1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đối chiếu thuật ngữ thông tin thư viện anh việt ( Luận án tiến sĩ)

304 163 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 304
Dung lượng 792,77 KB
File đính kèm Luận án Full.rar (2 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối chiếu thuật ngữ thông tin thư viện anh việt ( Luận án tiến sĩ)Đối chiếu thuật ngữ thông tin thư viện anh việt ( Luận án tiến sĩ)Đối chiếu thuật ngữ thông tin thư viện anh việt ( Luận án tiến sĩ)Đối chiếu thuật ngữ thông tin thư viện anh việt ( Luận án tiến sĩ)Đối chiếu thuật ngữ thông tin thư viện anh việt ( Luận án tiến sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THANH HẢI

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ THÔNG TIN – THƯ VIỆN

ANH – VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu

Mã số: 9222024

Hà Nội, năm 2017

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THANH HẢI

ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ THÔNG TIN – THƯ VIỆN

ANH – VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu

Mã số: 9222024

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Quang Thiêm

Hà Nội, năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ Đối chiếu thuật ngữ thông tin – thư viện Anh – Việt là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những tư

liệu, số liệu và kết quả trình bày trong luận án là trung thực Đề tài nghiên cứu và các kết quả chưa được ai công bố

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Hải

Trang 4

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 8

1.2 Lý luận chung về thuật ngữ và thuật ngữ thông tin – thư viện 25

1.3 Lý thuyết chung về ngôn ngữ học so sánh đối chiếu 57

Chương 2 – ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ 61

THÔNG TIN – THƯ VIỆN ANH – VIỆT

2.1 Đối chiếu phương thức cấu tạo thuật ngữ thông tin – thư viện 61 tiếng Anh và tiếng Việt

2.2 Đối chiếu đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thông tin – thư viện 71 Anh – Việt

2.3 Đối chiếu mô hình cấu tạo thuật ngữ thông tin – thư viện 85 trong tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 5

CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH THUẬT NGỮ 105

THÔNG TIN - THƯ VIỆN ANH – VIỆT 3.1 Đối chiếu đặc điểm định danh thuật ngữ thông tin – thư viện 105

Anh – Việt

3.2 Đối chiếu mô hình định danh thuật ngữ thông tin – thư viện 109

Anh – Việt 3.3 Đối chiếu đặc điểm định danh thuật ngữ thông tin – thư viện 142

Anh – Việt Tiểu kết chương 3 144

KẾT LUẬN 146

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 150

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Chương 2:

Bảng 2.1 Số lượng thuật tố cấu tạo thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Anh 71 Bảng 2.2 Số lương thuật tố cấu tạo thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt 72 Bảng 2.3 Phương thức kết hợp thuật ngữ thông tin - thư viện là từ ghép 76 Bảng 2.4 Thống kê từ loại thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Anh 1 thuật tố 77 Bảng 2.5 Thống kê từ loại thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt 1 thuật tố 78 Bảng 2.6 Thống kê từ loại thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Anh 2 thuật tố 80 Bảng 2.7 Thống kê từ loại thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt 2 thuật tố 81 Bảng 2.8 Thống kê từ loại thuật ngữ thông tin – thư viện ba thuật tố 83 Bảng 2.9 Thống kê từ loại thuật ngữ thông tin – thư viện bốn thuật tố 84 Bảng 2.10 Thống kê từ loại thuật ngữ thông tin – thư viện năm thuật tố 85 Bảng 2.11 Mô hình cấu tạo thuật ngữ thông tin – thư viện trong tiếng Anh 99

và tiếng Việt

Chương 3

Bảng 3.1 Mô hình định danh thuật ngữ chỉ sản phẩm thông tin – thư viện 115

trong tiếng Anh và tiếng Việt

Bảng 3.2 Mô hình định danh thuật ngữ chỉ dịch vụ thông tin – thư viện 123

trong tiếng Anh và tiếng Việt

Bảng 3.3 Mô hình định danh thuật ngữ chỉ hoạt động thông tin – thư viện 132

trong tiếng Anh và tiếng Việt

Bảng 3.4 Mô hình định danh thuật ngữ chỉ chủ thể tham gia hoạt động 140

thông tin – thư viện trong tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 7

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Thông tin – thư viện tiếng Việt TTTV TV

Trang 8

Ngày nay, xu hướng hội nhập quốc tế đã đặt ra những yêu cầu cho nhiều ngành khoa học, trong đó có cả khoa học thông tin – thư viện đó là phải có sự hoàn thiện và phát triển hệ thống thuật ngữ khoa học tiếng Việt sao cho phù hợp với chuẩn mực chung của thế giới Là một ngành khoa học có đóng góp lớn cho sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội, việc cập nhật tri thức mới của ngành thông tin – thư viện thông qua việc hệ thống hóa và xây dựng hệ thuật ngữ khoa học chuẩn được sử dụng trong lĩnh vực này vừa có giá trị khoa học, vừa mang giá trị thời sự thực tiễn rất rõ rệt

Có một thực tế là hầu hết các thuật ngữ biểu đạt các khái niệm, phạm trù, sự vật, hiện tượng trong lĩnh vực thông tin – thư viện thường được sao phỏng hoặc vay mượn từ tiếng nước ngoài như tiếng Pháp, tiếng Nga và sau này là tiếng Anh

Sự thiếu nhất quán trong cách giải nghĩa, phiên âm, gọi tên các thuật ngữ còn khá phổ biến Nhiều thuật ngữ thông tin - thư viện tiếng Việt chưa biểu đạt được chính

Trang 9

2

xác khái niệm mà chỉ mang tính chất giải thích, những thuật ngữ vay mượn nước ngoài được sử dụng với nhiều biến thể khác nhau., Những vấn đề này gây khó khăn cho giảng viên, sinh viên trong giảng dạy, học tập và công tác nghiên cứu, phổ biến khoa học thông tin – thư viện trong điều kiện tài liệu chuyên môn, sách tham khảo còn hạn chế

