1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đối chiếu thuật ngữ phụ sản trong tiếng anh và tiếng việt tt

27 225 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 597,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án của chúng tôi khảo sát, nghiên cứu đối chiếu những đặc điểm về cấu tạo hình thức và nội dung ngữ nghĩa của hệ thống TNPS tiếng Anh và tiếng Việt để từ đó tìm ra những điểm tương

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học 1: TS Vũ Thị Sao Chi

Người hướng dẫn khoa học 2: PGS.TS Hà Quang Năng

Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Thiện Giáp

Phản biện 2: GS.TS Nguyễn Văn Khang

Phản biện 3:PGS.TS Lê Thị Lan Anh

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Viện Hàn lâm, Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Khoa học xã hội,

477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Vào hồi… giờ….ngày… tháng……năm 2017

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1 “Các trường phái nghiên cứu TN trên thế giới và vấn đề nghiên

cứu TN chuyên ngành phụ sản Anh- Việt”, Tạp chí Nhân lực Khoa

học xã hội, số 1/2017, Tr.95-102

2 “Đặc điểm cấu tạo của TNPS trong tiếng Anh và tiếng Việt”,

Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 2 (46), 3-2017, Tr.93-97

Trang 4

1

MỞ ĐẦU

0.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

0.1.1 Y học đã có lịch sử phát triển lâu đời, phụ sản là một chuyên ngành sâu của y học, nhưng tài liệu và giáo trình tiếng Anh chuyên ngành dành cho sinh viên ngành y ở một số trường Đại học chưa nhiều Thời gian học tiếng Anh chuyên ngành y nói chung, chuyên ngành phụ sản nói riêng, còn hạn hẹp Trình độ tiếng Anh chuyên ngành của sinh viên còn rất nhiều hạn chế

0.1.2 Các tài liệu nghiên cứu, cẩm nang hướng dẫn sử dụng TN phụ sản (TNPS) chưa có nhiều, hơn nữa, các cuốn từ điển song ngữ dịch nghĩa và từ điển giải thích thuật ngữ y học nói chung, TNPS nói riêng còn nhiều điểm chưa nhất quán nên dẫn đến việc khó khăn khi sử dụng, đặc biệt là trong công tác giảng dạy và học tập

0.1.3 Luận án của chúng tôi khảo sát, nghiên cứu đối chiếu những đặc điểm về cấu tạo hình thức và nội dung ngữ nghĩa của hệ thống TNPS tiếng Anh và tiếng Việt để từ đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa chúng nhằm góp phần xây dựng lý thuyết chung về thuật ngữ học và xây dựng

từ điển TNPS trong tiếng Việt

0.2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

0.2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án

Luận án nghiên cứu nhằm mục đích chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt của hệ TNPS trong tiếng Anh và tiếng Việt trên các phương diện đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và định danh Từ đó, đề xuất phương hướng, giải pháp cụ thể để chuẩn hoá hệ thống TNPS tiếng Việt theo các tiêu chí của ngôn ngữ học

Với kết quả nghiên cứu đạt được, luận án đề xuất giải pháp biên soạn giáo trình tiếng Anh phụ sản, xây dựng từ điển TNPS để phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập, dịch thuật và công tác khám chữ bệnh trong lĩnh vực phụ sản ở Việt Nam

0.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Để đạt được các mục tiêu trên, luận án cần phải giải quyết những vấn đề sau đây:

- Điểm lại tình hình nghiên cứu về thuật ngữ (TN) nói chung, TNPS nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam nhằm đưa ra những nhiệm vụ cần tiếp tục được thực hiện nghiên cứu

- Hệ thống hoá quan điểm lí luận về TN, TNPS ở nước ngoài và ở Việt Nam, đặc biệt là nguyên tắc xây dựng hệ thống TN nói chung, hệ thống TNPS trong tiếng Anh và tiếng Việt nói riêng, qua đó xác lập cơ sở lí luận cho luận

án

- Đối chiếu hệ thống TNPS tiếng Anh và tiếng Việt về phương diện cấu tạo, con đường hình thành và phương thức định danh TN

Trang 5

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất phương hướng thống nhất và chuẩn hoá TNPS tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học

0.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

0.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống TNPS tiếng Anh trong sự đối chiếu với hệ thống TNPS tiếng Việt

Chúng tôi quan niệm TNPS là những từ và cụm từ cố định biểu đạt các khái niệm, đối tượng được sử dụng trong y học chuyên ngành phụ sản Chuyên ngành phụ sản bao gồm: sản khoa, phụ khoa, sơ sinh, hỗ trợ sinh sản

và kế hoạch hoá gia đình [111, tr.8]

Hệ thống TNPS bao gồm: 1) chủ thể và đối tượng tham gia hoạt động khám chữa bệnh phụ sản; 2) bộ phận cơ thể người liên quan đến phụ sản; 3) bệnh phụ sản; 4) hoạt động phòng và chữa bệnh phụ sản; 5) trang thiết bị phục

vụ công tác khám chữa bệnh phụ sản; 6) khoa và môn học phụ sản

Tên riêng các tổ chức, cơ quan y tế, tên các nhân vật lịch sử có liên quan đến phụ sản, tên nhãn hiệu các loại thuốc là danh pháp không thuộc đối tượng nghiên cứu của luận án

0.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Hệ thống TNPS bao gồm tất cả các TN trong lĩnh vực phụ sản và chúng có thể được phân chia thành các nhóm và tiểu nhóm Chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của luận án là các TNPS với 6 nhóm như đã nêu ở mục trên

Do giới hạn của luận án, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu đối chiếu TNPS trong tiếng Anh và tiếng Việt trên các phương diện: đặc điểm cấu tạo, phương thức tạo lập và đặc điểm định danh Từ đó hướng tới việc chuẩn hoá

hệ thống TNPS trong tiếng Việt

0.4 TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

0.4.1 Tư liệu nghiên cứu

Về hệ thống TNPS tiếng Anh, chúng tôi dựa vào 4 cuốn từ điển (Medical

Terminology Systems, Midwives’ dictionary, Dorlands illustrated Medical dictionary và Medical terminology) và thu thập được 1100 TNPS

Về hệ thống TNPS tiếng Việt, chúng tôi cũng dựa vào 4 cuốn từ điển và tài

liệu trên, đồng thời có đối chiếu với 4 quyển từ điển tiếng Việt (Từ điển TN

phụ sản Pháp - Việt, Việt - Pháp; Từ điển phụ sản Anh - Pháp - Việt; Từ điển giải thích phụ sản Việt - Anh - Pháp và Bài giảng sản phụ khoa) và những

giáo trình giảng dạy tiếng Anh Số TNPS trong tiếng Việt được đưa ra đối chiếu là 1100

0.4.2 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Về hướng tiếp cận, các TNPS trong tiếng Anh và tiếng Việt được chúng tôi xem xét trên phương diện đồng đại (tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại) và trong trạng thái tĩnh (cụ thể là các đơn vị TNPS trong từ điển tiếng Anh và tiếng Việt)

Trang 6

3

Về phương pháp nghiên cứu, để giải quyết các nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu nêu trên, luận án sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu như: phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích thành tố trực tiếp, thủ pháp thống kê, phương pháp so sánh - đối chiếu để xác định những điểm đồng nhất và khác biệt về phương diện cấu tạo, phương thức tạo lập và đặc điểm định danh của chúng

0.5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu đối chiếu những đặc điểm của hệ TNPS tiếng Anh và tiếng Việt trên phương diện cấu tạo, phương thức tạo lập và đặc điểm định danh

Trên cơ sở đối chiếu hai hệ thống TN, luận án bước đầu nêu lên một số nhận xét về hiện trạng của TNPS tiếng Việt, từ đó đề xuất biện pháp chuẩn hoá TNPS trong tiếng Việt từ phương diện ngôn ngữ học

0.6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án

0.6.1 Ý nghĩa lí luận

- Luận án làm rõ những điểm tương đồng và dị biệt về đặc điểm cấu tạo, phương thức tạo lập và đặc điểm định danh của TNPS trong hai ngôn ngữ Anh và Việt Từ đó, đánh giá ưu điểm và nhược điểm của hệ thống TNPS tiếng Việt ở các phương diện trên để hướng tới việc chuẩn hoá chúng

- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có đóng góp nhất định vào việc nghiên cứu lí thuyết TN học nói chung, nghiên cứu TNPS nói riêng

0.6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy tiếng Anh cho ngành y học nói chung và tiếng Anh chuyên ngành phụ sản nói riêng cho sinh viên Việt Nam

- Kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể được sử dụng trong công tác biên, phiên dịch các tài liệu của ngành y học nói chung và chuyên ngành phụ sản nói riêng, cũng như được sử dụng trong công tác biên soạn từ điển đối dịch TNPS ở Việt Nam

0.7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án có kết cấu gồm bốn chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lí luận

Chương 3: Đối chiếu đặc điểm cấu tạo của TNPS trong tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 4: Đối chiếu phương thức tạo lập và đặc điểm định danh của TNPS trong tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TN TRÊN THẾ GIỚI VÀ

Ở VIỆT NAM

1.1.1.Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới

Từ thế kỷ XVIII, các nghiên cứu về TN đã bắt đầu manh nha với nội dung chính là tạo lập, xây dựng và sơ khai xác định các nguyên tắc cho một số hệ TN đặc biệt Một số tác giả được cho là người tiên phong trong công tác nghiên cứu

TN như CarlvonLinné (1736); (Beckmann, 1780); A.L Lavoisier, G.de Morveau, M.Berthellot và A.F.de Fourcoy (1789) và William Wehwell (1840)

Mặc dù vậy, phải đến đầu thế kỷ XX, khoa học TN mới thực sự được hình thành, việc nghiên cứu TN mới có được định hướng khoa học và được công nhận

là một hoạt động quan trọng về mặt xã hội Từ những năm 1930, việc nghiên cứu

TN đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, đặc biệt là những công trình nghiên cứu các học giả Liên xô cũ, Cộng hòa Séc và Áo

Cả ba trường phái này đều có chung một quan điểm đó là nghiên cứu TN dựa trên ngôn ngữ học, họ đều xem TN như là một phương diện diễn đạt và giao tiếp

Vì thế cả ba trường phái đã hình thành cơ sở lí thuyết về TN và những nguyên lí mang tính phương pháp chi phối những ứng dụng của nó Những kết quả nghiên cứu của các trường phái này là một trong những động lực chính cho việc phát triển những hướng nghiên cứu TN sau này đó là: TN được nghiên cứu theo hướng dịch và kế hoạch hóa ngôn ngữ

1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam

Những năm 30 của thế kỷ XX công tác nghiên cứu phát triển TN khoa học ở Việt Nam chưa thực sự phát triển với sự xuất hiện của vài công trình nghiên cứu, trong đó đáng chú ý nhất là cuốn “Danh từ khoa học” của tác giả Hoàng Xuân Hãn

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 vấn đề TN khoa học dần thu hút được sự quan tâm nghiên cứu với các tác giả như Lê Văn Thới - người đã xây dựng bản nguyên tắc soạn thảo TN và đã được Ủy ban quốc gia soạn thảo danh từ chuyên môn thông qua, dùng làm tài liệu hướng dẫn chính thức cho công tác xây dựng

TN ở miền Nam lúc đó, Nguyễn Hữu và Bùi Nghĩa Bích với cuốn từ điển Danh

từ cơ thể học (1963) và cuốn Danh từ hóa học Pháp - Việt (1973), …

Từ năm 1975 đến nay vấn đề xây dựng và chuẩn hóa TN khoa học ngày càng được quan tâm nghiên cứu Đặc biệt trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu trường hợp về hệ TN của các chuyên ngành khác nhau như: y học, báo chí, du lịch, tài chính, kế toán, ngân hàng, quân sự, luật sở hữu trí tuệ, điện tử viễn thông,… Các công trình đi sâu nghiên cứu về TN trên các phương diện đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và định danh Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về hệ TNPS tiếng Anh trong sự đối chiếu so

Trang 8

5

sánh với tiếng Việt Những khoảng trống nghiên cứu này cho thấy vấn đề chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu trong luận án này là mới, cần thiết, có ý nghĩa cả về lí luận và thực tiễn

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TN PHỤ SẢN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.2.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ phụ sản trên thế giới

Do sự ảnh hưởng của nền kinh tế những năm 1950 và 1960, sự phát triển của khoa học công nghệ, tiếng Anh chuyên ngành được phát triển từ thời gian đầu của những năm 1960 – và sử dụng tiếng Anh tăng nhanh như ngôn ngữ khoa học quốc tế Chính vì sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, đặc biệt giai đoạn cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, lượng thông tin trao đổi ngày càng nhiều đã thực sự thúc đẩy mạnh mẽ công tác nghiên cứu TN trong tiếng Anh Các nhà nghiên cứu từ vựng học, TN học, các dịch giả quan tâm đến hệ TN đã dành thời gian nghiên cứu nhằm xây dựng các bộ từ điển chuyên ngành phục vụ cho công việc học tập, nghiên cứu Không chỉ ở nước Anh mà các nhà ngôn ngữ học trên thế giới cũng đã tham gia và triển khai các nghiên cứu về công tác TN Swales (1985) khẳng định tiếng Anh khoa học và công nghệ trong thực tế sử

dụng chính là minh họa cho sự phát triển của tiếng Anh chuyên ngành

1.2.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ phụ sản ở Việt Nam

Từ năm 1976, do nhu cầu của xã hội, việc học tiếng Anh được đẩy mạnh, nhiều cán bộ ngành Y tế Việt Nam thực sự rất mong đợi có một cuốn từ điển TN

Y học Anh - Việt để tra cứu khi học tập và nghiên cứu các tài liệu Y học bằng tiếng Anh Năm 1988, tác giả Bùi Khánh Thuần sau nhiều năm làm việc trong lĩnh vực ngôn ngữ y học đã rút ra được một số kinh nghiệm quí báu và cho xuất bản cuốn “Từ điển Y học Anh - Việt” Đây là cuốn từ điển Anh - Việt đầu tiên với số lượng hơn 40.000 TN của tất cả các lĩnh vực, gồm các ngành sâu như: tim mạch, nhi, phụ sản, v.v trong y học Trong cuốn từ điển này, một số TN đã được chỉnh sửa để phù hợp với sự phát triển của nền y học cũng như phụ sản Cho đến nay cuốn từ điển này vẫn có giá trị sử dụng cao

Năm 1997, tác giả Nguyễn Khắc Liêu đã cho xuất bản cuốn “Từ điển sản phụ khoa” đã hỗ trợ rất nhiều về mặt chuyên khoa và rất hữu ích cho sinh viên và cán

bộ công tác trong ngành phụ sản

Tác giả Nguyễn Đức Hinh đã có ý tưởng viết từ điển từ khi còn là bác sĩ nội trú bệnh viện dưới sự hướng dẫn, góp ý chỉ bảo của thầy Nguyễn Khắc Liêu, và tác giả đã xuất bản cuốn “Từ điển TNPS Pháp – Việt, Việt – Pháp” năm 2001; cuốn “Từ điển phụ sản Anh – Pháp – Việt” năm 2005 và cuốn “Từ điển giải thích phụ sản Việt – Anh – Pháp” năm 2012 Các cuốn từ điển trên đã thật sự góp phần xây dựng, chuẩn hóa và hiện đại hóa TNPS

1.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương 1, luận án đã tổng quan tình hình nghiên cứu TN nói chung, nghiên cứu TNPS nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam Qua quá trình khảo sát

Trang 9

tình hình nghiên cứu TN cũng cho chúng tôi thấy, riêng trong lĩnh vực phụ sản việc nghiên cứu TN chủ yếu tập trung vào biên soạn các cuốn từ điển, từ điển giải thích, từ điển đối chiếu, chưa có công trình nào thực hiện nghiên cứu một cách quy mô, có hệ thống về đặc điểm của TN thuộc chuyên ngành này Đặc biệt là khía cạnh ngôn ngữ học Đó chính là lí do mà chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài luận án này

Chương 2

CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THUẬT NGỮ VÀ THUẬT NGỮ PHỤ SẢN 2.1.1 Khái niệm thuật ngữ và thuật ngữ phụ sản

2.1.1.1 Khái niệm thuật ngữ

TN được hiểu là những từ ngữ biểu đạt khái niệm đối tượng thuộc các ngành khoa học hoặc lĩnh vực chuyên môn khác nhau

2.1.1.2 Khái niệm thuật ngữ phụ sản

TNPS là những từ ngữ biểu đạt khái niệm, đối tượng trong lĩnh vực phụ sản

Hệ thống TNPS bao gồm 6 nhóm chính, đó là: 1) chủ thể và đối tượng tham gia hoạt động khám chữa bệnh phụ sản, 2) bộ phận cơ thể người liên quan đến phụ sản, 3) bệnh phụ sản, 4) hoạt động phòng và chữa bệnh phụ sản, 5) trang thiết bị phục vụ công tác khám chữa bệnh phụ sản, 6) khoa và môn học phụ sản

2.1.2 Tiêu chuẩn của thuật ngữ và thuật ngữ phụ sản

Các tiêu chuẩn bắt buộc của TN là tính chính xác, tính hệ thống, tính ngắn gọn

và tính quốc tế

2.1.3 Phương thức đặt thuật ngữ

Các nhà nghiên cứu thống nhất hai phương thức đặt TN là TN hóa từ ngữ thông thường và tiếp nhận TN nước ngoài Việc tiếp nhận TN nước ngoài được thực hiện bằng các hình thức sao phỏng, phiên âm hoặc giữ nguyên dạng

2.1.4 Đơn vị cấu tạo thuật ngữ và thuật ngữ phụ sản

Trong luận án này, chúng tôi coi mỗi đơn vị cấu tạo TN biểu thị một khái niệm/ đối tượng hoàn chỉnh hay khái niệm/ đối tượng bộ phận thuộc một chuyên ngành khoa học hay chuyên môn và chúng tôi gọi mỗi đơn vị cấu tạo nên TN là

một thuật tố và mỗi thuật tố là đơn vị cấu tạo trực tiếp cuối cùng của TN Với

chức năng như vậy, mỗi thuật tố cấu tạo nên TN phải có ý nghĩa từ vựng

2.1.5 Thuật ngữ với lý thuyết định danh

2.1.5.1 Khái niệm định danh

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về định danh Định danh là đặt tên gọi cho sự vật, hiện tượng

2.1.5.2 Quá trình định danh

Quá trình định danh được thực hiện theo trình tự từ sự nhận biết sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan bằng các cơ quan cảm giác để tổng hợp các đặc trưng, thuộc tính phản ánh bản chất của sự vật, hiện tượng, sau đó quy loại sự vật

Trang 10

7

hiện tượng dựa vào các đặc trưng, thuộc tính đã tổng hợp và lựa chọn đặc trưng có

ý nghĩa khu biệt sự vật, hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng khác để đặt tên gọi Như vậy, quá trình định danh một sự vật, tính chất hay quá trình gồm hai bước là quy loại khái niệm của đối tượng được định danh và chọn đặc trưng để định danh

Ví dụ, để gọi tên một loại bệnh có biểu hiện bề ngoài nổi thành khối/ cục người ta quy vào khái niệm đã có tên trong ngôn ngữ là “u” Tiếp tục, dựa vào vị trí của khối

u trên cơ thể, người ta phân biệt thành các loại u khác nhau, từ đó hình thành các tên

gọi như: u buồng trứng, u tử cung, v.v Hoặc dựa vào tính chất, mức độ nguy hiểm của khối u mà phân biệt các loại u, từ đó hình thành các tên gọi như: u buồng trứng

lành tính, u buồng trứng ác tính, u tử cung lành tính, u tử cung ác tính, v.v

2.1.5.4 Đơn vị định danh

Xét trên bình diện ngữ nghĩa, đơn vị định danh được chia thành đơn vị định danh gốc và đơn vị định danh phái sinh Trong đó, “định danh gốc (định danh bậc một) được tạo ra bởi những đơn vị tối giản về mặt hình thái cấu trúc, mang nghĩa đen, được dùng làm cơ sở để tạo ra các đơn vị định danh khác” (Dẫn theo [44, tr.72]) Đơn vị định danh gốc có một thành tố cấu tạo với chức năng gọi tên các sự vật, hiện tượng, quá trình và tính chất cơ bản thuộc một chuyên ngành cụ thể Ví dụ:

thai, u, là những đơn vị định danh gốc trong hệ TNPS tiếng Việt Đơn vị định

danh phái sinh (đơn vị định danh bậc hai) là những đơn vị định danh có hình thái cấu trúc phức tạp hơn đơn vị định danh bậc một, gồm có hai thành tố cấu tạo trở lên, trong đó có thành tố chính và (các) thành tố phụ với chức năng gọi tên các sự vật, hiện tượng, quá trình, tính chất của một chuyên ngành cụ thể Ví dụ, các TN:

thai to, thai suy, u nang, u tử cung, v.v là những đơn vị định danh phái sinh

2.1.6 Vấn đề chuẩn hoá thuật ngữ

2.1.6.1 Khái niệm chuẩn và chuẩn hoá thuật ngữ

Dựa trên những quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu về công tác chuẩn hoá ngôn ngữ nói chung, chuẩn hoá TN nói riêng, trong phạm vi nghiên cứu của luận án này, chúng tôi xác định chuẩn hoá TNPS tiếng Việt là quá trình nghiên cứu chỉ ra những vấn đề còn tồn tại cần khắc phục của TN, những nguyên nhân khiến

TN chưa đạt chuẩn và đưa ra biện pháp làm cho những TN chưa đạt chuẩn có thể đạt chuẩn từ góc nhìn ngôn ngữ học

Trang 11

2.1.6.2 Lí do chuẩn hoá TN nói chung và TNPS nói riêng

Ngành y học nói chung và ngành phụ sản nói riêng đã trải qua quá trình phát triển lâu dài và đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, giao lưu, hội thảo quốc tế ngày càng mở rộng Những hoạt động trao đổi thông tin phụ sản trên phạm

vi quốc tế đã không những làm ra tăng số lượng TN mà còn dẫn đến việc sử dụng các TN không thống nhất trong chuyên ngành này Do vậy, cùng với việc xây dựng các TNPS mới góp phần phục vụ công tác nghiên cứu, trao đổi các hoạt động phụ sản trong nước cũng như quốc tế, công tác chuẩn hoá TNPS tiếng Việt cần thực sự được quan tâm nghiên cứu

Từ những quan niệm về chuẩn, chuẩn hoá, chuẩn hoá ngôn ngữ và chuẩn hoá

TN có thể thấy, công tác chuẩn hoá TN được thực hiện nhằm mục đích hướng tới

việc sử dụng đúng TN trong giao tiếp chuyên môn dưới hình thức nói hay viết Ngoài ra, chuẩn hoá TN còn nhằm mục đích tiết kiệm ngôn ngữ, đảm tính tính ngắn gọn, chính xác và phù hợp trong hệ thống

2.1.6.3 Lí thuyết điển mẫu với vấn đề chuẩn hoá TN

Trong luận án này, chúng tôi vận dụng lí thuyết điển mẫu vào việc lựa chọn các

TN đáp ứng các tiêu chuẩn phải có và cần có của TN mà chúng tôi đã xác định trong chương một để tạo cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc phân tích đặc điểm cấu tạo

và định danh của hệ TN này Cũng trong quá trình tuyển chọn TN như vậy, chúng

tôi nhận diện được các TN nằm ở vị trí biên tức là các TN chưa đạt chuẩn theo yêu

cầu (nằm xa điển mẫu) cần phải chuẩn hoá

2.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH ĐỐI CHIẾU

Để công tác nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ được thực hiện có hiệu quả, cần xác lập được các nguyên tắc đối chiếu, các bước đối chiếu, phạm vi nghiên cứu và vận dụng các phương pháp, thủ pháp phù hợp với mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Từ những tiêu chuẩn yêu cầu đối với TN nói chung, trong luận án này, chúng tôi xác định tính chính xác, tính hệ thống, tính ngắn gọn và tính quốc tế là các tiêu chuẩn bắt buộc đối với TNPS Tính chất không bắt buộc nhưng nếu TNPS có được

sẽ là tốt đó chính là tính dân tộc Còn tính đại chúng là không cần thiết Ngoài ra, một phần dung lượng nội dung của chương hai đã được dành cho việc trình bày một số vấn đề lí luận cơ bản về ngôn ngữ học so sánh đối chiếu, bao gồm: khái niệm ngôn ngữ học so sánh đối chiếu, xác định nguyên tắc đối chiếu, phạm vi và các bước đối chiếu ngôn ngữ

Trang 12

9

Chương 3 ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ PHỤ SẢN

TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

3.1 ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO TNPS TRONG TIẾNG ANH

VÀ TIẾNG VIỆT XÉT TỪ SỐ LƯỢNG THUẬT TỐ

3.1.1 Đặc điểm cấu tạo TN tiếng Anh xét từ số lượng thuật tố

Bảng 3.1 TNPS tiếng Anh xét theo số lượng thuật tố

47,64% Ví dụ: adnexal – “phần phụ tử cung”, anorchia – “không có tinh hoàn

bẩm sinh”, v.v… TN gồm hai thuật tố có 382/ 1100, chiếm 34,73%, ví dụ:

ante partum – “tiền sản”, artificial delivery – “cuộc đẻ có can thiệp”, v.v…

Có 74 TN bao gồm ba thuật tố, chiếm 6,73%, ví dụ: fetal breathing movement – “hô hấp thai trong tử cung”, high risk delivery – “ca đẻ có nguy cơ cao”,

v.v… TN có bốn thuật tố chiếm tỉ lệ ít nhất, chỉ có 11/1100 TN, tương đương

1,0%, ví dụ: harmonious growth retarded fetus – “thai suy dinh dưỡng đều”,

v.v… Theo tư liệu mà chúng tôi khảo sát, trong hệ thống TNPS tiếng Anh, không có TN nào có độ dài từ 5 thuật tố trở lên Số lượng TNPS tiếng Anh viết tắt là 109 TN, chiếm tỉ lệ 9,9%

3.1.2 Đặc điểm cấu tạo TNPS tiếng Việt xét từ số lượng thuật tố

Bảng 3.2 TNPS tiếng Việt xét theo số lượng thuật tố

Trang 13

Từ bảng 3.2 cho thấy, TNPS tiếng Việt có độ dài tối đa là năm thuật tố Trong đó, TN gồm hai thuật tố chiếm số lượng lớn nhất: 470/1100 TN, chiếm

42,72%, ví dụ: thai nghén, đa nang, hậu sản, v.v…; chiếm tỉ lệ cao thứ hai là

TN gồm ba thuật tố với 435/1100 TN, tương ứng 39,54%, ví dụ: áp xe tuyến

vú, v.v… Số TN có bốn thuật tố là 122/1100 TN, chiếm 11,09%, ví dụ: bệnh buồng trứng đa nang, bệnh loét cổ tử cung, v.v… Số TN có một thuật tố là

47/1100 TN, chiếm 4,28%, ví dụ: thai, rau, nang, v.v… Nhóm TN có số

lượng thấp nhất là TN có năm thuật tố, chỉ có 26 đơn vị, chiếm tỉ lệ 2,37%, ví

dụ: ghi tim thai bằng siêu âm, hiện tượng song thai một noãn, v.v…

3.1.3 Đánh giá điểm tương đồng và khác biệt của TNPS trong tiếng Anh và tiếng Việt xét từ số lượng thuật tố

Về số lượng cấu tạo thuật tố, TNPS tiếng Anh xét theo thuật tố cấu tạo là bốn thuật tố Trong đó, TN gồm một thuật tố chiếm tỉ lệ cao nhất chiếm 47,64%, chiếm tỉ lệ cao thứ hai là TN gồm hai thuật tố chiếm 34,73% TN gồm ba thành tố chiếm 6,73%, còn TN gồm bốn thuật tố chỉ chiếm 1,0%, và viết tắt trong tiếng Anh chiếm 9,9% Giống như đơn vị từ vựng nói chung, TN

có tính định danh - tên gọi chính xác khái niệm, đối tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn nhất định Để đảm bảo gọi tên chính xác khái niệm và đối tượng, đòi hỏi TN cần có kết cấu ngắn gọn, chặt chẽ

Về số lượng thuật tố cấu tạo, TNPS tiếng Việt có độ dài tối đa là năm thuật

tố Điều đáng lưu ý, số lượng TN bao gồm hai thuật tố chiếm tỉ lệ lớn nhất 42,72 %, tiếp đến là số lượng thuật tố bao gồm bốn thuật tố với tỉ lệ là 11,09%, một thuật tố là 4,28%, bnăm thuật tố là 2,37%

3.2 ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO TNPS TRONG TIẾNG ANH

VÀ TIẾNG VIỆT XÉT TỪ PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO, QUAN HỆ NGỮ PHÁP VÀ TỪ LOẠI

3.2.1 Đặc điểm cấu tạo TNPS tiếng Anh xét từ phương thức cấu tạo, quan hệ ngữ pháp và từ loại

Trong tiếng Anh có các phương thức cấu tạo từ đó là: phương thức thêm phụ tố, tạo từ phái sinh thêm phụ tố (affixation) hay còn gọi là phương thức phụ gia, phương thức tạo từ phái sinh không dùng phụ tố (derivation without affixation), phương thức viết tắt (abbreviation), phương thức chuyển loại (conversion) và phương thức ghép (compounding) Phương thức tạo từ trong tiếng Anh khá đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về mặt từ vựng của ngôn ngữ này Khảo sát hệ thống TNPS tiếng Anh, chúng tôi nhận thấy các phương thức trên đây cũng là những phương thức cơ bản được sử dụng để cấu tạo TNPS

3.2.1.1 TNPS tiếng Anh có một thuật tố

a) TNPS là từ đơn

Đây là những TN chỉ có một từ đồng thời cũng là hình vị chính tố, TN là

từ đơn có thể là danh từ, tính từ hay động từ Trong số 310 TN là từ đơn, có

Ngày đăng: 20/09/2017, 16:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Mô hình 46 0,55 Mô hình 5 6 0,55  Mô hình 6 5 0,45  - Đối chiếu thuật ngữ phụ sản trong tiếng anh và tiếng việt tt
h ình 46 0,55 Mô hình 5 6 0,55 Mô hình 6 5 0,45 (Trang 18)
Quy trình tạo hình 5 0,4 55 0,45 - Đối chiếu thuật ngữ phụ sản trong tiếng anh và tiếng việt tt
uy trình tạo hình 5 0,4 55 0,45 (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w