đổi

căn bản trong công tác xử lý dữ liệu thuật ngữ Bên cạnh những nghiên cứu lý thuyết, đã có nhiều nghiên cứu sâu hơn về mặt thực tiễn như vai trò của thuật ngữ khoa học, chuyên môn với sự phát triển của các ngành khoa học liên ngành, định hướng mới trong lý thuyết về thuật ngữ học hay phát triển hệ thuật ngữ khoa học

gắn với kế hoạch hóa ngôn ngữ (language planning) và hiện đại hóa ngôn ngữ (language modernization)

Giai đoạn cuối thế kỷ 20, trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học – kỹ thuật và dịch

vụ, thuật ngữ học có nhiều cơ hội phát triển Đi cùng với đó là những vấn đề mới nảy sinh trong công tác xây dựng và chuẩn hóa hệ thuật ngữ khoa học nhằm đáp ứng các yêu cầu xã hội Mô hình phát triển thuật ngữ học gắn liền với hoạch định ngôn ngữ ngày càng được quan tâm nghiên cứu, nhất là ở các nước đang phát triển, nơi mà các chính sách hoạch định ngôn ngữ và phát triển hệ thuật ngữ khoa học vẫn đang trên con đường hoàn thiện

Trang 18

Về tình hình nghiên cứu thuật ngữ học đầu thế kỷ 21

Trong hơn mười lăm năm qua, quan niệm về thuật ngữ học và các vấn đề của thuật ngữ học của các nhà nghiên cứu trên thế giới đã có nhiều thay đổi Điều này được thể hiện rất rõ qua những đề xuất lý thuyết thuật ngữ mới tùy theo từng đường hướng nghiên cứu thuật ngữ cụ thể, như đường hướng thuật ngữ học xã hội, xã hội học tri nhận, thuật ngữ học văn bản… Đặc biệt là lý thuyết thuật ngữ học mới theo

đường hướng giao tiếp (Communicative theory of terminology) được coi là trường

phái lý thuyết mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới và có khả năng giải quyết những hạn chế và vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển thuật ngữ học mà hướng nghiên cứu dựa trên lý thuyết thuật ngữ học truyền thống của Áo, Xô viết và Séc chưa giải quyết được

Các nghiên cứu về thuật ngữ trong giai đoạn này được tiến hành theo ba

hướng tiếp cận cơ bản: thuật ngữ học theo hướng ngôn ngữ học (lingusitic approach); thuật ngữ học theo hướng dịch dịch thuật (translation-oriented approach) và thuật ngữ học theo hướng kế hoạch hóa ngôn ngữ (language planning) [149, tr 13-14]

Hướng tiếp cận thuật ngữ học trên góc độ ngôn ngữ học vẫn dựa trên nền tảng lý thuyết thuật ngữ học truyền thống được Wuster và những học giả kế thừa ông phát triển với ba trường phái ngôn ngữ học: trường phái ngôn ngữ học Áo, trường phái ngôn ngữ học Xô Viết và trường phái ngôn ngữ học Séc Cơ sở lý thuyết của các nghiên cứu theo hướng tiếp cận này, theo cách gọi của Cabré (trong

công trình nghiên cứu của mình), là lý thuyết thuật ngữ học tổng quát (General Theory of Terminology - GTT) để phân biệt với hướng nghiên cứu lý thuyết mới được gọi là lý thuyết thuật ngữ học theo hướng giao tiếp (Communicative Theory of Terminology - CTT) [149, tr 14-15]

Các nghiên cứu theo hướng tiếp cận thuật ngữ với dịch thuật và kế hoạch hóa ngôn ngữ xuất phát từ yêu cầu trao đổi ngôn ngữ của các quốc gia, vùng lãnh thổ có môi trường giao tiếp song ngữ hoặc đa ngôn ngữ, ví dụ như Quebec (Canada), Walloon (Bỉ) hay các tổ chức quốc tế sử dụng đa ngôn ngữ như Liên hợp quốc,

Trang 19

UNESCO, FAO… Nghiên cứu thuật ngữ trong môi trường đa ngôn ngữ sẽ hỗ trợ rất nhiều cho công tác dịch thuật Để có thể chuyển dịch thuật ngữ, cần phải có đồng thời kiến thức về ngôn ngữ đích và chuyên ngành tương ứng Hướng nghiên cứu này góp phần tạo ra cơ sở dữ liệu thuật ngữ và xây dựng các hệ thuật ngữ tương đương trong nhiều ngôn ngữ và là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà dịch thuật nhằm nâng cao chất lượng bản dịch chuyên môn

Kế hoạch hóa ngôn ngữ là chương trình chính phủ nhằm xây dựng và phát triển một ngôn ngữ nhỏ trở thành ngôn ngữ chính thức của quốc gia Ví dụ như chính sách phát triển tiếng Pháp, vốn là ngôn ngữ sử dụng chủ yếu tại Quebec, Canada, trở thành ngôn ngữ chính thức được sử dụng song song với tiếng Anh tại quốc gia này Yêu cầu phát triển ngôn ngữ đã tạo điều kiện thúc đẩy các hệ thuật ngữ chuyên môn hình thành và phát triển Nghiên cứu thuật ngữ theo hướng kế hoạch hóa ngôn ngữ trở thành hướng nghiên cứu mới được các nhà khoa học quan tâm Nói đến những nghiên cứu tiếp cận theo hướng này, không thể không nhắc đến Bassey Edem Antia, nhà ngôn ngữ học người Nigeria, người đã phát triển khung lý thuyết và thực tiễn cho quản lý và hoạch định thuật ngữ và tiến hành nghiên cứu trên các trường hợp cụ thể ở một số quốc gia châu Phi như Somalia, Tazania, Nigeria… Tác giả đã thiết lập một lý thuyết khung cho công tác hoạch định thuật ngữ trên cơ sở lý thuyết khái niệm, phương thức kết hợp từ với phương thức giao tiếp và kiến thức chuyên môn Theo đó, những yếu tố quan trọng của khung lý thuyết thuật ngữ này bao gồm hệ thống các khái niệm và mối liên quan, định nghĩa, xác định hệ thuật ngữ, các hệ thống thuật ngữ, cơ sở dữ liệu thuật ngữ và sự phối hợp của các chuyên giatrong lĩnh vực chuyên môn [Antia: 144; 2000]

Lý thuyết thuật ngữ học theo đường hướng giao tiếp (CTT)

Cabré M.T, nhà ngôn ngữ học người Tây Ban Nha, được coi là người tiên

phong trong việc phát triển các nghiên cứu lý thuyết theo hướng tiếp cận này Bà cho rằng “mục tiêu nghiên cứu của Wuster là loại bỏ sự mơ hồ nghĩa trong các từ ngữ kỹ thuật trong môi trường giao tiếp chuyên môn quốc tế bằng cách chuẩn hóa các khái niệm chuyên môn đó chứ không xem xét thuật ngữ học với tất cả tính đa

Trang 20

dạng và đa diện của nó Rõ ràng là lý thuyết thuật ngữ học truyền thống nhấn mạnh đến những nguyên tắc xây dựng hệ thống khái niệm theo hướng chuẩn hóa” [150,

tr 167]

Cabré M.T ủng hộ việc xây dựng một lý thuyết mới về thuật ngữ học, một

cơ sở quan trọng trong định hướng xây dựng thuật ngữ học trở thành một ngành độc

lập với vị trí riêng Tiền đề lý thuyết bà đưa ra là: Thứ nhất, thuật ngữ học trước hết

phải là xác định các nhu cầu đồng thời đưa ra các giải pháp để giải quyết những nhu

cầu cụ thể đó trong một ngành chuyên môn nhất định; Thứ hai, thuật ngữ học bao

gồm các đơn vị thuật ngữ mang tính đa chiều và có sự tương tác giữa lĩnh vực

chuyên môn, thực thể ngôn ngữ và các thực thể giao tiếp” “Các đơn vị thuật ngữ”

bao gồm hệ thống các khái niệm (phương diện tri nhận), thuật ngữ (phương diện ngôn ngữ) và các yếu tố ngữ cảnh (phương diện giao tiếp)” [150, tr.182;187]

