Trên cơ sở nguồn tư liệu thu được, chúng tôi thấy hiện chưa có công trình nghiên cứu thuật ngữ TTTV một cách toàn diện về mặt lý thuyết cũng như về cấu tạo, ngữ nghĩa và cách định danh..
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THANH HẢI
ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ THÔNG TIN - THƯ VIỆN ANH - VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Mã số: 9222024
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội, năm 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Quang Thiêm
Phản biện 1: GS TS Nguyễn Thiện Giáp
Phản biện 2: GS TS Bùi Minh Toán
Phản biện 3: PGS TS Phạm Văn Tình
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân,
Hà Nội
Vào hồi… giờ….ngày….tháng … năm …
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xu hướng hội nhập quốc tế đã đặt ra những yêu cầu các ngành khoa học cần phải
có sự hoàn thiện và phát triển hệ thống thuật ngữ khoa học tiếng Việt cho phù hợp với chuẩn mực chung của thế giới Là một ngành khoa học có lịch sử phát triển lâu đời, hệ thuật ngữ thông tin – thư viện (TTTV) cũng không nằm ngoài xu hướng đó 1.2 Sự thiếu nhất quán trong cách giải nghĩa, phiên âm, gọi tên các thuật ngữ TTTV được sao phỏng, vay mượn từ tiếng nước ngoài, đặc biệt là tiếng Anh còn phổ biến Bên cạnh đó, sự thiếu hụt các tài liệu chuyên môn như sách tham khảo, cẩm nang sử dụng thuật ngữ TTTV đã gây khó khăn cho việc giảng dạy và học tập cũng như phổ biến môn khoa học này
3.1 Trên cơ sở nguồn tư liệu thu được, chúng tôi thấy hiện chưa có công trình nghiên cứu thuật ngữ TTTV một cách toàn diện về mặt lý thuyết cũng như về cấu tạo, ngữ nghĩa và cách định danh
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài luận án “Đối chiếu thuật ngữ thông tin - thư viện Anh – Việt”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án đặt ra những nhiệm vụ cơ bản sau: 1 Khái quát tình hình nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ TTTV trên thế giới và ở Việt Nam; 2 Xác lập cơ sở lý luận cho luận án dựa trên các quan điểm lý luận về thuật ngữ và thuật ngữ TTTV Anh - Việt; 3 Miêu tả, phân tích các đặc điểm thuật ngữ TTTV Anh - Việt về mô hình cấu tạo, ngữ nghĩa và đặc điểm định danh; 4 Phân tích, đối chiếu thuật ngữ TTTVAnh – Việt về các phương diện cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa và phương thức định danh để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thuật ngữ trong cả hai ngôn ngữ;
3 Đối tượng, phạm vi và ngữ liệu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thuật ngữ TTTV tiếng Anh và tiếng Việt trên hai loại đơn vị từ vựng là từ và ngữ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ TTTV tiếng Anh và tiếng Việt trên hai phương diện: đặc điểm cấu tạo và đặc điểm, phương thức định danh để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau của hai hệ thuật ngữ này
Trang 4Ngữ liệu nghiên cứu của luận án là các thuật ngữ thu thập từ các cuốn từ điển song ngữ hoặc đa ngữ là từ điển giải thích Anh – Việt, Việt – Anh, Việt - Anh – Pháp Anh – Anh Ngoài ra, các thuật ngữ còn được thu thập từ những giáo trình chuyên ngành TTTV, các tài liệu, tạp chí, bài báo chuyên đề chuyên ngành TTTV bằng tiếng Anh và tiếng Việt
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu luận án áp dụng tổng hợp các phương pháp sau: 1 Phương pháp so sánh đối chiếu, 2 Phương pháp miêu tả, 3.Phương pháp phân tích theo thành tố cấu tạo
Ngoài ra, để thực hiện luận án một cách khoa học và chính xác luận án còn áp dụng thủ pháp thống kê từ vựng kết hợp với phân tích, tổng hợp mô hình hóa, lập bảng biểu để đưa ra kết quả phân tích nghiên cứu
5 Đóng góp của luận án
Luận án dự kiến sẽ có những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn như sau:
Về lý luận, kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện lý thuyết về về ngôn ngữ học
nói chung và thuật ngữ học nói riêng, từ đó góp phần cung cấp các luận cứ khoa học cho việc xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học ở Việt Nam
Về thực tiễn, luận án sẽ có đóng góp nhất định cho công tác nghiên cứu thuật ngữ,
công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu của giảng viên, sinh viên, các nhà khoa học ngành khoa học TTTV Đồng thời kết quả nghiên cứu của luận án cũng là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho những những người có quan tâm đến sự phát triển và xây dựng hệ thuật ngữ khoa học tiếng Việt
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới
Thuật ngữ học bắt đầu được hình thành và khẳng định như một ngành khoa học vào những năm 1930 của thế kỷ 20 Các hoạt động nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới thời kỳ đầu tập trung ở hai trung tâm thuật ngữ học lớn đặt tại Áo và Liên
Xô Những nghiên cứu về thuật ngữ được các nhà học giả Xô Viết, Cộng hòa Séc
và Áo thực hiện, hình thành nên ba trường phái lý thuyết thuật ngữ học: trường phái thuật ngữ học Áo, trường phái thuật ngữ học Xô-viết và trường phái thuật ngữ học Cộng hòa Séc
Trang 5Nhà khoa học người Áo E Wuster (1898 - 1977) được coi là người đặt nền móng cho sự phát triển của ngành thuật ngữ học Giai đoạn từ năm 1975 đến năm
1985 là giai đoạn đánh dấu sự phát triển rực rỡ của thuật ngữ học với các công trình nghiên cứu về thuật ngữ của nhà khoa học tên tuổi của Xô Viết như D.S Lotte, A.A Reorfomaxki, T Kogotkova, A.S Gerd, …
Giai đoạn năm 1985 - cuối thế kỷ 20, thuật ngữ học đã phát triển rộng hơn với những đóng góp đáng kể của các nhà thuật ngữ học Âu – Mỹ như Brown R.W, Sager J.C, Cabré T.W Ngoài việc định nghĩa thuật ngữ, nêu bản chất khái niệm và chức năng của chúng, các nghiên cứu giai đoạn này theo hướng tới tìm và xác định các tiêu chuẩn cụ thể cần phải có của thuật ngữ và công tác chuẩn hóa thuật ngữ
Bước sang thế kỷ 21,trong xu hướng toàn cầu hoá, hợp tác quốc tế trong nghiên cứu về thuật ngữ được mở rộng, khởi đầu cho những lý thuyết mới về thuật ngữ học Đại diện cho trường phái nghiên cứu mới về thuật ngữ học tiêu biểu có Cabré T.W., Antia, Temmerman…
Lý thuyết mới có tên gọi là thuật ngữ học theo đường hướng giao tiếp
(Communicative theory of terminology) đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới Các
nghiên cứu về thuật ngữ trong giai đoạn này được tiến hành theo ba hướng tiếp cận
cơ bản: thuật ngữ học theo hướng ngôn ngữ học (lingusitic approach); thuật ngữ học
theo hướng dịch thuật (translation-oriented approach) và thuật ngữ học theo hướng kế
hoạch hóa ngôn ngữ (language planning)
1.1.2.Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam
Ở Việt Nam, thuật ngữ khoa học tiếng Việt bắt đầu hình thành đầu thế kỷ XX Theo tác giả Hà Quang Năng, lịch sử tiếng Việt hiện đại trải qua bốn dấu mốc lớn, đó là: (i) Sự xuất hiện của người Pháp và sự ra đời của chữ quốc ngữ; (ii) Sau cách mạng tháng 8; (iii) Những năm 60 của thế kỉ 20 và sau năm 1985 Những giai đoạn này đã ghi nhật sự phát triển mạnh mẽ của tiếng Việt, đó cũng là những dấu mốc quan trọng của lịch sử phát triển thuật ngữ tiếng Việt
Với sự ra đời của cuốn “Danh từ khoa học” (1942), Hoàng Xuân Hãn có thể
coi là người học giả đầu tiên đặt vấn đề xem xét các thuật ngữ khoa học kỹ thuật một cách có hệ thống khi ông nêu lên 8 yêu cầu khi đặt một danh từ khoa học mới, chưa
có trong tiếng Việt và ba phương thức đặt thuật ngữ
Sau cách mạng tháng 8, đặc biệt là, từ sau khi hòa bình lập lại (1954), nước ta đã
có bước phát triển mới về nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ khoa học Các hướng
nghiên cứu tập trung vào hai vấn đề: Một là, nghiên cứu lý luận về thuật ngữ để làm
cơ sở cho hoạt động xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ; Hai là, thực tiễn xây dựng các
hệ thống thuật ngữ và biên soạn các từ điển thuật ngữ
Ở miền Nam sau 1954, người chính thức đặt vấn đề xây dựng thuật ngữ phải kể đến Lê Văn Thới và Nguyễn Văn Dương với việc đưa ra bản nguyên tắc xây dựng
thuật ngữ khoa học ở miền Nam Việt Nam có tiêu đề: “Nguyên tắc soạn thảo danh từ
Trang 6Sau năm 1985, trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, sự bùng nổ của cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới, tiếng Việt đã không ngừng phát triển theo hướng hiện đại hoá, mở rộng chức năng và phạm vi hoạt động
Trong giai đoạn này, các từ điển thuật ngữ phát triển rầm rộ, đặc biệt là các từ điển song ngữ của các ngành kinh tế mũi nhọn, như tin học, điện tử, viễn thông, du lịch, thương mại … Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong lĩnh vực lý thuyết về thuật ngữ học được thực hiện bởi những học giả tên tuổi như Nguyễn Văn Tu, Vân Lăng, Như Ý, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Thiện Giáp, Lê Khả Kế, Đái Xuân Ninh,
Đỗ Hữu Châu, Lê Quang Thiêm, Nguyễn Đức Tồn, Hà Quang Năng Những nghiên cứu thuật ngữ thời kỳ này tập trung giải quyết các vấn đề về định nghĩa thuật ngữ, vị trí thuật ngữ trong ngôn ngữ, đặc điểm của thuật ngữ, sự hình thành thuật ngữ học, vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt v.v
Về sự phát triển thuật ngữ học tiếng Việt đầu thế kỷ 21, trên bình diện lý thuyết
đã có những công trình mang tính chất tổng kết và phát triển rất sâu của Lê Quang Thiêm, Nguyễn Đức Tồn, Hà Quang Năng, Nguyễn Văn Khang, Phạm Hùng Việt… Bên cạnh đó số lượng những công trình luận án nghiên cứu về thuật ngữ cũng tăng đáng kể Vấn đề tìm hiểu và xây dựng hệ thuật ngữ chuyên ngành, đã trở thành một xu hướng nghiên cứu mới Các hướng nghiên cứu được tiến hành chủ yếu trên các phương diện: Cấu tạo thuật ngữ, chuẩn hóa thuật ngữ và một số công trình lý luận
về thuật ngữ chuyên ngành như thuật ngữ doanh nghiệp; về từ vựng và hiện tượng ngữ pháp trong văn bản chuyên môn v.v…
Đặc biệt là có những công trình luận án đã nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ trong tiếng Việt với thuật ngữ trong các ngôn ngữ khác dưới góc độ ngôn ngữ học và tương đương dịch thuật Trên cơ sở khảo sát, đối chiếu giữa các hệ thuật ngữ chuyên ngành, các tác giả hướng tới việc xác lập cơ sở xây dựng thuật ngữ mới, chuẩn hóa các hệ thuật ngữ chưa đạt, làm giàu thêm thuật ngữ tiếng Việt
