1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luật dân sự về tài sản

15 123 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 131,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

em xin chọn đề tài: “Phân loại tài sản, nêu ý nghĩa của sự phân loại và cho ví dụ minh họa” Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, tự tin bước vào quá trình hội nhập và phát triển trên tất cả các lĩnh vực. Trong xu hướng nổi bật đó, hệ thống pháp luật Quốc gia nói chung và pháp luật về tài sản nói riêng cũng đang dần hoàn thiện để điều chỉnh kịp thời và định hướng các quan hệ xã hội giữa các chủ thể phát triển tốt đẹp hơn. Cùng với sự phát triển của xã hội dân sự, vai trò của tài sản cũng ngày càng được coi trọng, trong khoa học pháp lý, tài sản là đối tượng của quyền sở hữu, đáp ứng được nhu cầu của con người và có thể đưa vào trong giao lưu dân sự. Cùng với đó, các chế định về quyền tài sản nói chung và chế định về phân loại tài sản nói riêng cũng ngày càng được quan tâm và nghiên cứu sâu rộng. Trên bước đà đó, chúng ta cần đẩu mạnh nghiên cứu, nâng cao nhận thức về pháp luật dân sự nói chung và chế định về tài sản nói riêng. Để nâng cao nhận thức về tài sản nói chung và phân loại tài sản nói riêng trong pháp luật dân sự Việt Nam

Trang 1

MỞ ĐẦU

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, tự tin bước vào quá trình hội nhập và phát triển trên tất cả các lĩnh vực Trong xu hướng nổi bật đó, hệ thống pháp luật Quốc gia nói chung và pháp luật về tài sản nói riêng cũng đang dần hoàn thiện để điều chỉnh kịp thời và định hướng các quan hệ xã hội giữa các chủ thể phát triển tốt đẹp hơn Cùng với sự phát triển của xã hội dân sự, vai trò của tài sản cũng ngày càng được coi trọng, trong khoa học pháp lý, tài sản là đối tượng của quyền sở hữu, đáp ứng được nhu cầu của con người và có thể đưa vào trong giao lưu dân sự Cùng với đó, các chế định về quyền tài sản nói chung và chế định về phân loại tài sản nói riêng cũng ngày càng được quan tâm và nghiên cứu sâu rộng Trên bước đà

đó, chúng ta cần đẩu mạnh nghiên cứu, nâng cao nhận thức về pháp luật dân sự nói chung và chế định về tài sản nói riêng Để nâng cao nhận thức về tài sản nói chung

và phân loại tài sản nói riêng trong pháp luật dân sự Việt Nam, em xin chọn đề tài:

Phân loại tài sản, nêu ý nghĩa của sự phân loại và cho ví dụ minh họa”

để làm bài tập học kì của mình

NỘI DUNG

1 Khái niệm về tài sản

Khái niệm tài sản còn được đề cập tại Điều 105 Bộ luật Dân sự (sau đây được viết

là BLDS) 2015, theo đó “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”1

2. Các đặc điểm của tài sản

- Con người có thể chiếm hữu được: Tất cả các sự vật tồn tại trong thế giới khách quan nếu tồn tại trong trạng thái không ai chiếm hữu thì các sự vật đó không thể là tài sản mặc dù chúng rất có lợi ích cho cuộc sống Tuy nhiên, khi chúng được chiếm hữu thì chúng là tài sản

- Đáp ứng nhu cầu tinh thần hoặc vật chất cho con người: Mục đích sở hữu tài sản của con người bao giờ cũng là bằng tài sản đó, con người có thể thỏa mãn nhu cầu

về vật chất hoặc tinh thần của mình

1 Bộ luật Dân sự 2015

Trang 2

- Tài sản đó phải định giá được thành tiền thành tiền: Với tư cách là một vật ngang giá, tiền là thước đo giá trị của tài sản cho nên, tất cả các sự vât chỉ được coi là tài sản nếu chúng có thể trị giá thành một khoản tiền nhất định nào đó

- Khi chúng không còn tồn tại thì quyền sở hữu bị chấm dứt: Quyền sở hữu chỉ tồn tại khi tài sản thuộc quyền sở hữu đó còn tồn tại và vì vậy, quyền sở hữu sẽ bị chấm dứt ngay khi tài sản thuộc quyền sở hữu đó chấm dứt sự tồn tại của nó Thuộc tính này cho phép chúng ta phân biệt một giấy tờ có giá là tài sản với một giấy tờ có giá không phải là tài sản.2

II PHÂN LOẠI TÀI SẢN Ý NGHĨA CỦA SỰ PHÂN LOẠI VÍ DỤ

MINH HỌA TỪNG LOẠI TÀI SẢN.

1 Phân loại tài sản theo hình thức tồn tại

Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”

a Vật

Vật là một khái niệm để chỉ các đối tượng tồn tại hiện hữu dưới dạng vật chất có thể cảm nhận được bằng các giác quan và được giới hạn, quy định bằng hình dáng, kích thước, màu sắc Vật dưới góc độ vật lý học có thể là bất kỳ đối tượng nào của thế giới vật chất được hữu hình hóa Nhưng vật chỉ trở thành tài sản khi nó mang một giá trị và có thể trở thành đối tượng trong giao lưu dân sự

Bộ luật Dân sự 2015 phân loại vật dựa trên các tiêu chí sau:

Thứ nhất: Dựa trên phương thức có được tài sản, phân biệt vật thành hoa lợi và lợi tức Hoa lợi là sản vật mà tự bản thân tài sản sinh ra không phụ thuộc vào tác động

từ phía con người Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản Tự bản thân tài sản không thể sinh ra lợi tức nếu không có hành vi khai thác, sử dụng của chủ sở hữu.Việc phân loại tài sản thành tài sản gốc, hoa lợi, lợi tức có ý nghĩa trong việc xác định quyền của người sử dụng, chiếm hữu tài sản nhưng không phải

là chủ sở hữu

Thứ hai: Căn cứ vào vị trí, vai trò và giá trị của vật, chia vật thành vật chính và vật phụ Vật chính là vật độc lập, có thể khai thác công dụng theo tính năng Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính, nhưng có thể tách rời vật chính Việc phân biệt vật chính và vật phụ

2 TS Phạm Văn Tuyết- TS Lê Kim Giang, Hướng dẫn môn học Luật Dân sự tập 1, nxb Tư pháp, Hà Nội, 2015, trang 195-197

Trang 3

có ý nghĩa xác định nghĩa vụ chuyển giao tài sản Theo đó, khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính thì đương nhiên phải chuyển giao cả vật phụ mà không cần

có thêm sự thỏa thuận nào khác

Thứ ba: Căn cứ vào tính chất, thuộc tính tồn tại bền vững của vật, chia vật thành vật tiêu hao và vật không tiêu hao Vật tiêu hao là vật khi đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc không giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu Vật tiêu hao không thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng cho mượn Vật không tiêu hao là vật khi đã qua sử dụng nhiều lần mà cơ bản vẫn giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu Vật tiêu hao chỉ có thể là đối tượng của giao dịch mua bán, tặng cho mà không thể là đối tượng của hợp đồng cho thuê, cho mượn Cũng có trường hợp vật tiêu hao trở thành đối tượng của hợp đồng cho vay Nhưng khi người đi vay thực hiện nghĩa vụ hoàn trả không nhất thiết phải trả chính vật đã vay mà thường là hoàn trả vật cùng loại có cùng tính chất

Thứ tư: Căn cứ và hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng của vật, chia vật thành vật cùng loại và vật đặc định Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những đơn vị đo lường Vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí… Phân biệt vật thành vật cùng loại và vật đặc định có ý nghĩa trong việc xác định nghĩa vụ chuyển giao vật, thời điểm chuyển quyền sở hữu trong các giao dịch mua bán, cho thuê, cho mượn Một vật đặc định khi cần được chuyển giao thì phải được chuyển giao đúng vật đó, còn đối với vật cùng loại chỉ cần được chuyển giao đủ và đúng loại Ngoài ra, việc bù trừ nghĩa vụ về tài sản giữa các chủ thể có nghĩa vụ với nhau lại chỉ có thể được thực hiện đối với nghĩa vụ có đối tượng tài sản là vật cùng loại

Thứ năm: Vật đồng bộ, xây dựng khái niệm vật đồng bộ là vật gồm các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các

bộ phận hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút Xây dựng khái niệm vật đồng bộ có ý nghĩa trong việc xác định nghĩa vụ chuyển giao vật trong giao dịch dân sự Theo đó, khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ thì phải chuyển giao toàn bộ các phần hoặc bộ phận hợp thành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Trường hợp một bên vi phạm nghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật

b Tiền

Trang 4

Tiền được sử dụng hàng ngày trong đời sống sinh hoạt, lao động và sản xuất của con người Để trở nên phổ biến như ngày nay nó đã trải qua một giai đoạn phát triển lâu dài từ hình thái tồn tại đầu tiên là những thỏi kim loại do các gia đình tự đúc lấy làm phương tiện thanh toán trong xã hội La Mã cổ đến hình thái tồn tại là giấy, polime do nhà nước độc quyền phát hành trong xã hội hiện đại Tiền là một loại tài sản có giá trị đặc biệt và là vật trao đổi trung gian trong các giao dịch dân

sự và thương mại, do đó nó chức năng cơ bản và quan trọng nhất là chức năng thanh toán Bên cạnh đó người ta cũng nhắc đến các chức năng định giá, bảo toàn giá trị như là những chức năng không thể thiếu của tiền

Trong luật dân sự Việt Nam, tiền được xem là một loại tài sản và có những đặc điểm khác với vật:

- Đối với vật thì người ta có thể khai thác công dụng hữu ích từ chính vật đó nhưng đối với tiền thì không thể khai thác công dụng do tiền bản thân không có công dụng hữu ích nào Tiền chỉ được sử dụng như một phương tiện trao đổi của con người Do đó khái niệm “quyền sử dụng” chỉ được áp dụng phần nào với tiền và không thể hoàn chỉnh, trọn vẹn như đối với vật

- Việc chuyển giao tiền bao giờ cũng kèm theo việc chuyển giao quyền sở hữu trừ trường hợp các bên đặc định hóa tiền Trong khi đó việc chuyển giao vật không đồng nghĩa với việc chuyển giao quyền sở hữu nhất là đối những vật có giá trị lớn, pháp luật yêu cầu phải đăng ký quyền sở hữu

- Vật có thể được tạo ra bởi bất kỳ một chủ thể nào trong xã hội nhưng tiền chỉ có thể được tạo ra bởi chủ thể duy nhất là nhà nước

- Chủ sở hữu vật có toàn quyền tiêu hủy đối với vật nhưng lại không có quyền tiêu hủy tiền thuộc sở hữu của mình

c Giấy tờ có giá

Giấy tờ có giá dưới góc độ pháp lý được định nghĩa là: Chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định xét trong mối quan hệ pháp lý với các chủ thể khác Giấy tờ có giá được chia làm hai loại: giấy tờ

có giá như tiền và giấy tờ có giá khác Giấy tờ có giá mang một số điểm khác biệt

cơ bản về chủ thể phát hành, mệnh giá, thời hạn sử dụng, quyền định đoạt của chủ thể Giấy tờ có giá có thể do nhiều loại chủ thể khác nhau phát hành như nhà nước, kho bạc, ngân hàng, công ty cổ phần…Mệnh giá, thời gian sử dụng của giấy

tờ có giá cũng do chủ thể phát hành quy định trong khuôn khổ pháp luật cho phép

Do tính hữu ích và tiện lợi, giấy tờ có giá ngày càng được sử dụng nhiều trong giao

Trang 5

lưu dân sự và thương mại nhất là trong giao dịch của hệ thống các ngân hàng và tổ chức tín dụng Quy chế pháp lý áp dụng với loại tài sản này cũng được xây dựng chi tiết trong các văn bản pháp luật chuyên ngành liên quan đến lĩnh vực ngân hàng

d Quyền tài sản

Khác với các loại tài sản khác, quyền tài sản không có thuộc tính vật chất nghĩa là chúng vô hình về mặt hình thức Quan điểm của các hệ thống pháp luật lớn trên thế giới đều coi quyền tài sản là một loại quyền chủ thể, có thể định giá được thành tiền Tuy nhiên, pháp luật dân sự Việt Nam quy định quyền tài sản ngoài đặc điểm định giá được thành tiền thì phải chuyển giao được trong giao dịch dân sự Các quyền tài sản gồm: quyền chuyển giao tài sản, quyền đòi nợ, quyền sử dụng đất, quyền liên quan đến sở hữu trí tuệ… Đặc điểm chung của các quyền này là vô hình

về mặt hình thức nhưng đều có thể được chứng minh sự tồn tại thông qua chứng cứ hữu hình Nhìn chung quyền tài sản có nhiều dạng khác nhau nhưng đều được hiểu

là xử sự hợp pháp, là quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể mang quyền và luôn được pháp luật ghi nhận và bảo vệ

2 Bất động sản và động sản

Cách phân loại này chủ yếu dựa vào đặc tính vật lí của tài sản là có thể di dời được hay không thể di dời được của tài sản3

Điều 107 BLDS năm 2015 quy định:

“1 Bất động sản bao gồm:

a Đất đai;

b Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;

c Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;

d Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

2.Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.”

a bất động sản

Bất động sản là những tài sản không thể di chuyển, dịch dời được từ nơi này sang nơi khác

3 Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh, Giaso trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và quyền thừa kế, nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, 2013, tr 19

Trang 6

Ví dụ:

đất đai (là những tài sản không thể di dời được do bản chất);

nhà xây gắn liền với đất đai (là tài sản không thể di dời được do gắn liền với bất động sản khác);

hệ thống đường dây tải điện ngầm trong tường nhà (là tài sản gắn liền với nhà) cây lâu năm…

b Động sản

Động sản là những tài sản có thể di chuyển, dịch dời từ nơi này sang nơi khác Ngoài các tài sản được xác định là bất động sản, tất cả các tài sản còn lại đều là

được

Ví dụ

Tàu thuyền

Nhà nổi trên sông

Các trang thiết bị điện tử (tivi, tủ lạnh, lap top,…)

Các thực phẩm (rau, củ, quả, thịt,…)

c Ý nghĩa pháp lí của việc phân loại

Theo Điều 161 BLDS 2015 (Thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản thực hiện theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; trường hợp luật không có quy định thì thực hiện theo thỏa thuận của các bên; trường hợp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì thời điểm xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là thời điểm tài sản được chuyển giao Thời điểm tài sản được chuyển giao là thời điểm bên có quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ chiếm hữu tài sản) , chúng ta có thể xác định được thời điểm chuyển quyền

sở hữu đối với tài sản đó là thời điểm bên có quyền hoặc người đại điện hợp pháp của họ chiếm hữu tài sản

Căn cứ vào Điều 277 BLDS 2015 (2 Trường hợp không có thỏa thuận thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ được xác định như sau:

a) Nơi có bất động sản, nếu đối tượng của nghĩa vụ là bất động sản;

4 TS Phạm Văn Tuyết- TS Lê Kim Giang, Hướng dẫn môn học Luật Dân sự tập 1, nxb Tư pháp, Hà Nội, 2015, trang 201

Trang 7

b) Nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ không phải

là bất động sản

Khi bên có quyền thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở thì phải báo cho bên có nghĩa vụ

và phải chịu chi phí tăng lên do việc thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sở, trừ trường hợp

có thỏa thuận khác)

chúng ta xác định được địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự đó là nơi có bất động sản, nếu đối tượng là của nghĩa vụ là bất động sản và là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ là động sản

Theo quy định tại Điều 221 BLDS 2015 (Quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản trong trường hợp sau đây:

1 Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, do hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ

2 Được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác

3 Thu hoa lợi, lợi tức

4 Tạo thành tài sản mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến

5 Được thừa kế

6 Chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu; tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy; tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên; gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên

7 Chiếm hữu, được lợi về tài sản theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này

8 Trường hợp khác do luật quy định.) chúng ta xác định được căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản

- Xác định quyền sử dụng hạn chế đối với bất động sản liền kề (quy định tại các Điều 245, Điều 246, Điều 247, Điều 248 và Điều 249 BLDS 2015)

Theo quy định tại điều 106 BLDS 2015 Quy định về thủ tục đăng kí đối với tài sản (1 Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký tài sản

2 Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác

3 Việc đăng ký tài sản phải được công khai), đó là bất động sản được đăng kí theo quy định của BLDS và pháp luật về đăng kí tài sản; quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng kí

Trang 8

- Theo quy định tại Điều 458 và Điều 459 BLDS 2015 chúng ta xác định hình thức của hợp đồng, hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, đối với động sản mà luật có quy định đăng kí quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng kí; tặng cho bất động sản phải được thành lập bằng văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng kí, nếu bất động sản phải đăng kí quyền quyền sở hữu theo quy định của luật, hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực từ thời điểm đăng kí, nếu bất động sản không phải đăng kí quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực từ thời điểm chuyển giao tài sản…

- Theo quy định tại Điều 451 BLDS 2015, Điều 454 BLDS 2015, chúng ta lần lượt xác định được những căn cứ để thực hiện việc bán đấu giá tài sản, Xác định thời hạn chuộc lại tài sản đã bán, trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì thời hạn chuộc lại là 01 năm đối với động sản và 05 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm giao tài sản, trừ trường hợp luật có quy định khác

- Theo quy định tại Điều 167 và Điều 168 BLDS 2015 chúng ta có thể xác định được phương thức kiện dân sự, đó là quyền đòi lại tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình và quyền đòi lại động sản phải đăng

ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình

3 Tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức

a Tài sản gốc

Tài sản gốc là tài sản mà thông qua việc khai thác công dụng mà tài sản sinh ra lợi ích vật chất hoặc tinh thần nhất định5

Ví dụ:

Cây chuối là tài sản gốc so với tài sản được sinh ra khi khác thác công dụng của cây chuối là buồng chuôi (quả chuối)

Chiếc xe máy là tài sản gốc so với tài sản được sinh ra từ việc khai thác công dụng của chiếc xe máy là tiền trở hàng thuê

b Hoa lợi, lợi tức

Căn cứ vào điều 109 BLDS 2015 quy định:

5 Trường ĐH Luật Tp Hồ Chí Minh, Giaso trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và quyền thừa kế, nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, 2013, tr 21

Trang 9

“1 Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại

2 Lợi tức là khoản lợi thu được từ việc khai thác tài sản”

- hoa lợi, theo quy định tại khoản 1 điều 109 BLDS 2015, hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại hoa lợi thực của một loại tài sản (vật chủ) theo một quy luật sinh học tự nhiên và định kỳ sẽ làm phát sinh một sản vật mới hoa lợi được sinh ra chủ yếu từ các đối tượng là vật nuôi, cây trồng…

Ví dụ: hoa lợi là quả bưởi được phát sinh bởi cây bưởi theo quy luật sinh học về mùa của cây ăn quả

Hoa lợi là con chó con được sinh ra bởi con chó mẹ theo quy luật sinh sản của động vật

- lợi tức, căn cứ vào khoản 2 Điều 109 BLDS 2015, lợi tức là khoản thu được từ việc khai thác tài sản việc khai thác tài sản của chủ sở hữu thông qua các hành vi

có ý thức và có mục đích của chủ thể Như vậy, có thể hiểu lợi tức là lợi ích vật chất của chủ thể thu được thông qua việc khai thác hợp pháp tài sản thuộc sở hữu của mình

Ví dụ:

Anh Nguyễn Văn A có số tiền mặt là 3 tỷ đồng Anh A mang số tiền 3 tỷ đồng đó góp vốn mở công ty cổ phần với anh B và chị C Lợi nhuận của công ty thu được chia theo phần quyền của 3 người trong số vốn đã góp để mở công ty Số tiền là lợi nhuận của công ty mà A nhận được là lợi tức phát sinh từ khối tài sản gốc 3 tỷ đồng mà A góp vốn trước đó

c Ý nghĩa pháp lý của việc phân loại

- Theo quy định tại quy định tại Điều 224 BLDS 2015 (Chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó.) chúng ta có thể xác định chủ sở hữu của tài sản, chủ sở hữu, người sử dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó…

- Theo quy định tại các Điều 231, Điều 232, Điều 314, điều 321… BLDS 2015 định quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức của người chiếm hữu tài sản

Theo quy định tại các Điều 231 (1 Người bắt được gia súc bị thất lạc phải nuôi giữ

và báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại Sau 06 tháng, kể từ ngày thông báo công khai hoặc sau 01 năm đối với gia súc thả rông theo tập quán thì quyền sở hữu đối

Trang 10

với gia súc và số gia súc được sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia súc

2 Trường hợp chủ sở hữu được nhận lại gia súc bị thất lạc thì phải thanh toán tiền công nuôi giữ và các chi phí khác cho người bắt được gia súc Trong thời gian nuôi giữ gia súc bị thất lạc, nếu gia súc có sinh con thì người bắt được gia súc được hưởng một nửa số gia súc sinh ra hoặc 50% giá trị số gia súc sinh ra và phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi cố ý làm chết gia súc) và Điều 232 (1 Trường hợp gia cầm của một người bị thất lạc mà người khác bắt được thì người bắt được phải thông báo công khai để chủ sở hữu gia cầm biết mà nhận lại Sau 01 tháng, kể từ ngày thông báo công khai mà không có người đến nhận thì quyền sở hữu đối với gia cầm và hoa lợi do gia cầm sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người bắt được gia cầm

2 Trường hợp chủ sở hữu được nhận lại gia cầm bị thất lạc thì phải thanh toán tiền công nuôi giữ và chi phí khác cho người bắt được gia cầm Trong thời gian nuôi giữ gia cầm bị thất lạc, người bắt được gia cầm được hưởng hoa lợi do gia cầm sinh ra và phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi cố ý làm chết gia cầm) BLDS 2015 chúng ta có thể xác định được một số trường hợp người chiểm hữu tài sản gốc chỉ được hưởng hoa lợi sinh ra từ tài sản mà không được khai thác công dụng của tài sản để thu lợi tức, …

3 Tài sản phải đăng kí quyền sở hữu và tài sản không phải đăng kí quyền sở hữu

a Tài sản phải đăng kí quyền sở hữu

Điều 106 BLDS 2015, quy định về đăng kí tài sản

(1 Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký tài sản

2 Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác

3 Việc đăng ký tài sản phải được công khai)

Tài sản phải đăng kí quyền sở hữu là tài sản theo quy định của pháp luật bắt buộc phải đăng kí

Ví dụ:

Theo khoản 1 Điều 95 Luật Đất đai 2013 thì việc đăng kí quyền sử dụng đất là bắt buộc đối với người sử dụng đất;

Ngày đăng: 29/05/2018, 21:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w