Cabré đã đồng quan điểm với Antia B.E trong việc cần phải xây dựng được một khung lý thuyết cho những nguyên tắc xây dựng thuật ngữ Cabré nghiên cứu các đơn vị thuật ngữ trong khung giao tiếp và môi trường diễn ngôn đặc biệt Khung giao tiếp đó được xác định qua chuỗi thông tin có hệ thống và trên hai đặc trưng

ngôn ngữ: Một là, đặc trưng từ vựng (lexical) – sử dụng các đơn vị từ có ý nghĩa giới hạn trong một ngữ cảnh đặc biệt; Hai là, đặc trưng văn bản (textual) bao gồm

văn bản có nội dung biểu đạt chính xác Cabré cũng chỉ ra ba điều kiện cần và đủ cho việc xây dựng khung nghiên cứu cho lý thuyết thuật ngữ học mới với tư cách là

một lĩnh vực nghiên cứu độc lập, đó là điều kiện ngôn ngữ tự nhiên (dưới góc độ ngôn ngữ, tri nhận và xã hội), điều kiện giao tiếp đặc biệt (dựa trên sự trao đổi các vấn đề chuyên môn giữa nhà khoa học và người làm chuyên môn) và điều kiện chuyên môn hóa (sự trao đổi trong các lĩnh vực chuyên môn) Thuật ngữ cần được

nghiên cứu trong các tình huống giao tiếp tự nhiên và trên góc độ xã hội Lý thuyết thuật ngữ theo hướng giao tiếp (CTT) chính là lý thuyết có thể giải quyết các vấn đề

đa chiều của thuật ngữ Những yếu tố mang tính xã hội như tình hình chính trị, kinh

tế - xã hội và ngôn ngữ quốc gia sẽ là những nhân tố tác động tới quá trình xây dựng và phát triển hệ thuật ngữ khoa học

Trang 21

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam

Ở Việt Nam, thuật ngữ khoa học tiếng Việt bắt đầu hình thành đầu thế kỷ

XX Dưới ảnh hưởng của văn hóa chế độ thực dân Pháp, thuật ngữ chỉ xuất hiện lẻ

tẻ và bắt đầu phôi thai hình thành khi chữ quốc ngữ gốc La tinh được sử dụng Nhờ

sự giác ngộ của những nhà nho yêu nước, chữ quốc ngữ La tinh hóa được tiếp nhận vào đời sống tri thức, báo chí được xuất bản bằng chữ quốc ngữ phát triển Khởi đầu là bộ phận thuật ngữ trong văn bản Đông kinh nghĩa thục – phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ 20 (1907), sau đó là trong các tạp chí Đông dương tạp chí (1913-1917), Nam phong tạp chí (1917-1934), báo Hữu thanh (1922), tác phẩm Đường Kách mệnh (1927) của Nguyễn Ái Quốc Những xuất bản phẩm thời kỳ này

là các chủ đề mang tính chuyên môn “có khả năng hiện diện thuật ngữ là những từ chỉ sự vật, hiện tượng, khái niệm trong khoa học, kỹ thuật” Đến cuối những năm

1930 của thế kỷ 20, một lớp từ ngữ khoa học chính trị mới, có tính chất chuyên môn của Việt Nam đã hình thành Theo như cách nhận định của tác giả Lê Quang Thiêm

“đây là bộ phận quan trọng, cùng với một bộ phận nhỏ các từ ngữ chuyên môn khác như kinh tế, lịch sử, văn học, giáo dục….là bộ phận mở đầu cho sự hình thành hệ thuật ngữ khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam hiện đại” [108, tr 47]

Còn theo Hà Quang Năng [85,33], lịch sử tiếng Việt hiện đại nước ta trải qua bốn dấu mốc lớn, đó là: (i) Sự xuất hiện của người Pháp và sự ra đời của chữ quốc ngữ; (ii) Sau cách mạng tháng 8; (iii) Những năm 60 của thế kỉ 20 và sau năm 1985 Những cột mốc này đã ghi nhật sự phát triển mạnh mẽ của tiếng Việt, đó cũng là những dấu mốc quan trọng của lịch sử phát triển thuật ngữ tiếng Việt

Ở thời kỳ đầu, thuật ngữ tiếng Việt mới chỉ là một ít tập thuật ngữ đối chiếu thuộc một số ngành khoa học cơ bản như thuật ngữ khoa học kỹ thuật trong các tạp chí chuyên môn như “Khoa học tạp chí” (1931 – 1933) và “Báo khoa học” (1942-1943) Về thuật ngữ khoa học nước ngoài, thì có các tác giả, tác phẩm tiêu biểu như

“Danh từ khoa học (Toán, Lý, Hóa, Cơ, Thiên văn)” của Hoàng Xuân Hãn (1942);

“Danh từ khoa học” – phần Sinh vật, của Đào Văn Tiến (1942); Danh từ thực vật Pháp – Việt của Nguyễn Hữu Quán và Lê Văn Căn (1944) Trong đó, sự ra đời của

Trang 22

cuốn “Danh từ khoa học” đã đặt dấu mốc quyết định cho sự ra đời của hệ thuật ngữ

tiếng Việt ngày nay Trong đó, Hoàng Xuân Hãn lần đầu tiên đặt vấn đề xem xét các thuật ngữ khoa học kỹ thuật một cách có hệ thống Ông đã nêu lên 8 yêu cầu khi đặt một danh từ khoa học mới, chưa có trong tiếng Việt Đồng thời, lần đầu tiên ông đưa ra ba phương thức đặt thuật ngữ (bao gồm sử dụng từ thông thường, mượn

tiếng Hán và phiên âm từ các tiếng Ấn – Âu) Nói về vai trò của cuốn Danh từ khoa học, tác giả Lê Quang Thiêm cho rằng:“Giá trị của cuốn Danh từ khoa họccnằm ở

chỗ không chỉ cung cấp vốn thuật ngữ một số ngành khoa học tự nhiên cơ bản mà còn lý luận về hệ thuật ngữ, về nguyên tắc và phương pháp xây dựng thuật ngữ tiếng Việt hiện đại” [108, tr 88]

Giai đoạn sau cách mạng tháng Tám, tiếng Việt được dùng rộng rãi trong mọi lĩnh vực đời sống chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục, tạo ra một bước phát triển mới, vô cùng mạnh mẽ của thuật ngữ tiếng Việt Việc chuyển dịch, soạn thuật ngữ phục vụ cho khoa học, giáo dục đã hình thành cơ sở đầu tiên cho thuật ngữ ngành, chuyên ngành Theo thống kê trong thời kỳ này, có tất cả 7 tập thuộc 5 ngành, được khoảng 4 vạn thuật ngữ, bao gồm các lĩnh vực y học, kinh tế - tài chính

và triết học Về các công trình công bố, xuất bản phẩm về thuật ngữ có thể kể đến:

Ở miền Bắc có Danh từ nông học Pháp – Việt (1948) của Bùi Huy Đáp, Danh từ y học Pháp – Việt (1951) của Trịnh Đình Cung, Danh từ giải phẫu Pháp – Việt (Đỗ Xuân Hợp)…; Ở miền Nam có Danh từ thực vật Pháp –Việt (1945) của tác giả Nguyễn Hữu Quán và Lê Văn Căn,Danh từ Toán học (1953) của Đào Trọng Đủ, Danh từ kinh tế tài chính Pháp – Việt (1954) của Đào Trọng Hợi… [108, tr.145]