1.1.3 Tình hinh nghiên cứu thuật ngữ TTTV
1.1.3.1 Tình hinh nghiên cứu thuật ngữ TTTV tiếng Anh
Tiếng Anh chuyên ngành được phát triển từ thời gian đầu những năm 1960 khi việc sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ khoa học quốc tế tăng nhanh Là một bộ phận của vốn từ của ngôn ngữ Anh, việc hệ thuật ngữ TTTV tiếng Anh cũng có điều kiện phát triển Tuy nhiên, có thể nói hầu hết các công trình nghiên cứu về khoa học TTTV tập trung vào các vấn đề như lịch sử hình thành và phát triển, cơ sở lý thuyết
và ứng dụng trong hoạt động của ngành TTTV, công tác chuyên môn- nghiệp vụ… Cho đến nay, chúng tôi chưa tìm thấy một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu sâu về thuật ngữ TTTV dưới góc độ ngôn ngữ học hay có sự đánh giá về tính chính xác của thuật ngữ, vấn đề đặt thuật ngữ hay phiên chuyển nó từ tiếng Anh sang các ngôn ngữ khác hoặc ngược lại v.v… Mặc dù vậy, những kết quả trong công tác biên soạn từ điển thuật ngữ tiếng Anh lại rất đáng ghi nhận Nhiều từ điển chuyên ngành,
từ điển giải thích chuyên ngành TTTV đã ra đời Điển hình là cuốn “The ALA
Trang 7Glossary of Library and Information Science” , 1996 - Michael Levine-Clark và Toni
M Carter, NXB Galen Press, Ltd;
1.1.3.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ TTTV tiếng Việt
Nếu như trong tiếng Anh chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu sâu
về thuật ngữ TTTV theo hướng tiếp cận lý thuyết trên phương diện ngôn ngữ học thì trong tiếng Việt tình hình cũng tương tự
Một số nhà thư viện học Việt Nam quan tâm đến hệ thuật ngữ TTTV và đề cập đến tình trạng khi phiên chuyển từ ngôn ngữ nước ngoài có sự không chặt chẽ, chẳng hạn thuật ngữ “Nguồn lực thông tin” hay “Tài nguyên thông tin” (tiếng Anh là Information Resources) Đồng thời, các nhà khoa học cũng đề xuất ý kiến thử chuẩn hóa một số thuật ngữ trong TTTV Tuy nhiên, kết quả của những công trình nghiên cứu ở Việt Nam về hệ thuật ngữ này mới chỉ là những cuốn từ điển đối chiếu song ngữ, đa ngữ hay từ điển giải thích với các thứ tiếng nước ngoài như: Nga, Anh, Pháp
1.2 Lý luận chung về thuật ngữ và thuật ngữ TTTV
1.2.1 Khái niệm thuật ngữ
Trong luận án này, thuật ngữ được chúng tôi hiểu như sau: Thuật ngữ là những
từ và cụm từ biểu thị chính xác các khái niệm hoặc đối tượng chuyên môn của một ngành khoa học, hoặc một lĩnh vực chuyên môn nhất định thuộc các ngành khoa học
kỹ thuật, công nghệ, dịch vụ v.v…”
1.2.2 Khái niệm thuật ngữ TTTV
Thuật ngữ TTTV được hiểu “là những từ và cụm từ cố định gọi tên chính xác các loại khái niệm, các đối tượng thuộc lĩnh vực TTTV gồm có các hoạt động thông tin - thư viện cùng với các chủ thể hoạt động, các tổ chức và các sản phẩm và dịch
vụ liên quan”
1.2.3 Các tiêu chuẩn của thuật ngữ và thuật ngữ TTTV
Chúng tôi thống nhất rằng thuật ngữ khoa học tiếng Việt nói chung và thuật ngữ
TTTV nói riêng cần có ba tiêu chuẩn là: tính khoa học, tính quốc tế và tính dân tộc
1.2.4 Phương thức xây dựng thuật ngữ khoa học
Thuật ngữ khoa học, cụ thể là thuật ngữ TTTV được tạo lập theo ba phương
thức cơ bản đó là phương thức thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường; Tạo lập thuật ngữ
trên cơ sở ngữ liệu vốn có và vay mượn thuật ngữ khoa học nước ngoài
1.2.5 Thuật ngữ và thuyết định danh
1.2.5.1 Khái niệm định danh
Theo cách hiểu thông thường, định danh là cách đặt tên gọi cho một sự vật, hiện tượng Trong quá trình tiếp xúc với các sự vật, hiện tượng, con người đã phát hiện và tổng hợp được những đặc trưng cơ bản của chúng Khi con người định danh những sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên, chỉ những đặc trưng bản chất, có ý nghĩa khu biệt các sự vật, hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác được lựa chọn
1.2.5.2 Nguyên lý định danh
Trang 8Định danh trong ngôn ngữ trước hết là quá trình tự tạo từ ngữ trong một ngôn ngữ để gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm tồn tại trong thế giới tự nhiên, trong xã hội, phân biệt chúng với nhau nhờ cái vỏ âm thanh của ngôn ngữ Và “quá trình định
danh một sự vật, tính chất hay quá trình gồm hai bước: quy loại khái niệm và chọn
đặc trưng khu biệt”
1.2.6 Đơn vị cấu tạo thuật ngữ TTTV Anh – Việt
Chúng tôi gọi đơn vị cơ sở để cấu tạo thuật ngữ TTTV là thuật tố Đây là thành
tố trực tiếp cấu tạo cuối cùng của một thuật ngữ Mỗi thuật tố - yếu tố cấu tạo thuật
ngữ biểu hiện một khái niệm/ đối tượng hoàn chỉnh hoặc có biểu hiện khái niệm bộ phận hay đặc trưng của khái niệm hay đối tượng được thuật ngữ định danh trong một
lĩnh vực khoa học hay chuyên môn Chúng tôi hiểu rằng mỗi thuật tố là một thực từ
dùng để biểu đạt khái niệm chuyên môn, đồng thời là đơn vị tham gia vào cấu tạo các
thuật ngữ khác nhau trong một lĩnh vực khoa học, chuyên môn
1.3 Lý thuyết chung về ngôn ngữ học đối chiếu
1.3.1 Khái niệm ngôn ngữ học đối chiếu
Ngôn ngữ học đối chiếu là sự nghiên cứu liên ngôn ngữ (interlanguage study) Ngôn ngữ học đối chiếu không chỉ đơn thuần là ngôn ngữ học ứng dụng mà thực chất
có thể nói là thuộc cả hai lĩnh vực: ngôn ngữ học lý thuyết (pure/theoretical linguistics) và ngôn ngữ học ứng dụng (applied linguistics)
1.3.2 Xác định các nguyên tắc đối chiếu
Luận án xác định bốn nguyên tắc cơ bản làm cơ sở đối chiếu trong luận án là: Nguyên tắc 1: Phải miêu tả một cách đầy đủ, chính xác và sâu sắc các phương tiện trong hai ngôn ngữ được đối chiếu;
Nguyên tắc 2: Phải đặt các phương tiện ngôn ngữ được đối chiếu trong hệ thống; Nguyên tắc 3: Phải xem xét các phương tiện ngôn ngữ được đối chiếu trong hoạt động giao tiếp;
Nguyên tắc 4: Phải đảm bảo tính nhất quán trong vận dụng các phương pháp và
mô hình lý thuyết để miêu tả các ngôn ngữ được đối chiếu
1.3.3 Xác định phạm vi đối chiếu
Phạm vi đối chiếu được thể hiện trong việc xác định ngôn ngữ được đối chiếu
Có hai hướng cơ bản để lựa chọn ngôn ngữ đối chiếu: Một là, “lấy một ngôn ngữ làm
cơ sở chỉ đạo, ngôn ngữ này là ngôn ngữ đối tượng cần phân tích, làm sáng tỏ Ngôn ngữ (hay các ngôn ngữ) còn lại sẽ là phương tiện, là điều kiện cho phép làm sáng tỏ
đặc điểm ngôn ngữ đối tượng; Hai là, “phân tích đối chiếu song song cả hai ngôn
ngữ Phương thức đối chiếu này thường được thực hiện với các ngôn ngữ cùng loại hình, các ngôn ngữ có cùng hoặc gần gũi về ngữ hệ
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, luận án đã trình bày về tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam nói chung và thuật ngữ TTTV tiếng Anh và tiếng Việt nói riêng Ngoài ra, trên cơ sở phân tích quan điểm thuật ngữ học của các nhà nghiên cứu trong
Trang 9và ngoài nước, luận án đã trình bày một cái nhìn tổng quan những vấn đề lí luận về thuật ngữ học, thuật ngữ thông tin - thư viện và những vấn đề liên quan làm cơ sở và khung lí thuyết cho việc nghiên cứu, đối chiếu thuật ngữ TTTV Anh – Việt
CHƯƠNG 2 ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO THUẬT NGỮ THÔNG TIN – THƯ VIỆN
ANH – VIỆT
2.1 Đối chiếu phương thức cấu tạo thuật ngữ TTTV tiếng Anh và tiếng Việt 2.1.1 Phương thức cấu tạo thuật ngữ TTTV Anh – Việt ở bậc từ
2.1.1.1 Thuật ngữ thông tin - thư viện tiếng Anh là từ
Tiếng Anh là loại ngôn ngữ biến hình, đa âm tiết Mỗi từ trong tiếng Anh được tạo ra nhờ một hoặc một số hình vị kết hợp với nhau theo những nguyên tắc nhất
định Theo Bloomfield, “Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa và/hoặc có
giá trị (chức năng) về mặt ngữ pháp” Như vậy cũng có thể hiểu hình vị là đơn vị
cuối cùng khi phân tích thành tố cấu tạo nên thuật ngữ TTTV là từ trong tiếng Anh
Thuật ngữ TTTV Tiếng Anh (TA) là từ bao gồm ba loại là từ đơn, từ ghép và
từ phái sinh Xét trên quan điểm của Bloomfield thì từ đơn trong tiếng Anh chính là
các hình vị độc lập, mỗi từ là một hình vị, ví dụ: card (thẻ), entry (đề mục), subject (chủ đề), v.v… TTTV TA chủ yếu được tạo lập theo hai phương thức
(i) Phương thức phụ gia
Phương thức phụ gia là phương thức kết hợp một căn tố với phụ tố (tiền tố -
prefix, hậu tố - sufix, trung tố -infix) để tạo ra từ mới Phụ tố có chức năng làm thành
tố cấu tạo nên thuật ngữ là từ phái sinh và mỗi phụ tố khi tham gia cấu tạo từ đều có một ý nghĩa riêng và cách kết hợp ổn định Theo ngữ liệu thống kê, thuật ngữ TTTV
là từ phái sinh chủ yếu tạo lập từ các tiền tố và hậu tố, trong đó hậu tố có tần suất sử
dụng cao hơn
(ii) Phương thức ghép
Ghép là phương thức kết hợp hai hay nhiều hình vị với nhau theo một trật tự
nhất định để tạo ra từ mới – từ ghép (chủ yếu là kết hợp các căn tố) Đây là phương thức được sử dụng phổ biến trong các ngôn ngữ Ví dụ: copyright: bản quyền;
Editor-in-chief: tổng biên tập, content note: chú giải nội dung
Bên cạnh đó, phương thức chuyển loại cũng được sử dụng để tạo thuật ngữ, TTTV TA
2.1.1.2 Thuật ngữ thông tin - thư viện tiếng Việt là từ
Chúng tôi khảo sát thuật ngữ TTTV tiếng Việt theo hai kiểu cấu tạo từ là từ
đơn và từ ghép Trong tiếng Việt, từ đơn là từ “gồm những tiếng vừa có nghĩa, vừa
độc lập Theo Nguyễn Tài Cẩn “từ ghép là một đơn vị phối hợp, có tổ chức nội tại:
trong từ ghép bao giờ cũng có thể tìm ra ít nhất là hai tiếng được kết hợp với nhau
Trang 10theo một quan hệ này hay quan hệ nọ Trên cơ sở quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn từ
ghép được phân làm hai loại chính là từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ
Tương tự, thuật ngữ TTTV tiếng Việt là từ ghép được cấu tạo theo quan hệ đẳng
lập và quan hệ chính phụ Thuật ngữ là từ ghép đẳng lập là những thuật ngữ được
hình thành dựa trên quan hệ đẳng lập, quan hệ giữa các thành tố tham gia tổ hợp là
bình đẳng nhau cả về cấu trúc, từ loại và nội dung ngữ nghĩa, ví dụ: nguồn gốc, sao
chép, bình luận, v.v… Thuật ngữ là từ ghép chính phụ là thuật ngữ gồm có hai thành
tố, trong đó có một thành tố chính biểu thị loại lớn, một thành tố phụ có nhiệm vụ chi
tiết hóa, cụ thể hóa, sắc thái hóa thành tố chính Ví dụ: máy in, máy sao chụp,…
2.1.2 Phương thức cấu tạo thuật ngữ TTTV Anh – Việt ở bậc ngữ
2.1.2.1 Thuật ngữ TTTV tiếng Anh là ngữ
Kết quả thống kê cho thấy, thuật ngữ TTTV là danh ngữ chiếm đa số (khoảng hơn 80%) Số lượng thuật ngữ thông tin - thư viện là động ngữ chiếm số lượng nhỏ
và hầu như không có thuật ngữ TTTV là tính ngữ, trạng ngữ hay giới ngữ, Ví dụ:
- associative retrieval system: hệ thống tìm tin liên kết (danh ngữ)
- reissue under a new title: tái bản theo tên mới (động ngữ)
2.1.2.2 Thuật ngữ TTTV tiếng Việt là ngữ
Giống như trong tiếng Anh, ngữ là đơn vị từ vựng có thể là chất liệu cơ sở để
tạo câu trong tiếng Việt Kết quả khảo sát sơ bộ hệ thuật ngữ TTTV là ngữ trong tiếng Việt, chúng tôi không thấy các kiểu cấu tạo là trạng ngữ hay giới ngữ, nên chúng tôi chỉ đi sâu vào tập trung khảo sát, phân tích mô hình cấu tạo thuật ngữ TTTV tiếng Việt là danh ngữ, động ngữ và tính ngữ
2.1.3 Đánh giá điểm tương đồng và khác biệt về phương thức cấu tạo thuật ngữ
2.2 Đối chiếu đặc điểm cấu tạo thuật ngữ TTTV Anh – Việt
2.2.1 Đối chiếu đặc điểm cấu tạo thuật ngữ TTTV Anh – Việt xét về số lượng thuật tố
Bảng 2.1 Số lượng thuật tố cấu tạo thuật ngữ TTTV tiếng Anh
Số thuật ngữ Tỷ lệ %
Trang 113 thuật tố 240 16.00
Bảng 2.2 Số lượng thuật tố cấu tạo thuật ngữ TTTV tiếng Việt
Số thuật tố Tiếng Việt
Dựa trên các số liệu thống kê trong bảng 2.1 và 2.1, có thể thấy điểm chung hai
hệ thuật ngữ này đó là thuật ngữ TTTV tiếng Anh và tiếng Việt đều có số thuật ngữ
có cấu tạo 2 thuật tố chiếm đa số Tuy nhiên, xét về số lương thuật tố, thuật ngữ TTTV tiếng Anh có cấu tạo ngắn gọn hơn thuật ngữ TTTV tiếng Việt Thuật ngữ TTTV tiếng Anh có độ dài tối đa là 4 thuật ngữ, trong khi ở tiếng Việt, độ dài tối đa của một thuật ngữ là 5 thuật tố
2.2.2 Đối chiếu đặc điểm cấu tạo thuật ngữ TTTV Anh – Việt về đặc điểm từ loại 2.2.2.1 Thuật ngữ TTTV là từ
Thuật ngữ TTTV là từ trong tiếng Anh gồm ba kiểu đơn vị từ là từ đơn, từ ghép
và từ phái sinh Thuật ngữ TTTV TA là từ ghép được tạo lập theo cách thức kết hợp
cơ bản sau:
Bảng 2.3 Phương thức kết hợp thuật ngữ thông tin - thư viện là từ ghép
1 Danh từ + Danh từ copyright: bản quyền,
2 Danh từ + Danh động từ press-cutting: bài báo cắt
3 Tính từ + Danh từ ancient materials: tư liệu cổ
4 Tính từ + Danh động từ annual numbering: đánh số theo năm
5 Danh từ + Giới từ + Danh từ Editor-in-Chief: Tổng biên tập
6 Động từ + Giới từ paste-in: trang phụ đính;
7 Động từ + Danh từ imprint date: năm xuất bản
8 Danh từ + Động từ booklet: sách nhỏ; leaflet: tờ rơi
Chúng tôi thống kê từ loại thuật ngữ TTTV Anh – Việt một thuật tố như sau:
Trang 12Thuật ngữ Từ loại Số lượng Tỷ lệ %
Thuật ngữ TTTV TV 1 thuật tố được tổng hợp theo bảng dưới đây:
Bảng 2.5 Thống kê từ loại thuật ngữ TTTV tiếng Việt 1 thuật tố
Trang 13(1)Thuật ngữ TTTV hai thuật tố
a Thuật ngữ TTTV tiếng Anh
Bảng 2.6 Thống kê từ loại của thuật ngữ TTTV tiếng Anh 2 thuật tố
Động từ + Giới từ + Danh từ 6 0,40
b Thuật ngữ TTTV tiếng Việt
Bảng 2.7 Thống kê từ loại của thuật ngữ TTTVtiếng Việt 2 thuật tố
Bảng 2.8 Thống kê từ loại thuật ngữ TTTV ba thuật tố
Bảng 2.9 Thống kê từ loại thuật ngữ TTTV bốn thuật tố
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %