1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Vấn đề áp dụng các qui định của Bộ luật Dân sự về bảo lãnh trong quan hệ tín dụng ngân hàng " pptx

5 550 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 7,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ luật dân sự BLDS được ban hành có các quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là cơ sở pháp luật quan trọng để áp dụng trong việc thực hiện các chủng loại hợp đồ

Trang 1

Số chuyên đề về Bộ luật dân sự

/ẤĐÊÁP DUNG CAC QUI BIW CUA BO LUAT DAN SU VE BAO LAWH

TRONG QUAN HE TIN DUNG NGRN HANG

Z4Tình trạng vi phạm pháp luật về tín

dụng ngân hàng, vi phạm hợp đồng

tín dụng ngân hàng không những gây ra

những hậu quả xấu cho các bên tham gia

quan hệ hợp đồng mà còn đối với cả nên

kinh tế Lành manh hóa các mối quan hệ

tín dụng ngân hàng, phát huy hiệu quả

của hợp đồng tín dụng ngân hàng là vấn

đề được nhiều nhà kinh tế học, luật học,

các cơ quan chức năng, các nhà kinh

doanh quan tâm Một trong những hướng

nghiên cứu để giải quyết vấn đề trên là

làm sáng tỏ những vấn đề lí luận và thực

tiễn về các biện pháp bảo đảm thực hiện

hợp đồng tín dụng ngân hàng

Bộ luật dân sự (BLDS) được ban

hành có các quy định về các biện pháp

bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là cơ

sở pháp luật quan trọng để áp dụng trong

việc thực hiện các chủng loại hợp đồng,

trong đó có hợp đồng tín dụng ngân

hàng

Để góp phần làm sáng tỏ vấn đề áp

dụng các quy định của BLDS về bảo lãnh

trong quan hệ tín dụng ngân hàng, bài

viết này đề cập hai vấn đề: Người bảo

lãnh trong quan hệ tín dụng ngân hàng và

vấn đề bảo lãnh bằng tín chấp của các tổ

chức chính trị - xã hội

60 - Tap chi ludt hoc

PTS VO ĐÌNH TOÀN *

1 Vấn đề người bảo lãnh trong quan

hệ tín dụng ngân hàng

So sánh với các quan hệ kinh doanh khác thì quan hệ tín dụng ngân hàng

mang những đặc điểm có tính đặc thù

như tính chất kéo dài, tính rủi ro cao của

quan hệ kinh doanh, tính phản ứng dây chuyền của các hậu quả pháp lí đối với nên kinh tế Chính vì vậy, pháp luật của nhiều nước có các quy định chặt chẽ về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng - hình thức

pháp lí của quan hệ tín dụng ngân hàng Các biện pháp bảo đảm được áp dụng

phổ biến là cầm cố, thế chấp và bảo lãnh Thông thường, để thực hiện độc lập

hành vi vay vốn bên vay phải có tài sản

cầm cố hoặc thế chấp Nếu không có tài sản để cầm cố hoặc thế chấp thì bên vay không thể thực hiện được việc vay vốn

nếu không được bảo lãnh Bởi vì, trong hoạt động tín dụng, yếu tố rủi ro luôn tiềm ẩn trong các quan hệ kinh doanh do tính chất kéo dài của loại quan hệ này

Điều này có thể nhận thấy khi so sánh việc giao kết và thực hiện hợp đồng tín

dụng ngân hàng với các loại hợp đồng

khác Chẳng hạn, trong hợp đồng mua

bán tài sản khi bên bán đã giao tài sản và

chuyển quyền sở hữu tài sản đó cho bên

* Giảng viên Khoa phớp luột kinh tế

Trường Đợi học luộệt Hò Nội

Trang 2

Số chuyên đề về Bộ luật dân sự

mua và nhận tiền, còn bên mua nhận tài

sản và trả tiền cho bên bán thì hợp đồng

được coi là đã hoàn thành Thông

thường, các hợp đồng loại này được giao

kết và thực hiện trong một khoảng thời

gian ngắn Đối với hợp đồng tín dụng

ngân hàng thì quá trình giao kết và thực

hiện không đơn giản như vậy Sau khi

hợp đồng tín dụng ngân hàng được giao

kết, tổ chức tín dụng chuyển giao vốn

cho bên vay Nghĩa vụ thực hiện hợp

đồng của bên vay là hoàn trả tiền vay và

lợi tức tín dụng nhưng không phải ở thời

điểm nhận tiền vay từ bên cho vay mà

theo thời hạn các bên đã thỏa thuận,

thông thường là 3 tháng, 6 tháng hoặc

trên Ï năm tuỳ thuộc vào từng loại cho

vay Khả năng thực hiện đúng nghĩa vụ

của bên vay phụ thuộc vào nhiều yếu tố

như hiệu quả kinh doanh, các rủi ro bất

ngờ Trong trường hợp hợp đồng tín

dụng ngân hàng được bảo đảm thực hiện

bằng biện pháp bảo lãnh thì người bảo

lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền

vay và lợi tức tín dụng cho tổ chức tín

dụng thay bên vay khi đến hạn bên vay

khong thuc hién hoac thuc hién khong

dung nghia vu Nhu vay trong quan hé

tín dụng ngân hàng bảo lãnh vừa có tác

dụng của biện pháp bảo đảm nghĩa vụ

vừa là biện pháp tạo cơ hội tín dụng cho

người có nhu cầu vay vốn

Theo các quy định của quy chế về

nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân hàng

ban hành kèm theo Quyết định số

196/QD - NH 14 ngày 16/9/1994 của

Thống đốc Ngân hàng nhà nước thì bảo

lãnh để các doanh nghiệp vay vốn tại các

tổ chức tín dụng là hoạt động mang tính

chất nghiệp vụ của ngân hàng Ngân

hàng được thừa nhận tư cách pháp lí của

người bảo lãnh là ngân hàng thương mại

quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ

phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh

ngân hàng nước ngoài, ngân hàng đầu tư

và phát triển, Ngân hàng Nhà nước thực hiện bảo lãnh khi được Chính phủ chỉ

định Còn người được bảo lãnh là các doanh nghiệp

Trước khi BLDS duoc ban hanh,

ngoài các quy định trên đây, pháp luật về

tín dụng ngân hàng không điều chỉnh các

quan hệ bảo lãnh khác trong lĩnh vực tín

dụng ngân hàng Do đó, các quan hệ bảo

lãnh vay vốn ở các tổ chức tín dụng chỉ

phát sinh giữa các ngân hàng với các doanh nghiệp mà không tồn tại giữa các

tổ chức phi ngân hàng với các doanh nghiệp hoặc giữa các thể nhân với nhau

Trong nhiều trường hợp các tổ chức

và cá nhân có nhu cầu vay vốn ở các tổ

chức tín dụng nhưng do nhiều lí do khác nhau họ không có tài sản để đảm bảo tiền vay như cầm cố, thế chấp Và như vậy, nếu họ không được tổ chức ngân hàng bảo lãnh thì đương nhiên không thể thực hiện được việc vay vốn ở tổ chức tín dụng Trong khi đó các pháp nhân và thể

nhân có nhu cầu vay vốn do tính chất đa dạng của các quan hệ kinh tế - xã hội mà

họ có thể tìm được cho mình người bảo lãnh có đủ năng lực để thực hiện nghĩa

vụ của người bảo lãnh Nếu ngân hàng chấp nhận các quan hệ bảo lãnh này thì

sẽ tạo cơ hội cho người có nhu cầu về vốn được vay vốn và về phía tổ chức tín

dụng độ an toàn vẫn được đảm bảo khi

cho vay

Để đáp ứng yêu cầu nội tại của quan

\ệ cung - cầu về vốn thông qua quan hệ

tín dụng ngân hàng, ngày 17/8/1996 Thống đốc ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 217/QĐÐ - NH I quy

định về quy chế thế chấp, cầm cố tài sản

và bảo lãnh vay vốn ngân hàng Theo quy chế này thì người bảo lãnh vay vốn

ng -œ®›

Tạp chí luột học - ó]

Trang 3

Số chuyên đề về Bộ luật dân sự

là pháp nhân, tổ hợp tác, hộ sản xuất, cá

nhân có đủ năng lực pháp luật và năng

lực hành vi Còn người nhận bảo lãnh là

các tổ chức tín dụng bao gồm: Ngân

hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và

phát triển, hợp tác xã tín dụng, quỹ tín

dụng nhân dân và công ty tài chính

Như vậy, theo Quyết định số 196/QĐÐ

- NH 14 ngày 16/9/1994 và Quyết định

số 217/QĐ - NH I1 ngày 17/8/1996 của

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt

Nam thì trong lĩnh vực tín dụng ngân

hàng có hai chế độ bảo lãnh:

Chế độ nghiệp vụ bảo lãnh của ngân

hàng và chế độ bảo lãnh vay vốn ngân

hàng

Hai chế độ bảo lãnh này cần được

phân biệt theo các đặc điểm sau:

Thứ nhất Chế độ bảo lãnh vay vốn

ngân hàng có phạm vi người bảo lãnh

rộng hơn so với chế độ nghiệp vụ bảo

lãnh của ngân hàng Vì theo chế độ bảo

lãnh vay vốn ngân hàng, người bảo lãnh

bao gồm các pháp nhân, thể nhân có đủ

năng lực pháp luật và năng lực hành vi

Còn trong chế độ nghiệp vụ bảo lãnh của

ngân hàng, người bảo lãnh chỉ có thể là

ngân hàng

Thứ hai: Theo chế độ nghiệp vụ bảo :

lãnh cua ngân hàng thì ngân hàng có thể

thực hiện việc bảo lãnh cho các doanh

nghiệp trong việc tham gia đấu thầu, bảo

lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh ứng

tiên trước, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh

bảo đảm chất lượng sản phẩm theo hợp

đồng, bảo lãnh vốn Do đó phạm vi người

nhận bảo lãnh trong chế độ nghiệp vụ

bảo lệnh của ngân hàng rộng hơn so với

phạm vi người nhận bảo lãnh trong chế

độ bảo lãnh vay vốn ngân hàng chỉ bao

gồm các tổ chức tín dụng

62 - Tap chi luat hoc

Thứ ba, người được bảo lãnh theo chế

độ nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng là

các doanh nghiệp (bao gồm cả tổ chức tín dụng) có đủ các điều kiện theo quy

_ định của pháp luật Còn trong chế độ bảo: lãnh vay vốn ngân hàng người được bảo lãnh vay vốn không chỉ có các doanh nghiệp mà còn bao gồm các loại pháp nhân khác, các tổ hợp tác, hộ sản xuất và

cá nhân

Mặc dù cơ cấu chủ thể trong quan hệ

pháp luật bảo lãnh theo hai chế độ trên

đây có khác nhau nhưng cần thấy rằng điểm tương đồng cơ bản và quan trọng nhất giữa chúng đó là người bảo lãnh luôn luôn là chủ thể có nghĩa vụ trả nợ

thay cho người được bảo lãnh nếu khi

đến thời hạn mà người được bảo lãnh

không thực hiện đúng nghĩa vụ

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa và

hiện đại hóa đất nước vấn đề thu hút vốn

đâu tư trong nước cho sản xuất kinh

doanh đang là đòi hỏi bức bách của nền

kinh tế Cùng với việc đa dạng hóa các hình thức tín dụng, việc mở rộng thị thường tín dụng cũng là một giải pháp

mang tính khả thi để kích thích các dòng chảy vốn cho đầu tư phát triển kinh tế

Thực hiện đúng các quy định của BLDS, các quy định của ngân hàng nhà

nước về bảo lãnh trong lĩnh vực tín dụng

ngân hàng sẽ là nhân tố kích thích sự

phát triển của thị trường tín dụng ở nước

ta

2 Vấn đề bảo lãnh bằng tín chấp của

tổ chức chính trị - xã hội

Việc bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức chính trị - xã hội cho cá nhân và hộ

gia đình nghèo vay vốn tại ngân hàng, to chức tín ung được quy định tại Điêu

376 của BLDS

Trang 4

Số chuyên đề về Bộ luật dân sự `

Bảo lãnh bằng tín chấp là một biện

pháp bảo đảm hợp đồng tín dụng ngân

hàng để thực hiện quan hệ tín dụng giữa

ngân hàng, tổ chức tín dụng với các cá

nhân và hộ gia đình nghèo không có khả

năng thực hiện các điều kiện về bảo đảm

tiền vay ở tổ chức tín dụng Chế độ bảo

lãnh bằng tín chấp là một trong những

.hình thức thực hiện chính sách xóa đói

"giảm nghèo, một chính sách lớn của

Đảng và Nhà nước ta

Để thực hiện chế độ bảo lãnh bằng

tín chấp phù hợp với thực tiễn hoạt động

tín dụng ngân hàng, cần thiết phải làm

sáng tỏ những vấn đề pháp lí có liên

quan

Về bản chất pháp lí bảo lãnh bằng

tín chấp là một biện pháp bảo đảm thực

hiện hợp đồng tín dụng, một dạng đặc

thù của chế độ bảo lãnh Tính đặc thù

của bảo lãnh bằng tín chấp thể hiện ở các

điểm sau:

Thứ nhất: Trong quan hệ bảo lãnh tín

chấp, người bảo lãnh là tổ chức chính trị

- Xã hội tại cơ sở, người được bảo lãnh là

cá nhân và hộ gia đình nghèo Như vậy,

phạm vị "người bảo lãnh" và "người được

bảo lãnh" theo chế độ bảo lãnh bằng tín

chấp hẹp hơn so với chế độ bảo lãnh

thông thường

Thứ hai: Giá trị tài sản là đối tượng

của quan hệ tín dụng và quan hệ bảo lãnh

bằng tín chấp không lớn, là "một khoản

tiền nhở" để sản xuất, kinh doanh, làm

dịch vụ theo quy định của Chính phủ

Hiện nay, quan điểm về nghĩa vụ tài

sản của người bảo lãnh trong quan hệ

bảo lãnh bằng tín chấp còn có những ý

kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng bảo

lãnh bằng tín chấp là bảo lãnh phi vật

chất, tổ chức chính trị - xã hội dùng uy

tín của mình để bảo lãnh cho các cá nhân

và hộ gia đình nghèo vay vốn mà họ không bị ràng buộc bởi trách nhiệm tài sản

Vấn đề được đặt ra là nếu quan niệm bảo lãnh bằng tín chấp là bảo lãnh phi

vật chất thì trong trường hợp người được

bảo lãnh không hoàn trả được tiền vay cho tổ chức tín dụng khi đáo hạn thì lợi ích kinh tế của tổ chức tín dụng sẽ được giải quyết như thế nào? hay tổ chức tín

dụng tự gánh chịu mọi hậu quả pháp lí?

Mặc dù số lượng vốn cho mỗi cá nhân,

hộ gia đình nghèo vay là không lớn

nhưng tổng số tiền mà các cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn ở một tổ chức tín

dụng trong phạm vi một địa bàn sẽ là

một đại lượng đáng kể Đồng thời phải

thấy rằng nếu cho vay mà không thu hồi được vốn vay là một nghịch lí, trái với tính chất của hoạt động tín dụng của các

tổ chức tín dụng Từ sự lập luận này cho thấy cần phải làm rõ nghĩa vụ về tài sản của người bảo lãnh bằng tín chấp so với nghĩa vụ của người bảo lãnh trong quan

hệ bảo lãnh thông thường

Theo quy định của Điều 366 BLDS, người bảo lãnh chỉ được bảo lãnh bằng

tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc bằng việc thực hiện công việc Bảo lãnh áp dụng trong quan hệ tín dụng ngân hàng

là bảo lãnh bằng tài sản Do vậy, để được

tổ chức tín dụng chấp nhận tư cách là

người bảo lãnh thì người bảo lãnh phải chứng minh được năng lực thực hiện

nghĩa vụ tài sản thay cho bên vay (người

được bảo lãnh) khi đến thời hạn hoàn trả

tiền vay mà bên vay không thực hiện

hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ

Tap chi ludt hoc - 63

Trang 5

Số chuyên đề về Bộ luật dân sự

Việc có tài sản dùng để bảo lãnh là điều

kiện bắt buộc để các pháp nhân và thể

nhân được chấp nhận tư cách người bảo

lãnh Nếu thiếu điều kiện này, đương

nhiên văn bản bảo lãnh (hợp đồng bảo

lãnh) không được thiết lập _

Vậy điều kiện về tài sản bảo lãnh có

phải là điều kiện bắt buộc để thừa nhận

tư cách của người bảo lãnh trong bảo

lãnh bằng tín chấp hay không? Trả lời

câu hỏi này chính là xác định sự khác

nhau căn bản giữa bảo lãnh thông thường

và bảo lãnh bằng tín chấp trong quan hệ

tín dụng ngân hàng

Người bảo lãnh trong quan hệ bảo

lãnh bằng tín chấp là các tổ chức chính

trị - xã hội, là những tổ chức được Nhà

- nước thừa nhận tư cách pháp lí, có uy tín

trong xã hội và có mối quan hệ chặt chế

với Nhà nước Do đó khi thực hiện việc

bảo lãnh cho các cá nhân và hộ gia đình

nghèo vay một khoản tiền nhỏ ở tổ chức

tín dụng thì tư cách pháp lí và uy tín của

họ đủ để bảo đảm độ tin cậy để tổ chức

tín dụng chấp nhận quan hệ bảo lãnh

Chính vì vậy khi lập văn bản bảo lãnh

trong quan hệ bảo lãnh bằng tín chấp

_việc xác định tài sản để thực hiện nghĩa

vụ bảo lãnh của tổ chức chính trị - xã hội

không phải là điều kiện bắt buộc để tổ

chức tín dụng chấp thuận tư cách người

bảo lãnh Đây là điểm khác nhau căn bản

giữa bảo lãnh bằng tín chấp và bảo lãnh

thông thường Còn suy cho cùng dù là

ó4 - Tạp chí luột học

bảo lãnh bằng tín chấp hay bảo lãnh thông thường trong quan hệ tín dụng ngân hàng thì người bảo lãnh đều phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền vay và

lợi tức tín dụng (nếu có) thay người được

bảo lãnh (bên vay) nếu khi đến thời hạn

mà bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ

Tuy nhiên, cũn# cần thấy rằng bảo lãnh bằng tín chấp là biện pháp bảo đảm

thực hiện hợp đồng tín dụng nhằm tạo cơ

hội cho người nghèo vay vốn ở tổ chức

tín dụng để sản xuất, kinh doanh Do đó,

các quy định pháp luật cụ thể hóa BLDS

cần được xây dựng trên cơ sở có tính đến

tính chất đặc thù của các quan hệ tín

dụng được bảo lãnh bằng tín chấp, đặc biệt là các quy định về phương thức thực

hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh

Việc xác định đúng phạm vi quyển

và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hệ bảo lãnh bằng tín chấp có ý nghĩa quan

trọng trong việc xây dựng các quy phạm

pháp luật cụ thể hóa các quy định của BLDS về bảo lãnh để áp dụng trong lnh vực tín dụng ngân hàng Chỉ trên cơ sở

xác định đúng đắn và cụ thể các quyền

và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia

luật mới có chức tín dụng thuộc mọi thành phần kinh

tế cho các cá nhân và hộ gia đình nghèo

vay vốn theo phương thức bảo lãnh bằng

Ngày đăng: 23/03/2014, 21:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w