Đặc biệt là, từ sau khi hòa bình lập lại (1954), nước ta đã có bước phát triển mới về nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ khoa học Các hướng nghiên cứu tập

trung vào hai vấn đề: Một là, nghiên cứu lý luận về thuật ngữ để làm cơ sở cho hoạt động xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ; Hai là, thực tiễn xây dựng các hệ thống

thuật ngữ và biên soạn các từ điển thuật ngữ

Về tình hình phát triển thuật ngữ ở miền Nam sau năm 1954, ở thời kỳ này,

hoạt động giáo dục và khoa học ở miền Nam trong nhà trường và trong các cơ sở

Trang 23

khoa học vẫn sử dụng tiếng Pháp Về định hướng đặt, dịch thuật ngữ chủ yếu vẫn

theo quan niệm của Hoàng Xuân Hãn trong Danh từ khoa học Công trình được công bố sớm nhất là cuốn Danh từ chuyên khoa Việt ngữ (1958) của Đàm Quang

Hậu và Đào Trọng Đủ Trong công trình này, hai tác giả cho rằng phiên âm thuật ngữ khoa học phải xuất phát từ đặc điểm ngữ âm và chữ viết tiếng Việt hiện hành, song ý tưởng tiên phong này chưa nhận được nhiều sự quan tâm Ở miền Nam, người chính thức đặt vấn đề xây dựng thuật ngữ phải kể đến Lê Văn Thới Với tư

cách là thành viên “Ủy ban quốc gia soạn thảo danh từ chuyên môn” (thành lập

tháng 7-1960), Lê Văn Thới và Nguyễn Văn Dương đã công bố chính thức bản nguyên tắc đã được soạn thảo trước đó làm tài liệu chính thức cho công tác xây

dựng thuật ngữ khoa học ở miền Nam Việt Nam có tiêu đề: “Nguyên tắc soạn thảo danh từ chuyên khoa” (xuất bản lần đầu năm 1963) Cùng với các quan niệm của

Đàm Quang Hậu, Đàm Trọng Đủ, tiếp sau là Nguyễn Hữu và Bùi Hữu Bích trong

Danh từ cơ thể học (1963) Có thể chỉ ra những điểm chính trong quan niệm của Lê

Văn Thới và Nguyễn Văn Dương như sau: 1 – Xác định vấn đề tiêu chuẩn cần phải

có của một thuật ngữ khoa học 2 – Vấn đề phương pháp tạo ra hệ thống thuật ngữ

3 – Vấn đề phiên âm thuật ngữ nước ngoài gốc Ấn – Âu ra tiếng Việt 4 – Vấn đề danh pháp hóa học, tên riêng trong thuật ngữ [108, tr.143]

Giai đoạn 1960-1984, Ủy ban khoa học Nhà nước đã ban hành “Bản quy định tạm thời về nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên” (1960) và bản

“Nguyên tắc xây dựng thuật ngữ khoa học xã hội” Đây được coi là những văn bản

chính thức làm cơ sở hướng dẫn biên soạn thuật ngữ khoa học một cách thống nhất

Tại “Hội nghị bàn về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học” (tháng 12 năm 1964) do

Ủy ban khoa học Nhà nước tiến hành, Lưu Vân Lăng đã trình bày bản báo cáo đề

dẫn:“Về vấn đề dùng thuật ngữ khoa học nước ngoài” trong đó đề cập các nguyên

tắc xây dựng thuật ngữ, vấn đề dùng thuật ngữ khoa học nước ngoài, đặc biệt là có

nêu rõ 3 tiêu chuẩn đặt thuật ngữ: khoa học, dân tộc và đại chúng Thuật ngữ học và

các vấn đề liên quan được đưa ra trao đổi và bàn luận rộng rãi, tập trung vào các nội dung: khái niệm thuật ngữ, tiêu chuẩn của thuật ngữ, phương thức xây dựng thuật

Trang 24

ngữ, vấn đề vay mượn thuật ngữ nước ngoài, có nên chấp nhận hay không những yếu tố ngoại lai (các chữ cái J, F, W, Z; các tổ hợp phụ âm đầu br, cr, fr…) cho phù hợp với xu hướng quốc tế hóa mà vẫn dễ hiểu trong tiếng Việt

Giai đoạn sau năm 1985, đất nước ta phát triển nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập với kinh tế khu vực và toàn cầu Với sự bùng nổ của cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới, tiếng Việt đã không ngừng phát triển theo hướng hiện đại hoá, mở rộng chức năng và phạm vi hoạt động Trong giai đoạn này các từ điển thuật ngữ phát triển rầm rộ, đặc biệt là các từ điển song ngữ của các ngành kinh tế mũi nhọn, các ngành kinh tế mới phát triển như tin học, điện tử, viễn thông,

du lịch, thương mại…, trong đó có tới 55 cuốn là từ điển đối chiếu dịch thuật [Dẫn theo 80, tr.33]

Những cột mốc trên đã ghi nhận sự phát triển, sự lớn mạnh không ngừng của tiếng Việt, đó cũng là những dấu mốc quan trọng của lịch sử phát triển của thuật ngữ tiếng Việt với những thay đổi nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Với

cuốn “Danh từ khoa học”, Hoàng Xuân Hãn đã đặt nền móng đầu tiên cho những

nghiên cứu lý thuyết đối với thuật ngữ ở Việt Nam Kể từ đó đã ra đời nhiều công trình nghiên cứu trong lĩnh vực lý thuyết về thuật ngữ của các học giả tên tuổi như: Nguyễn Văn Tu, Vân Lăng, Như Ý, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Thiện Giáp, Lê Khả

Kế, Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu, Lê Quang Thiêm, Nguyễn Đức Tồn, Hà Quang Năng Nhìn chung, các nhà nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam thời kỳ này đã tập trung giải quyết các vấn đề về định nghĩa thuật ngữ, vị trí thuật ngữ trong ngôn ngữ, đặc điểm của thuật ngữ, sự hình thành thuật ngữ học, vấn

đề chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt v.v

Về tình hình phát triển thuật ngữ học tiếng Việt đầu thế kỷ 21

Bước sang thế kỉ thứ 21, trong xu thế toàn cầu hóa, với sự phát triển mạnh

mẽ của khoa học kĩ thuật và công nghệ, những vấn đề lý luận của thuật ngữ được đặc biệt quan tâm Việc nghiên cứu về thuật ngữ trong tiếng Việt trên bình diện lý thuyết đã có những thành tựu tương đối lớn với những công trình mang tính chất

Trang 25

tổng kết và phát triển rất sâu của Lê Quang Thiêm, Nguyễn Đức Tồn, Hà Quang Năng, Nguyễn Văn Khang, Phạm Hùng Việt… Cụ thể là

Năm 2000, Nguyễn Văn Khang có công trình nghiên cứu về “Chuẩn hóa thuật ngữ nhìn từ bối cảnh xã hội” và bàn về “Những vấn đề đặt ra đối với việc xử lí

từ ngữ nước ngoài trong tiếng Việt” [60], [61]

Năm 2009, tác giả Hà Quang Năng có công trình “Sự phát triển của từ vựng tiếng Việt nửa sau thế kỉ XX”, trong đó có một chương khái quát về những chặng

đường phát triển của tiếng Việt, các con đường hình thành thuật ngữ tiếng Việt và những giải pháp cụ thể trong việc tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài vào tiếng Việt

Năm 2010, tác giả Lê Quang Thiêm đã hoàn thành công trình nghiên cứu “Sự phát triển nghĩa từ vựng tiếng Việt từ 1945 đến 2005” Công trình bao quát sự biến

đổi nghĩa - một địa hạt trừu tượng gắn liền ngôn ngữ - tư duy - văn hoá trên một loại thực thể trọng tâm của ngữ nghĩa học: ngữ nghĩa học từ vựng Đây là công trình đầu tiên trong Việt ngữ học nghiên cứu công bố một cách bài bản, khoa học sự phát triển nghĩa từ vựng tiếng Việt trong vòng 60 năm qua

Năm 2013, trên cơ sở đề tài khoa học cấp Bộ “Một số vấn đề cơ bản về cơ sở

lí luận và phương pháp luận biên soạn các loại gồm từ điển và bách khoa thư Việt Nam” (PGS.TS Phạm Hùng Việt làm chủ nhiệm), cuốn sách “Thuật ngữ học – những vấn đề lí luận và thực tiễn” do Hà Quang Năng chủ biên được xuất bản Đây

là công trình nghiên cứu có tính chất tổng kết một số vấn đề cơ bản về thuật ngữ học, đồng thời cập nhật những vấn đề lý luận và thực tiễn của từ điển học thuật ngữ

ở Việt Nam và nước ngoài

Mời đây là tháng 5 năm 2015, trên cơ sở đề tài nghiên cứu khoa học cấp

Quốc gia về “Nghiên cứu hệ thuật ngữ tiếng Việt hiện đại nhằm góp phần xây dựng nền văn hóa tri thức Việt Nam”, Lê Quang Thiêm đã viết cuốn “Sự phát triển hệ thuật ngữ tiếng Việt theo định hướng văn hóa (từ 1907 – 2005)” Đây là công trình

nghiên cứu lớn mà trong đó tác giả đã khái quát và phân tích quá trình phát triển thuật ngữ khoa học tiếng Việt trong hơn một thế kỷ qua Một cái nhìn xuyên suốt từ lúc hệ thống thuật ngữ tiếng Việt hiện đại phôi thai hình thành, khi chính sách khai

Trang 26

thác thuộc địa của thực dân Pháp bắt đầu, khi chữ quốc ngữ được tiếp nhận… cho đến khi đất nước được độc lập tự do, tiếng Việt trở thành ngôn ngữ chính của đất nước và trở thành một bộ phận đặc thù trong hệ thống từ vựng – ngữ nghĩa của ngôn ngữ dân tộc

Năm 2016, cuốn “Thuật ngữ học tiếng Việt hiện đại” do tác giả Nguyễn Đức

Tồn chủ biên được xuất bản Có thể coi đây là một trong những công trình nghiên cứu mới nhất về thuật ngữ học, trong đó các tác giả đã khái quát hóa những vấn đề

lý luận và thực tiễn mang tính thời sự về thuật ngữ Bên cạnh việc xác định các cơ

sở khoa học về thuật ngữ như khái niệm thuật ngữ, các tiểu chuẩn của thuật ngữ trong sự phân biệt với các đơn vị từ vựng phi thuật ngữ, lý thuyết điển mẫu và vấn

đề chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt, các tác giả dành riêng chương 3 để tổng kết tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở một số ngành khoa học, chuyên môn, đồng thời xem xét, đánh giá thực trạng xây dựng và sử dụng thuật ngữ tiếng Việt hiện nay Trên cơ

sở đó đưa ra những định hướng cho việc xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ khoa học tiếng Việt trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa

Bên cạnh có còn có những công trình luận án nghiên cứu các vấn đề của thuật ngữ học ở Việt Nam như xây dựng các hệ thuật ngữ khoa học kỹ thuật, thuật ngữ chuyên ngành về các phương diện cấu tạo thuật ngữ, chuẩn hóa thuật ngữ, chuyển dịch thuật ngữ như:

- Hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt: Đặc điểm và cấu tạo thuật ngữ LA Phó tiến sỹ

Ngữ Văn (Vũ Quang Hào, 1991);

- So sánh cấu tạo thuật ngữ kinh tế thương mại trong tiếng Nhật và tiếng Việt hiện đại (Nguyễn Thị Bích Hà, 2000);

- Khảo sát hệ thuật ngữ tin học viễn thông tiếng Việt (Nguyễn Thị Kim Thanh,

Trang 27

- Đặc điểm ngữ nghĩa và cấu tạo của thuật ngữ sở hữu trí tuệ tiếng Việt (Mai Thị

Loan, 2012);

- Thuật ngữ khoa học kĩ thuật xây dựng (Vũ Thị Thu Huyền 2013);

- Nghiên cứu các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự nhiên tiếng Việt (trên tư liệu thuật ngữ Toán - Cơ - Tin học - Vật lí) (Ngô Phi Hùng 2014)

Về một số luận án đã bảo vệ gần đây có:

- Đối chiếu thuật ngữ du lịch Việt – Anh (Lê Thanh Hà 2015);

- Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa hệ thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt (Nguyễn

Quang Hùng 2016);

- Đối chiếu thuật ngữ Âm nhạc Việt – Anh (Trần Thanh Dung 2017) và

- Đối chiếu thuật ngữ phụ sản trong tiếng Anh và tiếng Việt (Phí Thị Việt Hà 2017)

Hướng nghiên cứu của các công trình luận án thuật ngữ này tập trung vào:

i Hệ thống hóa được các quan điểm lý luận trong việc nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam;

ii.Phân tích đặc điểm cấu tạo của một hệ thuật ngữ chuyên ngành cụ thể, mô hình hóa các kiểu cấu tạo của hệ thuật ngữ chuyên ngành đó;

iii Phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của thuật ngữ, các mô hình định danh thuật ngữ trên cơ sở phân chia theo các phạm trù nghĩa (các nhóm trường nghĩa)

Đặc biệt là những công trình luận án gần đây nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Việt với thuật ngữ trong các ngôn ngữ khác dưới góc độ ngôn ngữ học

và tương đương dịch thuật, mang đến cái nhìn đa chiều, sâu hơn về hệ thuật ngữ khoa học tiếng Việt Trên cơ sở khảo sát, đối chiếu giữa các hệ thuật ngữ chuyên ngành, các tác giả hướng tới việc xác lập cơ sở xây dựng thuật ngữ mới, chuẩn hóa các hệ thuật ngữ chưa đạt, làm giàu thêm thuật ngữ tiếng Việt Ví dụ như luận án

tiến sĩ: “Thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt và tương đương dịch thuật của chúng trong tiếng Anh” của Khổng Minh Hoàng Việt bảo vệ 2017; luận án tiến sĩ

“Nghiên cứu thuật ngữ chỉ bệnh trong tiếng Anh và cách chuyển dịch sang tiếng Việt” của Nguyễn Thị Hoài, bảo vệ năm 2017 hay luận án tiến sĩ “Thuật ngữ kinh tế

Trang 28

thương mại tiếng Anh và các biểu thức tương đương của chúng trong tiếng Việt”

của Trần Quốc Việt, bảo vệ năm 2017

Có thể thấy, việc chuẩn hóa, thống nhất hệ thống thuật ngữ của từng chuyên ngành cụ thể có vai trò quan trọng để tiến tới chuẩn hóa và thống nhất cho cả hệ thống thuật ngữ tiếng Việt nói chung Do đó rất cần có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về thuật ngữ các chuyên ngành hơn nữa nhằm tìm ra các đặc điểm bản chất của mỗi tiểu hệ thuật ngữ nhằm góp phần tạo nên những cơ sở khách quan cho việc chuẩn hóa, thống nhất thuật ngữ Thông qua việc nghiên cứu hệ thuật ngữ thông tin – thư viện Anh – Việt, chúng tôi mong rằng kết quả nghiên cứu của luận

án sẽ góp phần vào việc chỉnh lý, tiến tới xây dựng và hoàn thiện hệ thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt, đồng thời đóng góp thiết thực trong tiến trình chuẩn hóa và xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học tiếng Việt nói chung

1.1.3 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ thông tin – thư viện

1.1.3.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ thông tin - thư viện tiếng Anh

Đầu những năm 1960, do nhu cầu sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ khoa học quốc tế tăng nhanh, Tiếng Anh chuyên ngành có điều kiện phát triển Đặc biệt là giai đoạn cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, sự phát triển như vũ bão của kỹ thuật, khoa học và công nghệ cũng như nhu cầu trao đổi thông tin tăng đã thúc đẩy mạnh mẽ công tác nghiên cứu thuật ngữ trong tiếng Anh với sự tham gia của các nhà ngôn ngữ học Anh, Mỹ và mở rộng ra các nước Châu Âu và trên toàn thế giới Do nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà ngôn ngữ học, từ vựng học, thuật ngữ học và các nhà chuyên môn, công tác nghiên cứu thuật ngữ ở Anh có rất nhiều thuận lợi để phát triển Nhiều cơ sở nghiên cứu thuật ngữ được thành lập như: Hội thuật ngữ, Trung tâm nghiên cứu thuật ngữ…, đặc biệt Anh còn là thành viên của Viện nghiên cứu thuật ngữ quốc tế - IITF (thành lập năm 1989 với trên 100 thành viên của trên

40 quốc gia) Hàng năm, có 2 số tạp chí nghiên cứu các vấn đề về thuật ngữ do Hội thuật ngữ của Anh xuất bản và có cả các hội thảo bàn về thuật ngữ, tạo nên những diễn đàn để các nhà ngôn ngữ học trao đổi quan điểm Trong nghiên cứu thuật ngữ

và thuật ngữ học, các nhà ngôn ngữ học ở Anh đã tập trung vào những vấn đề sau:

Trang 29

- Cơ sở lý thuyết chung về thuật ngữ như: các quan niệm về thuật ngữ, các định nghĩa về thuật ngữ và các tiêu chuẩn để đánh giá thuật ngữ…;

- Xây dựng các hệ thuật ngữ, ứng dụng các kết quả nghiên cứú lý thuyết và thực tiễn sử dụng thuật ngữ để biên soạn từ điển thuật ngữ chuyên ngành…

Là một bộ phận của ngôn ngữ cấu thành nên hệ thuật ngữ chuyên ngành trong tiếng Anh, hệ thuật ngữ thông tin – thư viện trong tiếng Anh cũng có điều kiện để phát triển Tuy nhiên, có thể thấy hầu hết các công trình nghiên cứu về khoa học thông tin – thư viện tập trung nhiều vào các vấn đề như lịch sử hình thành và phát triển của ngành, cơ sở lý thuyết và ứng dụng trong hoạt động thông tin – thư viện, công tác chuyên môn- nghiệp vụ… Có thể kể tên một số công trình nghiên

cứu tiêu biểu trong những năm gần đây như: Foundations of Library and Information Science (Cơ sở khoa học thông tin – thư viện – Rechard Rubin, 1998), Knowledge and Knowing in Library and Information Science: A Philosophical Framework (Kiến thức và vận dụng trong khoa học thông tin – thư viện: trên cấu trúc luận triết học – John M Budd, 2001) hay Developing Library and Information Center Collections (Phát triển vốn tài liệu trung tâm thông tin – thư viện – Edward

Evans, 2005)

Cho đến nay, chúng tôi chưa tìm thấy một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu sâu về thuật ngữ thông tin – thư viện dưới góc độ ngôn ngữ học hay có sự đánh giá về tính chính xác của thuật ngữ, vấn đề đặt thuật ngữ hay phiên chuyển nó từ tiếng Anh sang các ngôn ngữ khác hoặc ngược lại v.v…Mặc dù vậy, những kết quả trong công tác biên soạn từ điển thuật ngữ tiếng Anh lại rất đáng ghi nhận Nhiều từ điển chuyên ngành, từ điển giải thích chuyên ngành thông tin – thư viện đã ra đời

Đó chính là thành tựu của cả các công trình nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng về từ điển học và thuật ngữ học Ngày nay, với sự phát triển của khoa học và công nghệ, những từ điển này còn được số hóa hoặc có những từ điển được xây dựng trực tuyến, hay thành các phần mềm có thể cài đặt trên máy tính Những từ điển chuyên ngành thông tin – thư viện được biên soạn trong thời gian gần đây có thể kể ra:

Trang 30

- “The ALA Glossary of Library and Information Science” , 1996 - Michael Levine-Clark và Toni M Carter, NXB Galen Press, Ltd;

- John Feather, Paul Sturges (1997), International encyclopedia of information and library science London - New York : Routledge;

- “ Thesaurus of Library and Information Science Terms” (2004) – Rajendra K Kumbhar, Ess Ess Publications;

- “Dictionary for Library and Information Science” (2005) - Joan M Reitz – Wastport, Connecticut: Libraries Limited;

- “Concise Dictionary of Library and Information Science” - 2nd Edition (2011) –

Stella Keenan và Colin Johnst, NXB De Gruyter Saur

1.1.3.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ thông tin - thư viện tiếng Việt

Nếu như trong tiếng Anh chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu sâu về thuật ngữ thông tin – thư viện theo hướng tiếp cận lý thuyết trên phương diện ngôn ngữ học thì trong tiếng Việt tình hình cũng tương tự

Xây dựng và chuẩn hoá thuật ngữ khoa học được chú ý ở nước ta từ những năm 60 của thế kỷ trước Trước hiện trạng có sự khác nhau trong cách đặt tên hay phiên chuyển các thuật ngữ khoa học từ các ngôn ngữ nước ngoài sang tiếng Việt, việc thống nhất hệ thuật ngữ của từng ngành khoa học cũng là một yêu cầu bức bách đối với việc hướng tới chuẩn hoá ngôn ngữ toàn dân Việc xây dựng hệ thuật ngữ khoa học tiếng Việt cho ngành thông tin – thư viện đã được đặt ra cũng là để đáp ứng nhu cầu thực tiễn này

Hiện nay, sự chưa thống nhất trong cách gọi tên một số khái niệm hay hoạt động trong ngành khoa học thông tin – thư viện còn phổ biến Ví dụ như tên gọi

của các thư viện đại học: Đại học Khoa học tự nhiên Tp HCM vẫn giữa là Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học KHXH và NV gọi là Trung tâm Thông tin – thư viện, ở Đà Nẵng thì lại có Trung tâm Thông tin – Tư liệu…

Một số nhà thư viện học Việt Nam quan tâm đến hệ thuật ngữ thông tin – thư viện và đã có những bài báo đề cập đến tình trạng khi phiên chuyển từ ngôn ngữ nước ngoài có sự không chặt chẽ, có nhiều cách dịch khác nhau dẫn đến những cách

Trang 31

hiểu khác nhau Chẳng hạn các thuật ngữ “Nguồn lực thông tin” hay “Tài nguyên thông tin” (tiếng Anh là Information Resources), “đề mục chủ đề” hay “tiêu đề chủ đề” (tiếng Anh là subject heading)… Bên cạnh đó, cũng có những ý kiến đề xuất

thử chuẩn hóa một số thuật ngữ trong thông tin – thư viện [134]; [135] Tuy nhiên, kết quả của những công trình nghiên cứu ở Việt Nam về hệ thuật ngữ này mới chỉ là những cuốn từ điển đối chiếu song ngữ, đa ngữ hay từ điển giải thích với các thứ tiếng nước ngoài như: Nga, Anh, Pháp

Những từ điển chuyên ngành được biên soạn trong giai đoạn này có:“Từ điển thuật ngữ thư viện học Nga – Anh – Pháp – Việt”, Nguyễn Hữu Viêm, Nhà xuất

bản Khoa học xã hội (1972) Từ điển bao gồm các thuật ngữ của thư viện học, thư mục học và một số thuật ngữ của các ngành liên quan như xuất bản, in, phát

hành,thông tin khoa học, v v…; “Từ điển tư liệu và thư viện học Pháp - Việt” -

Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa học và Công nghệ Quốc gia biên soạn và xuất bản năm 1997 Từ điển này bao gồm các thuật ngữ được chọn lọc từ các lĩnh vực thư viện, thông tin khoa học và một số ngành liên quan như tin học, lưu trữ, xuất bản, phát hành và in ấn …

Gần đây, có thêm một số từ điển chuyên ngành TTTV được xuất bản như:

1 Từ điển thuật ngữ thư viện học Việt – Anh – Pháp, Thư viện Khoa học Tổng

4 Từ điển chuyên ngành thư viện - thông tin Việt – Anh - Thư Viện Khoa học

Tổng hợp T.P Hồ Chí Minh, 2013 (lưu hành nội bộ);

5 ALA: Từ điển giải nghĩa thư viện học và tin học Anh-Việt: Glossary of Library and Inforamtion Science, tài liệu dịch

Như vậy, xét một cách tổng thể, việc nghiên cứu thuật ngữ thông tin – thư viện trong tiếng Anh và tiếng Việt dưới góc độ ngôn ngữ học về cả mặt lý luận và

Trang 32

thực tiễn còn chưa được quan tâm thích đáng Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào mặt lý thuyết và ứng dụng kiến thức chuyên ngành hoặc chỉ là những tổng kết hay khảo sát ban đầu có tính chất định hướng, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện mang tính lý luận về những đặc điểm, cấu tạo, nguồn gốc hay cách định danh của thuật ngữ trong sự đối chiếu với các ngôn ngữ khác Đặc biệt đáng chú ý là, chúng tôi chưa tìm thấy công trình nghiên cứu trên phương diện ngôn ngữ học cũng như vận dụng lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu vào nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ thông tin – thư viện trong tiếng Anh và tiếng Việt

1.2 Lý luận chung về thuật ngữ và thuật ngữ thông tin – thư viện

1.2.1 Khái niệm thuật ngữ

Từ nhiều năm nay, thuật ngữ và các vấn đề liên quan đã trở thành đối tượng được quan tâm đặc biệt Các nhà ngôn ngữ học trên thế giới cũng như Việt Nam đã

có rất nhiều công trình nghiên cứu về thuật ngữ Điểm chung của các công trình nghiên cứu này là các tác giả muốn đưa ra qua một cái nhìn cụ thể về khái niệm thuật ngữ Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa, khái niệm nào chung nhất về thuật ngữ được đưa ra Sở dĩ vẫn tồn tại nhiều cách định nghĩa khác nhau về thuật ngữ là do sự khác nhau về quan điểm và cách nhìn đối với thuật ngữ

1.2.1.1 Quan niệm về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu trên thế giới

Trong các tài liệu nghiên cứu về ngôn ngữ và về thuật ngữ, các nhà khoa học nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới nêu ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ Trong đó có hể thấy nổi lên hai xu hướng nhận diện và định nghĩa thuật ngữ cơ

bản Xu hướng thứ nhất là xác định thuật ngữ trong mối quan hệ với khái niệm mà

nó biểu hiện Xu hướng thứ hai là phân biệt giữa thuật ngữ với từ ngữ thông thường, được sử dụng trong ngôn ngữ toàn dân

Đại diện cho xu hướng thứ nhất là các nhà ngôn ngữ học Xô Viết Năm 1976,

Đại Bách khoa toàn thư Xô-viết đã định nghĩa: “Thuật ngữ là một từ hoặc một cụm

từ chỉ ra một cách chính xác khái niệm và quan hệ của nó với những khái niệm khác trong giới hạn của phạm vi chuyên ngành Thuật ngữ là cái biểu thị vốn đã chuyên

Trang 33

biệt hóa, hạn định hóa về sự vật, hiện tượng, thuộc tính và quan hệ của chúng trong phạm vi chuyên môn đó” [Dẫn theo 34, tr 11]

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, O.S Akhmanova (O.C

Axмaнова) đã định nghĩa “Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của ngôn ngữ chuyên môn (ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kỹ thuật, v.v ) được sáng tạo ra (được tiếp nhận, được vay mượn, v.v ) để biểu hiện chính xác các khái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn” [18, tr.30] V.P Danilenko (В.П Даниленко) cũng đưa ra một quan niệm tương tự Ông cho rằng: “Thuật ngữ dù là từ (ghép hoặc đơn) hay cụm từ đều là một kí hiệu tương ứng với một khái niệm” và “Bản chất của thuật ngữ với tư cách là một khái niệm hoàn toàn không trùng với từ thông thường của ngôn ngữ toàn dân” [Dẫn theo 34, tr.11] Còn A.S Gerd (А.С Герд) cho rằng:

“Thuật ngữ là từ mà một định nghĩa nào đó kèm theo nó một cách nhân tạo, có ý thức Định nghĩa này có liên quan với một khái niệm khoa học nào đó” [32, tr.30]

“Thuật ngữ là từ mà một định nghĩa nào đó kèm theo nó một cách nhân tạo, có ý thức Định nghĩa này có liên quan với một khái niệm khoa học nào đó” [Dẫn theo

Bên cạnh đó, khá nhiều nhà nghiên cứu lại nhấn mạnh đến mặt chức năng

khi định nghĩa thuật ngữ Điển hình là G.O Vinokur (Г.О.Винокур) khi ông cho rằng: “ Thuật ngữ - đó không phải là một từ đặc biệt, mà chỉ là từ có chức năng đặc

biệt” “Chức năng đặc biệt mà từ với tư cách là thuật ngữ đảm nhiệm đó là chức

Trang 34

năng gọi tên [Dẫn theo 34, tr.10] Cùng quan điểm với Vinokur , Gerd A.S (А.С

Герд) định nghĩa: “Thuật ngữ là một đơn vị từ vựng - ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi các đặc trưng như tính hệ thống, tính đơn nghĩa; ở thuật ngữ không có hiện tượng đồng nghĩa hay đồng âm trong phạm vi của một khoa học hoặc một lĩnh vực tri thức cụ thể” [100, tr.19]

Trong những năm gần đây, quan niệm thuật ngữ học của các nhà ngôn ngữ

đã được mở rộng hơn Định nghĩa thuật ngữ không chỉ giới hạn trong mối quan hệ với khái niệm mà còn đề cập đến các bình diện khác của thuật ngữ Ví dụ như

Sager (1990) [167] đề cập đến thuật ngữ học trên ba bình diện là nhận thức, ngôn ngữ, và giao tiếp Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu còn đề cập đến tính đa ngành,

đa lĩnh vực của thuật ngữ Silvia Pavel and Diane Nolet (2001) quan niệm về thuật

ngữ như sau: “Ở phạm vi rộng, thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt thuộc một ngành khoa học, nghệ thuật, cá nhân hay thực thể xã hội Ví dụ như thuật ngữ y học, thuật ngữ tin học Ở phạm vi hẹp “thuật ngữ là lĩnh vực ngôn ngữ liên quan đến việc nghiên cứu các khái niệm, thuật ngữ được sử dụng trong hệ ngôn ngữ chuyên ngành” Ngôn ngữ thông thường được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, còn ngôn ngữ chuyên môn được dùng để tạo môi trường giao tiếp rõ ràng trong một lĩnh vực chuyên môn cụ thể dựa trên vốn từ vựng sử dụng cho chuyên môn ấy” [169, tr, 8]

Manuel, S.M nhìn nhận thuật ngữ học với tư cách là một ngành khoa học liên ngành Ông cho rằng "thuật ngữ có mối liên quan với nhiều ngành khoa học khác nhau như triết học, tâm lý học, ngôn ngữ học, từ điển học và khoa học máy tính" [Antia: 2010, 144] Đồng quan điểm với Manuel, Tatina, K quan niệm “thuật ngữ học là khoa học nghiên cứu về các thuật ngữ chuyên ngành và cách chúng được sử dụng Thuật ngữ học còn nghiên cứu sự phát triển của thuật ngữ chuyên môn và các mối quan hệ giữa chúng trong một lĩnh vực cụ thể Thuật ngữ học khác với từ điển học ở chỗ, thuật ngữ học liên quan đến việc nghiên cứu các khái niệm, các hệ thống khái niệm và tên gọi của chúng còn từ điển học nghiên cứu về từ và nghĩa của từ Thuật ngữ học là một ngành nghiên cứu một cách có hệ thống việc

Trang 35

dán nhãn hoặc gọi tên các khái niệm trong một hoặc nhiều lĩnh vực” “Thuật ngữ học có thể được giới hạn trong một hoặc nhiều ngôn ngữ, ví dụ: thuật ngữ đa ngôn ngữ và thuật ngữ song ngữ, hoặc cho tập trung nghiên cứu việc sử dụng thuật ngữ trong các lĩnh vực khác nhau” [Antia: 2010, 144]

1.2.1.2 Quan niệm về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu thuật ngữ bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ

XX Rất nhiều nhà khoa học Việt Nam đã đi sâu vào nghiên cứu và đưa ra những định nghĩa về thuật ngữ Mặc dù chưa đưa ra được các những định nghĩa hoàn toàn thống nhất về thuật ngữ song những quan điểm đó đã góp phần làm cho khái niệm

“thuật ngữ” ngày một đầy đủ và chính xác

Năm 1960, trong cuốn Khái luận ngôn ngữ học, Nguyễn Văn Tu lần đầu tiên

đưa ra định nghĩa về thuật ngữ trong đó ông chỉ rõ thuật ngữ không chỉ biểu thị khái niệm khoa học mà còn biểu thị cả tên các sự vật” “Thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong ngành khoa học kỹ thuật, chính trị ngoại giao, nghệ thuật và có một ý

nghĩa đặc biệt, biểu hiện chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói

trên.” 128, tr 176 Năm 1968 trong cuốn “Từ vựng học tiếng Việt hiện đại”, một

lần nữa ông lại đưa ra định nghĩa về thuật ngữ: “Thuật ngữ là những từ và những từ

tổ cố định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất hay ngành văn hóa nào đó v.v.” Và “đặc điểm của thuật ngữ là một từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có tính chất quốc

tế (tùy từng ngành)” 〔129, tr.114] Ở định nghĩa này, Nguyễn Văn Tu đã nhấn mạnh

đến mặt khái niệm mà các thuật ngữ biểu thị Tuy nhiên tính quốc tế của thuật ngữ chưa được đề cao, mới chỉ dừng lại “còn tùy từng ngành”

Năm 1962, trong Giáo trình Việt ngữ, tập 2, Đỗ Hữu Châu đã định nghĩa:

“Thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kĩ thuật nào đấy Có thuật ngữ của ngành vật

lí, ngành hóa học, toán học, thương mại, ngoại giao, v.v… Đặc tính của những từ này là phải gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học, kĩ thuật nhất định” [8, tr.167] Định nghĩa trên đã nhấn

Trang 36

mạnh không chỉ đến mặt “biểu thị khái niệm khoa học” mà còn “chỉ tên một sự vật, hiện tượng khoa học, kĩ thuật” trong thuật ngữ khoa học

Sau này, nhiều định nghĩa về thuật ngữ cũng được các nhà học giả khác đưa

ra như Lê Khả Kế, Hoàng Văn Hành, 1983; Lưu Vân Lăng và Như Ý, 1977; Dương

Kỳ Đức, 1981; Nguyện Thiện Giáp, 1985 Điểm chung trong định nghĩa về thuật ngữ các học giả đưa ra đó là gắn thuật ngữ với khái niệm, đồng thời đề cấp đến các tiêu chuẩn của thuật ngữ như tính hệ thống, tính chính xác Như Hoàng Văn Hành định nghĩa: “Thuật ngữ là những từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ ”

[40, tr.26] Hay quan niệm của Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt (1998): “Thuật ngữ là một bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm

những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người” [25; tr.270]

Năm 2010, trong cuốn Sự phát triển của từ vựng tiếng Việt nửa sau thế kỷ

XX [82], tác giả Hà Quang Năng viết: “thuật ngữ là từ ngữ dùng để biểu thị một

khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất

định” Cùng quan điểm với tác giả Hà Quang Năng, năm 2010, trên tạp chí Ngôn ngữ, tác giả Nguyễn Đức Tồn đã viết: “Thuật ngữ là từ ngữ biểu hiện một khái

niệm hoặc một đối tượng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học hoặc chuyên môn” [116; tr 92]

Mặc dù các nhà nghiên cứu đưa ra những góc nhìn khác nhau về khái niệm thuật ngữ, có thể nhận thấy hai nội dung rất quan trọng mang tính đặc trưng bản chất của thuật ngữ đó là:

 Về hình thức: thuật ngữ là những từ hoặc cụm từ (ngữ định danh)

 Về nội dung: thuật ngữ biểu thị chính xác các khái niệm hoặc đối tượng của một ngành khoa học hoặc một lĩnh vực chuyên môn nhất định

Từ những định nghĩa như trên và để có cơ sở khoa học cho quá trình giải quyết những vẫn đề trong phạm vị luận án, chúng tôi xin đưa ra một cách hiểu về

Trang 37

thuật ngữ như sau: Thuật ngữ là những từ và cụm từ biểu thị chính xác các khái niệm hoặc đối tượng chuyên môn của một ngành khoa học, hoặc một lĩnh vực chuyên môn nhất định thuộc các ngành khoa học kỹ thuật, công nghệ, dịch vụ v.v…”

1.2.1.3 Phân biệt thuật ngữ và danh pháp khoa học

Khi định nghĩa thuật ngữ, các nhà ngôn ngữ học cho thấy cần phải phân định rạch ròi giữa thuật ngữ và danh pháp Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của

ngôn ngữ Thuật ngữ trước hết gắn liền với hệ thống các khái niệm của một khoa

học nhất định Nó bao gồm những từ và ngữ cố định, là tên gọi chính xác của các

loại khái niệm và đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn Danh pháp là toàn bộ

những tên gọi cụ thể của các đối tượng được dùng trong một ngành chuyên môn nào đó, nó không gắn trực tiếp với khái niệm của khoa học này mà chỉ tên các sự vật, đối tượng khoa học trong đó mà thôi

G.O Vinokur (T.O Buнoкyp), người đầu tiên chú ý đến sự phân biệt này,

cho rằng: “danh pháp, khác với thuật ngữ, chỉ là một hệ thống các phù hiệu hoàn

toàn trừu tượng và ước lệ, mà mục đích duy nhất là ở chỗ cấp cho ta cái phương tiện thuận lợi nhất về mặt thực tiễn để gọi tên các đồ vật, các đối tượng không quan hệ trực tiếp với những đòi hỏi của tư duy lý luận hoạt động với những sự vật này” [136, tr.7]

Trong bài viết Thế nào là hệ thuật ngữ, A.A Reformatxkij cũng đã tiếp thu

quan điểm của G O Vinokur khi chỉ ra: “Hệ thuật ngữ trước hết gắn với một hệ thống khái niệm của một khoa học cụ thể, còn danh pháp chỉ “dán nhãn” cho đối tượng của nó” và “danh pháp không có quan hệ trực tiếp với khái niệm khoa học

Vì vậy, danh pháp không tiêu biểu cho hệ khái niệm của khoa học” [93, tr.4-5]

Ví dụ như, trong Hóa học, nước – muối là thuật ngữ, còn H 2 O, NaCl là danh

pháp Trong lĩnh vực du lịch, các từ như khách sạn, nhà hàng, sân bay là những thuật ngữ chỉ một loại sự vật, còn tên của các khách sạn, nhà hàng, sân bay, v.v cụ

thể như: khách sạn Melia, Nhà hàng Legend Beer, sân bay quốc tế Nội Bài v.v… là danh pháp Trong lĩnh vực khoa học thông tin – thư viện, các từ như bảng phân

Trang 38

loại, quy tắc biên mục … là thuật ngữ, còn bảng phân loại Dewey, quy tắc biên mục Hoa Kỳ … là danh pháp

Trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thiện Giáp quan niệm:

thuật ngữ có thể được cấu tạo dựa trên cơ sở các từ hoặc hình vị có ý nghĩa sự vật

cụ thể Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng Còn danh pháp có thể được quan niệm là một chuỗi kế tiếp nhau của các chữ (Vitamin A, Vitamin B v.v.) hay bất kỳ cách gọi tên võ đoán nào [31, tr.270 - 271]

Qua tìm hiểu những quan điểm trên của các nhà nhiên cứu, có thể thấy rằng, thuật ngữ khoa học gắn liền với khái niệm hoặc đối tượng của một ngành khoa học, được xây dựng một cách logic và được biểu đạt bằng các đơn vị từ ngữ của một ngôn ngữ Còn danh pháp không gắn trực tiếp với các khái niệm khoa học Danh pháp chỉ mang chức năng ký hiệu, trong đó nhấn mạnh đến chức năng “gọi tên” sự vật và đối tượng cụ thể trong một ngành khoa học

1.2.2 Khái niệm thuật ngữ thông tin – thư viện

Thuật ngữ thông tin – thư viện là sự cấu thành từ hai thuật ngữ “thư viên học” và “thông tin học” Trước khi trở thành một ngành khoa học thống nhất với tên

gọi “khoa học thông tin – thư viện”, “thư viện học” và “thông tin học” là hai ngành

khoa học riêng biệt

Về nguồn gốc của hai ngành khoa học này, có nhiều quan điểm khác nhau

Có nhà thư viện học khẳng định rằng thư viện học là tổ tiên của ngành thông tin học; rằng thông tin học là một giai đoạn kế tiếp của thư viện học (Warden B.Rayward [172] Một số nhà khoa học khác cho rằng thư viện học và thông tin học

là hai ngành khoa học độc lập, tách biệt nhau Điển hình cho quan điểm này là nhà thư viện học nổi tiếng người Mỹ J.H.Shera Mặc dù có sự khác biệt về quan điểm song phần lớn các nhà thư viện học trên thế giới đều đồng tình rằng các vấn đề nghiên cứu của thông tin học phần lớn thuộc về thư viện học và chúng có mối quan

hệ qua lại chặt chẽ với nhau

Là ngành khoa học được hình thành từ đầu thế kỷ 20, qua mỗi giai đoạn phát

triển, quan niệm về “thư viện học” có sự khác nhau Theo tiếng Hy Lạp, “Biblio”

Trang 39

có nghĩa là sách, “theka” có nghĩa là kho, nơi bảo quản, do đó, ngày xưa thư viện

có tên gọi là “Bibliotheca” có nghĩa là nơi bảo quản sách vở Năm 1970, UNESCO (Tổ chức giáo dục, khoa học, văn hóa Liên hợp quốc) đưa ra định nghĩa: Thư viện, không phụ thuộc vào tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách,

ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu số, kể cả đồ họa, nghe nhìn và nhân viên phục vụ

có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc giải trí” [27, tr 9]

Có nhiều định nghĩa khác nhau về thư viện Trong trường hợp cụ thể này, chúng tôi xin lấy định nghĩa sau về thư viện học để làm cơ sở cho việc nghiên cứu:

“Thư viện học là khoa học xã hội, nghiên cứu sự nghiệp thư viện, các quy luật, các nguyên tắc hình thành, phát triển, vận hành mạng lưới thư viện; nghiên cứu việc thu thập, bảo quản, tìm và cung cấp các thông tin được ghi chép để đáp ứng các nhu cầu về thông tin của cộng đồng người sử dụng” [135, tr.10] Theo định nghĩa

này, có thể thấy thư viện học về cơ bản đã bao hàm chức năng thông tin

Trong khi đó, thông tin học là một ngành khoa học còn non trẻ, mới xuất hiện vào những năm 40 - 50 của thế kỷ 20 Thuật ngữ “thông tin” trong tiếng Anh là

Information có nguồn gốc từ tiếng La-tinh “Informatio”, có nghĩa là giảng giải,

trình bày, thông báo; hoạt động để truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm, hay một biểu tượng Theo nghĩa thông thường, thông tin là tất cả sự việc, sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng sự hiểu biết của con người Thông tin được hình thành trong

quá trình giao tiếp Trong hoạt động thông tin, thuật ngữ “thông tin” được hiểu là

thông tin chuyên môn tồn tại nhằm giải quyết những vấn đề phục vụ cho sự phát triển

“Thông tin học” là một ngành khoa học có nhiệm vụ nghiên cứu bản chất, cấu trúc và quy luật phát triển của thông tin; cũng như lý thuyết và phương pháp quản lý các nguồn tài nguyên thông tin [45, 177] Trong tiếng Anh có hai thuật

ngữ để diễn tả ý nghĩa Thông tin học như sau:

(1) Information Science: là khoa học nghiên cứu và phân tích một cách có hệ thống “thông tin dưới mọi hình thức bao gồm các kênh chính thức hay không chính

Trang 40

thức ở các khía cạnh: nguồn lực, sự phát triển, sưu tập, tổ chức, quảng bá, đánh giá,

sử dụng và quản lý; Công nghệ được dùng trong việc truyền thông thông tin”

(“Dictionary for Library and Information Science”/ Joan M Reitz – Wastport, Connecticut: Libraries Limited, 2005)

(2) Informatics: là lĩnh vực hoạt động trong việc “trình bày mối liên kết giữa thông tin học với công nghệ thông tin” Đó là một ngành học chính quy, khảo sát thông tin trong những khía cạnh: Cấu trúc, tính chất, sử dụng và chức năng xã hội; công nghệ dùng để tổ chức, lưu trữ, sao chép, truy hỏi và phổ biến thông tin”

(“The ASIS Thesaurus of Information Science and Librarianship”

Thuật ngữ thông tin – thư viện bao hàm tất cả các chức năng, nhiệm vụ của

ngành thư viện, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến thư viện với chức năng thông tin,

một bước phát triển mới từ quản lý tài liệu sang quản lý thông tin Như vậy, thông

tin học phản ánh bước phát triển thứ hai trong lịch sử phát triển ngành thông tin - thư viện, có những nét riêng biệt trong chức năng và nhiệm vụ của mình đối với thư viện học Chính sự khác biệt này đã thúc đẩy quá trình phát triển tự nhiên giữa hai

ngành khoa học này như “mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai”

Dựa trên quan điểm đã nêu và cùng với kết quả khảo sát sơ bộ, hệ thuật ngữ

thông tin – thư viện có thể hiểu “là những từ và cụm từ cố định gọi tên chính xác các loại khái niệm, các đối tượng thuộc lĩnh vực thông tin – thư viện gồm có các hoạt động thông tin - thư viện cùng với các chủ thể hoạt động, các tổ chức và các sản phẩm và dịch vụ liên quan” Đây có thể coi là tiêu chí quan trọng để xác định,

thu thập đối tượng nghiên cứu trong luận án

Ngày đăng: 14/06/2018, 17:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm