Theo quy định của pháp luật thì người đã thành niên có quyền lập di chúc trừ những người không có năng lực hành vi dân sự nhưng pháp luật lại không quy định rõ người bị hạn chế năng lực
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THANH
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ
VỀ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC TRONG THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THANH
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ
VỀ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC TRONG THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số : 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Phùng Trung Tập
HÀ NỘI - 2011
Trang 31.2.2.2 Xác định mức độ có hiệu lực của di chúc 22 1.2.3 Hiệu lực di chúc chung của vợ chồng 27 1.2.4 Những hạn chế về quyền định đoạt của người lập di chúc
(theo Điều 669 Bộ luật Dân sự)
32
Chương 2: ÁP DỤNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ VỀ HIỆU LỰC CỦA
37
2.1 Thực trạng tranh chấp và giải quyết tranh chấp về thừa kế
theo di chúc
37
2.2 Các trường hợp tranh chấp về thừa kế theo di chúc và
nguyên nhân của nó
41
2.2.1 Tranh chấp giữa người khác với người thừa kế theo di chúc 41
Trang 42.2.2 Tranh chấp giữa người thừa kế theo luật với người thừa kế
theo di chúc
43
2.2.3 Tranh chấp giữa những người thừa kế theo di chúc với nhau 45 2.3 Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo di chúc 45 2.3.1 Tranh chấp về hiệu lực của di chúc do di chúc miệng nhưng
không có hai người làm chứng ghi chép như quy định, tuy là
di chúc có điều kiện nhưng Tòa án vẫn xử theo di chúc
2.3.6 Tranh chấp thừa kế do di chúc bị hư hỏng không xác định
được nội dung
56
2.3.7 Tranh chấp di sản thừa kế do người làm chứng di chúc
không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật
Trang 53.2.2 Về sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ đối với việc
lập di chúc của người tròn mười lăm tuổi nhưng chưa đủ
mười tám tuổi
65
3.2.3 Đối với di chúc có chữ viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu 66 3.2.4 Về người làm chứng 67 3.2.5 Về di chúc bằng văn bản không có người làm chứng 67 3.2.6 Về di chúc có chứng nhận của công chứng Nhà nước hoặc
chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
68
3.2.7 Quy định lại các loại di chúc 69 3.3 Về hiệu lực của di chúc 70 3.3.1 Về thời điểm mở thừa kế và thời điểm có hiệu lực của di chúc 70 3.3.2 Về mức độ hiệu lực của di chúc 71 3.3.3 Bỏ Điều 660 Bộ luật Dân sự: Di chúc bằng văn bản có giá
trị như di chúc được công chứng, chứng thực
72
3.3.4 Về thay thế di chúc 72 3.3.5 Về di chúc bị thất lạc, hư hại 73 3.3.6 Về việc giải thích di chúc 74 3.4 Hiệu lực di chúc chung vợ chồng 75 3.4.1 Về những định hướng chung 75 3.4.2 Các kiến nghị cụ thể 78 3.5 Về Điều 669 của Bộ luật Dân sự: Cách tính 2/3 của một suất
thừa kế theo pháp luật
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam Khi xã hội càng phát triển, các mối quan hệ kinh tế và xã hội cũng phát triển đa dạng, nếu như trước đây vấn đề thừa kế được điều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức, phong tục tập quán thì hiện nay đã chịu sự điều chỉnh trực tiếp của các quy phạm pháp luật về thừa kế
Chế định thừa kế tuy là một chế định khá hoàn chỉnh trong Bộ luật Dân
sự năm 2005 nhưng vẫn còn có những thiếu sót, hạn chế Theo thống kê của ngành Tòa án trong những năm gần đây, số vụ việc tranh chấp về thừa kế luôn
có số lượng lớn và phức tạp trong các tranh chấp về dân sự - điều này là hoàn toàn bình thường trong giai đoạn quá độ chuyển giao giữa hai thời kỳ cũ và mới như ở Việt Nam Hoàn thiện các quy định về thừa kế là cơ sở để luật đi vào thực tiễn đời sống, là căn cứ để giải quyết các vấn đề liên quan đến thừa kế
2, Tình hình nghiên cứu đề tài
Tính đến thời điểm hiện nay đã có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thừa kế được công bố Các công trình khoa học này thường tập trung nghiên cứu một vấn đề trong thừa kế như: thừa kế theo pháp luật, thừa kế theo
di chúc, về di sản thừa kế, thừa kế thế vị, về người thừa kế không được hưởng
di sản,…
Các công trình tiêu biểu có thể kể đến là: "Thừa kế theo pháp luật của
công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay", của Tiến sĩ Phùng Trung Tập, Nhà
xuất bản Tư pháp, 2004; "Luật Thừa kế Việt Nam", của Tiến sĩ Phùng Trung Tập, Nhà xuất bản Hà Nội, 2008; "Hoàn thiện quy định về thừa kế trong Bộ
luật Dân sự", của Tiến sĩ Phạm Văn Tuyết, Tạp chí Luật học, số Đặc san về
sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự, tháng 11/2003); "Di chúc và vấn đề hiệu lực
Trang 7của di chúc", của Tiến sĩ Phạm Văn Tuyết, Tạp chí Luật học, số 6/1995; "Di sản thừa kế và thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa kế", của
Tiến sĩ Nguyễn Minh Tuấn, Tạp chí Luật học, số 11/2007;…
Những công trình nói trên chỉ đề cập đến các vấn đề theo hướng nghiên cứu cụ thể mà chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện vấn đề: Áp dụng pháp luật dân sự về hiệu lực của di chúc trong thực tiễn
xét xử của Tòa án Do vậy, học viên chọn đề tài Áp dụng pháp luật dân sự về
hiệu lực của di chúc trong thực tiễn xét xử của Tòa án để làm luận văn Cao
học Luật của mình với tính chất chuyên sâu và không có sự trùng lặp với bất
kỳ công trình khoa học nào khác về vấn đề này đã được công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung để góp phần hoàn thiện các quy định
về điều kiện có hiệu lực của di chúc
* Nhiệm vụ của luận văn
Luận văn có nhiệm vụ phân tích những quy định phù hợp, chưa phù hợp hoặc chưa đồng bộ của Bộ luật Dân sự với các quy định hướng dẫn thực hiện Luật; Thống kê những tranh chấp, khó khăn vướng mắc trong quá trình
áp dụng các quy định pháp luật dân sự về hiệu lực của di chúc thừa kế Qua
đó đưa ra được những giải pháp hoàn thiện
* Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn chỉ nghiên cứu và phân tích các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo pháp luật Việt Nam
Trang 84 Phương pháp tiếp cận vấn đề
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, luận văn tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học liên ngành và chuyên ngành; coi trọng phương pháp kết hợp lôgic với lịch sử, tổng hợp, so sánh, phương pháp chuyên gia; tổng kết thực tiễn,
5 Những điểm mới của luận văn
Trên cơ sở phân tích ưu nhược điểm của những quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc, luận văn đề cập đến thực trạng áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc, qua đó đề xuất hướng hoàn thiện của pháp luật về hiệu lực di chúc Luận văn sẽ bám sát thực tế áp dụng luật - cụ thể là việc áp dụng pháp luật dân sự về hiệu lực của di chúc trong thực tiễn xét xử của Tòa án để đưa ra nhận xét cụ thể hơn về tình hình thực hiện pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc, góp phần hoàn thiện chế định thừa kế
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Các điều kiện có hiệu lực của di chúc
Chương 2: Áp dụng pháp luật dân sự về hiệu lực của di chúc trong
thực tiễn xét xử của Tòa án
Chương 3: Hướng hoàn thiện của pháp luật về hiệu lực của di chúc
Trang 9Chương 1
CÁC ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC
1.1 Tổng quan về di chúc theo pháp luật dân sự
Điều 646 Bộ luật Dân sự quy định: "Di chúc là sự thể hiện ý chí của
cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết" [17]
Di chúc còn được gọi là chúc thư do cá nhân còn sống tự nguyện lập
ra với mục đích dịch chuyển tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người còn sống khác, sau khi người lập di chúc chết Người lập di chúc dựa vào ý chí và tình cảm của mình (mang tính chủ quan) định đoạt cho người khác được hưởng di sản sau khi qua đời Do tính chất chủ quan của ý chí và mục đích chuyển dịch tài sản của người lập di chúc cho người khác hưởng sau khi chết đã phản ánh tính độc lập và tự định đoạt của người lập di chúc
Di chúc theo quy định của pháp luật dân sự phải nhằm chuyển tài sản của người lập di chúc cho người khác sau khi người lập di chúc chết Xét về tính chất của giao dịch dân sự, di chúc là sự thể hiện ý chí đơn phường, hoàn toàn độc lập, tự định đoạt ý chí của cá nhân người lập di chúc mà không có bất kỳ ý kiến của ai, do vậy di chúc là giao dịch dân sự một bên Giao dịch này là loại giao dịch đặc biệt, tuy các điều kiện của chủ thể lập di chúc, ý chí của chủ thể, nội dung và hình thức của di chúc đều phù hợp với quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc nhưng di chúc chỉ phát sinh hiệu lực thi hành sau khi người để lại di chúc chết
Người được hưởng thừa kế theo di chúc chỉ có quyền nhận tại sản của người lập di chúc kể từ khi người lập di chúc chết Người thừa kế theo di chúc nhận di sản và là chủ sở hữu của di sản được hưởng và thừa kế theo di chúc là căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản của người thừa kế
Tuy nhiên, di chúc thể hiện ý chí chủ quan của người lập, do đó ý định của người lập di chúc nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi
Trang 10chết có thể không thể thực hiện được do tài sản được định đoạt trong di chúc
đã không còn vào thời điểm mở thừa kế của người để lại di chúc đó hoặc những người thừa kế được chỉ định thừa kế theo di chúc đã chết trước, chết cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc đều không có quyền hưởng di sản,… tại các trường hợp này, mục đích nhằm chuyển tài sản của người lập di chúc cho người thừa kế không đạt được Phần của di chúc không thể thực hiện được là phần di chúc vô hiệu
1.2 Điều kiện có hiệu lực của di chúc
1.2.1 Di chúc do cá nhân lập
Di chúc là một loại giao dịch đặc biệt, chỉ có hiệu lực khi người lập ra
nó đã chết nên việc lập di chúc không thể thực hiện bằng cách ủy quyền cho người khác thay mình lập Trước hết, di chúc muốn được coi là hợp pháp thì phải đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch đã được quy định tại Điều 122
Ngoài ra, nó còn phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của di chúc, quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự
1.2.1.1 Điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp
a) Người lập di chúc phải có năng lực chủ thể
Người lập di chúc theo quy định tại Điều 647 Bộ luật Dân sự phải là người từ đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 có thể lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng
ý Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc
Pháp luật nước ta công nhận người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên Vì vậy không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo,…người
từ đủ mười tám tuổi không bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình đều có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người thừa kế Lập di chúc là việc chủ sở hữu
Trang 11tài sản quyết định chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho những người cụ thể sau khi mình chết Điều đó đòi hỏi người lập di chúc phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có sự phù hợp giữa nhận thức lý trí của một người với hành vi mà họ thực hiện
Theo quy định của pháp luật thì người đã thành niên có quyền lập di chúc (trừ những người không có năng lực hành vi dân sự) nhưng pháp luật lại không quy định rõ người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 23 Bộ luật Dân sự "Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên
bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự" khi lập di chúc có phải hỏi ý kiến và phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người đó hay không? Vì theo khoản 2 Điều 23 Bộ luật Dân sự quy định: " giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục
vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày" [17]
Như vậy, nếu theo quy định tại khoản 1 Điều 647 Bộ luật Dân sự thì những người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 23 Bộ luật Dân sự vẫn có quyền lập di chúc với tư cách của người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Tuy nhiên, nếu xét theo quy định tại khoản 1 Điều 647 Bộ luật Dân sự thì: một người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nhưng đã bị hạn chế theo bản án có hiệu lực pháp luật thì khi người đó xác lập giao dịch dân
sự phải có sự đồng ý của người đại diện Như vậy, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo bản án có hiệu lực, khi lập di chúc mà không có sự đồng
ý của người đại diện theo pháp luật thì di chúc do người đó lập ra có hiệu lực hay không có hiệu lực pháp luật? Không thống nhất về cách hiểu sẽ gây ra những sai sót trong việc xác định chủ thể có quyền lập di chúc và tính hợp pháp khi định đoạt ý chí của người lập di chúc
Trang 12Về nguyên tắc, chỉ những người đủ mười tám tuổi trở lên mới có quyền lập di chúc Tuy nhiên, người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi (người có năng lực hành vi dân sự một phần) - dù chưa thành niên nhưng đã có
sự nhận thức nhất định, trong một số trường hợp, họ có thể đã có tài sản riêng, có thể lập di chúc nhưng với điều kiện là "lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý" Sự đồng ý này chưa được một văn bản pháp luật nào quy định hay giải thích cụ thể nên có nhiều cách hiểu khác nhau
Theo ý kiến cá nhân em, sự đồng ý ở đây được hiểu là sự đồng ý cho
họ lập di chúc Còn về nội dung di chúc, họ được toàn quyền quyết định Vì nếu hiểu theo nghĩa: sự đồng ý với việc định đoạt trong nội dung của di chúc thì vô hình chung, pháp luật đã can thiệp đến quyền định đoạt, đến ý chí tự nguyện của người lập di chúc - trong khi ý chí tự nguyện là một trong những điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp
Tuy nhiên, để có sự rõ ràng, thống nhất trong cách hiểu của người dân, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải có quy định cụ thể: Sự đồng ý hay không đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ đối với việc lập di chúc của người từ tròn mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được thể hiện trước khi di chúc được lập bằng một văn bản riêng Nếu di chúc đã được lập mà những người nói trên không có ý kiến gì thì coi như họ đã đồng
ý cho lập và vì vậy, di chúc được coi là hợp pháp Cha, mẹ hoặc người giám
hộ có quyền giám sát và chỉ có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố di chúc vô hiệu nếu họ phát hiện có hành vi lừa dối, cưỡng ép người chưa thành niên trong việc lập di chúc mà không được tự mình hủy bỏ di chúc
b Người lập di chúc tự nguyện
Tự nguyện hiểu theo nghĩa khái quát: là việc thực hiện theo ý mình,
do mình mong muốn, không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ chủ thể nào khác Người lập di chúc phải tự nguyện khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép
Trang 13Tự nguyện của người lập di chúc được hiểu là sự thống nhất giữa ý chí và sự bày tỏ ý chí của họ Sự thống nhất trên chính là sự thống nhất giữa mong muốn chủ quan - mong muốn bên trong của người lập di chúc với hình thức thể hiện ra bên ngoài sự mong muốn đó Vì vậy, việc phá vỡ sự thống nhất giữa mong muốn bên trong và việc thể hiện ra bên ngoài làm mất đi tính
tự nguyện của người lập di chúc Sự thống nhất này có thể bị phá vỡ trong trường hợp người lập di chúc bị cưỡng ép, đe dọa hoặc di chúc do họ lập trên
cơ sở bị lừa dối Di chúc sẽ không được coi là hợp pháp nếu không có sự thống nhất giữa các vấn đề đã được thể hiện trong nội dung của bản di chúc với ý chí chủ quan của người lập ra nó Cụ thể, sẽ bị coi là không có sự thống nhất nói trên nếu di chúc được lập ra trong những trường hợp sau:
- Di chúc được lập ra khi người lập di chúc không còn minh mẫn, sáng suốt
Khi người lập di chúc không còn minh mẫn, sáng suốt để làm chủ được hành vi của mình thì không thể có sự thống nhất giữa mong muốn về ý chí với sự biểu đạt ý chí ấy Trong trường hợp này, người lập di chúc bị coi là không còn năng lực hành vi dân sự trong khi lập di chúc
- Di chúc được lập ra dưới sự tác động của người khác
Tính thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí luôn có khả năng bị phá vỡ
do nhiều nguyên nhân khác nhau Sự tác động của người khác tới việc lập di chúc của một người sẽ làm cho di chúc không còn sự tự nguyện của họ Vì vậy, di chúc sẽ bị coi là không có tính tự nguyện khi được lập trong những trường hợp sau đây:
+ Người lập di chúc bị đe dọa:
Đe dọa là hành vi cố ý của một người nhằm làm cho người khác lo sợ
mà phải thực hiện một việc nào đó theo mục đích của người đe dọa Điều 132
Bộ luật Dân sự quy định: "Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh
Trang 14thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình" [17] Về mặt chủ quan, hành vi
đe dọa bao giờ cũng là hành vi cố ý nhằm đạt được mục đích nhất định Mục đích của người có hành vi đe dọa thường là nhằm mang lại lợi ích cho chính người đó nhưng cũng có nhiều trường hợp người đe dọa người lập di chúc chỉ nhằm đưa lại lợi ích cho người khác
Tuy nhiên, nếu sự đe dọa của một người đối vối người lập di chúc không khiến người lập di chúc sợ, vẫn lập di chúc theo đúng suy nghĩ và ý định của mình thì di chúc đó vẫn có hiệu lực pháp luật Sự đe dọa phải nghiêm trọng đến mức làm cho người bị đe dọa bị tê liệt ý chí, mất bình tĩnh,
sợ hãi và buộc phải lập di chúc theo đúng yêu cầu của người đe dọa Sự đe dọa thường hướng tới một hoặc nhiều vấn đề như: sức khỏe, tài sản, tính mạng, danh dự, uy tín, nhân phẩm của người bị đe dọa hoặc thân nhân của người đó
Như vậy, hành vi đe dọa chỉ được coi là căn cứ để xác định di chúc vô hiệu khi hành vi đó là sự đe dọa đến một trong những nội dung trên với tính chất cố ý, nhằm đạt được một mục đích nhất định và phải nghiêm trọng đến mức người bị đe dọa buộc phải lập di chúc theo yêu cầu của người đe dọa mà không còn sự lựa chọn nào khác
+ Người lập di chúc bị lừa dối:
Điều 132 Bộ luật Dân sự quy định: "Lừa dối trong giao dịch là hành vi
cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch
về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó" [17]
Sự lừa dối chỉ được coi là căn cứ để tuyên di chúc vô hiệu khi sự lừa dối đó đã làm cho người lập di chúc suy nghĩ theo nó, tin vào thông tin lừa dối
và vì thế nội dung của di chúc được định đoạt trên sự tác động của hành vi lừa dối Nếu sự lừa dối đó không dẫn đến việc người bị lừa dối lập di chúc trái với
Trang 15mong muốn thực sự của mình, vẫn định đoạt theo ý chí độc lập của mình, không suy nghĩ theo sự lừa dối của người đó thì di chúc vẫn được coi là hợp pháp
Bản chất của lừa dối là gì? Về mặt khái niệm, lừa dối là thủ đoạn có tính toán trước của người này đối với người khác nhằm làm cho người bị lừa dối hiểu sai vấn đề mà quyết định một việc gì đó theo mục đích của người lừa dối Có thể người lừa dối dùng những lời lẽ giả dối, những mưu mô, thủ đoạn, thông tin không đúng sự thật khiến cho người khác thiết lập một giao dịch theo ý của mình mà nếu như không có những hành động, thông tin đó, người
bị lừa dối sẽ không bao giờ thiết lập giao dịch ấy
Như vậy, chỉ bị coi là lừa dối khi một người thực hiện một hành vi cố
ý (có sự tính toán trước); Hành vi lừa dối có thể là một hành động nhưng cũng
có thể là việc không hành động Sự im lặng đôi khi bị coi là một sự lừa dối nếu một người biết được sự thật nhưng lại im lặng, không nói ra sự thật đó nhằm mục đích để người lập di chúc định đoạt theo hướng có lợi cho mình hoặc cho người khác theo ý muốn của mình Người nói trên chỉ bị coi là lừa dối trong trường hợp người đó biết sự thật, đồng thời biết được việc lập di chúc của người để lại di sản nhưng không nói sự thật với người lập di chúc vì mục đích tư lợi Trong những trường hợp khác sẽ không bị coi là lừa dối Việc xác định sự im lặng (không nói sự thật) của một người có phải là lừa dối hay không có ý nghĩa hết sức quan trọng trong thực tế Nó là căn cứ để xem xét hiệu lực của di chúc đồng thời cũng là căn cứ để xác định có tước quyền hưởng di sản hay không (nếu người im lặng là người thừa kế di sản)
+ Người lập di chúc bị cưỡng ép:
Cưỡng ép có thể cưỡng ép về thể chất (đánh đập, giam giữ, ) hoặc về tinh thần (dọa làm một việc có thể làm mất danh dự, uy tín của người lập di chúc, ) Hành vi cưỡng ép rất gần với hành vi đe dọa
Trong thực tế đã có rất nhiều trường hợp từ cưỡng ép chuyển hóa sang đe dọa, ngược lại, trong hành vi đe dọa thường hàm chứa sự cưỡng ép
Trang 16Tuy nhiên, bên cạnh sự tương đồng đó, hai hành vi này cũng có nhiều điểm khác biệt: nếu sự đe dọa là tác động làm cho người bị đe dọa sợ hãi thì hành
vi cưỡng ép thường là việc dựa vào hoàn cảnh đặc biệt của người để lại di sản
để dồn ép người đó phải miễn cưỡng lập di chúc theo mục đích của người cưỡng ép Ví dụ: Biết được anh rể có con riêng, em vợ cưỡng ép anh rể phải lập di chúc để lại một phần di sản thừa kế cho mình, nếu không sẽ thông báo cho cơ quan, gia đình biết sự thật này
Tóm lại, những di chúc được lập ra do bị tác động của sự lừa dối, cưỡng ép, đe dọa hoặc do người lập di chúc không còn minh mẫn, sáng suốt đều là những di chúc không phản ảnh một cách trung thực về ý chí tự nguyện của người lập ra nó Vì vậy chúng đều bị coi là di chúc không hợp pháp
Trong những trường hợp này, di chúc đương nhiên sẽ bị coi là vô hiệu Trong trường hợp một người đưa đến cho người lập di chúc một thông tin không chính xác (không đúng sự thật) nhưng không cố ý làm cho người lập di chúc hiểu sai lệch, không có mục đích lừa dối, nhưng từ thông tin ấy, người lập di chúc đã hiểu sai lệch và đã quyết định vấn đề theo hướng sai lệch
đó thì di chúc đó có bị coi là vô hiệu hay không?
Theo học viên, vì một thông tin không đúng sự thật mà người lập di chúc hiểu sai lệch và đã lập một di chúc khác với ý chí chủ quan trước đó của mình cũng nên coi là thiếu tính tự nguyện của người lập di chúc Nếu trường hợp này xảy ra khi giao kết hợp đồng dân sự hoặc thiết lập các giao dịch khác thì đương nhiên hợp đồng hoặc giao dịch đó bị coi là vô hiệu vì được thiết lập
do sự nhầm lẫn (nếu có đơn khởi kiện) Khi quy định điều kiện để di chúc được coi là hợp pháp, Điều 652 Bộ luật Dân sự không quy định về nhầm lẫn
Vì thế, nếu di chúc được lập ra trong trường hợp nói trên có thể coi là di chúc được lập ra do sự nhầm lẫn của người lập di chúc để xác định di chúc đó vô hiệu hay không, hay coi đó là không minh mẫn, sáng suốt Tình trạng "không minh mẫn, sáng suốt" theo học viên, được đánh giá trên cơ sở nhận thức lý trí,
Trang 17vì vậy không thể coi trường hợp này là "không minh mẫn, sáng suốt" được vì
sự nhầm lẫn trên hoàn toàn do nhận thức chủ quan của người lập di chúc
Bên cạnh đó, vì di chúc chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc chết nên việc xác định sự sai lệch trên có đúng là nhầm lẫn của người lập di chúc hay không, hay ý chí của người lập di chúc là như thế, là một việc không thể xác định được, có lẽ vì vậy mà các nhà làm luật không đưa yếu tố "nhầm lẫn" vào Điều 652 Bộ luật Dân sự
c) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội
Nội dung của di chúc là sự thể hiện ý chí của người lập di chúc về việc định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kế Người lập di chúc chỉ định người thừa kế, giao nghĩa vụ cho người thừa kế, phân định di sản thừa kế, đưa ra các điều kiện để chia di sản thừa kế…Ý chí của người lập di chúc phải phù hợp với ý chí của Nhà nước, không trái pháp luật, tuân thủ các quy định tại điểm 3 Điều 8 Bộ luật Dân sự (sử dụng di sản vào mục đích bất hợp pháp, chuyển giao tài sản cho các tổ chức bất hợp pháp…) Vi phạm các điều đó, di chúc sẽ bị vô hiệu
Ví dụ: Một di chúc sẽ bị coi là bất hợp pháp nếu trong di chúc đó người lập di chúc đã định đoạt tài sản của mình cho tổ chức phản động hoặc định đoạt tài sản của người khác,
Ngoài ra, di chúc hợp pháp phải còn là di chúc có nội dung phù hợp với đạo đức xã hội
Đạo đức xã hội là một hình thái ý thức xã hội, luôn phụ thuộc vào tồn tại xã hội trong từng giai đoạn, từng thời kỳ nhất định Vì vậy, đạo đức xã hội không mang tính cố định Mỗi một thời đại, thậm chí trong cùng một xã hội thì mỗi một giai cấp khác nhau sẽ có một quan niệm khác nhau về đạo đức Tuy vậy, không ai có thể phủ nhận được mối quan hệ hữu cơ giữa đạo đức và pháp luật Đạo đức là cơ sở xã hội của pháp luật Một nền pháp luật được hình
Trang 18thành nếu không phù hợp với đạo đức xã hội thì tính khả thi của nó sẽ bị hạn chế rất nhiều Ngược lại, pháp luật là phương tiện để nâng đạo đức thành ý chí của một Nhà nước Đạo đức xã hội là những trật tự công cộng, những thuần phong mỹ tục được hình thành từ một cơ sở kinh tế nhất định đã và đang được một cộng đồng người thừa nhận, tôn trọng Với cơ sở kinh tế và chế độ chính trị của Nhà nước ta hiện nay, đạo đức xã hội là việc giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng và phát huy phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam
Việc lập di chúc có nội dung không trái pháp luật của một người mới chỉ là việc họ thực hiện bổn phận của một công dân Ngoài bổn phận công dân, họ còn phải thực hiện bổn phận làm người Đạo làm người đòi hỏi các cá nhân khi lập di chúc phải luôn hướng tới phong tục tập quán truyền thống nhân bản và tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết trong cộng đồng gia đình cũng như trong cộng đồng dân tộc Vì vậy nếu nội dung di chúc có nội dung trái với đạo đức xã hội cũng sẽ bị coi là không hợp pháp
Điều 653 Bộ luật Dân sự quy định về nội dung của di chúc như sau:
- Di chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc Việc ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc là căn cứ để xác định di chúc nào được lập trước, di chúc nào được lập sau trong trường hợp một người để lại nhiều bản di chúc thì bản di chúc lập sau cùng có hiệu lực thi hành
- Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc Với tư cách là chủ thể lập di chúc, người lập di chúc phải ghi rõ họ, tên và nơi cư trú của mình, để có căn cứ xác định di chúc đó do ai lập ra, người đó có quyền lập di chúc hay không có quyền lập di chúc và việc đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi lập di chúc Chủ thể lập di chúc luôn luôn phải được xác định thông qua các yếu tố họ, tên, nơi cư trú của người đó Ngược lại, nếu không biết rõ người lập di chúc là
ai thì di chúc đó vô hiệu do không xác định được người để lại di sản là ai
Trang 19- Di chúc phải ghi rõ ai là người được hưởng di sản, là cá nhân hay tổ chức, nơi cư trú của cá nhân được chỉ định hưởng di sản, trụ sở của pháp nhân Người lập di chúc còn có quyền xác định rõ các điều kiện để cá nhân,
cơ quan, tổ chức được hưởng di sản
- Người lập di chúc phải ghi rõ di sản để lại bao gồm những tài sản gì,
ở đâu Di sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản thuộc quyền sở hữu của người lập di chúc (riêng đất đai là quyền sử dụng)
- Người lập di chúc có quyền chỉ định người thực hiện nghĩa vụ nào
đó vì lợi ích chung hoặc riêng nhưng theo nguyên tắc của pháp luật thừa kế thì nghĩa vụ giao cho người thừa kế thực hiện không thể lớn hơn giá trị phần
di sản mà người thừa kế được hưởng
- Nếu người lập di chúc định đoạt phần tài sản dùng vào việc thờ cúng, phải ghi rõ đó là loại tài sản nào, ở đâu, giao cho ai quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng, chỉ rõ nghĩa vụ của người quản lý di sản này
- Nội dung của di chúc nếu có phần liên quan đến tài sản dùng để di tặng thì người được di tặng là ai, ở đâu, được di tặng tài sản gì? bao nhiêu? ở đâu? Những yếu tố này cần phải được xác định cụ thể trong nội dung của di chúc
Ngoài ra, khoản 2 Điều 653 Bộ luật Dân sự còn quy định: "Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng kí hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh sống thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc"
d) Hình thức của di chúc không trái quy định của pháp luật
Hình thức của di chúc là phương thức biểu hiện ý chí của người lập di chúc (nội dung của di chúc); là căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc, là chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho người được chỉ định trong
di chúc, là chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho người được chỉ định trong di chúc Vì vậy, chỉ những di chúc lập ra đúng với hoàn cảnh mà pháp luật đã dự
Trang 20liệu cũng như phù hợp với thủ tục, trình tự mà pháp luật đã quy định đối với từng loại di chúc tương ứng thì di chúc đó mới được coi là đã thỏa mãn các điều kiện này
1.2.1.2 Những yêu cầu khác đối với di chúc
Bộ luật Dân sự của nước ta còn quy định một số vấn đề khác mà quá trình lập di chúc phải tuân theo nhằm tăng cường tính xác thực của di chúc, qua đó bảo vệ ý nguyện đích thực của người để lại di sản
a) Yêu cầu đối với người chứng nhận, chứng thực và người làm chứng
di chúc
Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn là những người đại diện cho các cơ quan đó trong việc chứng nhận, chứng thực di chúc nhằm xác nhận về một di chúc là do chính người để lại tài sản tự nguyện lập ra trong trạng thái tinh thần minh mẫn, sáng suốt Vì vậy, để tăng cường tính khách quan, bảo đảm độ trung thực trong việc chứng nhận, chứng thực di chúc, người chứng nhận, chứng thực phải là người không có liên quan gì đến việc hưởng di sản cũng như đến người thừa kế của người lập di chúc Điều 659 Bộ luật Dân sự đã quy định về những người không được công chứng, chứng thực di chúc
Công chứng viên, người có thẩm quyền của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn không được công chứng, chứng thực đối với di chúc, nếu họ là:
1 Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
2 Người có cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con là người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật;
3 Người có quyền, nghĩa vụ về tài sản liên quan tới nội dung di chúc Nếu việc chứng nhận, chứng thực di chúc nhằm mục đích tạo cơ sở pháp lý để ghi nhận một sự kiện thực tế thì làm chứng trong di chúc cũng là việc góp phần nâng cao tính khách quan của di chúc Muốn vậy, người làm
Trang 21chứng phải là người đã thành niên và có đủ năng lực hành vi dân sự, đồng thời không có liên quan gì đến việc hưởng di sản của người lập di chúc Điều
654 Bộ luật Dân sự quy định
Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:
1 Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
2 Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;
3 Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự
Như vậy, người làm chứng cho việc lập di chúc có thể là cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con của người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc nhưng không thể là người chứng nhận, chứng thực di chúc được Bởi vì, trong mỗi trường hợp ấy, những người này mang một tư cách khác nhau: khi chứng nhận, chứng thực, họ mang tư cách là người đại diện một cơ quan nhà nước, còn khi làm chứng cho việc lập di chúc, họ hoàn toàn mang tư cách cá nhân
b) Yêu cầu đối với việc xác định sự minh mẫn, sáng suốt của người lập di chúc
Về nguyên tắc, tất cả các di chúc đều được coi là do người để lại di sản lập ra trong khi minh mẫn, sáng suốt Vì vậy, người nào khởi kiện vì cho rằng di chúc được lập ra khi người lập di chúc không còn minh mẫn, sáng suốt thì phải chứng minh điều đó trước Tòa án có thẩm quyền giải quyết Khi
có đầy đủ cơ sở để khẳng định thiếu sự minh mẫn, sáng suốt nói trên và đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thừa nhận thì di chúc mới được coi là
vô hiệu Thực tế thì những di chúc đã thông qua thủ tục chứng nhận, chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì ít khi xảy ra tranh chấp này Tranh chấp về tính minh mẫn, sáng suốt của người lập di chúc thường chỉ xảy
Trang 22ra đối với những di chúc tự lập không có chứng nhận, chứng thực Vì vậy, muốn tránh sự tranh chấp nói trên thì tốt nhất người để lại di sản nên lập di chúc thông qua thủ tục có chứng nhận, chứng thực Nếu không thể lập di chúc theo thể thức nói trên thì người lập di chúc cần nhờ người làm chứng xác nhận vào di chúc về tình trạng minh mẫn, sáng suốt của mình
c) Yêu cầu đối với sự kiện được coi là điều kiện trong di chúc có điều kiện
Điều 125 Bộ luật Dân sự quy định:
1 Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về điều kiện phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự thì khi điều kiện đó xảy ra, giao dịch dân sự phát sinh hoặc hủy bỏ
2 Trong trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở của một bên hoặc của người thứ ba thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; Nếu có sự tác động của một bên hoặc của người thứ ba cố ý thúc đẩy cho điều kiện để làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra [17]
Quy định trên chỉ áp dụng đối với các giao dịch dân sự là hợp đồng hay được áp dụng cả với các giao dịch là hành vi pháp lý đơn phương?
Về mặt bản chất, điều luật trên vẫn có thể áp dụng đối với giao dịch là hành vi pháp lý đơn phương hay nói cụ thể hơn là đối với di chúc, vì trong di chúc cũng như trong các giao dịch một bên nói chung không cần có sự thỏa thuận nên người có ý chí đơn phương vẫn có quyền bằng ý chí ấy đưa ra các điều kiện Vì lẽ đó nếu người lập di chúc có xác định về một sự kiện là điều kiện của di chúc thì chỉ khi nào sự kiện đó xuất hiện thì di chúc mới có hiệu lực
Mặt khác, nếu người lập di chúc có đưa ra một điều kiện đối với người hưởng di sản thì chỉ khi nào người đó đáp ứng được các điều kiện này mới được hưởng di sản theo di chúc Tất nhiên, các điều kiện mà người lập di chúc
Trang 23đưa ra chỉ được coi là điều kiện để di chúc có hiệu lực pháp luật hoặc để người thừa kế được hưởng di sản theo di chúc đã lập khi các điều kiện đó đã đáp ứng được các yêu cầu theo tinh thần và nguyên tắc chung của pháp luật
Đó là:
- Các sự kiện để được coi là điều kiện trong di chúc phải mang tính khách quan: Sự kiện khách quan là những sự kiện nằm ngoài ý chí của con người Vì vậy yêu cầu này đòi hỏi việc các sự kiện nói trên có xuất hiện trong thực tế hay không, khi nào xuất hiện, xuất hiện ở mức độ nào phải hoàn toàn nằm ngoài ý chí của người lập di chúc Đồng thời, các sự kiện đó phải là những tình tiết trong tương lai (chỉ xuất hiện sau khi di chúc được lập thậm chí, sau khi người lập di chúc chết)
- Nếu điều kiện đó là công việc phải làm thì phải là những công việc
có thể thực hiện được và phải hợp pháp
Một công việc có thể thực hiện được hay không thường do hai yếu tố sau đây quyết định: một là do đặc tính của bản thân công việc nên công việc
đó không thể thực hiện được; hai là do công việc đó trái đạo đức xã hội và đã
bị pháp luật cấm làm Vì vậy yêu cầu này đòi hỏi nếu sự kiện được xác định trong di chúc là một công việc phải làm thì công việc đó phải phù hợp với pháp luật và không trái đạo đức xã hội Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng trong thực tế có thể người lập di chúc dự liệu về một sự việc bất hợp pháp nhưng sự dự liệu lại vẫn được coi là hợp pháp Ví dụ, trong di chúc, người để lại tài sản có dự liệu rằng nếu em trai họ xâm phạm đến sức khỏe của các con mình thì tài sản mà họ được thừa kế sẽ thuộc về em gái (cô ruột của các con)
1.2.2 Hiệu lực của di chúc
Một di chúc muốn có hiệu lực, trước hết phải được thừa nhận là hợp pháp Một di chúc hợp pháp chưa hẳn đã là di chúc có hiệu lực, trong một số trường hợp, di chúc hợp pháp sẽ có hiệu lực trong từng thời điểm khác nhau
Cụ thể
Trang 241.2.2.1 Thời điểm có hiệu lực của di chúc
- Đối với di chúc do một người lập ra: Theo quy định tại Điều 667 Bộ luật Dân sự, di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế Thời điểm mở thừa
kế là thời điểm người có di sản để lại theo di chúc chết hoặc người này được xác định là đã chết theo bản án tuyên bố chết có hiệu lực pháp luật
Như vậy, di chúc chỉ được áp dụng trong việc chia di sản của người lập di chúc kể từ thời điểm người lập di chúc chết Nếu người lập di chúc chưa chết thì cũng chưa có việc chia di sản của người đó Quy định này là nguyên tắc pháp luật nhằm bảo vệ quyền của người lập di chúc khi còn sống, sau khi người lập di chúc chết thì tài sản của người này là di sản được chuyển dịch theo trình tự hưởng di sản của người được thừa kế theo di chúc
Thừa kế di sản nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng là quan hệ pháp luật dân sự, do vậy quan hệ thừa kế theo di chúc cũng phải thỏa mãn các điều kiện của chủ thể trong quan hệ tài sản Theo nguyên tắc này, nếu người thừa kế theo di chúc đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc thì phần di sản liên quan đến phần của di chúc chỉ định người đó được hưởng bị vô hiệu, không có hiệu lực pháp luật
Người thừa kế được hiểu theo tư cách chủ thể của quan hệ, do vậy cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm
mở thừa kế của người để lại di chúc thì phần di sản liên quan đến phần của di chúc chỉ định cho các chủ thể này được hưởng bị vô hiệu, không thi hành được
Điểm b khoản 2 Điều 667 Bộ luật Dân sự quy định:
Trong trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực pháp luật [17]
Trang 25Di chúc không có hiệu lực trong trường hợp nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế của người để lại di chúc Trường hợp này thường xảy ra trong đời sống xã hội và trong thời điểm di chúc được lập thì tài sản vẫn còn nhưng sau một thời gian tài sản đó lại do chính người lập di chúc chi tiêu, chuyển giao quyền sở hữu cho người khác hoặc tài sản bị tiêu hủy, mà sau đó người lập di chúc không sửa lại di chúc,
do vậy phần di chúc liên quan đến tài sản không còn vào thời điểm mở thừa
kế của người lập di chúc không có hiệu lực thi hành Nhưng nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần của di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực Trong trường hợp người lập di chúc định đoạt tài sản cho nhiều người thì mỗi người được hưởng phần di sản còn lại tương ứng với nội dung của di chúc
Theo khoản 4 Điều 667 Bộ luật Dân sự: Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần
đó không có hiệu lực pháp luật
Căn cứ xác định bản di chúc sau cùng của người để lại di sản là dựa vào ngày, tháng, năm di chúc đó được lập ra Tuy nhiên, trong trường hợp di chúc lập sau cùng không có giá trị pháp lý do đã vi phạm các điều kiện có hiệu lực của di chúc thì di chúc lập trước đó có giá trị pháp lý không Di chúc lập sau cùng bị vô hiệu do đã vi phạm điều kiện có hiệu lực của di chúc được quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự về di chúc hợp pháp thì coi như không
có di chúc này và di chúc được lập trước đó có hiệu lực thi hành Cách hiểu này dựa trên căn cứ di chúc không có hiệu lực pháp luật, không thể thi hành được và giá trị pháp lý của di chúc này không tồn tại, coi như không có di chúc này; di chúc được lập trước đó vẫn giữ nguyên giá trị pháp lý vì chưa có
di chúc nào thay thế và di chúc này được coi là di chúc sau cùng
- Về di chúc chung của vợ chồng và hiệu lực của di chúc do vợ chồng lập chung: Luận văn trình bày ở mục 1.2.3 của chương này
Trang 26Xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc là một công việc quan trọng liên quan đến quyền lợi của những người thừa kế nói chung và của người thừa kế theo di chúc nói riêng Bởi chỉ khi nào di chúc có hiệu lực thì quyền hưởng di sản của những người thừa kế được xác định trong di chúc mới được pháp luật thừa nhận và bảo đảm thực hiện
Khoản 1 Điều 667 Bộ luật Dân sự quy định "Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế", tại khoản 1 Điều 633 Bộ luật Dân sự quy định
"Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trơng trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết, thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này" [17]
Vậy là thời điểm có hiệu lực của di chúc là thời điểm người lập di chúc chết Nói một cách đơn giản hơn, cứ khi nào người lập di chúc chết thì bắt đầu từ đó di chúc được coi là có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, trong thực
tế, việc xác định người lập di chúc chết từ khi nào là một việc không đơn giản Ngay cả "mốc" thời gian để xác định thời điểm chết của người để lại di sản cũng phải xác định khác nhau theo từng trường hợp cụ thể
Cái chết của người để lại di sản được xác định theo thời điểm nếu người đó chết một cách thực tế (chết sinh học) Theo thực tế, người ta sẽ xác định thời điểm đó là vào lúc mấy giờ, mấy phút của ngày, tháng, năm nào và thông thường việc xác định này được ghi nhận trong một chứng thư hộ tịch thong qua việc khai tử Do vậy, trong những trường hợp này hiệu lực của di chúc được xác định theo thời điểm người lập di chúc chết và giấy khai tử là
cơ sở pháp lý để xác định thời điểm đó
Cái chết của người để lại di sản cũng có thể được xác định theo ngày Tòa án tuyên bố là đã chết (chết pháp lý) Tuy nhiên, ngày chết của người đó được xác định theo ngày nào thì phải tùy vào từng trường hợp Theo quy định tại Điều 81 Bộ luật Dân sự thì "ngày người đó đã chết" được xác định theo hai trường hợp sau:
Trang 27- Trường hợp thứ nhất: Là ngày được Tòa án xác định trong quyết định tuyên bố là đã chết Khi ra quyết định tuyên bố là đã chết đối với cá nhân trong những trường hợp biết rõ ý do biệt tích và nếu theo những sự kiện thực
tế xảy ra đã có đủ cơ sở để xác định ngày chết của họ thì Tòa án sẽ xác định
cụ thể về ngày chết của người đó trong quyết định của Tòa Trong những trường hợp này, thời điểm có hiệu lực của di chúc được xác định theo ngày
mà Tòa án đã xác định Tuy nhiên vì chưa có văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự về vấn đề này nên việc xác định ngày chết của người bị tuyên bố
là đã chết còn chưa được thống nhất Chẳng hạn, đối với cá nhân bị tuyên bố
là đã chết do bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai thì ngày chết của họ được xác định là ngày nào trong ba ngày sau: ngày xảy ra tai nạn, thiên tai, thảm họa? ngày kết thúc tai nạn, thiên tai, thảm họa? hay ngày tròn một năm kể từ ngày tai nạn, thiên tai, thảm họa đó chấm dứt?
- Trường hợp thứ hai: Là ngày quyết định tuyên bố cá nhân là đã chết của Tòa án có hiệu lực pháp luật Xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết theo cách này thường được áp dụng trong những trường hợp không có cơ sở
để xác định một cách cụ thể về ngày chết của người đó vì sự biệt tích của họ không rõ lý do Thông thường đó là trường hợp người để lại di chúc đã bị Tòa án tuyên bố mất tích và sau đó bị Tòa án tuyên bố là đã chết vì sau ba năm kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức gì về sự sống còn của người đó hoặc trường hợp người để lại di chúc bị tuyên bố là đã chết vì đã biệt tích năm năm và cũng không rõ lý do về sự biệt tích của họ Trong những trường hợp trên, thời điểm có hiệu lực của di chúc được xác định là ngày quyết định tuyên bố là đã chết có hiệu lực pháp luật
1.2.2.2 Xác định mức độ có hiệu lực của di chúc
Hiệu lực của di chúc có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình dịch chuyển
di sản từ người đã chết cho người khác Nếu việc xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc là cơ sở để xác định tại thời điểm đó những di sản được xác định
Trang 28trong di chúc có còn hay không thì việc xác định hiệu lực của di chúc sẽ quyết định việc phân chia di sản sẽ tuân theo di chúc hay tuân theo quy định của pháp luật Vấn đề này ảnh hưởng một cách sâu sắc đến quyền lợi của những người thừa kế Vì vậy khi xác định một di chúc có hiệu lực hay không cần hết sức thận trọng, chính xác và phải tuân theo các quy định của pháp luật
Tuy nhiên, trong thực tế có rất nhiều di chúc tuy hợp pháp nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau nên vẫn không có hiệu lực pháp luật Vì vậy,
thuật ngữ "di chúc không có hiệu lực" cần được phân thành hai loại sau:
a) Di chúc không có hiệu lực do bất hợp pháp
Nếu di chúc vi phạm một trong các điều kiện đã được quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự sẽ bị coi là không có hiệu lực Tuy nhiên có những trường hợp sự vi phạm làm cho di chúc bị vô hiệu toàn bộ nhưng cũng có những trường hợp sự vi phạm các điều kiện mà pháp luật đã quy định chỉ làm cho di chúc không có hiệu lực một phần
b) Di chúc hợp pháp nhưng không có hiệu lực do các nguyên nhân khác
Di chúc dẫu hợp pháp vì đã tuân thủ đầy đủ các điều kiện mà pháp luật đã quy định nhưng vẫn không có hiệu lực pháp luật khi có một trong hai nguyên nhân sau:
- Do nguyên nhân chủ quan (người lập di chúc thay đổi ý chí)
Sự thay đổi ý chí của một người đối với một di chúc đã lập được thực hiện thông qua việc sửa đổi, thay thế hoặc hủy bỏ di chúc Trong những trường hợp này thì phần di chúc bị sửa đổi, bản di chúc bị hủy bỏ, những di chúc đã thay thế sẽ không có hiệu lực pháp luật
- Do nguyên nhân khách quan
Di chúc có thể không có hiệu lực pháp luật vì những nguyên nhân ngoài ý chí của người lập di chúc, làm cho di chúc không thể thực hiện được
Đó là những di chúc liên quan đến một trong những sự kiện sau đây:
Trang 29Thứ nhất: Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời
điểm với người lập di chúc
Theo nguyên tắc quy định tại Điều 635 Bộ luật Dân sự "Người thừa kế
là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại
di sản chết" [16] Đồng thời vấn đề thừa kế thế vị không được đặt ra trong thừa kế theo di chúc nên nếu người có tên trong di chúc đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc thì coi như không có người thừa kế theo di chúc Vì vậy di sản thừa kế đó sẽ được giải quyết theo pháp luật Tuy nhiên nếu có nhiều người thừa kế theo di chúc mà chỉ có một trong số người
đó đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc thì chỉ riêng phần di chúc liên quan đến phần tài sản mà đáng nhẽ người đó sẽ được hưởng nếu còn sống mới không có hiệu lực pháp luật Trong trường hợp này thì phần tài sản liên quan đến người thừa kế theo di chúc đã chết trước hoặc chết cùng với người lập di chúc sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc Những người thừa kế theo di chúc còn sống vẫn hưởng thừa kế theo phần mà người lập di chúc đã định đoạt cho mình Nguyên tắc này cũng được áp dụng cho những trường hợp cơ quan, tổ chức được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế Phần di sản liên quan đến những cơ quan, tổ chức đó cũng được chia cho những người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản
Thứ hai: Người thừa kế khước từ quyền hưởng di sản
Việc định đoạt trong di chúc của người để lại di sản là ý chí đơn phương
Ý chí đó chỉ làm phát sinh việc thừa kế theo di chúc khi người có tên trong di chúc tiếp nhận nó Vì vậy, nếu người có tên trong di chúc từ chối việc hưởng
di sản thì vụ thừa kế đó sẽ không phân chia theo di chúc nữa Lưu ý là chỉ một trong số những người thừa kế theo di chúc từ chối quyền hưởng di sản thì chỉ phần di chúc liên quan đến phần di sản bị từ chối là không có hiệu lực
Trang 30Thứ ba: Người thừa kế theo di chúc không được quyền hưởng di sản
(theo khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự)
Đó là những người đáng lẽ được hưởng di sản vì người lập di chúc đã cho họ hưởng nhưng những người này lại bị pháp luật không cho hưởng di sản theo di chúc đã lập vì họ có hành vi trái đạo đức, trái pháp luật Bao gồm:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người đó
Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam quy định: " Không ai có thể bị coi là có tội nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của Tòa án" [15]
Vì vậy, hành vi của người có tên trong di chúc dù đã bị kết án bằng một bản
án thì vẫn chưa thể kết luận là người đó phạm tội Bản án đó chỉ được coi là căn cứ để tước quyền hưởng di sản của người có tên trong di chúc khi nó đã
có hiệu lực pháp luật Dù người thừa kế có hành vi nói trên nhưng không bị kết án hoặc chưa bị kết án thì họ vẫn được hưởng di sản và di chúc đã lập coi như có hiệu lực toàn bộ
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản Người thừa kế theo di chúc bị coi là có hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng là người được Luật Hôn nhân và Gia đình xác định có nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản nhưng họ không thực hiện nghĩa vụ đó Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2000 thì người thừa kế theo di chúc được xác định là người có nghĩa vụ cấp dưỡng người để lại thừa
kế trong những trường hợp như: Người để lại thừa kế là cha, mẹ của họ; Người để lại thừa kế là con của họ; Người để lại thừa kế theo di chúc là anh, chị hoặc em của họ; Người để lại thừa kế theo di chúc là ông, bà của họ; Người để lại thừa kế theo di chúc là cháu của họ; Người để lại thừa kế theo di chúc là vợ hoặc chồng của họ
Trang 31Trường hợp thứ ba: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng
Trường hợp này giống trường hợp thứ nhất: chỉ có thể tước bỏ quyền hưởng di sản của người thừa kế khi hành vi "xâm phạm đến tính mạng người thừa kế khác" của họ là hành vi cố ý và đã bị Tòa án kết án bằng một bản án
đó có một hiện vật không còn vào thời điểm mở thừa kế thì sẽ có những vướng mắc nhất định Khi có một phần di sản không còn vào thời điểm mở thừa kế thì cần xác định hiệu lực của phần di chúc liên quan và bảo đảm quyền lợi cho những người thừa kế theo các tình huống sau:
- Nếu người lập di chúc đã biết có một phần di sản không còn, nhưng vẫn không thay đổi di chúc đã lập thì coi như ý chí của người đó chỉ cho người liên quan đến phần tài sản còn lại hưởng phần di sản đó, phần di chúc liên quan đến phần di sản không còn sẽ không có hiệu lực pháp luật và người
Trang 32thừa kế theo di chúc liên quan đến phần di sản không còn sẽ không được hưởng di sản thừa kế
- Nếu người lập di chúc không biết có một phần di sản không còn thì phần di chúc liên quan đến phần di sản đó không có hiệu lực, nhưng người liên quan đến phần di sản này vẫn được cùng với những người thừa kế khác
có tên trong di chúc hưởng số di sản còn lại vào thời điểm mở thừa kế
- Nếu di sản không còn vì do lỗi của người được hưởng nó thì phần di chúc liên quan đến phần di sản đó không có hiệu lực pháp luật và người thừa
kế đó không được hưởng di sản nữa Những người thừa kế khác được hưởng phần di sản còn lại như đã được xác định trong di chúc
1.2.3 Hiệu lực di chúc chung của vợ chồng
Trong thực tế, có nhiều trường hợp khi còn sống vợ, chồng cùng nhau lập di chúc để định đoạt khối tài sản chung của họ Nhưng nếu một người chết trước thì vấn đề hiệu lực của di chúc chung sẽ được xác định theo Điều 668
Bộ luật Dân sự: "Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết" [17]
Hệ quả là, khi một bên vợ hoặc chồng chết trước, người được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc chung không thể yêu cầu chia di sản do người chết trước để lại, những người thuộc diện thừa kế bắt buộc của người vợ hay chồng đã chết trước không được yêu cầu chia thừa kế bắt buộc của người vợ hoặc chồng đã chết và nếu ngoài di chúc chung, một bên vợ, chồng chết trước còn để lại nhiều di chúc khác nhau thì vấn đề xác định hiệu lực của các di chúc sẽ gặp rất nhiều khó khăn
Điều 668 Bộ luật Dân sự đã đơn giản hóa việc thực thi di chúc chung (vì chỉ chia thừa kế theo di chúc chung một lần), so với giải pháp của Bộ luật Dân sự 1995 (Điều 671 Bộ luật Dân sự 1995: "Trong trường hợp vợ, chồng lập di chúc chung mà có một người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên quan
Trang 33đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực…" [11] Theo
đó, một di chúc chung phải được thực hiện nhiều lần, hoặc có thể khởi kiện chia thừa kế nhiều lần)
Mặc dù vậy, việc xác định di chúc chung của vợ chồng phát sinh tại một thời điểm người sau cùng chết lại phát sinh những vấn đề phức tạp khác sau đây:
Thứ nhất: việc phải chia thừa kế nhiều lần đối với di sản của người vợ hay chồng chết trước, sẽ gây khó khăn cho các bên liên quan và cho cả các cơ quan tiến hành tố tụng
Thực tế cho thấy, một cá nhân có thể có nhiều sản nghiệp, bao gồm tài sản riêng của cá nhân và phần tài sản chung với vợ hay chồng, chưa kể có thể
họ còn có nhiều vợ hay nhiều chồng hợp pháp khác Nếu xác định di chúc chung chỉ có hiệu lực dựa vào thời điểm "bên sau cùng" chết, thì có thể phải tiến hành chia thừa kế nhiều lần đối với di sản của người vợ hay người chồng chết trước Việc chia thừa kế lần đầu được tiến hành đối với phần di sản là tài sản riêng của người chết trước hoặc những tài sản chung khác không định đoạt trong di chúc chung, dựa vào thời điểm mở thừa kế của người đó Các lần chia thừa kế sau được áp dụng đối với phần di sản định đoạt trong di chúc chung của
vợ, chồng, khi di chúc chung có hiệu lực (vào thời điểm bên sau cùng chết)
Trường hợp một bên vợ hoặc chồng chết trước mà vừa có di sản định đoạt bằng di chúc chung, vừa có tài sản riêng không lập di chúc hoặc có những tài sản chung không được đưa vào di chúc chung, hoặc một phần tài sản liên quan đến phần di chúc chung bị vô hiệu… thì có thể dẫn đến hậu quả
là khối di sản của người đó được chia thừa kế làm nhiều lần
Điều này dẫn đến hệ quả là người thừa kế của người vợ hay chồng chết trước sẽ phải kiện xin chia thừa kế nhiều lần, tòa án sẽ phải ít nhất hai lần thụ lý và giải quyết hai vụ tranh chấp khác nhau trên cùng một khối tài sản của người chết trước Từ đó không chỉ gây khó khăn cho người thừa kế của
Trang 34người chết trước, làm phức tạp thêm tính chất của vụ việc, mà còn gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc giải quyết tranh chấp thừa kế (trong việc xác định di sản của người chết, xác định người thừa kế của người chết trước và việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nếu người chết có để lại món nợ đối với người thứ ba…), thậm chí có thể dẫn đến vi phạm nguyên tắc không thụ
lý, xét xử nhiều lần cho cùng một vụ việc theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự (điểm c, khoản 1 Điều 168 và Điều 193 Bộ luật Tố tụng dân sự 2003)
Thứ hai: quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung như luật hiện hành sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế của người vợ hay chồng chết trước
Quyền thừa kế đối với di sản của người chết trước phát sinh từ thời điểm mở thừa kế, nhưng cho đến khi di chúc chung chưa phát sinh hiệu lực, những người thừa kế của người chết trước sẽ không thể yêu cầu phân chia di sản của người chết đã được định đoạt trong di chúc chung và phần di sản liên quan tới phần nội dung di chúc chung bị vô hiệu, nếu có; hoặc trong trường hợp người vợ hay người chồng vẫn còn sống lâu hơn so với tuổi thọ của những người thừa kế hợp pháp của người chết trước (như cha, mẹ của người chết trước, người thừa kế là con riêng chưa thành niên đang đau yếu cần có tiền để chữa bệnh…), làm những người này mất quyền được hưởng di sản
Ví dụ: ông A, bà B lập di chúc chung để lại di sản cho các con chung của ông A, bà B Sau đó, ông A chết Vấn đề phức tạp nảy sinh khi một người con của ông A cần khoản tiền để chữa bệnh nhưng không có khả năng kinh tế, nên muốn được chia thừa kế di sản của ông A Tuy nhiên do bà B vẫn còn sống, di chúc chung của A và B chưa có hiệu lực, nên người con này không thể xin chia di sản của ông A theo di chúc chung nói trên Vì thế, quyền được hưởng thừa kế của người con không được bảo đảm
Đó là chưa kể các trường hợp di chúc chung có thể bị vô hiệu toàn bộ hay một phần, nhưng mãi đến hàng chục năm sau mới phát hiện, thì trong
Trang 35nhiều trường hợp, quyền khởi kiện đòi chia thừa kế của những người thừa kế hợp pháp của người vợ hay chồng chết trước đã bị bỏ lỡ mà không còn cơ hội
để khắc phục được, nếu người thừa kế đó đã chết Điều này đã xâm phạm tới quyền thừa kế hợp pháp - một quyền hiến định cơ bản của công dân, được Hiến pháp và pháp luật bảo hộ (Điều 58 Hiến pháp 1992: "… Nhà nước bảo
hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân" [9])
Thứ ba: gây khó khăn cho việc xác định phạm vi những người thừa kế
và tư cách của người được thừa hưởng di sản
Nếu những người thừa kế (của vợ, chồng đã chết hoặc những người được chỉ định trong di chúc chung) chết sau thời điểm mở thừa kế, nhưng chết trước khi di chúc chung có hiệu lực, thì họ có còn được hưởng thừa kế nữa không, có chia thừa kế thế vị hay thừa kế chuyển tiếp không; hoặc những người trong diện thừa kế hợp pháp (của người vợ hoặc chồng còn sống), nhưng tư cách thừa kế của họ được xác định trước khi di chúc chung có hiệu lực (như vợ, chồng tái hôn hoặc con riêng với người vợ, chồng sau…), thì họ
có được thừa kế bắt buộc đối với phần di sản đã được định đoạt trong di chúc chung hay không Ngoài ra, việc xác định tư cách người thừa kế cũng gặp khó khăn ngay cả đối với người được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc chung, nếu họ chết sau người vợ hoặc chồng quá cố, nhưng lại chết trước khi di chúc chung có hiệu lực… Đây là những vấn đề phức tạp, nhưng quy định hiện hành không thể giải quyết được Bởi vậy, nếu quy định thời điểm có hiệu lực của di chúc như hiện nay thì cần phải tính đến quyền lợi của những người được di chúc chung chỉ định hưởng thừa kế
Thứ tư: sự mâu thuẫn giữa quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng với các quy định khác có liên quan trong hệ thống pháp luật
Theo các quy định liên quan, kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa
kế có các quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại (Điều 636 Bộ luật Dân sự)
Trang 36Người thừa kế chỉ có thể từ chối hưởng di sản thừa kế trong thời hạn sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế Nếu không từ chối đúng thủ tục và trong thời hạn luật định thì được coi là đã nhận di sản (Điều 642 Bộ luật Dân sự)
Theo đó, giữa thời điểm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế so với thời điểm có hiệu lực của di chúc chung là khác nhau, dẫn tới
sự bất cập và thiếu nhất quán trong việc thực hiện các quyền này Mặt khác, thời điểm có hiệu lực của di chúc chung rõ ràng cũng không nhất quán với quyền từ chối hưởng di sản, vì vào thời điểm di chúc chung có hiệu lực, người thừa kế (nếu còn sống) cũng không thể thực hiện quyền từ chối thừa kế được
Mặt khác, Bộ luật Dân sự 2005 quy định di chúc chung có hiệu từ khi người sau cùng chết, nhưng theo quy định của Luật Nhà ở 2005 thì người thừa kế có quyền sở hữu đối với di sản thừa kế là nhà ở, kể từ thời điểm mở thừa kế (Khoản 5 Điều 92 Luật Nhà ở năm 2005; Khoản 5, Điều 63 Nghị định 90/2006/NĐ-CP ngày 06/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật nhà ở năm 2005)
Như vậy, thời điểm có quyền sở hữu nhà phát sinh trước thời điểm di chúc chung có hiệu lực Xét trên phương diện quyền sở hữu và quyền thừa kế,
có thể thấy, khi người chủ tài sản chết sẽ làm chấm dứt tư cách sở hữu chủ của người đó đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, đồng thời làm phát sinh quyền thừa kế của những người thừa kế Thế nên, quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung như trên là một vướng mắc rất khó giải quyết, nên cần phải được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho thống nhất với các quy định khác
Thứ năm: việc xác định di chúc chung có hiệu lực vào thời điểm bên sau cùng chết sẽ làm ảnh hưởng đến thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với di sản của người chết trước
Thời hiệu khởi kiện thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế Nếu hết 10 năm đó mà người kia vẫn còn sống, thì thời hiệu khởi kiện xin chia thừa kế đối với phần di sản của người chết trước cũng không còn (Điều 645
Trang 37Bộ luật Dân sự) Nếu vì lý do nào đó, chẳng hạn nội dung di chúc chung vi phạm pháp luật, có dấu hiệu lừa dối, giả mạo… mà người thừa kế không biết
để khởi kiện kịp thời (do di chúc chung chưa được công bố), đến khi người sau cùng chết mà thời hiệu khởi kiện không còn, thì quyền lợi của người thừa
kế của người chết trước cũng như những người thừa kế hợp pháp của cả vợ, chồng có được bảo vệ không, cũng chưa được pháp luật quy định rõ
Thứ sáu: ảnh hưởng đến sự bảo toàn giá trị của khối di sản là tài sản chung
Khi tình trạng không phân chia di sản kéo dài quá lâu, khiến cho di sản
là tài sản chung không còn nguyên vẹn do bị tiêu hủy, giảm sút giá trị, hoặc
do sự đầu tư, sửa chữa, tu bổ làm tài sản tăng giá trị, thì hậu quả của nó càng hết sức phức tạp Việc xác định giá trị của tài sản chung trong trường hợp này
sẽ rất khó khăn, sẽ càng tạo ra nhiều tranh chấp khác rất khó giải quyết
Như vậy, thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật của di chúc chung không đơn giản chỉ là căn cứ để phân chia di sản theo di chúc chung, mà sẽ ảnh hưởng tới thời hiệu khởi kiện, quyền thừa kế di sản của người chết trước, xác định phạm vi những người thừa kế hợp pháp, xác định giá trị di sản của người chết và những biến động của nó… Qua đó sẽ làm cho việc chia thừa kế theo di chúc chung trở nên khó khăn, phức tạp thêm
Thực chất nguyên nhân của những mâu thuẫn này xuất phát từ việc pháp luật quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung là thời điểm bên sau cùng chết, trong khi quyền thừa kế phát sinh từ thời điểm mở thừa kế Bởi vậy, cần phải cân nhắc sửa đổi quy định về thời điểm có hiệu lực pháp luật của di chúc chung một cách chặt chẽ, hợp lý hơn
1.2.4 Những hạn chế về quyền định đoạt của người lập di chúc (theo Điều 669 Bộ luật Dân sự)
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân, ý chí là sự tự do tự nguyện của con người, tuy nhiên không phải là sự tự do tuyệt đối, tự do đó phải phù
Trang 38hợp với nguyên tắc tôn trọng truyền thống, đạo đức Pháp luật quy định về những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc (Điều 669 Bộ luật Dân sự)
Ở Việt Nam, diện những người thừa kế bao gồm tất cả những người thân thuộc dù gần hay xa của người chết Ngày nay, phạm vi đó đã được thu hẹp rất nhiều, nếu về huyết thống chỉ bao gồm những người có quan hệ trực
hệ trong phạm vi bốn đời và những người có quan hệ ngành ngang (bàng hệ) trong phạm vi ba đời đối với người chết Đặc biệt, trong diện đã được thu hẹp
đó, chỉ một số người tối thiểu có quan hệ gần gũi với người đã chết mới được hưởng di sản mà người chết phải thực hiện bổn phận đạo đức
Từ góc độ đạo đức, bổn phận đã được pháp luật nâng lên thành nghĩa
vụ pháp lý - Đó chính là nghĩa vụ nuôi dưỡng lẫn nhau giữa các thành viên trong một gia đình Sự nuôi dưỡng đó được người có nghĩa vụ trực tiếp thực hiện khi còn sống, đồng thời khi đã chết, nghĩa vụ đó được thể hiện thông qua việc để lại di sản Điều 669 Bộ luật Dân sự quy định:
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:
1 Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng
2 Con đã thành niên mà không có khả năng lao động [17]
Về phương diện kinh tế: pháp luật luôn tôn trọng ý chí của người để lại di sản, nhưng bên cạnh đó, chính pháp luật lại hạn chế quyền định đoạt ấy nếu người để lại di sản còn có những người khác mà khi họ còn sống, họ có nghĩa vụ nuôi dưỡng chăm sóc Nói cách khác, một số người thừa kế luôn có
Trang 39quyền hưởng một phần di sản nhất định mà không phụ thuộc vào việc người lập di chúc có cho họ hưởng hay không
Có thể nói rằng, Điều 669 Bộ luật Dân sự là sự dung hòa giữa phương diện kinh tế và phương diện đạo đức Ví dụ: Tại thời điểm mở thừa kế, ông Tài có hai người thừa kế theo luật còn sống là bà Hà (vợ ông Tài) và một người con là anh Văn chưa thành niên Ông Tài có lập di chúc định đoạt toàn
bộ tài sản (trị giá 60 triệu đồng) của mình cho bà Hà, còn anh Văn - do lúc còn sống cha con có mâu thuẫn trầm trọng, ông Tài không chia thừa kế cho anh Văn Pháp luật tôn trọng ý chí của ông Tài trong việc lập di chúc định đoạt tài sản, tuy nhiên, ông Tài phải có bổn phận tối thiểu đối với anh Văn - người con chưa thành niên Tài sản của ông Tài không thể được định đoạt trao hết cho bà Hà Vụ án được giải quyết như sau: Xác định một suất thừa kế theo Luật là: 60 triệu đồng: 2 = 30 triệu đồng Anh Văn được hưởng hai phần ba của một suất thừa kế theo luật là 30 triệu đồng x 2/3 = 20 triệu đồng Bà Hà hưởng phần di sản còn lại là: 60 triệu đồng - 20 triệu đồng = 40 triệu đồng
Trước đây, khi quy định những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, do sắp xếp ngôn từ không phù hợp nên đã làm xuất hiện nhiều cách hiểu khác nhau về cùng một điều luật Điều 669 Bộ luật Dân sự đã có sự thành công khi xếp lại danh mục những người được hưởng di sản một cách khoa học, trong mọi trường hợp thì bố, mẹ, vợ, chồng của người chết đều hưởng một phần di sản ít nhất bằng hai phần ba của một suất thừa kế theo luật Việc quy định của pháp luật thừa kế được xác định trên nguyên tắc bình đẳng giữa các cá nhân nên việc được hưởng thừa kế không bị phân biệt giữa con trong hay ngoài giá thú, không phân biệt giữa con đẻ và con nuôi, luật còn xác định bố, mẹ, vợ, chồng của người chết đề đứng trong một hàng thừa kế để hưởng di sản của người đó
Có những vấn đề đặt ra như sau:
Người thừa kế theo Điều 669 Bộ luật Dân sự có được hưởng di sản khi bị người để lại di chúc truất quyền hưởng di sản hay không?
Trang 40Người thừa kế "không được người để lại di chúc cho hưởng di sản" bao gồm: người không được người lập di chúc phân định cho một phần di sản nào, người bị người lập di chúc truất quyền hưởng di sản Như vậy "người không được người để lại di chúc cho hưởng di sản" có thể không phải là người bị truất quyền, nhưng ngược lại, người bị truất quyền là người "không được người để lại di chúc cho hưởng di sản" Vì vậy, cần xác định những người được quy định trong Điều 669 Bộ luật Dân sự luôn được hưởng hai phần ba của một suất thừa kế theo luật kể cả trường hợp họ bị người lập di chúc truất quyền hưởng di sản
Cách xác định một suất thừa kế theo luật:
Việc xác định một suất thừa kế trong thực tế không đơn giản, cần lưu
ý những người sau đây có được coi là nhân suất hay không:
- Người không được quyền hưởng di sản theo khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự: Những người do có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức nên bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản, họ không phải là người thừa kế của người để lại di sản nữa Vì vậy, khi cộng nhân suất để xác định một suất thừa
kế theo luật, không được cộng những người này
- Người thừa kế theo Điều 669 Bộ luật Dân sự bị người để lại di chúc truất quyền hưởng di sản: Những người này luôn là người thừa kế theo luật của người để lại di sản dù họ bị truất quyền hưởng Do vậy, khi xác định một suất thừa kế theo luật, họ vẫn là một nhân suất
- Người từ chối nhận di sản: Người đã từ chối nhận di sản thì họ không được hưởng di sản nữa kể cả chia theo pháp luật Nếu người từ chối nhận di sản chỉ là người thừa kế theo di chúc (không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng, hôn nhân với người để lại di sản) thì họ không phải là nhân suất khi xác định một suất thừa kế theo luật Nếu người từ chối nhận di sản là người thừa kế theo di chúc đồng thời cũng là người thừa kế theo luật của người để lại di sản và họ đã từ chối hưởng di sản theo di chúc và theo cả pháp