Những năm gần đây, công tác nghiên cứu các hệ thuật ngữ thuộc một số ngành khoa học kỹ thuật đã rất được quan tâm Tuy nhiên, hệ thuật ngữ thông tin – thư viện hầu như chưa được nghiên cứu, đặc biệt là chưa có công trình nào đặt vấn

đề nghiên cứu thuật ngữ thông tin – thư viện một cách toàn diện về mặt lý thuyết cũng như về cấu tạo, ngữ nghĩa và cách định danh Để đảm bảo những thuật ngữ đó biểu đạt được một cách chính xác những các khái niệm, biểu tượng, phạm trù, các

sự vật, hiện tượng tương ứng với ngôn ngữ gốc, việc khảo sát, đối chiếu thuật ngữ thông tin – thư viện Anh - Việt một cách toàn diện và hệ thống là một việc vô cùng hữu ích và cần thiết

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài luận án “Đối chiếu thuật ngữ thông tin - thư viện Anh – Việt” Đề tài nghiên cứu của chúng tôi sẽ tập trung

khảo sát, phân tích các đặc điểm về cấu tạo, định danh và đặc trưng ngữ nghĩa hệ thuật ngữ thông tin – thư viện trong tiếng Anh và tiếng Việt Đồng thời tiến hành

đối chiếu để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau của hai hệ thuật ngữ này

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là nhằm làm rõ đặc điểm cấu tạo và đặc điểm định danh hệ thuật ngữ thông tin – thư viện Anh - Việt thông qua việc khảo sát, phân tích hệ thuật ngữ TTTV trong cả hai ngôn ngữ Trên cơ sở kết quả khảo sát và phân tích, tiến hành đối chiếu để làm rõ những điểm giống nhau và khác nhau giữa hai hệ thuật ngữ TTTV tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 10

3

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là cơ sở góp phần hệ thống hóa và hoàn thiện hệ thuật ngữ TTTV tiếng Việt cho nhu cầu phát triển và hội nhập với khoa học thông tin - thư viện toàn cầu; nâng cao chất lượng giảng dạy môn tiếng Anh chuyên ngành, tạo điều kiện thuật lợi cho giảng viên, sinh viên trong giảng dạy, học tập, tra cứu tài liệu và nghiên cứu khoa học cũng như cho công tác biên soạn từ điển chuyên môn

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài tập trung giải quyết những vấn đề sau: 1) Khái quát tình hình nghiên cứu thuật ngữ khoa học nói chung và hệ thuật ngữ khoa học thông tin – thư viện nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam;

2) Xác lập cơ sở lý luận cho luận án qua việc hệ thống hóa các quan điểm lý luận

về thuật ngữ, các phương thức xây dựng hệ thuật ngữ khoa học nói chung và hệ thuật ngữ TTTV nói riêng trong tiếng Anh và tiếng Việt;

3) Xác định mô hình kết hợp, các thành tố để tạo thành thuật ngữ thông tin – thư viện, xác định mô hình và phương thức định danh thuật ngữ thông tin – thư viện trong tiếng Anh và tiếng Việt;

4) Đối chiếu hệ thuật ngữ thông tin – thư viện Anh – Việt về các phương diện đặc điểm, mô hình cấu tạo và phương thức định danh thuật ngữ nhằm tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thuật ngữ này;

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thuật ngữ thông tin – thư viện trong tiếng Anh và tiếng Việt, cụ thể là các thuật ngữ là từ và ngữ biểu đạt các khái niệm, đối tượng được sử dụng trong chuyên ngành thông tin – thư viện Anh – Việt và sự đối chiếu các thuật ngữ này trong hai ngôn ngữ Trong đó tiếng Anh được chọn là ngôn ngữ chuẩn và tiếng Việt là ngôn ngữ được đối chiếu

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 11

4

Trong phạm vi luận án, chúng tôi tập trung nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ thông tin – thư viện trong tiếng Anh và tiếng Việt trên hai phương diện: đặc điểm cấu tạo, đặc điểm và phương thức định danh để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau của hai hệ thuật ngữ này, ưu nhược điểm của thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt, từ đó góp phần hoàn thiện lý thuyết thuật ngữ học nói chung và hệ thuật ngữ thông tin – thư viện nói riêng, hướng tới việc xây dựng hệ thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt phù hợp với những chuẩn mực chung của tiếng Việt

và xu hướng quốc tế hóa

3.3 Ngữ liệu nghiên cứu

Ngữ liệu nghiên cứu của luận án là 1500 thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Anh và 1500 thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt, được thu thập từ các cuốn từ điển song ngữ, đa ngữ, từ điển giải thích, bao gồm:

1 John Feather, Paul Sturges (1997), International encyclopedia of information and

library science London - New York : Routledge

2 Ray Prytherch (1995), Harrod's librarians' glossary, published by Gower., England;

3 Reitz, Joan M., (2004), ODLIS: Online Dictionary of Library and Information Sciences http://www.abc-clio.com/ODLIS/odlis_A.aspx

4 ALA - Từ điển giải nghĩa thư viện học và tin học Anh-Việt: Glossary of Library and

Information Science (tài liệu dịch), Arizona: NXB Galen Press, Ltd 1996

5 Từ điển thuật ngữ thư viện học Việt – Anh – Pháp, Thư viện Khoa học Tổng hợp

thành phố Hồ Chí Minh, 1997

6 Từ điển Danh từ Thư viện – Thông tin Anh – Việt, Nguyễn Hữu Viêm (2000)

7 Từ điển chuyên ngành Thư viện – Thông tin Anh – Việt, Thư viện Khoa học Tổng

hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2010

8 Từ điển chuyên ngành Thư viện – Thông tin Việt – Anh, Thư viện Khoa học Tổng

hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2013

Trang 12

5

Ngoài ra, các thuật ngữ còn được thu thập từ những giáo trình chuyên ngành thông tin – thư viện, các tài liệu, tạp chí, bài báo chuyên đề chuyên ngành thông tin –

thư viện bằng tiếng Anh và tiếng Việt

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

4.1 Phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp này được sử dụng để so sánh, đối chiếu các đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa, đặc điểm định danh thuật ngữ thông tin – thư viện Anh – Việt trong các trường hợp cụ thể, nhằm chỉ ra cái chung hay cái riêng, những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thuật ngữ được đối chiếu; mức độ tương đương thuật ngữ giữa hai hệ thuật ngữ thông tin – thư viện Anh – Việt

4.2 Phương pháp miêu tả

Phương pháp này được sử dụng để miêu tả, phân tích đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thông tin – thư viện Anh – Việt về phương thức cấu tạo, từ loại, mô hình câu tạo; xác định cơ sở đối chiếu, đặc điểm định danh thuật ngữ thông tin – thư viện về phương diện ngữ nghĩa, hình thức biểu thị và đặc trưng định danh thuật ngữ TTTV

trong cả hai ngôn ngữ

4.3 Phương pháp phân tích theo thành tố cấu tạo

Phương pháp phân tích thành tố cấu tạo dùng để phân tích các từ, ngữ định danh để xác định các yếu tố cấu tạo cơ sở trong hệ thống thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Anh và tiếng Việt; xác định mô hình cấu tạo, trên cơ sở phân tích các thành tố trực tiếp cũng như mối quan hệ giữa các thành tố trực tiếp cấu tạo nên

thuật ngữ thông tin – thư viện trong cả hai ngôn ngữ Anh – Việt

4.4 Thủ pháp nghiên cứu

Thủ pháp được sử dụng trong luận án này là thủ pháp thống kê từ vựng Thủ pháp được áp dụng để hệ thống số liệu về hệ thuật ngữ thông tin – thư viện Anh – Việt như: thống kê từ loại, thống kê yếu tố cấu tạo Kết quả số liệu thống kê được

Trang 13

và định tính, diễn dịch, quy nạp kết hợp với ví dụ minh họa cụ thể

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Có thể nói đây là luận án đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu đối chiếu một cách

hệ thống về thuật ngữ thông tin – thư viện trong tiếng Anh và tiếng Việt trên phương diện đặc điểm cấu tạo và phương thức định danh

Trên cơ sở đối chiếu hai hệ thống thuật ngữ thông tin – thư viện Anh – Việt, luận án làm rõ hơn đặc điểm cấu tạo, phương thức tạo lập và đặc điểm định danh thuật ngữ TTTV tiếng Việt, bổ sung cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt nói riêng và thuật ngữ học nói chung, góp phần hoàn thiện hệ thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt theo định hướng ngôn ngữ học, đáp ứng được các yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập toàn cầu của Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án

6.1 Về mặt lý luận

- Đề tài làm rõ những điểm giống và khác nhau về phương thức tạo lập, phương thức định danh thuật ngữ thông tin – thư viện trong hai ngôn ngữ Anh-Việt Chúng là tên gọi trực tiếp hay gián tiếp của các khái niệm, đối tượng trong lĩnh vực thông tin – thư viện;

- Đề tài chỉ ra những đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ thông tin - thư viện tiếng Anh trong sự đối chiếu với thuật ngữ thông tin - thư viện tiếng Việt;

- Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện lý thuyết về ngôn ngữ học nói chung

và thuật ngữ học nói riêng, Từ đó góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho

Trang 14

7

việc xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học ở Việt Nam đáp ứng các yêu cầu của

xã hội trong thời kỳ phát triển và hội nhập quốc tế

6.2 Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị về mặt thực tiễn đó là

- Đóng góp thiết thực cho việc chỉnh lý, tiến tới hoàn thiện hệ thống thuật ngữ thông tin – thư viện hiện có của tiếng Việt;

- Là cơ sở để xây dựng, biên soạn từ điển thuật ngữ thông tin – thư viện tiếng Việt phục vụ cho sự phát triển ngành thông tin – thư viện nước ta;

- Phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy, biên dịch và biên soạn giáo trình, tử điển chuyên ngành thông tin – thư viện

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu thuật ngữ học nói chung, thuật ngữ TTTV nói riêng và các

cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thông tin - thư viện ở Việt Nam

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận án được chia thành làm

3 chương bố cục như sau:

CHƯƠNG 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

CHƯƠNG 2: Đối chiếu đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thông tin – thư viện Anh - Việt

CHƯƠNG 3: Đối chiếu đặc điểm định danh thuật ngữ thông tin - thư viện Anh - Việt

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 15

8

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ trên thế giới

Thuật ngữ học bắt đầu được hình thành và khẳng định như một ngành khoa học vào những năm 1930 của thế kỷ 20 Các hoạt động nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới trong thời kỳ đầu tập trung ở hai trung tâm thuật ngữ học lớn đặt tại Áo và Liên Xô với những nghiên cứu về thuật ngữ được tiến hành bởi các nhà học giả Xô Viết, Cộng hòa Séc và Áo, hình thành nên ba trường phái lý thuyết thuật ngữ học: trường phái thuật ngữ học Áo, trường phái thuật ngữ học Xô-viết và trường phái thuật ngữ học Cộng hòa Séc

Đại diện nổi bật nhất cho trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Áo là nhà

ngôn ngữ học Eugen Wüster (1898 -1997) Ông được coi là người khởi xướng trong

các công tác nghiên cứu thuật ngữ, những nghiên cứu của ông mang lại những đóng góp rất lớn cho sự phát triển thuật ngữ học thời kỳ đầu và là người có ảnh hưởng

lớn đến nghiên cứu thuật ngữ của nhiều học giả sau này Trong tác phẩm Lí luận

chung về thuật ngữ (1931), Wuster đã đề cập đến những khía cạnh ngôn ngữ học

khi nghiên cứu thuật ngữ, hệ thống hóa các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ, đưa

ra một số nguyên tắc khi sử dụng thuật ngữ và chỉ ra những điểm chính của phương pháp xử lí dữ liệu thuật ngữ

Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Xô Viết được biết đến với nhiều nhà

học giả nổi tiếng như D.S Lotte, A.I Moiseev, A.A Reformatskij, V.P Danilenko, A.S Gerd, T.L Kandelaki, N.K Xukhov… Những nghiên cứu của họ đi sâu vào phân tích bản chất, chức năng, khái niệm của thuật ngữ và đã tìm định nghĩa cho thuật ngữ khoa học [16], [23], [52], [77], [78], [94], [137].Bên cạnh đó, do Liên Xô trước đây là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ nên trường phái Xô Viết cũng nghiên cứu về vấn đề chuẩn hóa các khái niệm và thuật ngữ trên tinh thần của những vấn đề liên quan đến chủ nghĩa đa ngôn ngữ của Xô Viết

Trang 16

9

Tiêu biểu cho trường phái nghiên cứu thuật ngữ Xô Viết là D.S Lotte (1898

– 1950) Ông được coi là người đi đầu trong công tác phát triển hệ thuật ngữ hiện đại của Nga và là người sáng lập Ủy ban thuật ngữ khoa học kỹ thuật thuộc Viện

Hàn lâm khoa học Liên Xô Trong công trình nghiên cứu “Những nguyên lý của

việc xây dựng thuật ngữ khoa học kỹ thuật: những vấn đề lý thuyết và phương pháp luận” (1961), ông đã đề xuất những yêu cầu về thuật ngữ và đưa ra những luận

điểm có tính chất phương pháp luận trong công tác tiêu chuẩn hóa thuật ngữ Quan điểm của Lotte thể hiện ở hai ý tưởng: Một là, hệ thuật ngữ là toàn bộ các thuật ngữ phù hợp với hệ thống khái niệm của một lĩnh vực khoa học hay kĩ thuật đó; Hai là,

hệ thống thuật ngữ thể hiện cái gọi là hệ thống khái niệm

Về trường phái thuật ngữ học của Cộng hòa Séc, các nghiên cứu tập trung

vào việc miêu tả cấu trúc và chức năng của các ngôn ngữ chuyên ngành, trong đó thuật ngữ đóng vai trò quan trọng, vấn đề chuẩn hóa các ngôn ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ cũng rất được quan tâm Đại diện tiêu biểu, được coi là tiên phong của

trường phái này là L.Drodz Nghiên cứu của ông tập trung vào chức năng của ngôn

ngữ, theo hướng tiếp cận ngôn ngữ của trường phái ngôn ngữ học Praha Xuất phát

từ luận điểm ngôn ngữ là công cụ giao tiếp, các nhà nghiên cứu theo trường phái ngôn ngữ học Praha đi tìm chức năng của các yếu tố, các lớp, các cơ chế xuất hiện trong ngôn ngữ Vì thế, trường phái ngôn ngữ học Praha còn gọi được gọi là trường phái chức năng Các ngôn ngữ chuyên ngành theo trường phái này coi thuật ngữ

như là những đơn vị tạo nên văn phong nghề nghiệp mang tính chức năng, tồn tại

cũng những văn phong khác như: văn học, báo chí và hội thoại

Bên cạnh đó, khi nói đến thuật ngữ học giai đoạn cuối thế kỷ 20, không thể không nhắc đến các nhà thuật ngữ học Âu – Mỹ như Brown R.W [148], Cabré T.W [149] (Tây Ban Nha), Sager J.C (Mỹ) [167] Ngoài việc định nghĩa thuật ngữ, nêu bản chất khái niệm và chức năng của chúng, các nhà nghiên cứu này còn có xu hướng tìm cách xác định các tiêu chuẩn cụ thể cần phải có của thuật ngữ và công tác chuẩn hóa thuật ngữ

Trang 17

10

Theo Auger (1988), quá trình phát triển của thuật ngữ học hiện đại thế kỷ 20

trải qua bốn giai đoạn chủ yếu là: giai đoạn sơ khai (1930 – 1960), giai đoạn cấu trúc (1960-1975); giai đoạn bùng nổ (1975-1985) và giai đoạn mở rộng (1985 – cuối thế kỷ 20) [Dẫn theo 149, tr.5-6]

Đại diện tiêu biểu cho giai đoạn hình thành và phát triển thuật ngữ học này là

các học giả Wüster E (Áo) và D.S Lotte (Xô Viết) với những cơ sở lý thuyết ban

đầu về thuật ngữ học và các phương thức xây dựng thuật ngữ khoa học một cách hệ thống Trong giai đoạn phát triển thứ hai, nhờ sự phát triển của công nghệ vi tính máy chủ và xây dựng vốn tài liệu, công tác nghiên cứu thuật ngữ đã đạt những bước tiến quan trọng Trên cơ sở những ngân hàng dữ liệu máy tính đầu tiên, một bộ nguyên tắc quốc tế về xử lý dữ liệu thuật ngữ được đề xuất và phương hướng xây dựng, phát triển hệ thuật ngữ đi cùng với chuẩn hóa thuật ngữ trong ngôn ngữ bắt đầu hình thành

Thời kỳ 1975 – 1985 được coi là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của thuật

ngữ học Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã mang lại sự thay đổi

căn bản trong công tác xử lý dữ liệu thuật ngữ Bên cạnh những nghiên cứu lý thuyết, đã có nhiều nghiên cứu sâu hơn về mặt thực tiễn như vai trò của thuật ngữ khoa học, chuyên môn với sự phát triển của các ngành khoa học liên ngành, định hướng mới trong lý thuyết về thuật ngữ học hay phát triển hệ thuật ngữ khoa học

gắn với kế hoạch hóa ngôn ngữ (language planning) và hiện đại hóa ngôn ngữ (language modernization)

Giai đoạn cuối thế kỷ 20, trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và sự phát triển mạnh mẽ của các ngành khoa học – kỹ thuật và dịch

vụ, thuật ngữ học có nhiều cơ hội phát triển Đi cùng với đó là những vấn đề mới nảy sinh trong công tác xây dựng và chuẩn hóa hệ thuật ngữ khoa học nhằm đáp ứng các yêu cầu xã hội Mô hình phát triển thuật ngữ học gắn liền với hoạch định ngôn ngữ ngày càng được quan tâm nghiên cứu, nhất là ở các nước đang phát triển, nơi mà các chính sách hoạch định ngôn ngữ và phát triển hệ thuật ngữ khoa học vẫn đang trên con đường hoàn thiện

Trang 18

11

Về tình hình nghiên cứu thuật ngữ học đầu thế kỷ 21

Trong hơn mười lăm năm qua, quan niệm về thuật ngữ học và các vấn đề của thuật ngữ học của các nhà nghiên cứu trên thế giới đã có nhiều thay đổi Điều này được thể hiện rất rõ qua những đề xuất lý thuyết thuật ngữ mới tùy theo từng đường hướng nghiên cứu thuật ngữ cụ thể, như đường hướng thuật ngữ học xã hội, xã hội học tri nhận, thuật ngữ học văn bản… Đặc biệt là lý thuyết thuật ngữ học mới theo

đường hướng giao tiếp (Communicative theory of terminology) được coi là trường

phái lý thuyết mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới và có khả năng giải quyết những hạn chế và vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển thuật ngữ học mà hướng nghiên cứu dựa trên lý thuyết thuật ngữ học truyền thống của Áo, Xô viết và Séc chưa giải quyết được

Các nghiên cứu về thuật ngữ trong giai đoạn này được tiến hành theo ba

hướng tiếp cận cơ bản: thuật ngữ học theo hướng ngôn ngữ học (lingusitic

approach); thuật ngữ học theo hướng dịch dịch thuật (translation-oriented approach) và thuật ngữ học theo hướng kế hoạch hóa ngôn ngữ (language planning) [149, tr 13-14]

Hướng tiếp cận thuật ngữ học trên góc độ ngôn ngữ học vẫn dựa trên nền tảng lý thuyết thuật ngữ học truyền thống được Wuster và những học giả kế thừa ông phát triển với ba trường phái ngôn ngữ học: trường phái ngôn ngữ học Áo, trường phái ngôn ngữ học Xô Viết và trường phái ngôn ngữ học Séc Cơ sở lý thuyết của các nghiên cứu theo hướng tiếp cận này, theo cách gọi của Cabré (trong

công trình nghiên cứu của mình), là lý thuyết thuật ngữ học tổng quát (General

Theory of Terminology - GTT) để phân biệt với hướng nghiên cứu lý thuyết mới

được gọi là lý thuyết thuật ngữ học theo hướng giao tiếp (Communicative Theory of

Terminology - CTT) [149, tr 14-15]

Các nghiên cứu theo hướng tiếp cận thuật ngữ với dịch thuật và kế hoạch hóa ngôn ngữ xuất phát từ yêu cầu trao đổi ngôn ngữ của các quốc gia, vùng lãnh thổ có môi trường giao tiếp song ngữ hoặc đa ngôn ngữ, ví dụ như Quebec (Canada), Walloon (Bỉ) hay các tổ chức quốc tế sử dụng đa ngôn ngữ như Liên hợp quốc,

Trang 19

12

UNESCO, FAO… Nghiên cứu thuật ngữ trong môi trường đa ngôn ngữ sẽ hỗ trợ rất nhiều cho công tác dịch thuật Để có thể chuyển dịch thuật ngữ, cần phải có đồng thời kiến thức về ngôn ngữ đích và chuyên ngành tương ứng Hướng nghiên cứu này góp phần tạo ra cơ sở dữ liệu thuật ngữ và xây dựng các hệ thuật ngữ tương đương trong nhiều ngôn ngữ và là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà dịch thuật nhằm nâng cao chất lượng bản dịch chuyên môn

Kế hoạch hóa ngôn ngữ là chương trình chính phủ nhằm xây dựng và phát triển một ngôn ngữ nhỏ trở thành ngôn ngữ chính thức của quốc gia Ví dụ như chính sách phát triển tiếng Pháp, vốn là ngôn ngữ sử dụng chủ yếu tại Quebec, Canada, trở thành ngôn ngữ chính thức được sử dụng song song với tiếng Anh tại quốc gia này Yêu cầu phát triển ngôn ngữ đã tạo điều kiện thúc đẩy các hệ thuật ngữ chuyên môn hình thành và phát triển Nghiên cứu thuật ngữ theo hướng kế hoạch hóa ngôn ngữ trở thành hướng nghiên cứu mới được các nhà khoa học quan tâm Nói đến những nghiên cứu tiếp cận theo hướng này, không thể không nhắc đến Bassey Edem Antia, nhà ngôn ngữ học người Nigeria, người đã phát triển khung lý thuyết và thực tiễn cho quản lý và hoạch định thuật ngữ và tiến hành nghiên cứu trên các trường hợp cụ thể ở một số quốc gia châu Phi như Somalia, Tazania, Nigeria… Tác giả đã thiết lập một lý thuyết khung cho công tác hoạch định thuật ngữ trên cơ sở lý thuyết khái niệm, phương thức kết hợp từ với phương thức giao tiếp và kiến thức chuyên môn Theo đó, những yếu tố quan trọng của khung lý thuyết thuật ngữ này bao gồm hệ thống các khái niệm và mối liên quan, định nghĩa, xác định hệ thuật ngữ, các hệ thống thuật ngữ, cơ sở dữ liệu thuật ngữ và sự phối hợp của các chuyên giatrong lĩnh vực chuyên môn [Antia: 144; 2000]

Lý thuyết thuật ngữ học theo đường hướng giao tiếp (CTT)

Cabré M.T, nhà ngôn ngữ học người Tây Ban Nha, được coi là người tiên

phong trong việc phát triển các nghiên cứu lý thuyết theo hướng tiếp cận này Bà cho rằng “mục tiêu nghiên cứu của Wuster là loại bỏ sự mơ hồ nghĩa trong các từ ngữ kỹ thuật trong môi trường giao tiếp chuyên môn quốc tế bằng cách chuẩn hóa các khái niệm chuyên môn đó chứ không xem xét thuật ngữ học với tất cả tính đa

Trang 20

13

dạng và đa diện của nó Rõ ràng là lý thuyết thuật ngữ học truyền thống nhấn mạnh

tr 167]

Cabré M.T ủng hộ việc xây dựng một lý thuyết mới về thuật ngữ học, một

cơ sở quan trọng trong định hướng xây dựng thuật ngữ học trở thành một ngành độc

lập với vị trí riêng Tiền đề lý thuyết bà đưa ra là: Thứ nhất, thuật ngữ học trước hết

phải là xác định các nhu cầu đồng thời đưa ra các giải pháp để giải quyết những nhu

cầu cụ thể đó trong một ngành chuyên môn nhất định; Thứ hai, thuật ngữ học bao

gồm các đơn vị thuật ngữ mang tính đa chiều và có sự tương tác giữa lĩnh vực

chuyên môn, thực thể ngôn ngữ và các thực thể giao tiếp” “Các đơn vị thuật ngữ”

bao gồm hệ thống các khái niệm (phương diện tri nhận), thuật ngữ (phương diện ngôn ngữ) và các yếu tố ngữ cảnh (phương diện giao tiếp)” [150, tr.182;187]

Cabré đã đồng quan điểm với Antia B.E trong việc cần phải xây dựng được

các đơn vị thuật ngữ trong khung giao tiếp và môi trường diễn ngôn đặc biệt Khung giao tiếp đó được xác định qua chuỗi thông tin có hệ thống và trên hai đặc trưng

ngôn ngữ: Một là, đặc trưng từ vựng (lexical) – sử dụng các đơn vị từ có ý nghĩa giới hạn trong một ngữ cảnh đặc biệt; Hai là, đặc trưng văn bản (textual) bao gồm

văn bản có nội dung biểu đạt chính xác Cabré cũng chỉ ra ba điều kiện cần và đủ cho việc xây dựng khung nghiên cứu cho lý thuyết thuật ngữ học mới với tư cách là

một lĩnh vực nghiên cứu độc lập, đó là điều kiện ngôn ngữ tự nhiên (dưới góc độ ngôn ngữ, tri nhận và xã hội), điều kiện giao tiếp đặc biệt (dựa trên sự trao đổi các vấn đề chuyên môn giữa nhà khoa học và người làm chuyên môn) và điều kiện

chuyên môn hóa (sự trao đổi trong các lĩnh vực chuyên môn) Thuật ngữ cần được

nghiên cứu trong các tình huống giao tiếp tự nhiên và trên góc độ xã hội Lý thuyết thuật ngữ theo hướng giao tiếp (CTT) chính là lý thuyết có thể giải quyết các vấn đề

đa chiều của thuật ngữ Những yếu tố mang tính xã hội như tình hình chính trị, kinh

tế - xã hội và ngôn ngữ quốc gia sẽ là những nhân tố tác động tới quá trình xây dựng và phát triển hệ thuật ngữ khoa học

Trang 21

14

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam

Ở Việt Nam, thuật ngữ khoa học tiếng Việt bắt đầu hình thành đầu thế kỷ

XX Dưới ảnh hưởng của văn hóa chế độ thực dân Pháp, thuật ngữ chỉ xuất hiện lẻ

tẻ và bắt đầu phôi thai hình thành khi chữ quốc ngữ gốc La tinh được sử dụng Nhờ

sự giác ngộ của những nhà nho yêu nước, chữ quốc ngữ La tinh hóa được tiếp nhận vào đời sống tri thức, báo chí được xuất bản bằng chữ quốc ngữ phát triển Khởi đầu là bộ phận thuật ngữ trong văn bản Đông kinh nghĩa thục – phong trào cải cách văn hóa đầu thế kỷ 20 (1907), sau đó là trong các tạp chí Đông dương tạp chí (1913-1917), Nam phong tạp chí (1917-1934), báo Hữu thanh (1922), tác phẩm Đường Kách mệnh (1927) của Nguyễn Ái Quốc Những xuất bản phẩm thời kỳ này

là các chủ đề mang tính chuyên môn “có khả năng hiện diện thuật ngữ là những từ chỉ sự vật, hiện tượng, khái niệm trong khoa học, kỹ thuật” Đến cuối những năm

1930 của thế kỷ 20, một lớp từ ngữ khoa học chính trị mới, có tính chất chuyên môn của Việt Nam đã hình thành Theo như cách nhận định của tác giả Lê Quang Thiêm

“đây là bộ phận quan trọng, cùng với một bộ phận nhỏ các từ ngữ chuyên môn khác như kinh tế, lịch sử, văn học, giáo dục….là bộ phận mở đầu cho sự hình thành hệ thuật ngữ khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam hiện đại” [108, tr 47]

Còn theo Hà Quang Năng [85,33], lịch sử tiếng Việt hiện đại nước ta trải qua bốn dấu mốc lớn, đó là: (i) Sự xuất hiện của người Pháp và sự ra đời của chữ quốc ngữ; (ii) Sau cách mạng tháng 8; (iii) Những năm 60 của thế kỉ 20 và sau năm 1985 Những cột mốc này đã ghi nhật sự phát triển mạnh mẽ của tiếng Việt, đó cũng là những dấu mốc quan trọng của lịch sử phát triển thuật ngữ tiếng Việt

Ở thời kỳ đầu, thuật ngữ tiếng Việt mới chỉ là một ít tập thuật ngữ đối chiếu thuộc một số ngành khoa học cơ bản như thuật ngữ khoa học kỹ thuật trong các tạp chí chuyên môn như “Khoa học tạp chí” (1931 – 1933) và “Báo khoa học” (1942-1943) Về thuật ngữ khoa học nước ngoài, thì có các tác giả, tác phẩm tiêu biểu như

“Danh từ khoa học (Toán, Lý, Hóa, Cơ, Thiên văn)” của Hoàng Xuân Hãn (1942);

“Danh từ khoa học” – phần Sinh vật, của Đào Văn Tiến (1942); Danh từ thực vật Pháp – Việt của Nguyễn Hữu Quán và Lê Văn Căn (1944) Trong đó, sự ra đời của

Trang 22

15

cuốn “Danh từ khoa học” đã đặt dấu mốc quyết định cho sự ra đời của hệ thuật ngữ

tiếng Việt ngày nay Trong đó, Hoàng Xuân Hãn lần đầu tiên đặt vấn đề xem xét các thuật ngữ khoa học kỹ thuật một cách có hệ thống Ông đã nêu lên 8 yêu cầu khi đặt một danh từ khoa học mới, chưa có trong tiếng Việt Đồng thời, lần đầu tiên ông đưa ra ba phương thức đặt thuật ngữ (bao gồm sử dụng từ thông thường, mượn

tiếng Hán và phiên âm từ các tiếng Ấn – Âu) Nói về vai trò của cuốn Danh từ khoa

học, tác giả Lê Quang Thiêm cho rằng:“Giá trị của cuốn Danh từ khoa họccnằm ở

chỗ không chỉ cung cấp vốn thuật ngữ một số ngành khoa học tự nhiên cơ bản mà còn lý luận về hệ thuật ngữ, về nguyên tắc và phương pháp xây dựng thuật ngữ tiếng Việt hiện đại” [108, tr 88]

Giai đoạn sau cách mạng tháng Tám, tiếng Việt được dùng rộng rãi trong mọi lĩnh vực đời sống chính trị, văn hóa, khoa học, giáo dục, tạo ra một bước phát triển mới, vô cùng mạnh mẽ của thuật ngữ tiếng Việt Việc chuyển dịch, soạn thuật ngữ phục vụ cho khoa học, giáo dục đã hình thành cơ sở đầu tiên cho thuật ngữ ngành, chuyên ngành Theo thống kê trong thời kỳ này, có tất cả 7 tập thuộc 5 ngành, được khoảng 4 vạn thuật ngữ, bao gồm các lĩnh vực y học, kinh tế - tài chính

và triết học Về các công trình công bố, xuất bản phẩm về thuật ngữ có thể kể đến:

Ở miền Bắc có Danh từ nông học Pháp – Việt (1948) của Bùi Huy Đáp, Danh từ y

học Pháp – Việt (1951) của Trịnh Đình Cung, Danh từ giải phẫu Pháp – Việt (Đỗ

Xuân Hợp)…; Ở miền Nam có Danh từ thực vật Pháp –Việt (1945) của tác giả Nguyễn Hữu Quán và Lê Văn Căn,Danh từ Toán học (1953) của Đào Trọng Đủ,

Danh từ kinh tế tài chính Pháp – Việt (1954) của Đào Trọng Hợi… [108, tr.145]

Đặc biệt là, từ sau khi hòa bình lập lại (1954), nước ta đã có bước phát triển mới về nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ khoa học Các hướng nghiên cứu tập

trung vào hai vấn đề: Một là, nghiên cứu lý luận về thuật ngữ để làm cơ sở cho hoạt động xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ; Hai là, thực tiễn xây dựng các hệ thống

thuật ngữ và biên soạn các từ điển thuật ngữ

Về tình hình phát triển thuật ngữ ở miền Nam sau năm 1954, ở thời kỳ này,

hoạt động giáo dục và khoa học ở miền Nam trong nhà trường và trong các cơ sở

Trang 23

16

khoa học vẫn sử dụng tiếng Pháp Về định hướng đặt, dịch thuật ngữ chủ yếu vẫn

theo quan niệm của Hoàng Xuân Hãn trong Danh từ khoa học Công trình được công bố sớm nhất là cuốn Danh từ chuyên khoa Việt ngữ (1958) của Đàm Quang

Hậu và Đào Trọng Đủ Trong công trình này, hai tác giả cho rằng phiên âm thuật ngữ khoa học phải xuất phát từ đặc điểm ngữ âm và chữ viết tiếng Việt hiện hành, song ý tưởng tiên phong này chưa nhận được nhiều sự quan tâm Ở miền Nam, người chính thức đặt vấn đề xây dựng thuật ngữ phải kể đến Lê Văn Thới Với tư

cách là thành viên “Ủy ban quốc gia soạn thảo danh từ chuyên môn” (thành lập

tháng 7-1960), Lê Văn Thới và Nguyễn Văn Dương đã công bố chính thức bản nguyên tắc đã được soạn thảo trước đó làm tài liệu chính thức cho công tác xây

dựng thuật ngữ khoa học ở miền Nam Việt Nam có tiêu đề: “Nguyên tắc soạn thảo

danh từ chuyên khoa” (xuất bản lần đầu năm 1963) Cùng với các quan niệm của

Đàm Quang Hậu, Đàm Trọng Đủ, tiếp sau là Nguyễn Hữu và Bùi Hữu Bích trong

Danh từ cơ thể học (1963) Có thể chỉ ra những điểm chính trong quan niệm của Lê

Văn Thới và Nguyễn Văn Dương như sau: 1 – Xác định vấn đề tiêu chuẩn cần phải

có của một thuật ngữ khoa học 2 – Vấn đề phương pháp tạo ra hệ thống thuật ngữ

3 – Vấn đề phiên âm thuật ngữ nước ngoài gốc Ấn – Âu ra tiếng Việt 4 – Vấn đề danh pháp hóa học, tên riêng trong thuật ngữ [108, tr.143]

Giai đoạn 1960-1984, Ủy ban khoa học Nhà nước đã ban hành “Bản quy

định tạm thời về nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên” (1960) và bản

“Nguyên tắc xây dựng thuật ngữ khoa học xã hội” Đây được coi là những văn bản

chính thức làm cơ sở hướng dẫn biên soạn thuật ngữ khoa học một cách thống nhất

Tại “Hội nghị bàn về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học” (tháng 12 năm 1964) do

Ủy ban khoa học Nhà nước tiến hành, Lưu Vân Lăng đã trình bày bản báo cáo đề

dẫn:“Về vấn đề dùng thuật ngữ khoa học nước ngoài” trong đó đề cập các nguyên

tắc xây dựng thuật ngữ, vấn đề dùng thuật ngữ khoa học nước ngoài, đặc biệt là có

nêu rõ 3 tiêu chuẩn đặt thuật ngữ: khoa học, dân tộc và đại chúng Thuật ngữ học và

các vấn đề liên quan được đưa ra trao đổi và bàn luận rộng rãi, tập trung vào các nội dung: khái niệm thuật ngữ, tiêu chuẩn của thuật ngữ, phương thức xây dựng thuật

Trang 24

17

ngữ, vấn đề vay mượn thuật ngữ nước ngoài, có nên chấp nhận hay không những yếu tố ngoại lai (các chữ cái J, F, W, Z; các tổ hợp phụ âm đầu br, cr, fr…) cho phù hợp với xu hướng quốc tế hóa mà vẫn dễ hiểu trong tiếng Việt

Giai đoạn sau năm 1985, đất nước ta phát triển nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập với kinh tế khu vực và toàn cầu Với sự bùng nổ của cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới, tiếng Việt đã không ngừng phát triển theo hướng hiện đại hoá, mở rộng chức năng và phạm vi hoạt động Trong giai đoạn này các từ điển thuật ngữ phát triển rầm rộ, đặc biệt là các từ điển song ngữ của các ngành kinh tế mũi nhọn, các ngành kinh tế mới phát triển như tin học, điện tử, viễn thông,

du lịch, thương mại…, trong đó có tới 55 cuốn là từ điển đối chiếu dịch thuật [Dẫn theo 80, tr.33]

Những cột mốc trên đã ghi nhận sự phát triển, sự lớn mạnh không ngừng của tiếng Việt, đó cũng là những dấu mốc quan trọng của lịch sử phát triển của thuật ngữ tiếng Việt với những thay đổi nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Với

cuốn “Danh từ khoa học”, Hoàng Xuân Hãn đã đặt nền móng đầu tiên cho những

nghiên cứu lý thuyết đối với thuật ngữ ở Việt Nam Kể từ đó đã ra đời nhiều công trình nghiên cứu trong lĩnh vực lý thuyết về thuật ngữ của các học giả tên tuổi như: Nguyễn Văn Tu, Vân Lăng, Như Ý, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Thiện Giáp, Lê Khả

Kế, Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu, Lê Quang Thiêm, Nguyễn Đức Tồn, Hà Quang Năng Nhìn chung, các nhà nghiên cứu về thuật ngữ ở Việt Nam thời kỳ này đã tập trung giải quyết các vấn đề về định nghĩa thuật ngữ, vị trí thuật ngữ trong ngôn ngữ, đặc điểm của thuật ngữ, sự hình thành thuật ngữ học, vấn

đề chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt v.v

Về tình hình phát triển thuật ngữ học tiếng Việt đầu thế kỷ 21

Bước sang thế kỉ thứ 21, trong xu thế toàn cầu hóa, với sự phát triển mạnh

mẽ của khoa học kĩ thuật và công nghệ, những vấn đề lý luận của thuật ngữ được đặc biệt quan tâm Việc nghiên cứu về thuật ngữ trong tiếng Việt trên bình diện lý thuyết đã có những thành tựu tương đối lớn với những công trình mang tính chất

Trang 25

từ ngữ nước ngoài trong tiếng Việt” [60], [61]

Năm 2009, tác giả Hà Quang Năng có công trình “Sự phát triển của từ vựng

tiếng Việt nửa sau thế kỉ XX”, trong đó có một chương khái quát về những chặng

đường phát triển của tiếng Việt, các con đường hình thành thuật ngữ tiếng Việt và những giải pháp cụ thể trong việc tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài vào tiếng Việt

Năm 2010, tác giả Lê Quang Thiêm đã hoàn thành công trình nghiên cứu “Sự

phát triển nghĩa từ vựng tiếng Việt từ 1945 đến 2005” Công trình bao quát sự biến

đổi nghĩa - một địa hạt trừu tượng gắn liền ngôn ngữ - tư duy - văn hoá trên một loại thực thể trọng tâm của ngữ nghĩa học: ngữ nghĩa học từ vựng Đây là công trình đầu tiên trong Việt ngữ học nghiên cứu công bố một cách bài bản, khoa học sự phát triển nghĩa từ vựng tiếng Việt trong vòng 60 năm qua

Năm 2013, trên cơ sở đề tài khoa học cấp Bộ “Một số vấn đề cơ bản về cơ sở

lí luận và phương pháp luận biên soạn các loại gồm từ điển và bách khoa thư Việt Nam” (PGS.TS Phạm Hùng Việt làm chủ nhiệm), cuốn sách “Thuật ngữ học – những vấn đề lí luận và thực tiễn” do Hà Quang Năng chủ biên được xuất bản Đây

là công trình nghiên cứu có tính chất tổng kết một số vấn đề cơ bản về thuật ngữ học, đồng thời cập nhật những vấn đề lý luận và thực tiễn của từ điển học thuật ngữ

ở Việt Nam và nước ngoài

Mời đây là tháng 5 năm 2015, trên cơ sở đề tài nghiên cứu khoa học cấp

Quốc gia về “Nghiên cứu hệ thuật ngữ tiếng Việt hiện đại nhằm góp phần xây dựng

nền văn hóa tri thức Việt Nam”, Lê Quang Thiêm đã viết cuốn “Sự phát triển hệ thuật ngữ tiếng Việt theo định hướng văn hóa (từ 1907 – 2005)” Đây là công trình

nghiên cứu lớn mà trong đó tác giả đã khái quát và phân tích quá trình phát triển thuật ngữ khoa học tiếng Việt trong hơn một thế kỷ qua Một cái nhìn xuyên suốt từ lúc hệ thống thuật ngữ tiếng Việt hiện đại phôi thai hình thành, khi chính sách khai

Trang 26

Luậ n vậ n đậ y đu ở file:Luậ n vậ n Full

Ngày đăng: 18/06/2018, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm