1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đối chiếu thuật ngữ phụ sản trong tiếng anh và tiếng việt

236 666 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 236
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để phần nào tháo gỡ những khó khăn trên luận án của chúng tôi sẽ tập trung khảo sát, nghiên cứu đối chiếu những đặc điểm về cấu tạo hình thức và nội dung ngữ nghĩa của hệ thống thuật ngữ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 1: TS VŨ THỊ SAO CHI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 2: PGS.TS HÀ QUANG NĂNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ PHỤ SẢN TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT là công trình nghiên cứu do bản thân tôi thực hiện Các số liệu và kết quả được thể hiện trong luận án là hoàn toàn trung thực và chưa từng được các tác giả khác công bố ở đâu và trong bất

cứ công trình nghiên cứu khoa học nào

Tác giả

Phí Thị Việt Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học này, ngoài những nỗ lực

của bản thân còn có sự giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể

Đặc điệt, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Hà Quang Năng, TS Vũ

Thị Sao Chi đã hướng dẫn tận tình và có những nhận xét, góp ý hết sức quý

báu cho tôi

Tiếp theo, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới ban lãnh đạo của cơ sở

đào tạo, các thầy cô giáo, các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp, và gia đình

đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện Luận án này

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả

Phí Thị Việt Hà

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUẬT NGỮ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 8

1.1.1.Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới 8

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUẬT NGỮ PHỤ SẢN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 17

1.2.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ phụ sản trên thế giới 17

1.2.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ phụ sản ở Việt Nam 19

Chương 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN 22

2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THUẬT NGỮ VÀ THUẬT NGỮ PHỤ SẢN 22

2.1.1 Khái niệm thuật ngữ và thuật ngữ phụ sản 22

2.1.2 Tiêu chuẩn của thuật ngữ và thuật ngữ phụ sản 34

2.1.3 Phương thức đặt thuật ngữ 41

2.1.4 Đơn vị cấu tạo thuật ngữ và thuật ngữ phụ sản trong tiếng Anh và tiếng Việt 45

2.1.5 Thuật ngữ với lý thuyết định danh 47

2.1.6 Vấn đề chuẩn hoá thuật ngữ 51

2.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU 57

2.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 60

Trang 6

Chương 3: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ PHỤ SẢN

TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 62

3.1 ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ PHỤ SẢN TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT XÉT TỪ SỐ LƯỢNG THUẬT TỐ 62

3.1.1 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ tiếng Anh xét từ số lượng thuật tố 62

3.1.2 Đặc điểm cấu tạo TNPS tiếng Việt xét từ số lượng thuật tố 63

3.1.3 Đánh giá điểm tương đồng và khác biệt của TNPS trong tiếng Anh và tiếng Việt xét từ số lượng thuật tố 64

3.2 ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO TNPS TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT XÉT TỪ PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO, QUAN HỆ NGỮ PHÁP VÀ TỪ LOẠI 65

3.2.1 Đặc điểm cấu tạo TNPS tiếng Anh xét từ phương thức cấu tạo, quan hệ ngữ pháp và từ loại 65

3.2.2 Đặc điểm cấu tạo TNPS tiếng Việt xét từ phương thức cấu tạo, quan hệ ngữ pháp và từ loại 72

3.2.3 Đánh giá điểm tương đồng và khác biệt giữa TNPS trong tiếng Anh và tiếng Việt xét từ phương thức cấu tạo, quan hệ ngữ pháp và từ loại 75

3.3 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO TNPS TIÊNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT XÉT TỪ NGUỒN GỐC CỦA ĐƠN VỊ CẤU TẠO 78

3.3.1 Đặc điểm cấu tạo TNPS tiếng Anh xét từ nguồn gốc của đơn vị cấu tạo 78

3.3.2 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ phụ sản tiếng Việt xét từ nguồn gốc của đơn vị cấu tạo 79

3.3.3 Đối chiếu đặc điểm cấu tạo TNPS tiếng Anh và tiếng Việt xét từ nguồn gốc của đơn vị cấu tạo 82

3.4 CÁC MÔ HÌNH CẤU TẠO TNPS TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 83

3.4.1 Các mô hình cấu tạo TNPS tiếng Anh 83

3.4.2 Các mô hình cấu tạo TNPS tiếng Việt 87

Trang 7

3.4.3 Đánh giá điểm tương đồng và khác biệt giữa mô hình cấu tạo TNPS

tiếng Anh và tiếng Việt 93

3.5 SO SÁNH ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA TNPS TIẾNG VIỆT TRÊN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC THỰC HIỆN 93

3.5.1 Số lượng thuật tố cấu tạo 94

3.5.2 Mô hình cấu tạo 94

3.5.3 Đặc điểm từ loại 95

3.6 MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ CHUẨN HOÁ TNPS TIẾNG VIỆT TRÊN PHƯƠNG DIỆN CẤU TẠO 96

3.7 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 97

Chương 4: ĐỐI CHIẾU PHƯƠNG THỨC TẠO LẬP VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH TNPS TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 100

4.1 NHỮNG PHƯƠNG THỨC TẠO LẬP TNPS TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 100

4.1.1 Phương thức thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường 101

4.1.2 Phương thức tạo thuật ngữ phụ sản trên cơ sở ngữ liệu vốn có 104

4.1.3 Phương thức vay mượn TNPS nước ngoài 106

4.2 PHƯƠNG THỨC ĐỊNH DANH TNPS TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 113

4.2.1 Phương thức định danh thuật ngữ biểu thị chủ thể và đối tượng tham gia hoạt động khám chữa bệnh phụ sản 114

4.2.2 Phương thức định danh thuật ngữ biểu thị bộ phận cơ thể người liên quan đến phụ sản 115

4.2.3 Phương thức định danh các thuật ngữ chỉ bệnh phụ sản 116

4.2.4 Phương thức định danh thuật ngữ biểu thị phương pháp phòng, chữa bệnh phụ sản 119

4.2.5 Mô hình định danh thuật ngữ biểu thị trang thiết bị phục vụ phụ sản 121 4.2.6 Mô hình định danh các thuật ngữ biểu thị khoa, môn học 121

Trang 8

4.3 SO SÁNH ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH TNPS TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 124 4.4 MỘT SỐ Ý KIẾN CHUẨN HOÁ THUẬT NGỮ PHỤ SẢN TIẾNG VIỆT

VỀ MẶT PHƯƠNG THỨC TẠO LẬP VÀ ĐỊNH DANH 126

KẾT LUẬN 129 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 133 TÀI LIỆU THAM KHẢO 134

Trang 9

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Thuật ngữ luật sở hữu trí tuệ tiếng Việt TNLSHTT

Thuật ngữ xây dựng tiếng Việt TNXDTV

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thuật ngữ phụ sản tiếng Anh xét theo số lượng thuật tố 62

Bảng 3.2 Thuật ngữ phụ sản tiếng Việt xét theo số lượng thuật tố 63

Bảng 3.3 Thuật ngữ phụ sản tiếng Anh một thuật tố 66

Bảng 3.4 Thống kê các phụ tố được sử dụng để cấu tạo thuật ngữ phụ sản trong tiếng Anh 67

Bảng 3.5 Đặc điểm từ loại TNPS tiếng Anh có hai thuật tố 69

Bảng 3.6 Đặc điểm từ loại TNPS tiếng Anh có ba thuật tố 70

Bảng 3.7 Đặc điểm từ loại TNPS tiếng Anh có bốn thuật tố 71

Bảng 3.8 Đặc điểm từ loại TNPS tiếng Anh viết tắt 71

Bảng 3.9 Đặc điểm từ loại thuật ngữ phụ sản tiếng Việt một thuật tố 72

Bảng 3.10 Đặc điểm từ loại thuật ngữ phụ sản tiếng Việt hai thuật tố 73

Bảng 3.11 Đặc điểm từ loại thuật ngữ phụ sản tiếng Việt ba thuật tố 73

Bảng 3.12 Đặc điểm từ loại thuật ngữ phụ sản tiếng Việt bốn thuật tố 74

Bảng 3.13 Đặc điểm từ loại thuật ngữ phụ sản tiếng Việt năm thuật tố 75

Bảng 3.14 Tổng hợp từ loại TNPS trong tiếng Anh và tiếng Việt 77

Bảng 3.15 Nguồn gốc cấu tạo thuật ngữ phụ sản tiếng Anh 78

Bảng 3.16 Nguồn gốc cấu tạo thuật ngữ phụ sản tiếng Việt một thuật tố 79

Bảng 3.17 Nguồn gốc cấu tạo thuật ngữ phụ sản tiếng Việt hai thuật tố 80

Bảng 3.18 Nguồn gốc cấu tạo thuật ngữ phụ sản tiếng Việt ba thuật tố 80

Bảng 3.19 Nguồn gốc cấu tạo thuật ngữ phụ sản tiếng Việt bốn thuật tố 81

Bảng 3.20 Nguồn gốc cấu tạo thuật ngữ phụ sản tiếng Việt năm thuật tố 82

Bảng 3.21 Mô hình cấu tạo thuật ngữ phụ sản trong tiếng Anh và tiếng Việt 92

Bảng 3.22 So sánh số lượng thuật tố cấu tạo của thuật ngữ phụ sản 94

tiếng Việt với thuật ngữ các chuyên ngành khác 94

Bảng 3.23 So sánh mô hình cấu tạo của thuật ngữ phụ sản tiếng Việt 94

với mô hình cấu tạo của thuật ngữ thuộc một số chuyên ngành khác 94

Bảng 3.24 So sánh đặc điểm từ loại của thuật ngữ phụ sản tiếng Việt 95

với đặc điểm từ loại của thuật ngữ thuộc một số chuyên ngành khác 95

Bảng 4.1 Mô hình định danh thuật ngữ phụ sản tiếng Anh và tiếng Việt 121

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Quá trình hội nhập quốc tế đang ngày một tác động đến các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Những năm gần đây, Việt Nam cũng đang nỗ lực tham gia vào quá trình hội nhập và phát triển sâu rộng Có thể nói, các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, y tế các ngành khoa học, trong đó có ngành y và phụ sản cũng không nằm ngoài quy luật phát triển đó

Ngôn ngữ, với vai trò là công cụ giao tiếp, ngày càng thể hiện vai trò của nó trong việc thúc đẩy sự phát triển và hợp tác sâu rộng giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới Ngày nay, khoa học kĩ thuật đang phát triển mạnh mẽ và toàn diện ở các lĩnh vực, các chuyên ngành Trong bối cảnh đó, thuật ngữ đang trở thành một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu ngôn ngữ học Giá trị của các công trình nghiên cứu thuật ngữ và đối chiếu thuật ngữ trong các ngôn ngữ chủ yếu là giúp cho thuật ngữ đạt chuẩn, tạo thuận lợi cho việc truyền đạt và tiếp thu thông tin thuộc các lĩnh vực khoa học chuyên ngành, góp phần đẩy mạnh, phát triển trong việc giao lưu hợp tác quốc tế

Y học đã có lịch sử phát triển lâu đời, phụ sản là một chuyên ngành sâu của y học, tuy nhiên tài liệu và giáo trình tiếng Anh chuyên ngành dành cho sinh viên các ngành y ở một số trường Đại học chưa nhiều Hơn nữa, theo khảo sát của chúng tôi, thời gian học tiếng Anh chuyên ngành y nói chung và chuyên ngành phụ sản nói riêng còn hạn chế với người học Sinh viên tại các trường đại học Y chưa được cập nhật và đáp ứng được khối lượng kiến thức chung của ngành Ngoài thời gian học tập trên lớp, dưới sự hướng dẫn của

Trang 12

giảng viên, sinh viên phải tự cập nhật kiến thức cho mình qua nhiều kênh thông tin như: sách báo, tạp chí và các trang thông tin về y học và phụ sản bằng tiếng Anh Cái khó trong quá trình tự nghiên cứu ở đây là trình độ ngoại ngữ của sinh viên, đặc biệt là tiếng Anh chuyên ngành của họ còn rất nhiều hạn chế

Phần lớn các cuốn từ điển song ngữ dịch nghĩa và là từ điển giải thích, cách sử dụng thuật ngữ chưa nhất quán trong các tài liệu nghiên cứu, cẩm nang hướng dẫn sử dụng trong thuật ngữ phụ sản chưa có nhiều nên dẫn đến việc khó khăn khi sử dụng, đặc biệt là trong công tác giảng dạy

Để phần nào tháo gỡ những khó khăn trên luận án của chúng tôi sẽ tập trung khảo sát, nghiên cứu đối chiếu những đặc điểm về cấu tạo hình thức và nội dung ngữ nghĩa của hệ thống thuật ngữ phụ sản (TNPS) tiếng Anh và tiếng Việt Từ đó, tìm ra những nét giống nhau và khác nhau của hai hệ thuật ngữ này, nhằm góp phần xây dựng lý thuyết chung về thuật ngữ học, góp phần xây dựng từ điển TNPS trong tiếng Việt

2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án

Từ chỗ nghiên cứu để chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt của hệ TNPS trong tiếng Anh và tiếng Việt dựa trên các phương diện đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và định danh, luận án hướng đến mục đích đánh giá ưu và nhược điểm của hệ thống TNPS tiếng Việt, để đề xuất phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm chuẩn hoá hệ thống TNPS tiếng Việt theo các tiêu chí của ngôn ngữ học

Với kết quả nghiên cứu đạt được, luận án đề xuất giải pháp biên soạn giáo trình tiếng Anh chuyên ngành phụ sản, xây dựng từ điển TNPS Việt –

Trang 13

Anh để phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập, tra cứu, dịch thuật

và công tác khám chữa bệnh trong lĩnh vực phụ sản ở Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Để đạt được các mục tiêu trên, luận án cần phải giải quyết những vấn

đề sau đây:

- Điểm lại tình hình nghiên cứu về thuật ngữ nói chung, TNPS nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam nhằm đưa ra những nhiệm vụ cần tiếp tục được thực hiện nghiên cứu

- Hệ thống hoá quan điểm lí luận về thuật ngữ, TNPS ở nước ngoài và

ở Việt Nam, đặc biệt là nguyên tắc xây dựng hệ thống thuật ngữ nói chung, hệ thống TNPS trong tiếng Anh và tiếng Việt nói riêng, qua

đó xác lập cơ sở lí luận cho luận án

- Đối chiếu hệ thống TNPS tiếng Anh và tiếng Việt về phương diện cấu tạo, con đường hình thành và phương thức định danh thuật ngữ trong trạng thái tĩnh (cụ thể là các đơn vị TNPS trong từ điển tiếng Anh và tiếng Việt)

- Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất phương hướng thống nhất và chuẩn hoá TNPS tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống TNPS tiếng Anh trong sự đối chiếu với hệ thống TNPS tiếng Việt

Chúng tôi quan niệm TNPS là những từ và cụm từ cố định biểu đạt các khái niệm được sử dụng trong y học chuyên ngành phụ sản Chuyên ngành

Trang 14

phụ sản bao gồm: sản khoa, phụ khoa, sơ sinh, hỗ trợ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình [111, tr.8]

Hệ thống thuật ngữ phụ sản bao gồm: thuật ngữ biểu thị chủ thể và đối tượng tham gia hoạt động khám chữa bệnh phụ sản; thuật ngữ biểu thị bộ phận cơ thể người liên quan đến phụ sản; thuật ngữ biểu thị bệnh phụ sản; thuật ngữ biểu thị hoạt động phòng và chữa bệnh phụ sản; thuật ngữ biểu thị trang thiết bị phục vụ công tác khám chữa bệnh phụ sản; thuật ngữ biểu thị khoa và môn học phụ sản

Tên riêng các tổ chức, cơ quan y tế, tên các nhân vật lịch sử có liên quan đến phụ sản, tên nhãn hiệu các loại thuốc là danh pháp nên không thuộc đối tượng nghiên cứu của luận án

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Do hạn chế về dung lượng, trong luận án này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu đối chiếu TNPS trong tiếng Anh và tiếng Việt trên hai phương diện: cấu tạo, phương thức tạo lập và đặc điểm định danh của chúng Từ đó, hướng tới việc chuẩn hoá hệ thống TNPS trong tiếng Việt

4 TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

4.1 Tư liệu nghiên cứu

Về hệ thống TNPS tiếng Anh, chúng tôi dựa vào các cuốn từ điển và tài liệu sau:

1 Barbara A (2005), Medical Terminology Systems, USA;

2 Denise T (2012), Midwives’ dictionary, U.K;

3 Dorlands illustrated Medical dictionary W.B Saunders company,

30th edition;

Trang 15

4 Peggy C (2003), Medical terminology, USA

Chúng tôi thu thập được 1100 TNPS trong tiếng Anh

Về hệ thống TNPS tiếng Việt, chúng tôi cũng dựa vào những cuốn từ điển và tài liệu trên, đồng thời, có đối chiếu với những quyển từ điển của tiếng Việt và những giáo trình giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên gồm:

1 Nguyễn Đức Hinh (2001), Từ điển thuật ngữ phụ sản Pháp – Việt, Việt – Pháp, Nxb Y học

2 Nguyễn Đức Hinh (2005), Từ điển phụ sản Anh – Pháp – Việt, Nxb

5 English for medical students (Tài liệu đã sử dụng cho sinh viên Học

viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam)

Chúng tôi thu thập được 1100 TNPS trong tiếng Việt

4.2 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Về hướng tiếp cận, các TNPS trong tiếng Anh và tiếng Việt được chúng tôi xem xét trên phương diện đồng đại (tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại) và trong trạng thái tĩnh (cụ thể là các đơn vị thuật ngữ phụ sản trong từ điển tiếng Anh và tiếng Việt)

Về phương pháp nghiên cứu, để giải quyết các nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu nêu trên, luận án sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:

Trang 16

Phương pháp miêu tả

Phương pháp miêu tả được sử dụng để miêu tả đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa và định danh của TNPS tiếng Anh và tiếng Việt dựa trên số liệu thống kê tổng hợp được nhằm chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng

Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp: Phương pháp phân tích

thành tố trực tiếp được sử dụng để phân tích các thành phần cấu tạo TNPS,

qua đó chỉ ra mô hình của nó

Thủ pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng để khảo sát, thu

thập và thống kê chỉ ra các mô hình cấu tạo, mô hình định danh TNPS

Phương pháp so sánh – đối chiếu: Phương pháp này được sử dụng để

đối chiếu hệ TNPS trong tiếng Anh và trong tiếng Việt để xác định những điểm đồng nhất và khác biệt về phương diện cấu tạo, đặc điểm ý nghĩa và phương thức định danh của chúng

5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN

Có thể nói đây, là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu đối chiếu những đặc điểm của hệ TNPS tiếng Anh và tiếng Việt trên phương diện cấu tạo, phương thức tạo lập và đặc điểm định danh

Trên cơ sở đối chiếu hai hệ thống thuật ngữ, luận án bước đầu nêu lên một số nhận xét về hiện trạng của TNPS tiếng Việt, từ đó đề xuất biện pháp nhằm chuẩn hoá TNPS trong tiếng Việt từ phương diện ngôn ngữ học

6 Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN

6.1 Ý nghĩa lí luận

- Luận án làm rõ những điểm tương đồng và dị biệt về đặc điểm cấu tạo, phương thức tạo lập và đặc điểm định danh của TNPS trong hai ngôn ngữ

Trang 17

Anh và Việt Từ đó, đánh giá ưu điểm và nhược điểm của hệ thống TNPS tiếng Việt ở các phương diện trên để hướng tới việc chuẩn hoá chúng

- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có đóng góp nhất định vào việc nghiên cứu lí thuyết thuật ngữ học nói chung, nghiên cứu TNPS nói riêng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy tiếng Anh ngành y học nói chung và tiếng Anh chuyên ngành phụ sản nói riêng cho sinh viên Việt Nam

- Kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể được sử dụng trong công tác biên, phiên dịch các tài liệu của ngành y học nói chung và chuyên ngành phụ sản nói riêng, cũng như được sử dụng trong công tác biên soạn từ điển đối dịch TNPS ở Việt Nam

7 CƠ CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án

có kết cấu gồm bốn chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lí luận

Chương 3: Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của TNPS trong tiếng Anh và tiếng Việt Chương 4: Đối chiếu phương thức tạo lập và đặc điểm định danh của TNPS trong tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUẬT NGỮ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.1.1.Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới

Từ thế kỷ XVIII, các nghiên cứu về thuật ngữ đã bắt đầu manh nha với nội dung chính là tạo lập, xây dựng và sơ khai xác định các nguyên tắc cho một số hệ thuật ngữ đặc biệt Một số tác giả được cho là người tiên phong trong công tác nghiên cứu thuật ngữ như CarlvonLinné (1736); (Beckmann, 1780); A.L Lavoisier, G.de Morveau, M.Berthellot và A.F.de Fourcoy (1789) và William Wehwell (1840)

Mặc dù vậy, phải đến đầu thế kỷ XX, khoa học thuật ngữ mới thực sự được hình thành, việc nghiên cứu thuật ngữ mới có được định hướng khoa học và được công nhận là một hoạt động quan trọng về mặt xã hội Từ những năm 1930, việc nghiên cứu thuật ngữ đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, đặc biệt là những công trình nghiên cứu các học giả Liên xô cũ, Cộng hòa Séc và Áo

Trường phái nghiên cứu thuật ngữ Xô viết với các công trình nghiên

cứu của Lotte, Drezen, Caplygi và các cộng sự Ngay từ thời kì đầu, trường phái này chịu ảnh hưởng công trình nghiên cứu về thuật ngữ của Wuster Do

đó cũng như trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Áo, trường phái Xô viết chủ yếu nghiên cứu về vấn đề chuẩn hóa các khái niệm và các thuật ngữ trên tinh thần của những vấn đề liên quan đến chủ nghĩa đa ngôn ngữ của Xô viết Luận án của Wuster sau khi được dịch sang tiếng Nga, đã thu hút rất nhiều

sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Có thể nói, công tác nghiên cứu thuật

Trang 19

ngữ ở Liên xô từ những năm 1930 trở đi phát triển vô cùng mạnh mẽ và đã gặt hái được những thành tựu đáng kể:

Một đại diện tiêu biểu của trường phái nghiên cứu thuật ngữ Xô viết

là Lotte (1898 – 1950) Với công trình nghiên cứu Những vấn đề gây bức

xúc trong trường thuật ngữ khoa học và kĩ thuật, ông được coi là người

đứng đầu trong công tác phát triển hệ thuật ngữ hiện đại của Nga Kulebakin (1993) đã nhận xét rằng mặc dù Lotte không phải là người duy nhất nhưng lại là người để lại ảnh hưởng to lớn cho công tác phát triển thuật ngữ về mặt

lí thuyết Lotte đã tạo ra nền móng về mặt lí thuyết và phương pháp cho công tác thuật ngữ của Xô viết Theo Kulebakin, quan điểm của Lotte có thể tóm tắt thành ý cơ bản sau” “Hệ thuật ngữ là toàn bộ các thuật ngữ phù hợp với hệ thống khái niệm của một lĩnh vực khoa học hay kĩ thuật nào đó Hệ thống thuật ngữ thể hiện cái gọi là hệ thống khái niệm” (Dẫn theo [43, tr.8)

Một đặc điểm khá quan trọng của công tác phát triển thuật ngữ của Xô viết là thu hút các nhà ngôn ngữ học vào công tác nghiên cứu cơ bản về thuật ngữ từ rất sớm Trong đó có thể tìm thấy các công trình nghiên cứu của A.A Reformatskiji, V.V.Vinogradov, G.O.Vinokur,

Trường phái thuật ngữ học Cộng hòa Séc Có thể nói, mối quan tâm

nhất của trường phái này cũng là vấn đề chuẩn hóa các ngôn ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ Trong nghiên cứu, họ quan tâm đặc biệt đến việc miêu tả cấu trúc và chức năng của các ngôn ngữ chuyên ngành, trong đó thuật ngữ đóng

vai trò quan trọng Đại diện tiêu biểu là L.Drodz là người tiên phong và

phát triển từ lối tiếp cận ngôn ngữ về mặt chức năng của trường phái ngôn ngữ học Praha Các ngôn ngữ chuyên ngành theo trường phái này được coi

là mang tính văn phong nghề nghiệp tồn tại cùng những văn phong khác như: văn học, báo chí và hội thoại Họ coi thuật ngữ như là những đơn vị tạo nên

Trang 20

văn phong nghề nghiệp mang tính chức năng Nó ra đời do kết quả của bản chất đa ngôn ngữ trong khu vực địa lí của nó

Trường phái nghiên cứu thuật ngữ Áo Người mà không chỉ được

coi là người đầu tiên tạo nên diện mạo của công tác nghiên cứu và phát triển thuật ngữ hiện đại ở thế kỉ XX mà còn là người có ảnh hưởng rất lớn đến

việc nghiên cứu thuật ngữ của nhiều học giả sau này, đó là E.Wuster (1898

-1997) Nhìn chung, các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ của trường phái này chủ yếu dựa theo những nguyên tắc được trình bày rất rõ ràng trong tác

phẩm Lí luận chung về thuật ngữ của Wuster (1931) Trong tác phẩm của

mình (1931), ông đã đề cập đến những khía cạnh ngôn ngữ học của công tác nghiên cứu thuật ngữ, đưa ra một số nguyên tắc khi sử dụng thuật ngữ và chỉ

ra những điểm chính của phương pháp xử lí dữ liệu thuật ngữ Công trình của ông đã được Leo Weisgeber (1975) đánh giá như là một cột mốc của ngôn ngữ học ứng dụng (Dẫn theo 121, tr.56)

Những nghiên cứu này được coi là nền tảng cho sự khởi đầu của ngành khoa học thuật ngữ trên thế giới

Tóm lại, khi nói tới hướng nghiên cứu thuật ngữ theo sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống ngôn ngữ, người ta không thể không nhắc đến ba trường phái và cũng là ba cái nôi nghiên cứu thuật ngữ tiêu biểu và lớn nhất trên thế giới đó là Liên xô, Cộng hòa Séc và Áo

Cả ba trường phái này đều có chung một quan điểm đó là nghiên cứu thuật ngữ dựa trên ngôn ngữ học, họ đều xem thuật ngữ như là một phương diện diễn đạt và giao tiếp Vì thế cả ba trường phái đã hình thành cơ sở lí thuyết về thuật ngữ và những nguyên lí mang tính phương pháp chi phối những ứng dụng của nó Những kết quả nghiên cứu của các trường phái này

là một trong những động lực chính cho việc phát triển những hướng nghiên

Trang 21

cứu thuật ngữ sau này đó là: thuật ngữ được nghiên cứu theo hướng dịch và

kế hoạch hóa ngôn ngữ

1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nghiên cứu về thuật ngữ khoa học bắt đầu được chú ý đến vào đầu thế kỉ XX, nhưng phải từ những năm 30 trở đi thì hoạt động nghiên cứu thuật ngữ mới thực sự được khởi động nhờ một loạt bài viết

được đăng trên tạp chí Khoa học và tạp chí Ngôn Ngữ Hoàng Xuân Hãn

được đánh giá là người tiên phong xem xét vấn đề xây dựng thuật ngữ một cách có hệ thống Ông cũng là người đầu tiên tổng kết ba phương thức xây dựng thuật ngữ dựa vào từ thông thường, mượn tiếng Hán và phiên âm từ các tiếng Ấn – Âu và đề ra 8 yêu cầu đối với việc xây dựng thuật ngữ khoa

học Cũng bắt đầu từ đây, cuốn Danh từ khoa học đã ra đời Đây là từ điển

đối chiếu Pháp – Việt về danh từ khoa học của một số ngành khoa học tự

nhiên Sau Danh từ khoa học, một số tập thuật ngữ đối chiếu khác cũng bắt

đầu được biên soạn

Theo Hà Quang Năng 69, tr.121, nói về lịch sử tiếng Việt hiện đại nước ta là nói đến bốn dấu mốc lớn, bao gồm: Sự xuất hiện của người Pháp

và sự ra đời của chữ quốc ngữ; Sau cách mạng tháng 8; Những năm 60 của thế kỉ XX và sau năm 1985 Những cột mốc này đã ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ của tiếng Việt, đó cũng là những dấu mốc quan trọng của lịch sử phát triển thuật ngữ tiếng Việt “Trải qua hơn nửa thế kỉ, thuật ngữ tiếng Việt đã có những bước phát triển nhanh chóng về số lượng Đáng chú ý hơn, bên cạnh mặt số lượng, thuật ngữ tiếng Việt đã thay đổi cả về chất” 69, tr.121 Hiện nay vẫn còn có những ý kiến khác nhau trong vấn đề bàn về

các tiêu chuẩn của thuật ngữ: khoa học, dân tộc, đại chúng nhưng về cơ bản

đã có sự thống nhất với những nguyên tắc trong đề án Quy tắc phiên thuật

Trang 22

ngữ khoa học nước ngoài ra tiếng Việt do Ủy ban Khoa học xã hội công bố

Chính điều này đã góp phần đẩy mạnh việc thống nhất và tiêu chuẩn hóa thuật ngữ Vì vậy, việc xây dựng các hệ thống thuật ngữ và biên soạn từ điển thuật ngữ giai đoạn này đã phát triển mạnh mẽ Vào các năm 1978 và 1979

có tới bốn hội nghị khoa học về chuẩn mực hóa chính tả và thuật ngữ đã được tổ chức với sự tham gia của rất nhiều nhà khoa học, nhà chuyên môn ở hầu hết các chuyên ngành Nội dung chủ yếu tập trung vào các vấn đề như xác định khái niệm thuật ngữ, tiêu chuẩn của thuật ngữ, phương thức xây dựng thuật ngữ, vấn đề vay mượn thuật ngữ nước ngoài Nhiều ý kiến đã

được đăng trên tạp chí Ngôn ngữ (Lê Khả Kế, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Như

Ý, Hoàng Văn Hành, Lê Văn Thới, Nguyễn Thạc Cát, Võ Xuân Trang ) Đặc biệt, việc thành lập Hội đồng Chuẩn hóa Chính tả và Hội đồng chuẩn hóa thuật ngữ (1984) đã giúp cho việc phiên chuyển thuật ngữ có đường hướng thống nhất hơn, cụ thể là “chọn biện pháp phiên chuyển theo chữ là chính” Trong giai đoạn này có sự vay mượn mạnh mẽ các thuật ngữ nước ngoài nên cách xử lý thuật ngữ nước ngoài nói chung vẫn chưa được nhất quán

Trong những thập niên cuối của thế kỉ XX, việc nghiên cứu thuật ngữ

ở nước ta có phần trầm lắng Trong giai đoạn này, ngoài các từ điển thuật ngữ đối chiếu của các ngành tin học, điện tử, viễn thông, du lịch, kinh tế được biên soạn và ấn hành thì công tác nghiên cứu lí luận thuật ngữ có phần giảm sút hơn so với trước

Bước sang thế kỉ thứ XXI, trong xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và công nghệ, vấn đề thuật ngữ lại bắt đầu được chú ý nghiên cứu Ngoài hàng loạt các luận án tiến sĩ đã được bảo vệ thành công, công tác nghiên cứu thuật ngữ về phương diện lí thuyết cũng được quan tâm

Trang 23

Tháng 11 năm 2008 Hội Ngôn ngữ học Việt Nam đã tổ chức một hội thảo

“Thuật ngữ tiếng Việt trong đổi mới và hội nhập” Đã có 10 báo cáo khoa học, tham luận được trình bày trong hội thảo Nội dung hội thảo tập trung vào 3 vấn đề:

a Vấn đề thống nhất, hoàn chỉnh và chuẩn hóa thuật ngữ;

b Vấn đề đặc điểm thuật ngữ và tiêu chuẩn xác định thuật ngữ;

c Vấn đề sử dụng thuật ngữ, giải thích thuật ngữ trong sách giáo khoa

và trong văn bản quản lí nhà nước

Công trình “Sự phát triển của từ vựng nửa sau thế kỉ XX” của tác giả

Hà Quang Năng(2009) đã dành một chương nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt, trong đó chỉ rõ những chặng đường phát triển của tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt, nêu rõ những con đường hình thành thuật ngữ tiếng Việt cũng như những giải pháp cụ thể trong việc tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài vào tiếng Việt

Tháng 12 năm 2012 Viện Ngôn ngữ học đã nghiệm thu đề tài cấp Bộ

“Nghiên cứu, khảo sát thuật ngữ tiếng Việt phục vụ cho việc xây dựng Luật ngôn ngữ ở Việt Nam” (do Nguyễn Đức Tồn làm chủ nhiệm) Chương 4 của

đề tài này đã dành riêng cho việc nghiên cứu, xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt trong thời kì hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay Nội dung nghiên cứu tập trung vào việc tổng kết những vấn đề lí luận truyền thống về thuật ngữ như vấn đề định danh ngôn ngữ và vấn đề xây dựng thuật ngữ, vấn

đề vay mượn thuật ngữ nước ngoài và vấn đề áp dụng lí thuyết điển mẫu vào nghiên cứu thuật ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt

Đặc biệt là cuối năm 2016, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã ấn hành tác phẩm “Thuật ngữ học tiếng Việt hiện đại”, 404 trang do Nguyễn Đức Tồn chủ biên [102] Trong công trình này, các tác giả đã đặt ra và giải quyết

Trang 24

nhiều vấn đề lí luận và thực tiễn quan trọng về thuật ngữ Đó là: Xác định lại những phân tích có cơ sở khoa học khái niệm thuật ngữ và các tiêu chuẩn của thuật ngữ trong sự phân biệt các đơn vị từ vựng phi thuật ngữ Chương

II Lí thuyết điển mẫu và vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt Chương III Công trình đã dành phần II để xem xét thực trạng xây dựng và sử dụng thuật ngữ hiện nay qua một số ngành khoa học và chuyên môn Từ đó công trình

đã tổng kết tình hình nghiên cứu, xây dựng và sử dụng thuật ngữ tiếng Việt hiện nay Trên cơ sở đó các tác giả của công trình đã đưa ra kiến nghị giải pháp xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế để làm cơ sở xây dựng luật ngôn ngữ

Trong hai năm 2009 – 2010 Viện từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam đã thực hiện Chương trình khoa học cấp Bộ “Một số vấn đề cơ bản về

cơ sở lí luận và phương pháp luận biên soạn các loại từ điển và bách khoa thư Việt Nam” (do PGS.TS Phạm Hùng Việt làm chủ nhiệm Chương trình

có bảy nhánh đề tài, trong đó có một nhánh nghiên cứu những vấn đề lí luận

và phương pháp luận biên soạn từ điển chuyên ngành và thuật ngữ (do PGS.TS Hà Quang Năng làm chủ nhiệm) Sau khi nghiệm thu, kết quả nghiên cứu của nhánh đề tài này đã được xuất bản với tên gọi “Thuật ngữ học – những vấn đề lí luận và thực tiễn” (Hà Quang Năng chủ biên Nxb Từ điển Bách Khoa, 2013)

Nội dung của cuốn sách tập trung vào ba vấn đề:

1 Tổng kết những thành tựu nghiên cứu lí luận và nghiên cứu ứng dụng

về thuật ngữ học ở Liên xô, Liên Bang Nga và cộng hòa Liên Bang Đức;

Trang 25

2 Đặc điểm định danh thuật ngữ và những con đường hình thành, sáng tạo thuật ngữ;

3 Những nguyên tắc biên soạn từ điển thuật ngữ;

4 Đánh giá cống hiến công trình, nghiên cứu, biên soạn thuật ngữ đầu

tiên ở Việt Nam – Danh từ khoa học của Hoàng Xuân Hãn;

5 Khảo sát, miêu tả, nhận xét cấu trúc vĩ mô và cấu trúc vi mô của một

số cuốn từ điển thuật ngữ cụ thể

Ngoài ra, còn có một số bài báo nghiên cứu các vấn đề cụ thể của thuật ngữ đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành Như vậy, công tác nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ học ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được những kết quả rõ rệt

Khi nước ta bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thì sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, khoa học kỹ thuật đã kéo theo sự phát triển của hệ thống thuật ngữ ở hầu hết các ngành Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì tình trạng không thống nhất của thuật ngữ tiếng Việt là một điều quan ngại, sự xâm nhập của thuật ngữ nước ngoài, nhất là thuật ngữ tiếng Anh ngày càng lấn át, có nguy cơ phá vỡ sự ổn định của hệ thống thuật ngữ tiếng Việt; cách đọc và phiên âm không thống nhất đối với nhiều thuật ngữ tiếng nước ngoài đang diễn ra rất phổ biến, đồng thời nhiều thuật ngữ đồng nghĩa cũng gây khó khăn cho người sử dụng

Nói tóm lại, trong suốt mấy thập niên qua trong công tác nghiên cứu thuật ngữ, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, đặc biệt là về thực tiễn xây dựng các hệ thống thuật ngữ cũng như biên soạn từ điển thuật ngữ

Trong thời đại công nghiệp hóa và hiện đại hóa ngày nay, việc đi sâu vào nghiên cứu bản chất thuật ngữ của từng chuyên ngành cụ thể để lấy đó làm cơ sở khách quan cho việc chỉnh lí và thống nhất hệ thống thuật ngữ của

Trang 26

từng chuyên ngành nói riêng, của thuật ngữ tiếng Việt nói chung, tiếp tục được đẩy mạnh, vì mỗi ngành khoa học càng phát triển thì hệ thống khái niệm của nó càng phức tạp Mặc dù mỗi hệ thuật ngữ chuyên ngành là một tiểu hệ thuật ngữ tiếng Việt, nhưng mỗi hệ thống thuật ngữ của một chuyên ngành lại

có những đặc điểm riêng, đòi hỏi những yêu cầu cụ thể nhất định

Vũ Quang Hào (1991), là người tiên phong đặt vấn đề nghiên cứu

chuyên sâu hệ thuật ngữ của một ngành tương đối hoàn chỉnh:Hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt trong luận án Phó tiến sĩ của ông: Hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt: đặc điểm và cấu tạo thuật ngữ (bảo vệ năm 1991) Nhưng mười

năm trở lại đây thì vấn đề này đã trở thành một xu hướng nghiên cứu, có khá nhiều công trình đặt vấn đề tìm hiểu hệ thuật ngữ của một chuyên ngành nhất định Tuy nhiên, cũng mới chỉ có một vài công trình nghiên cứu thuật ngữ

mang tính chuyên sâu, như các luận án tiễn sĩ sau: Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ Nhật Việt (Nguyễn Thị Bích Hà, 2004);Khảo sát hệ thuật ngữ tin học viễn thông tiếng Việt (Nguyễn Thị Kim Thanh, 2005); Khảo sát thuật ngữ y học tiếng Anh và cách phiên chuyển sang tiếng Việt (Vương Thị Thu Minh, 2006), So sánh đặc điểm cấu tạo hình thức và ngữ nghĩa của thuật ngữ tài chính – kế toán – ngân hàng trong tiếng Anh và tiếng Việt (Nguyễn Thị Tuyết, 2011), Công trình từ điển thuật ngữ kinh tế Nga – Việt – Anh, Nxb Chính trị quốc gia (20) Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa thuật ngữ luật sở hữu trí tuệ tiếng Việt (Mai Thị Loan, 2012); Thuật ngữ khoa học kĩ thuật xây dựng trong tiếng Việt (Vũ Thị Thu Huyền, 2013); Đối chiếu thuật ngữ du lịch Việt – Anh

(Lê Thanh Hà, 2014) Để có thể chuẩn hóa thuật ngữ nói chung cần có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu các chuyên ngành hơn nữa nhằm tìm ra các đặc điểm bản chất của mỗi tiểu hệ thuật ngữ làm cơ sở khách quan cho việc chuẩn hóa, thống nhất hệ thuật ngữ của từng chuyên ngành Vì vậy, thông qua việc nghiên cứu hệ thuật phụ sản tiếng Anh và tương đương trong tiếng Việt, luận án mong muốn không chỉ đóng góp thiết thực vào việc chuẩn hóa, thống

Trang 27

nhất hệ thống thuật ngữ phụ sản mà qua đó còn góp phần thiết thực tiến tới chuẩn hóa và thống nhất cho cả hệ thống thuật ngữ tiếng Việt nói chung 1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUẬT NGỮ PHỤ SẢN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.2.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ phụ sản trên thế giới

Do sự ảnh hưởng của nền kinh tế những năm 1950 và 1960, sự phát triển của khoa học công nghệ, tiếng Anh chuyên ngành được phát triển từ thời gian đầu của những năm 1960 – và sử dụng tiếng Anh tăng nhanh như ngôn ngữ khoa học quốc tế Chính vì sự phát triển như vũ bão của khoa học

và công nghệ, đặc biệt giai đoạn cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, lượng thông tin trao đổi ngày càng nhiều đã thực sự thúc đẩy mạnh mẽ công tác nghiên cứu thuật ngữ trong tiếng Anh Các nhà nghiên cứu từ vựng học, thuật ngữ học, các dịch giả quan tâm đến hệ thuật ngữ đã dành thời gian nghiên cứu nhằm xây dựng các bộ từ điển chuyên ngành phục vụ cho công việc học tập, nghiên cứu Không chỉ ở nước Anh mà các nhà ngôn ngữ học trên thế giới cũng đã tham gia và triển khai các nghiên cứu về công tác thuật ngữ

Swales (1985) khẳng định rằng tiếng Anh khoa học và công nghệ trong thực tế sử dụng chính là minh họa cho sự phát triển của tiếng Anh chuyên ngành

Để xúc tiến công tác thuật ngữ, một số cơ sở nghiên cứu thuật ngữ đã được thành lập như: Hội thuật ngữ, Trường thuật ngữ, Trung tâm cung cấp thông tin về thuật ngữ Các nhà ngôn ngữ học Anh đã triển khai các dự án về thuật ngữ Anh là một thành viên của viện nghiên cứu thuật ngữ quốc tế (IITF) được thành lập năm 1989 với trên 100 thành viên của trên 40 nước

Trang 28

Hoạt động của viện nghiên cứu quốc tế đã phần nào thúc đẩy công tác nghiên cứu, giảng dạy, và đào tạo trong lĩnh vực thuật ngữ của nước Anh Hội thuật ngữ của Anh đã xuất bản hai tạp chí liên quan đến các vấn đề thuật ngữ hàng năm Đây là diễn đàn để các nhà ngôn ngữ học trao đổi quan điểm khác nhau về thuật ngữ Các hội thảo về thuật ngữ thường đã tập trung vào các điểm sau:

- Quan điểm về thuật ngữ của các nhà thuật ngữ học;

- Đưa ra các định nghĩa về thuật ngữ, phân biệt hệ thống thuật ngữ và

hệ thống từ vựng;

- Đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá thuật ngữ và tạo thuật ngữ;

- Hình thành một mạng lưới trung tâm tiêu chuẩn để đánh giá, thẩm định thuật ngữ trong cả nước trên nhiều lĩnh vực cả khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội

Việc nghiên cứu thuật ngữ phụ sản ở Anh chủ yếu được các Hội y học tiến hành theo hướng sau:

(1) Lịch sử thuật ngữ phụ sản;

(2) Việc sử dụng các yếu tố gốc Latinh và Hi Lạp trong thuật ngữ phụ sản; (3) Phân tích các thành tố cấu tạo thuật ngữ (từ căn) (gốc từ), hình vị kết hợp, phụ tố, cách cấu tạo từ, từ phái sinh, từ ghép), trong đó bao gồm

cả phân tích ngữ nghĩa các thuật ngữ phụ sản;

(4) Các phương pháp tạo ra thuật ngữ

Các nhà khoa học cho rằng bất cứ ai nắm vững được các thành tố cấu tạo thuật ngữ phụ sản đều hiểu và sử dụng một cách dễ dàng các văn bản khoa học y học Từ đó người ta xác định các phụ tố (tiền tố, hậu tố) cơ bản

để có phương pháp giảng dạy thuật ngữ y học và thuật ngữ phụ sản cho sinh viên y khoa

Trang 29

Kết quả nghiên cứu thuật ngữ đã cho ra đời một số cuốn từ điển, giáo trình, sách phụ sản như:

1 Danies, J, (2010) Essentials of Medical terminology;

2 Kinn, Mary (1990), Medical terminology;

3 Roberts, F (1966), Medical terms;

4 Vish R Gaitonde (1990), Medical terminology;

5 Denise T (2012), Midwives’ dictionary;

6 Dorland (1998), illustrated Medical dictionary

1.2.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ phụ sản ở Việt Nam

Trước đây, các thuật ngữ y học nói chung và TNPS nói riêng đều được dùng bằng tiếng Pháp Giáo sư Đỗ Xuân Hợp là người đã dịch một cuốn sách tiếng Pháp sang tiếng Việt và ông chính là người đầu tiên viết sách giáo khoa giải phẫu bằng tiếng Việt được đưa vào giảng dạy trong trường đại học ở Việt Nam Cuốn sách do ông viết hiện nay vẫn là tài liệu cần thiết và hữu ích về thuật ngữ y học nói chung và y học phụ sản nói riêng cho các bác sĩ

Năm 1976, cuốn “Từ điển Y Dược Pháp – Việt” và cuốn “Từ điển Y học Nga – Việt” tái bản đã bổ sung thêm một số từ của các chuyên khoa, chỉnh sửa lại một số từ chưa sát nghĩa, chưa được thống nhất

Từ năm 1976, do nhu cầu của xã hội, việc học tiếng Anh được đẩy mạnh, nhiều cán bộ ngành Y tế Việt Nam thực sự rất mong đợi có một cuốn

từ điển thuật ngữ Y học Anh – Việt để tra cứu khi học tập và nghiên cứu các tài liệu Y học bằng tiếng Anh Năm 1988, tác giả Bùi Khánh Thuần sau nhiều năm làm việc trong lĩnh vực ngôn ngữ y học đã rút ra được một số kinh nghiệm quý báu và cho xuất bản cuốn “Từ điển Y học Anh – Việt” Đây là cuốn từ điển Anh – Việt đầu tiên với số lượng hơn 40.000 thuật ngữ

Trang 30

của tất cả các lĩnh vực, gồm các chuyên ngành sâu như: tim mạch, nhi, phụ sản, v.v trong y học Trong cuốn từ điển này, một số thuật ngữ đã được chỉnh sửa để phù hợp với sự phát triển của nền y học cũng như phụ sản Cho đến nay cuốn từ điển này vẫn có giá trị sử dụng cao

Năm 1997, tác giả Nguyễn Khắc Liêu đã cho xuất bản cuốn “Từ điển sản phụ khoa” đã hỗ trợ rất nhiều về mặt chuyên khoa và rất hữu ích cho sinh viên và cán bộ công tác trong ngành phụ sản

Tác giả Nguyễn Đức Hinh đã có ý tưởng viết từ điển từ khi còn là bác

sĩ nội trú bệnh viện dưới sự hướng dẫn, góp ý chỉ bảo của thầy Nguyễn Khắc Liêu, và tác giả đã xuất bản cuốn “Từ điển thuật ngữ phụ sản Pháp – Việt, Việt – Pháp” năm 2001; cuốn “Từ điển phụ sản Anh – Pháp – Việt” năm

2005 và cuốn “Từ điển giải thích phụ sản Việt – Anh – Pháp” năm 2012 Các cuốn từ điển trên đã thật sự góp phần xây dựng, chuẩn hóa và hiện đại hóa TNPS

Tuy nhiên, trên thực tế, TNPS trong tiếng Anh cũng như trong tiếng Việt vẫn còn là hệ thuật ngữ chưa được nghiên cứu chuyên sâu về mặt lí luận và chúng chỉ mang tính ứng dụng được thể hiện qua những cuốn từ điển đối chiếu hay giải thích Các TNPS tiếng Việt chủ yếu xuất hiện dưới dạng

từ điển đối chiếu giữa tiếng Việt với các thứ tiếng nước ngoài như: Anh, Pháp, Trung, v.v Chẳng hạn:

1 Nguyễn Đức Hinh, Từ điển phụ sản Anh – Pháp – Việt, Nxb Y học,

2005;

2 Nguyễn Đức Hinh, Từ điển giải thích phụ sản Anh – Pháp – Việt,

Nxb Y học, 2012;

3 Nguyễn Khắc Liêu, Từ điển sản phụ khoa, Nxb Y học, 1997;

4 Bùi Khánh Thuần, Từ điển Y học Anh – Việt, Nxb Y học, 1988;

5 Phạm Ngọc Trí, Từ điển y học Anh – Việt, Nxb Y học, 1998

Trang 31

Năm 2006, Vương Thị Thu Minh đã bảo vệ luận án tiến sĩ Khảo sát thuật ngữ y học tiếng Anh và cách phiên chuyển sang tiếng Việt Mặc dù có

nhiều đóng góp vào việc xây dựng lý thuyết chung về thuật ngữ học và chuẩn hóa ngôn ngữ, luận án chưa đi sâu cụ thể riêng biệt về từng loại chuyên ngành như tim mạch, lão, nhi và phụ sản, v.v

Như vậy, nhìn chung việc nghiên cứu thuật ngữ phụ sản ở Việt Nam

từ trước đến nay cả về mặt lí luận và thực tiễn còn chưa được quan tâm nghiên cứu thích đáng mà mới chỉ là những tổng kết hoặc khảo sát bước đầu

có tính chất định hướng, chưa có công trình nào thực sự đi vào nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu về hệ thống TNPS

1.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương 1, luận án đã tổng quan tình hình nghiên cứu của thuật ngữ nói chung và tình hình nghiên cứu TNPS nói riêng ở trên thế giới và ở Việt Nam, qua đó khái quát quá trình hình thành và phát triển của thuật ngữ

và TNPS, quan điểm về thuật ngữ và TNPS của các tác giả ở trên thế giới cũng như Việt Nam Qua quá trình khảo sát tình hình nghiên cứu thuật ngữ cũng cho chúng tôi thấy, riêng trong lĩnh vực phụ sản, việc nghiên cứu thuật ngữ chủ yếu tập trung vào biên soạn các cuốn từ điển, từ điển giải thích, từ điển đối chiếu, chưa có công trình nào thực hiện nghiên cứu một cách quy

mô, có hệ thống về đặc điểm của thuật ngữ thuộc chuyên ngành này Đặc biệt là khía cạnh ngôn ngữ học Đó chính là lí do mà chúng tôi triển khai nghiên cứu luận án này

Trang 32

2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THUẬT NGỮ VÀ THUẬT NGỮ PHỤ SẢN

2.1.1 Khái niệm thuật ngữ và thuật ngữ phụ sản

2.1.1.1 Khái niệm thuật ngữ

a) Một số quan điểm về thuật ngữ

Khi nghiên cứu thuật ngữ, xuất phát từ những cách nhìn khác nhau, các nhà nghiên cứu đã có nhiều cách lí giải khác nhau thế nào là thuật ngữ

Từ góc độ ngôn ngữ học, đa số các tác giả đưa ra khái niệm thuật ngữ gắn với nội dung thuật ngữ biểu hiện là khái niệm Một số ít tác giả khác lấy chức năng của thuật ngữ tạo nét khu biệt hình thành khái niệm của nó Và gần đây nhất, các tác giả công trình “Nghiên cứu, khảo sát thuật ngữ tiếng Việt phục vụ cho việc xây dựng Luật ngôn ngữ ở Việt Nam” đã đề nghị xác định khái niệm thuật ngữ trong sự phân biệt với các “từ ngữ phi thuật ngữ”

Định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm

Định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm mà nó biểu đạt trước hết phải

kể đến các tác giả Xô viết Năm 1977, tiến sĩ thuật ngữ học V.P.Đanilencô cho rằng: “Thuật ngữ dù là từ (ghép hoặc đơn) hay cụm từ đều là một kí hiệu

Trang 33

mà một khái niệm tương ứng với nó” “Bản chất của thuật ngữ với tư cách là một khái niệm hoàn toàn không trùng với từ thông thường của ngôn ngữ toàn dân” “Thuật ngữ gọi tên khái niệm chuyên môn Đặc trưng của khái niệm này là ở chỗ nó không bị mất tính hoàn chỉnh dù nội dung của khái niệm được diễn đạt bằng bất kì phương tiện, phương thức nào” (Dẫn theo [43, tr 13])

Các nhà ngôn ngữ học Âu Mỹ cũng xem xét thuật ngữ trong mối quan

hệ với khái niệm Erhart Oeser và Gerhart Budin nói: “Thuật ngữ là một tập hợp các khái niệm, trong mỗi lĩnh vực chuyên ngành đều có các mô hình cấu trúc đại diện cho tập hợp các khái niệm Kiến thức khoa học được sắp xếp thành các cấu trúc khái niệm, các phương tiện biểu đạt ngôn ngữ và kí hiệu tương ứng được sử dụng trong văn phong khoa học để thông tin với người khác về kết quả khoa học và bình luận các ngôn bản khác” [128, tr 12]

Trong bài nói về thuật ngữ, khi định nghĩa, Thorsten Trippel cho rằng:

“Thuật ngữ là kí hiệu ngôn ngữ cho một khái niệm Kí hiệu ngôn ngữ này không nhất thiết phải là từ đơn, nó cũng có thể là một nhóm từ, một cụm từ

cố định được sử dụng để mô tả một khái niệm chuyên môn Đối với một số nhà thuật ngữ học, thuật ngữ chỉ là thành ngữ gồm một từ Điều này dẫn đến nhiều khó khăn bởi vì một số ngôn ngữ không hình thành thuật ngữ bằng cách ghép từ mà bằng cách kết hợp từ Ưu điểm của việc sử dụng thuật ngữ - chỉ có một từ, là ở chỗ nhận ra gianh giới chúng dễ dàng hơn Hầu hết các nhà thuật ngữ chấp nhận các cụm từ ngắn bao gồm hai hoặc ba từ là thuật ngữ” [144, tr 8]

Dafydd Gibbon(1999) nhận định thuật ngữ là: “một tập hợp các khái niệm và biểu đạt của nó (bao gồm các kí tự, các thuật ngữ và đơn vị cụm từ) trong một lĩnh vực chuyên ngành đặc biệt” [124, tr 15]

Trang 34

Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học cũng rất quan tâm đến lĩnh vực thuật ngữ và định nghĩa về thuật ngữ ngày một đầy đủ hơn, chính xác hơn Trong cuốn “”Khái luận ngôn ngữ học”, Nguyễn Văn Tu đã đưa ra định nghĩa về thuật ngữ như sau: “Thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong các ngành khoa học, kĩ thuật, chính trị, ngoại giao, nghệ thuật,v.v và có một ý nghĩa đặc biệt, biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên” [105 tr.176] Năm 1968 trong cuốn “Từ vựng học tiếng Việt hiện đại” ông đưa ra định nghĩa chỉ nhấn mạnh khái niệm mà các thuật ngữ biểu thị: “Thuật ngữ là những từ và tổ từ cố định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất hay ngành văn hoá nào đó,v.v [106 tr.114]

Theo cách định nghĩa này, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra định nghĩa thuật ngữ, trong đó ông cũng nhấn mạnh “Thuật ngữ không chỉ biểu thị khái niệm khoa học mà còn chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học nhất định, thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kĩ thuật nào đấy… Đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học, kĩ thuật nhất định” [9 tr 167]

Theo Vân Lăng và Như Ý “Thuật ngữ là bộ phận ngôn ngữ (từ vựng) biểu đạt khái niệm khoa học, là thuộc tính khoa học, kĩ thuật, chính trị, tức là những lĩnh vực của hiện thực xã hội đã được tổ chức một cách có trí tuệ Thuật ngữ có tính chất hệ thống hoàn toàn dựa trên sự đối lập giữ các kí hiệu

Sự đối lập này về hình thức thể hiện ở chỗ khác nhau về âm thanh hoặc về trật tự sắp xếp các yếu tố” [57 tr.48]

Trang 35

Định nghĩa thuật ngữ gắn với chức năng

Định nghĩa thuật ngữ gắn với chức năng là xu hướng của G.O Vinôcua, V K Nikiforov, V.V.Vinôgrađốp, L.A.Kapatnadze, X.M.Burđin, A.G Acnexôp, N.A Baxkacôp, V.A.Zơvêginxep (Dẫn theo [43, tr 12-18])

Theo G.O Vinôcua, nhà thuật ngữ học lỗi lạc, người đã chú tâm nghiên cứu lí thuyết nhiều vấn đề thuật ngữ học cho rằng: “Thuật ngữ - đó không phải là một từ đặc biệt mà chỉ là từ có chức năng đặc biệt” “Chức năng đặc biệt mà từ với tư cách là thuật ngữ đảm nhiệm đó là chức năng gọi tên” Đa số các tác giả tán đồng quan điểm này V K Nikiforov còn nhấn mạnh rằng: “Chức năng định danh ở thuật ngữ được thừa nhận là chức năng

Dựa vào quan điểm này, L.A.Kapatnadze đã phát triển tư tưởng về vai trò đặc biệt của thuật ngữ: “Thuật ngữ không gọi tên khái niệm như từ thông thường mà là khái niệm được gán cho nó, dường như là gắn kèm theo nó cùng với định nghĩa” “Ý nghĩa của thuật ngữ … đó là định nghĩa khái niệm,

là cái định nghĩa được gán cho thuật ngữ”

X.M.Burđin cũng nhấn mạnh tư tưởng trên của Vinôgrađôp: “Thuật ngữ là đối tượng của định nghĩa còn từ thông thường là không phải vậy”

Trang 36

Các tác giả A.G Acnexôp, N.A Baxkacôp, V.A.Zơvêginxep và một số người khác nêu chức năng biểu hiện của thuật ngữ với tư cách là đặc điểm nổi bật của nó (Dẫn theo [43, tr 12-18])

Định nghĩa thuật ngữ trong sự phân biệt với các “từ ngữ phi thuật ngữ”

Trong công trình “Nghiên cứu, khảo sát thuật ngữ tiếng Việt phục vụ cho việc xây dựng Luật ngôn ngữ ở Việt Nam”, các tác giả cho rằng: khi định nghĩa thuật ngữ thì phải và chỉ cần chỉ ra được những đặc trưng bản chất nhất thuộc bản thể của nó, làm nó khác biệt với các từ ngữ không phải

là thuật ngữ (như từ thông thường, từ nghề nghiệp, tiếng lóng…) Những phẩm chất thứ yếu không đủ để khu biệt thuật ngữ với các đơn vị phi thuật ngữ hoặc những phẩm chất không thuộc về bản thể của thuật ngữ mà do sự nhận thức chủ quan, do người sử dụng áp đặt cho thuật ngữ thì nhất định không được đưa vào nội dung định nghĩa của thuật ngữ Và các tác giả này

đã đưa ra định nghĩa: “ Thuật ngữ là từ ngữ biểu hiện khái niệm hoặc biểu thị đối tượng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học, công nghệ hoặc chuyên môn”

Định nghĩa trên đã chỉ ra những đặc trưng bản chất nhất của thuật ngữ:

1) Về hình thức: Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ cố định Hình thức lí

tưởng nhất của thuật ngữ là có dạng từ (từ đơn hoặc từ ghép) bởi khi đó thuật ngữ sẽ rất ngắn gọn, cấu trúc chặt chẽ và cố định

2) Về nội dung: Thuật ngữ biểu thị khái niệm khoa học/chuyên môn

Đó là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu khoa học hoặc hoạt động chuyên môn, phản ánh những đặc trưng bản chất và mối liên hệ có tính quy luật của

sự vật, hiện tượng vốn là ngoại diên của những khái niệm ấy

Trang 37

Giữa lĩnh vực chuyên môn và lĩnh vực phi chuyên môn có sự khác nhau: trong lĩnh vực chuyên môn người ta sử dụng thuật ngữ còn lĩnh vực phi chuyên môn sử dụng từ ngữ phi thuật ngữ Hai lĩnh vực này còn có sự khác nhau cơ bản ở tính quốc tế và tính dân tộc Khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực chuyên môn dù có hình thức thuật ngữ biểu hiện có thể khác nhau nhưng phải có tính quốc tế nghĩa là các nhà hoạt động trong cùng một lĩnh vực chuyên môn này ở các dân tộc khác nhau đều hiểu giống nhau Còn

ở lĩnh vực phi chuyên môn thì các khái niệm có thể được hiểu khác nhau tùy mỗi ngôn ngữ, mỗi dân tộc, thậm chí có những từ/ khái niệm chỉ có trong ngôn ngữ/ dân tộc này mà không có trong ngôn ngữ/ dân tộc kia [98 tr 371-373]

Như vậy, có nhiều cách tiếp cận khái niệm thuật ngữ, nhưng dù từ hướng tiếp cận nào các tác giả trên đều đề cập tới hai vấn đề:

b) Phân biệt thuật ngữ và một số khái niệm liên quan

Phân biệt thuật ngữ và danh pháp

Việc phân biệt giữa thuật ngữ và danh pháp có ý nghĩa quan trọng, giúp chúng tôi thu thập tư liệu chính xác về thuật ngữ phụ sản trong tiếng Anh và tiếng Việt nhằm mục đích nghiên cứu của luận án Từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những cách hiểu khác nhau để phân biệt thuật ngữ với danh pháp Người đầu tiên đặt ra vấn đề này là G.O Vinôcua Theo tác giả,

Trang 38

danh pháp “chỉ là một hệ thống các phù hiệu hoàn toàn trìu tượng và ước lệ,

mà mục đích duy nhất là ở chỗ cấp cho ta cái phương tiện thuận lợi nhất về mặt thực tiễn để gọi tên các đồ vật, các đối tượng không quan hệ trực tiếp với những đòi hỏi của tư duy lý luận hoạt động với những sự vật này” [82 tr.26] A.A Reformatxkij cho rằng “hệ thuật ngữ trước hết gắn với một hệ thống khái niệm của khoa học cụ thể, còn danh pháp chỉ “dán nhãn” cho đối tượng của nó và “danh pháp không có quan hệ trực tiếp với khái niệm khoa học” [82 tr.26-27] Tác giả Nguyễn Thiện Giáp quan niệm, thuật ngữ có thể được cấu tạo dựa trên cơ sở các từ hoặc hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng Còn danh pháp có thể được quan niệm là một chuỗi kế tiếp nhau của các chữ (Vitamin

A, Vitamin B,v.v ), là một chuỗi các con số (MA65, TU104, v.v ), hay bất

kỳ cách gọi tên võ đoán nào [26, tr.270] Theo tác giả Nguyễn Như Ý: “Danh pháp là những quy tắc đặt tên trong một ngành khoa học hay tổng thể những tên gọi biểu đạt những sự vật đơn nhất, không gắn với hệ thống khái niệm của một khoa học cụ thể mà chỉ dán nhãn cho đối tượng của nó” [112,tr.235]

Từ những quan điểm nêu trên của các nhà nghiên cứu, có thể thấy rằng, trong khi thuật ngữ gắn với khái niệm hoặc đối tượng của một ngành khoa học nhất định, trong đó chức năng định nghĩa được nhấn mạnh thì danh pháp chỉ được dùng để gọi tên các sự vật hoặc đối tượng cùng loại thuộc một lĩnh vực khoa học cụ thể, trong đó chức năng gọi tên được nhấn mạnh

Phân biệt thuật ngữ và từ nghề nghiệp

Về phạm vi sử dụng, thuật ngữ và từ nghề nghiệp giống nhau ở chỗ đều được sử dụng ở phạm vi hẹp, khác với từ thông thường (hay từ toàn dân) Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ vựng được sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các

Trang 39

ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí

óc (nghề thuốc, ngành văn thư, v.v ”[10, tr.253] Ví dụ “đòn xeo, vảy, bìa, liềm” là các từ vựng nghề nghiệp của ngành giấy hay “đào, đáo chiến, đào thương, kép, kép đỏ, kép xanh” là từ vựng nghệ nghiệp của nghệ thuật hát bội Khác với thuật ngữ là lớp từ được sử dụng bởi các nhà chuyên môn thuộc một ngành khoa học nhất định nào đó, từ nghề nghiệp được sử dụng bởi một nhóm người hoạt động trong một nghề nghiệp nhất định và đôi khi chỉ người làm trong ngành nghề đó mới hiểu được Tác giả Nguyễn Thiện Giáp quan niệm rằng “Từ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội Những từ này thường được những người trong ngành nghề đó biết và sử dụng Những người không làm nghề ấy tuy ít nhiều cũng có thể hiểu biết nhiều từ ngữ nghề nghiệp nhưng ít hoặc hầu như không sử dụng chúng Do đó, từ nghề nghiệp cũng là một lớp từ vựng được dùng hạn chế trong xã hội” [26 tr.265]

Ngoài ra, điểm khác biệt của từ nghề nghiệp đối với thuật ngữ là “vì gắn với những hoạt động sản xuất hoặc hành nghề cụ thể, trực tiếp cho nên từ vựng nghề nghiệp có tính cụ thể, gợi hình ảnh cao Mức độ khái quát ý nghĩa biểu niệm của chúng cũng thấp hơn thuật ngữ khoa học” [10, tr.253]

Điều đáng lưu ý, mặc dù có những điểm giống nhau và khác nhau, nhưng giữa thuật ngữ và từ nghề nghiệp vẫn diễn ra quá trình xâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau Cụ thể, khá nhiều từ nghề nghiệp vốn chỉ được sử dụng bởi một nhóm người làm việc trong một nghề thủ công nhất định nhưng khi ngành nghề đó được công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì từ nghề nghiệp lại được chuyển hoá thành thuật ngữ khoa học Ngoài ra, các ngành thủ công nghiệp đang tồn tại song song với các ngành sản xuất công nghiệp tương ứng

Trang 40

lại sẵn sàng chấp nhận các thuật ngữ khoa học biến chúng thành từ nghề nghiệp nhằm hiện đại hoá cho ngành nghề của mình

Phân biệt thuật ngữ và từ thông thường

Về sự khác biệt giữ thuật ngữ với từ thông thường, M Teresa Cabre’

đã chỉ rõ: “Điểm khác biệt rõ nhất của thuật ngữ so với từ thông thường nằm

ở chỗ thuật ngữ được sử dụng để biểu thị các khái niệm thuộc ngành chuyên môn” [121, tr.81] Trong khi đó từ thông thường được sử dụng để biểu đạt các khái niệm mà hầu hết mọi người đều biết Ngoài ra, thuật ngữ biểu hiện khái niệm chuyên môn nên không có tính biểu cảm, còn từ thông thường lại mang tính biểu cảm

Trên thực tế, thuật ngữ và từ thông thường hay từ toàn dân đều là một

bộ phận của hệ thống ngôn ngữ nên sẽ chịu sự chi phối về các quy tắc của ngôn ngữ đó “Giữa từ toàn dân và thuật ngữ có mối quan hệ xâm nhập lẫn nhau Từ toàn dân có thể trở thành thuật ngữ và ngược lại” [25, tr.276] Khi từ toàn dân trở thành thuật ngữ (quá trình thuật ngữ hoá) thì nghĩa của từ đó bị thu hẹp lại và mang tính chuyên môn hoá, được sử dụng trong một chuyên

ngành cụ thể Ví dụ, với nghĩa thông thường của từ toàn dân nước là “chất lỏng nói chung” và từ nước có thể kết hợp với các từ khác như nước mưa, nước ngọt, nước mặn, nước sông, nước suối hay trong thành ngữ nước đổ đầu vịt/ nước đổ lá khoai, v.v Khi được chuyển hoá thành thuật ngữ, sử dụng trong các ngành hoá học thì nước được dùng để biểu thị chất lỏng do sự kết

hợp của oxy và hydro tạo thành Lúc này, nước không thể kết hợp với các từ

tố khác để tạo ra từ hoặc tạo ra các nét nghĩa mới

Các thuật ngữ trở thành từ thông thường khi trình độ cũng như kiến thức khoa học của người dân được nâng lên Khi trở thành từ thông thường, thuật ngữ mở rộng phạm vi hoạt động, có tính biểu cảm, gợi hình ảnh

Ngày đăng: 20/09/2017, 16:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2009
2. Diệp Quang Ban (2010), Từ điển thuật ngữ Ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Việt Nam, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Ngôn ngữ học
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
3. Trịnh Văn Bảo (2004), Dị dạng bẩm sinh, Nxb Y học, tr.87-98, 115- 117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dị dạng bẩm sinh
Tác giả: Trịnh Văn Bảo
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2004
4. Budagov R.A. (1978), Thuật ngữ học vì kí hiệu học, Tuấn Tài dịch, Viện Ngôn ngữ học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ học vì kí hiệu học
Tác giả: Budagov R.A
Năm: 1978
5. Nguyễn Thạc Cát (1980), “Vấn đề thuật ngữ khoa học tiếng Việt gốc Âu”, Ngôn ngữ, (2), tr.43-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề thuật ngữ khoa học tiếng Việt gốc Âu”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thạc Cát
Năm: 1980
6. Nguyễn Thạc Cát (1994), “Vì sao đến nay chưa thống nhật được thuật ngữ tiếng Việt” Ngôn ngữ và đời sống, (1), tr.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì sao đến nay chưa thống nhật được thuật ngữ tiếng Việt” "Ngôn ngữ và đời sống
Tác giả: Nguyễn Thạc Cát
Năm: 1994
7. Hoàng Đình Cầu (1969), Xây dựng danh từ y học (Giáo dục học áp dụng trong ngành Y tế), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng danh từ y học
Tác giả: Hoàng Đình Cầu
Năm: 1969
8. Vưu Hữu Chánh (2001), Từ điển thuật ngữ y học Anh – Pháp – Việt, Nxb ĐN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ y học Anh – Pháp – Việt
Tác giả: Vưu Hữu Chánh
Nhà XB: Nxb ĐN
Năm: 2001
9. Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ, tập 2, Từ hội học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1962
10. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
11. Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1986
12. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2009), Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
13. Đỗ Hữu Châu (2010), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
14. Nguyễn Phước Vĩnh Cố (2011), Thuật ngữ Y học tiếng Anh – Một số vấn đề cơ bản, Tạp chí khoa học và công nghệ, ĐH Đà Nẵng, số 2, tr.18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ Y học tiếng Anh – Một số vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Phước Vĩnh Cố
Năm: 2011
15. Hồng Dân (1979), Tham luận về chuẩn hóa thuật ngữ khoa học, T/c Ngôn ngữ, Số 3+4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham luận về chuẩn hóa thuật ngữ khoa học
Tác giả: Hồng Dân
Năm: 1979
16. Hồng Dân (1981), Về việc chuẩn hóa “danh từ” chuyên môn, trong “Một số vấn đề ngôn ngữ học Việt Nam”, Nxb Đại học và THCN, H., tr.122-134 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc chuẩn hóa “danh từ” chuyên môn", trong “Một số vấn đề ngôn ngữ học Việt Nam
Tác giả: Hồng Dân
Nhà XB: Nxb Đại học và THCN
Năm: 1981
17. Danilenko V.P. (1978), Về biến thể ngắn của thuật ngữ: vấn đề đồng nghĩa trong thuật ngữ, Lê Xuân Thại dịch, Viện Ngôn ngữ học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về biến thể ngắn của thuật ngữ: vấn đề đồng nghĩa trong thuật ngữ
Tác giả: Danilenko V.P
Năm: 1978
18. Đỗ Hồng Dương (2011), Khảo sát chủ ngữ tiếng Việt dưới góc nhìn của lý thuyết điển mẫu, Luận án Tiến sĩ ngôn ngữ học, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát chủ ngữ tiếng Việt dưới góc nhìn của lý thuyết điển mẫu
Tác giả: Đỗ Hồng Dương
Năm: 2011
19. Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb ĐHQG Hà Nội, tr.161-190 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
20. Dương Kỳ Đức (1983), Dịch thuật ngữ quân sự, trong “Thuật ngữ quận sự” giáo trình lí luận và thực hành, Hà Nội, ĐH Ngoại Ngữ Quân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch thuật ngữ quân sự, "trong “Thuật ngữ quận sự
Tác giả: Dương Kỳ Đức
Năm: 1983

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w