Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Các tội xâm phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản trong nhiều trường hợp có sự tương đồng, xuất phát từ sự tương đồng nà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN KHÁNH VÂN
PHÂN BIỆT CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU VỚI CÁC
VI PHẠM TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ VỀ TÀI SẢN
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN HƯƠNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không trùng với bất kỳ một công trình nghiên cứu nào đã được công bố trước đó, mọi trích dẫn trong bài viết đều được chú thích và dẫn nguồn rõ ràng, đầy đủ
Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2014 Người viết luận văn
Nguyễn Khánh Vân
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU……… 1
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc phân biệt các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản……… 5
1.1 Cơ sở lý luận……… 5
1.2 Cơ sở thực tiễn……… 15
Chương 2: Sự khác biệt giữa các tội xâm phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản……… 24
2.1 Những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản……… 24
2.2 Biểu hiện cụ thể của những dấu hiệu khác nhau cơ bản 35
2.2.1 Biểu hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt ở các tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”……… 36
2.2.2 Biểu hiện của yếu tố lỗi ở tội “hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản”……… 52
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự để làm rõ sự phân
biệt giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản……… 58
3.1 Kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu ……… 58
3.1.1 Hoàn thiện quy định của Điều 140 BLHS……… 58
3.1.2 Hoàn thiện quy định của Điều 143 và Điều 144 BLHS………… 59
3.1.3 Hoàn thiện quy định của Điều 142 BLHS và một số tội xâm phạm sở hữu khác……… 62
3.2 Kiến nghị xây dựng văn bản giải thích pháp luật và nâng cao hiệu lực
thực thi pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu ……… 64
KẾT LUẬN……… 68
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Các tội xâm phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản trong nhiều trường hợp có sự tương đồng, xuất phát từ sự tương đồng này nên trong thực tiễn áp dụng pháp luật, khi biểu hiện cụ thể của những dấu hiệu khác
nhau cơ bản giữa chúng không được làm rõ sẽ dẫn đến việc lựa chọn sai quy
phạm pháp luật để xử lý các hành vi vi phạm mà trong một số sách báo thường gọi là “hình sự hóa dân sự” hoặc “dân sự hóa hình sự”, thực chất đó là tình trạng
áp dụng luật hình sự để xử lý các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản hoặc giải quyết các vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu bằng pháp luật dân sự Việc làm đó gây ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm Tình trạng trên còn xuất phát từ một số bất cập của Bộ luật hình sự (BLHS) hiện hành về các tội xâm phạm sở hữu Vì vậy, việc nghiên cứu để làm rõ những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa hai loại hành vi vi phạm nói trên đồng thời hoàn thiện quy định của BLHS về các tội xâm phạm sở hữu là việc làm mang tính cấp thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Là một vấn đề được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm nên việc phân biệt giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản
đã được nhiều học giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau
PGS TS Nguyễn Ngọc Chí (Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm
phạm sở hữu, luận án tiến sĩ luật học), TS Phạm Quang Huy (Ranh giới giữa tội phạm và không phải là tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, luận án tiến sĩ luật
học), Nguyễn Trường Thiệp (Phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác, luận văn thạc sỹ luật học), Lương Văn Thức (Các tội xâm phạm sở hữu trong
Trang 5luật hình sự Việt Nam, luận văn thạc sỹ luật học) đã có những nghiên cứu khá chi
tiết về các tội xâm phạm sở hữu, nhất là các tội có tính chiếm đoạt, và có nêu một số vấn đề phân biệt các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản đồng thời cũng đã đƣa ra một số dấu hiệu
để nhận biết hành vi “chiếm đoạt”
Xuất phát từ góc độ nghiên cứu hiện tƣợng “hình sự hoá giao dịch dân sự,
kinh tế”, các tác giả: TS Nguyễn Văn Vân (Về hiện tượng hình sự hóa các quan
hệ kinh tế, dân sự trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng), Lại Việt Hợp (Thực trạng tình hình hình sự hoá giao dịch dân sự, kinh tế hiện nay, Báo Diễn đàn doanh
nghiệp, số 63 ngày 6/11/2000), Trần Hữu Huỳnh (Hình sự hoá các quan hệ dân
sự, kinh tế: nguyên nhân và giải pháp, Tham luận tại Diễn đàn doanh nghiệp
“Chống hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế”, TP Hồ Chí Minh, ngày
10/11/2000), Vũ Thế Vậc (Một số giải pháp khắc phục tình trạng hình sự hoá
các quan hệ dân sự, kinh tế trong hoạt động ngân hàng), Nguyễn Đình Cung
(Báo cáo tổng quát về hiện tượng hình sự hoá giao dịch dân sự kinh tế), Nguyễn Văn Hiện (Những biểu hiện của tình trạng hình sự hoá các giao dịch dân sự,
kinh tế trong công tác xét xử và biện pháp khắc phục) đã phân tích hiện tƣợng áp
dụng các tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” để giải quyết các vi phạm dân sự, kinh tế, đồng thời khẳng định dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt giữa các tội nói trên với các vi phạm dân sự, kinh tế
là dấu hiệu chiếm đoạt; ThS Đinh Văn Quế (Bình luận án, Nxb TP Hồ Chí
Minh, 1998) và TS Nguyễn Văn Hiện đã xác định các vấn đề quan trọng trong việc chứng minh hành vi chiếm đoạt tài sản Tuy tiếp cận vấn đề từ góc độ nghiên cứu hiện tƣợng “hình sự hoá giao dịch dân sự, kinh tế” (với nghĩa là sự lạm dụng pháp luật hình sự để xử lý những vi phạm trong giao dịch dân sự, kinh
Trang 6tế), trong đó chủ yếu là “hình sự hóa” giao dịch kinh tế, nhưng có thể nói những tài liệu trên đã đưa ra được những kết quả nghiên cứu có ý nghĩa trong việc phân biệt các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản
Trên cơ sở phân tích toàn diện những trường hợp có sự tương đồng giữa các tội xâm phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản, từ đó làm rõ những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa chúng - cách tiếp cận mới của luận văn này đã làm rõ được sự khác biệt giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản một cách toàn diện Qua đó, luận văn đã
có những đề xuất khắc phục các bất cập của luật hình sự có liên quan đến việc phân biệt các vi phạm pháp luật nêu trên
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự, trên cơ sở phân tích những trường hợp có sự tương đồng giữa các tội xâm phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản, rút ra những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa chúng và làm rõ những dấu hiệu đó, đó là nội dung chính của việc phân biệt các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
- Phương pháp bình luận;
- Phương pháp so sánh luật học;
- Phương pháp phân tích;
- Phương pháp tổng hợp…
Trang 75 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
5.1: Mục đích: Làm rõ những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa các tội xâm
phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản và đề xuất hướng hoàn thiện các quy định của BLHS về các tội xâm phạm sở hữu
5.2: Nhiệm vụ: Phân tích những trường hợp có sự tương đồng giữa các tội
xâm phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản, từ đó rút ra những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa chúng và làm rõ biểu hiện cụ thể của những dấu hiệu đó Từ đó đề xuất hướng hoàn thiện các quy định của BLHS về các tội xâm phạm sở hữu
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Luận văn đã làm rõ được sự khác nhau giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản Trên cơ sở đó, đề xuất hướng hoàn thiện BLHS về các tội xâm phạm sở hữu
7 Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc phân biệt các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản
Chương 2: Sự khác biệt giữa các tội xâm phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự để làm rõ sự phân biệt giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản
Trang 8Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo
vệ [7; 211] Các vi phạm pháp luật đều có tính nguy hiểm cho xã hội Tính nguy
hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm thể hiện ở 4 yếu tố cấu thành: Khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể Dựa trên tính nguy hiểm cho xã hội, các
vi phạm pháp luật đƣợc phân loại thành tội phạm (vi phạm pháp luật hình sự) và các vi phạm pháp luật khác (trong đó có vi phạm dân sự); Trong đó, tội phạm là
vi phạm có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, các vi phạm pháp luật khác là những vi phạm có tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự
và phải chịu hình phạt [9; 42] Tội phạm có các đặc điểm:
Trang 9- Là hành vi có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội;
- Có lỗi;
- Trái pháp luật hình sự (xuất phát từ 2 đặc điểm trên)
- Phải chịu hình phạt (xuất phát từ 3 đặc điểm trên)
Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện được đầy
đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi [9; 5]
BLHS hiện hành quy định các tội xâm phạm sở hữu tại Chương XIV, gồm
13 Điều, từ 133 đến 145 Bao gồm các tội:
- Cướp tài sản (Điều 133);
- Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134);
- Cưỡng đoạt tài sản (Điều 135);
- Cướp giật tài sản (Điều 136);
- Công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137);
- Trộm cắp tài sản (Điều 138);
- Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139);
- Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140);
- Sử dụng trái phép tài sản (Điều 141);
- Chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 142);
- Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143);
Trang 10- Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144);
- Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145)
Các hành vi khách quan ở các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quan hệ sở hữu Bao gồm các hành vi:
Thứ nhất: Hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt Hành vi có dấu hiệu chiếm
đoạt là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình; hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt có đặc điểm:
là hành vi làm mất hẳn khả năng thực hiện quyền sở hữu của chủ tài sản và tạo khả năng đó cho chủ thể hành vi, được thực hiện đối với tài sản đang trong sự chiếm hữu, quản lý của chủ tài sản và với lỗi cố ý trực tiếp Hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt là hành vi khách quan ở 8 trong số 13 tội xâm phạm sở hữu Trong
đó, ở các tội “cướp tài sản”, “bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”, “cưỡng đoạt tài sản”, hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt đồng thời xâm phạm đến cả quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu, nên cấu thành tội phạm ở những tội này là cấu thành hình thức, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc ở những tội này Ở tội “cướp giật tài sản”, hành vi chiếm đoạt ngoài xâm phạm đến quan hệ sở hữu còn xâm phạm đến hoặc đe dọa xâm phạm đến quan hệ nhân thân nên cấu thành ở tội này cũng là cấu thành hình thức Ở các tội “công nhiên chiếm đoạt tài sản”, “trộm cắp tài sản”, “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, hành vi chiếm đoạt chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, nên để hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt ở những tội này thể hiện đầy đủ tính chất nguy hiểm đáng
kể cho xã hội, thì dấu hiệu hậu quả và quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
là dấu hiệu bắt buộc, tài sản bị chiếm đoạt (hoặc bị đe dọa chiếm đoạt) phải có
Trang 11giá trị theo luật định thì hành vi mới cấu thành tội phạm; trong trường hợp tài sản
bị chiếm đoạt không đủ giá trị theo luật định thì dấu hiệu chủ thể có nhân thân xấu (đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích) có thể bổ sung cho dấu hiệu hậu quả
để hành vi chiếm đoạt cấu thành tội phạm; như vậy, cấu thành tội phạm ở những tội này là cấu thành vật chất Lỗi ở các tội này đều phải là lỗi cố ý trực tiếp và chủ thể là chủ thể thường
Thứ hai: Hành vi sử dụng trái phép tài sản Hành vi sử dụng trái phép tài
sản là hành vi khách quan ở tội “sử dụng trái phép tài sản” Lỗi ở tội này là lỗi cố
ý Cùng là các hành vi xâm phạm quan hệ sở hữu có mục đích tư lợi, nhưng khác với hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt, hành vi sử dụng trái phép tài sản không làm cho chủ tài sản mất hẳn khả năng thực hiện các quyền sở hữu của mình mà chỉ xâm phạm đến quyền sử dụng của chủ tài sản trong một thời gian nhất định Do vậy, để hành vi sử dụng trái phép tài sản có đầy đủ tính nguy hiểm đáng kể cho
xã hội thì cần có thêm những dấu hiệu khác: Tài sản bị sử dụng trái phép phải có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên (đặc điểm của đối tượng tác động) và hành vi phải gây hậu quả nghiêm trọng (dấu hiệu “hậu quả nghiêm trọng” được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của TAND Tối cao, VKSND Tối cao, Bộ công an, Bộ tư pháp); trong trường hợp hành vi không gây hậu quả nghiêm trọng thì dấu hiệu nhân thân xấu của chủ thể (đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án
về tội này, chưa được xóa án tích) có thể bổ sung hoặc thay thế cho dấu hiệu đó
để hành vi sử dụng trái phép tài sản cấu thành tội phạm Như vậy, cấu thành tội phạm (CTTP) của tội này rất đặc biệt: cùng một tội phạm (trong cùng Điều, Khoản) lại có hai loại CTTP khác nhau, trong trường hợp chủ thể là chủ thể có
Trang 12nhân thân xấu (như đã nêu ở trên) thì CTTP là cấu thành hình thức, trong trường hợp chủ thể là chủ thể thường (không có đặc điểm nhân thân xấu nêu trên) thì CTTP là cấu thành vật chất Trường hợp thứ nhất chính là một điểm bất cập của BLHS hiện hành (sẽ được phân tích cụ thể ở phần sau)
Thứ ba: Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản Hành vi chiếm giữ trái phép
tài sản là hành vi khách quan ở tội “chiếm giữ trái phép tài sản” Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản là hành vi cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản
lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được… Cùng là các hành vi xâm phạm quan
hệ sở hữu với mục đích tư lợi, nhưng khác với hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt, hành vi chiếm giữ trái phép tài sản tác động đến tài sản đã thoát li khỏi sự chiếm hữu của chủ sở hữu hoặc tài sản chưa có chủ sở hữu Nên nếu không xét đến các dấu hiệu khác của CTTP thì hành vi chiếm giữ trái phép tài sản có tính nguy hiểm cho xã hội không cao bằng hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt Để hành vi chiếm giữ trái phép tài sản có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội thì cần có thêm dấu hiệu khác: Tài sản bị chiếm giữ trái phép phải có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên hoặc là cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa Lỗi ở tội này là lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội biết tài sản đang có không phải là tài sản của mình và biết mình có nghĩa vụ phải trả lại hoặc giao nộp tài sản cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm nhưng không thực hiện nghĩa vụ
đó vì mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình Ngoài dấu hiệu lỗi, thái
độ cố tình là một dấu hiệu bắt buộc khác thuộc mặt chủ quan của tội này, đó là thái độ cương quyết, dứt khoát không chịu giao nộp hoặc không chịu trả lại tài sản mặc dù đã được chủ tài sản hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật Chủ thể của tội này là chủ thể thường
Trang 13Thứ tư: Hành vi hủy hoại, làm hư hỏng, làm mất mát, làm lãng phí tài
sản Hành vi hủy hoại tài sản là hành vi làm cho tài sản mất giá trị sử dụng ở mức độ không còn hoặc khó có khả năng khôi phục lại được, hành vi này được thực hiện với lỗi cố ý, và là hành vi khách quan của tội “hủy hoại tài sản” Hành
vi làm hư hỏng tài sản là hành vi làm giá trị sử dụng của tài sản bị mất ở mức độ còn điều kiện khôi phục lại được, hành vi này có thể được thực hiện với lỗi cố ý (là hành vi khách quan của tội “cố ý làm hư hỏng tài sản”) hoặc lỗi vô ý (hành vi khách quan của tội “thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước” hoặc tội “vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”) Hành vi làm mất mát hoặc làm lãng phí tài sản là những hành vi làm mất toàn bộ hoặc một phần giá trị của tài sản đã được giao cho chủ thể để quản lý, sử dụng, bảo quản…; nhưng lỗi của chủ thể ở những hành vi này là lỗi vô ý, đây chính là điểm phân biệt giữa những hành vi này với hành vi chiếm đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản; Các hành vi làm mất mát hoặc làm lãng phí tài sản là hành vi khách quan của tội “thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước” hoặc tội “vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản” Các hành vi hủy hoại hoặc
cố ý làm hư hỏng tài sản thể hiện tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội khi phần giá trị tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng chủ thể đã bị xử lý hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích Do được thực hiện với lỗi vô ý nên các hành vi làm mất mát, làm lãng phí, vô ý làm hư hỏng tài sản chỉ thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội khi giá trị phần tài sản bị thiệt hại từ 50 triệu đồng trở lên Trong số các tội này, ngoại trừ tội “thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước” đòi hỏi chủ thể phải là chủ thể đặc biệt, chủ thể của các tội còn lại đều là chủ thể thường
Trang 14Như vậy, bản chất của các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, xâm phạm đến quan hệ sở hữu và sự xâm phạm này thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi Tính nguy hiểm cho xã hội của mỗi tội xâm phạm sở hữu lại được thể hiện qua những dấu hiệu khác nhau Tính nguy hiểm cho xã hội của các tội xâm phạm sở hữu thường được thể hiện qua: Tính chất, đặc điểm của hành vi; đặc điểm của đối tượng tác động; hậu quả của hành vi; lỗi; nhân thân của chủ thể
Vi phạm dân sự là những hành vi trái pháp luật, có lỗi do các chủ thể có năng lực trách nhiệm dân sự thực hiện, xâm hại tới những quan hệ tài sản, quan
hệ nhân thân có liên quan tới tài sản, quan hệ phi tài sản [7; 215] Vi phạm dân
sự có tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể Đây là sự khác nhau về bản chất giữa vi phạm dân sự và tội phạm
Theo Điều 121 Bộ luật dân sự (BLDS) 2005, “Giao dịch dân sự là hợp
đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Giao dịch dân sự về tài sản là những giao dịch dân sự có
đối tượng là tài sản, bao gồm các giao dịch: Mua bán, trao đổi, vay, thuê, mượn, vận chuyển, gia công, sửa chữa, gửi giữ, bảo vệ… tài sản; bảo hiểm; hứa thưởng
và thi có giải Trong các giao dịch đó, các bên trong giao dịch có các nghĩa vụ:
- Thanh toán (gồm cả phần lãi nếu có)
- Giao tài sản
- Trả lại tài sản
- Bảo quản tài sản
- Sử dụng tài sản đúng công dụng và đúng mục đích đã thỏa thuận
Trang 15- Bảo hành tài sản trong hợp đồng mua bán tài sản có bảo hành
- Bảo đảm giá trị sử dụng của tài sản thuê và bảo đảm quyền sử dụng tài sản của bên thuê trong hợp đồng thuê tài sản
- Cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết theo luật định
- Mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật (trong hợp đồng vận chuyển tài sản) và thanh toán các chi phí hợp lý phát sinh trong quá trình thực hiện giao dịch theo luật định
- Giữ bí mật các thông tin về quy trình gia công và sản phẩm gia công trong hợp đồng gia công tài sản
- Thực hiện các biện pháp phòng ngừa thiệt hại (nghĩa vụ của bên được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm)
…
Vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản là một dạng của vi phạm dân sự
Đó là những hành vi vi phạm nghĩa vụ trong giao dịch dân sự về tài sản Bao gồm 3 loại vi phạm chính:
Loại thứ nhất: Không thực hiện nghĩa vụ
Loại thứ hai: Thực hiện không đúng nghĩa vụ Bao gồm: Không đúng địa
điểm, không đúng thời hạn, không đúng đối tượng, không đúng phương thức thực hiện
Loại thứ ba: Thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ Trong các giao dịch dân
sự về tài sản, các bên trong giao dịch có thể có một hoặc nhiều nghĩa vụ trong số các nghĩa vụ đã nêu ở trên Việc người có nghĩa vụ thực hiện không đầy đủ các
Trang 16nghĩa vụ đã thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định cũng là hành vi vi phạm nghĩa vụ
Người thực hiện những hành vi vi phạm nói trên phải chịu trách nhiệm
dân sự “Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà người có nghĩa vụ không thực
hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ, thì sẽ phát sinh trách nhiệm dân sự với người có quyền” [8; 47] Trong số các hành vi đó có những hành vi
gây thiệt hại về tài sản cho người khác, qua đó xâm hại đến quan hệ sở hữu
Là một dạng của vi phạm dân sự, các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản cũng có bản chất là những hành vi có tính nguy hiểm không đáng kể cho
xã hội Nhưng trong số đó, có những hành vi gây thiệt hại về tài sản cho người
khác, qua đó xâm hại đến quan hệ sở hữu, bản thân những hành vi này chưa có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, nhưng khi những hành vi đó có thêm những dấu hiệu làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội đến mức đáng kể thì hành vi đó trở thành tội phạm, và trong trường hợp sự xâm hại đến quan hệ sở hữu thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì hành vi đó cấu thành các tội xâm phạm sở hữu Khi đó, các hành vi này không còn đơn thuần là hành vi vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản nữa
Như vậy, sự khác nhau về bản chất giữa các tội xâm phạm sở hữu với các
vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản là tính nguy hiểm cho xã hội của vi phạm Thể hiện ở chỗ: Những hành vi vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản
là những hành vi có tính nguy hiểm không đáng kể cho xã hội, chỉ khi những hành vi đó có thêm những dấu hiệu làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội đến mức đáng kể và sự xâm hại đến quan hệ sở hữu thể hiện được đầy đủ nhất bản
Trang 17chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì hành vi đó mới cấu thành các tội xâm phạm sở hữu
Xem xét các dạng và loại vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản đã nêu
ở trên, chúng ta thấy:
- Các hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán, giao tài sản hoặc trả lại tài sản có nhiều điểm tương đồng với hành vi chiếm đoạt tài sản ở các tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
và “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Ví dụ: hành vi chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong một thời gian dài có nhiều biểu hiện khách quan giống với hành vi chiếm đoạt số tiền nợ…
- Hành vi vi phạm nghĩa vụ sử dụng tài sản đúng mục đích đã thỏa thuận trong giao dịch dân sự về tài sản có nhiều điểm tương đồng với hành vi khách quan của tội “sử dụng trái phép tài sản”
- Hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo quản tài sản hoặc nghĩa vụ sử dụng tài sản đúng công dụng của tài sản (dẫn đến việc tài sản bị hư hỏng) có nhiều biểu hiện khách quan giống với hành vi khách quan ở các tội “hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản”, “vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”, “thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước”
Xuất phát từ những trường hợp có sự tương đồng đó nên trong thực tiễn áp dụng pháp luật, nếu không xác định rõ những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa những hành vi là vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản và những hành vi là hành vi khách quan ở các tội xâm phạm sở hữu thì sẽ dẫn đến những nhận định sai lầm của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Có những hành vi thực chất chỉ là
vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản nhưng lại bị quy kết là tội xâm phạm
Trang 18sở hữu, có những hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu nhưng chỉ được coi là vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản; Từ những nhận định sai lầm đó dẫn đến việc lạm dụng các tội xâm phạm sở hữu để giải quyết các tranh chấp dân sự hoặc ngược lại là giải quyết các vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu bằng pháp luật dân sự; Thực chất, đó là việc gây oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
Vì vậy, việc nghiên cứu để tìm ra những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa các tội xâm phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản là việc làm mang tính cấp thiết, nhằm khắc phục tình trạng lạm dụng các tội xâm phạm
sở hữu để giải quyết các tranh chấp dân sự hoặc ngược lại là giải quyết các vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu bằng pháp luật dân sự, góp phần chống oan, sai và bỏ lọt tội phạm Đó là ý nghĩa và yêu cầu của việc phân biệt các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản
1.2 Cơ sở thực tiễn
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, do những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản trong các trường hợp hành vi của chúng có sự tương đồng còn chưa được làm rõ nên đã dẫn đến những nhận định sai lầm của các cơ quan áp dụng pháp luật Điều này dẫn đến tình trạng lạm dụng các tội xâm phạm sở hữu để giải quyết các tranh chấp dân sự hoặc ngược lại là giải quyết các vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu bằng pháp luật dân sự
Tình trạng đó xảy ra phổ biến nhất là ở các tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” Điều đó xuất phát từ việc: Hành vi khách quan ở các tội này - hành vi chiếm đoạt - có nhiều điểm tương đồng với các hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ
Trang 19nghĩa vụ thanh toán, giao tài sản hoặc trả lại tài sản trong các giao dịch dân sự về tài sản Sau đây là một số trường hợp cụ thể:
Năm 2001, bà Phan Thị H (sống ở nước ngoài) mua lô đất của ông Nguyễn Thượng Uyển với giá 194 ngàn USD, đặt cọc 30 ngàn USD, 164 ngàn USD còn lại bà H đưa cho em gái là bà Phan Thị T giữ hộ để trả tiếp cho ông Uyển sau khi hoàn tất thủ tục mua bán Sau đó, việc mua bán đất không thành, ông Uyển trả tiền cọc lại cho bà T (giữ hộ bà H) Thời gian sau đó, bà T sử dụng
số tiền trên để mua bất động sản Khi về Việt Nam, bà H phát hiện nên đòi lại tiền Sau khi cấn trừ nợ bằng 2 lô đất, bà T viết giấy nhận còn nợ bà H 50 ngàn USD, 50 triệu đồng và 5 lượng vàng Ngày 25/5/2005, cơ quan điều tra khởi tố
vụ án, khởi tố bị can đối với bà T, và ngày 21/2/2006, TAND tỉnh B đã tuyên phạt bà T 14 năm tù về tội "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" Tháng 6/2006, bản án này bị Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM tuyên hủy để điều tra, xét xử lại Ngày 5/2/2007, vụ án được đưa ra xét xử sơ thẩm lần 2 và bà
T đã được trả tự do ngay tại tòa vì không phạm tội, hành vi của bà T chỉ là vi phạm nghĩa vụ dân sự Lúc này, bà T đã bị tạm giam 20 tháng Viện KSND tỉnh
B kháng nghị phúc thẩm và người bị hại kháng cáo nhưng đã bị Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM bác kháng nghị và kháng cáo [16] Trong vụ án này,
do mắc sai lầm khi nhận định hành vi chậm thực hiện nghĩa vụ trả lại tài sản của
bà T là hành vi chiếm đoạt, nên cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) tỉnh B đã quy kết bà T phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, gây oan sai cho
bà T, mặc dù Tòa án đã tuyên bà T không phạm tội, nhưng quá trình tố tụng kéo dài cùng với việc bị tạm giam 20 tháng đã gây những thiệt hại không nhỏ về vật chất và tinh thần cho bà T Việc làm đó của các CQTHTT thực chất là lạm dụng
Trang 20pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp dân sự, gây oan sai cho người tham gia giao dịch dân sự
Bên cạnh mặt khách quan của hành vi, ý định chiếm đoạt trong ý thức chủ quan của chủ thể là một yếu tố quan trọng để xác định hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán, giao tài sản hoặc trả lại tài sản trong các giao dịch dân sự về tài sản có phải là hành vi chiếm đoạt hay không Trong thực tế có những trường hợp, mặc dù chủ thể có hành vi chậm thực hiện nghĩa vụ và đồng thời có những hành vi gian dối nhất định, nhưng do không có ý định chiếm đoạt nên hành vi đó không phải là hành vi chiếm đoạt
Vụ án sau đây là một trường hợp như thế: Năm 2005, ông Lê Duy N vay của bà S
tổng cộng 375.000.000 đồng để kinh doanh và thỏa thuận đến đầu năm 2006 sẽ trả đầy đủ cả lãi và vốn; nhưng do kinh doanh thua lỗ dẫn đến chưa có khả năng trả nợ, nên để hoãn thời gian trả nợ, ông N đã dùng giấy tờ đất của người khác thế chấp cho bà S và làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 1.400 m 2 đất của ông N (đã thế chấp ở Ngân hàng) cho bà S; Khi phát hiện ra sự việc đó, bà S
tố cáo; Ông N bị khởi tố, bắt tạm giam về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên ông N không phạm tội, Viện kiểm sát kháng nghị nhưng Tòa án cấp phúc thẩm bác kháng nghị; Theo VKSND Tối cao, mặc
dù ông N đã có những hành vi gian dối nhất định, nhưng hành vi đó chỉ nhằm hoãn thời gian trả nợ, ông N không có ý định chiếm đoạt tài sản nên hành vi đó không phải là hành vi chiếm đoạt [13] Điều đó cho thấy, do xác định không chính xác ý thức chủ quan thông qua biểu hiện khách quan của hành vi nên CQTHTT đã nhận định hành vi trên là hành vi chiếm đoạt và xử lý hình sự đối với ông N, gây oan sai cho người tham gia giao dịch dân sự
Trang 21Ở một khía cạnh khác, việc xác định hành vi vắng mặt khỏi nơi cư trú có phải là hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn bỏ trốn hay không cũng là một vấn đề phức tạp Trong vụ án sau đây, do xác định không chính xác hành vi vắng mặt tại nơi cư trú của bà H có phải là hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn bỏ trốn hay không nên cơ quan điều tra đã lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh
chấp dân sự: Năm 2008, bà Trương Thị H vay của bà Nguyễn Thị Khánh T tổng
cộng 950.000.000 đồng để kinh doanh và đã trả 550.000.000 đồng; nhưng do kinh doanh thua lỗ nên bà H vào thành phố Hồ Chí Minh để kinh doanh, kiếm tiền trả nợ; trước khi đi, bà H đã thông báo trước cho bà T biết và đã đăng ký tạm trú, tạm vắng; Tuy nhiên, cuối năm 2009, bà T đã tố cáo bà H chiếm đoạt số tiền 400.000.000 đồng và trốn khỏi địa phương, cơ quan điều tra đã khởi tố, bắt tạm giam đối với bà H [14] Trong vụ án này, mặc dù bà H đã có hành vi chậm
thực hiện nghĩa vụ thanh toán và đồng thời có hành vi vắng mặt khỏi nơi cư trú, nhưng hành vi đó không phải là hành vi bỏ trốn, vì hành vi đó được thực hiện một cách công khai và nhằm mục đích là đi kinh doanh để kiếm tiền trả nợ
Nội dung của khái niệm “hành vi gian dối” trong các tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” cũng có nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau Vụ án sau đây là một trường hợp thể hiện quan điểm trái ngược nhau giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong việc nhận định hành vi gian
dối: Năm 2004, trong quá trình giải quyết vụ án dân sự kiện đòi tài sản giữa bị
đơn là Phạm Thị D và nguyên đơn là các chủ nợ của bà D, bà D không thừa nhận chữ ký trong các giấy vay nợ là của mình; Qua giám định, Tòa án đã xác định được chữ ký trên các giấy vay nợ đó là của bà D; Nhận thấy việc bà D chối
bỏ nội dung của hợp đồng vay tài sản là hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối nên Tòa án gửi công văn đến Viện kiểm sát đề nghị truy cứu trách nhiệm
Trang 22hình sự đối với bà D, nhưng Viện kiểm sát đã bác bỏ quan điểm trên vì cho rằng hành vi nói trên không phải là hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối [17]
Như vậy, mặc dù bà D đã có hành vi cố ý (trực tiếp) không thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong giao dịch vay tài sản, nhưng do có nhận thức khác nhau về khái niệm “hành vi gian dối” nên đã dẫn đến quan điểm khác nhau giữa các CQTHTT trong việc nhận định hành vi của bà D có phải là hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối hay không
Hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo quản tài sản hoặc nghĩa vụ sử dụng tài sản đúng công dụng của tài sản (dẫn đến việc tài sản bị hư hỏng) trong các giao dịch dân sự về tài sản có nhiều biểu hiện khách quan giống với hành vi “hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản”, “vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”,
“thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước” Trên thực tế có những trường hợp, biểu hiện khách quan của những điểm khác nhau
cơ bản giữa các hành vi này với các tội nói trên không được thể hiện rõ, nên đã
có những quan điểm khác nhau về đường lối giải quyết vụ việc Ví dụ: Nguyễn
Đình T cùng vợ thuê căn nhà gỗ lợp pro xi măng của Hà Thị Tuyến để mở quán cắt tóc, gội đầu Ngày 01/12/2013, do ghen tuông nên T đã gom toàn bộ quần
áo, giường tủ… của T và vợ đem đốt Ngọn lửa cháy lan ra, T liền hô gọi mọi người đến dập lửa; ngọn lửa sau đó đã được dập tắt nhưng đã thiêu cháy một số kèo và xà gỗ, 73 mét dây dẫn nước bằng nhựa PVC và làm nứt một phần mái pro
xi măng của ngôi nhà, tổng giá trị thiệt hại là 9.030.000 đồng Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt Nguyễn Đình T 18 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” [6] Quan
điểm thứ nhất cho rằng, T có lỗi cố ý gián tiếp nên hành vi của T đã phạm tội
“hủy hoại tài sản” Quan điểm thứ hai cho rằng, T có lỗi vô ý (vì quá tự tin) do T không có ý thức mong muốn hay để mặc cho hậu quả xảy ra, mà T cho rằng hậu
Trang 23quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được, hành vi của T không phạm tội “hủy hoại tài sản” và cũng không phạm tội “cố ý làm hư hỏng tài sản”
Trên đây là một số trong số rất nhiều các trường hợp trong thực tiễn có nhiều quan điểm khác nhau về đường lối giải quyết vụ việc; Trong đó có những trường hợp cơ quan, người tiến hành tố tụng đã lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp dân sự, cũng có những trường hợp là giải quyết các vụ việc
có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu bằng pháp luật dân sự; Điều đó gây oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm Từ đó dẫn đến những hậu quả rất lớn cho xã hội
Việc lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp dân sự trước hết
sẽ xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Trong số các vụ án oan, sai do CQTHTT lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp dân sự, có nhiều trường hợp, người bị oan, sai đã bị áp dụng các biện pháp tạm giữ, tạm giam Việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong các trường hợp này đã xâm hại đến quyền tự do thân thể của công dân; đồng thời gây tổn thương nặng
nề đến tâm lý của họ Uy tín của người bị oan sai sẽ bị tổn hại rất nghiêm trọng Thêm vào đó, việc tạm giữ, tạm giam oan, sai một mặt gây lãng phí thời gian của người bị tạm giữ, tạm giam, mặt khác sẽ khiến cho người thân của họ cũng lãng phí thời gian và tiền bạc trong cả quá trình kêu oan cho người thân của mình Trong việc làm này, thời gian của các CQTHTT cũng bị tiêu tốn một cách vô ích
Đối với biện pháp kê biên, niêm phong tài sản, tài sản của người bị oan sai (có thể lên đến hàng tỷ đồng) sẽ không được đưa vào quá trình sản xuất, kinh doanh Điều đó không chỉ gây thiệt hại đến lợi ích vật chất của những người có liên quan mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của toàn xã hội
Trang 24Xét ở góc độ kinh tế - xã hội, lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp dân sự để lại hậu quả tiêu cực mang tính dây chuyền Bởi vì, bất cứ một doanh nghiệp nào cũng có các mối quan hệ lợi ích với các doanh nghiệp khác, bạn hàng, người lao động… Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn
do người đại diện hay người quản lý bị bắt giam hoặc điều tra sẽ gây ra hiệu ứng dây chuyền cho các quan hệ xã hội có liên quan Khi đó, doanh nghiệp sẽ bị các doanh nghiệp khác và bạn hàng từ chối quan hệ giao dịch, gây tổn thất nặng nề cho doanh thu, còn có thể dẫn đến phá sản, người lao động thì mất việc làm Đối với những thiệt hại nói trên, việc đặt ra vấn đề bồi thường thiệt hại cho các doanh nghiệp hay người bị oan sai rất khó bù đắp đúng mức
Một hậu quả khác của việc lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp dân sự là sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân vào nền công lý nước nhà Tình trạng này khiến cho các cơ quan bảo vệ công lý, chỗ dựa của công dân, các doanh nghiệp hoạt động hợp pháp thì nay lại trở thành người xâm hại đến lợi ích hợp pháp của họ
Ngược lại với tình trạng trên là tình trạng giải quyết các vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu bằng pháp luật dân sự, nghĩa là đối với những
vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu nhưng các cơ quan áp dụng pháp luật cho rằng đó chỉ là vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản nên đã hướng dẫn người dân tự giải quyết hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết bằng pháp luật dân sự Việc đó dẫn đến bỏ lọt tội phạm, gây tâm lý coi thường pháp luật trong người dân, tạo ra tiền lệ xấu cho nền tư pháp khi giải quyết những vụ việc tương tự sau này…
Trang 25Nếu như những vụ việc áp dụng luật hình sự để xử lý các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản có thể được phát hiện trong quá trình tố tụng hình sự vốn dĩ rất nghiêm ngặt, chặt chẽ, cùng với nhiều cơ quan giám sát, kiểm tra, kiểm sát, thì những vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu được giải quyết bằng biện pháp dân sự lại thường rất khó phát hiện; nhất là đối với những
vụ việc mà sau khi được cán bộ pháp luật “hướng dẫn”, người dân đã lựa chọn con đường tự giải quyết, tự thỏa thuận, vụ việc tưởng chừng như đã được giải quyết ổn thỏa, nhưng thực chất cách giải quyết như vậy lại ẩn chứa nhiều hệ lụy lâu dài cho xã hội Và cũng chính vì khó bị phát hiện nên việc khắc phục sai lầm của các cơ quan pháp luật lại càng trở thành vấn đề khó khăn, phức tạp
Nói chung, dù là lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp dân
sự hay giải quyết các vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu bằng pháp luật dân sự thì cũng đều là những hiện tượng tiêu cực trong hoạt động áp dụng pháp luật, đều gây nên những tác động tiêu cực cho xã hội nói chung và cho nền tư pháp nói riêng Những tác động đó không chỉ là nhất thời mà còn mang tính lâu dài, dai dẳng về sau; không chỉ là cá biệt mà còn ảnh hưởng chung trong toàn xã hội Việc các hiện tượng nói trên đang dần trở nên phổ biến là một tình trạng rất đáng lo ngại Chính vì vậy, việc tìm ra hệ thống các giải pháp nhằm khắc phục, hạn chế tình trạng trên là vấn đề cần được quan tâm đúng mức Việc nghiên cứu để phân biệt các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản là một trong những cố gắng nhằm khắc phục, hạn chế tình trạng trên
Nguyên nhân của tình trạng trên là do những dấu hiệu phân biệt giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản còn chưa được làm rõ; bên cạnh đó, các quy định của BLHS hiện hành về các tội xâm
Trang 26phạm sở hữu còn có nhiều điểm bất cập Xuất phát từ những nguyên nhân đó nên trong nhiều trường hợp, các cơ quan, người tiến hành tố tụng gặp khó khăn trong việc nhận định một hành vi cụ thể là vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản hay là phạm tội xâm phạm sở hữu, dẫn đến việc lựa chọn sai quy phạm pháp luật cần được áp dụng để giải quyết vụ việc Bên cạnh đó, cũng có những trường hợp, người tiến hành tố tụng lợi dụng vấn đề đó để giải quyết vụ việc không đúng với bản chất của hành vi, nhằm trục lợi cho mình Như vậy, để khắc phục, hạn chế tình trạng trên thì chúng ta cần giải quyết từ gốc rễ của vấn đề là làm rõ được những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản và khắc phục các bất cập của BLHS hiện hành
về các tội xâm phạm sở hữu
Tóm lại, xuất phát từ những trường hợp có sự tương đồng giữa hành vi vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản với hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu,
mà trong đó, những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa hai loại hành vi vi phạm đó còn chưa được làm rõ, nên trong thực tiễn áp dụng pháp luật, việc phân biệt các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản còn gặp nhiều khó khăn Từ đó dẫn đến tình trạng lạm dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp dân sự hoặc giải quyết các vụ việc có dấu hiệu của các tội xâm phạm sở hữu bằng pháp luật dân sự, gây oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm Tình trạng đó dẫn đến những hậu quả rất lớn cho xã hội Vì vậy, việc nghiên cứu để phân biệt các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản là việc làm mang tính cấp thiết, nhằm khắc phục, hạn chế tình trạng trên
Trang 27CHƯƠNG 2
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU VÀ CÁC VI PHẠM
TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ VỀ TÀI SẢN
2.1 Những dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa các tội xâm phạm sở hữu với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản
Như đã trình bày ở phần trên, sự khác nhau về bản chất giữa các tội xâm phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản là tính chất nguy hiểm cho xã hội của vi phạm Vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản là những hành vi có tính chất nguy hiểm không đáng kể cho xã hội Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội, được tập trung thể hiện ở: Tính chất, đặc điểm của hành vi khách quan; đặc điểm của đối tượng tác động; hậu quả của hành vi; lỗi; nhân thân của chủ thể
Trong số các hành vi vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản, có những hành vi có sự tương đồng với các hành vi khách quan ở các tội xâm phạm sở hữu Sự khác nhau cơ bản giữa các hành vi đó với các tội xâm phạm sở hữu là: Các hành vi vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản không có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội, chỉ khi những hành vi đó có thêm những dấu hiệu làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội đến mức đáng kể và sự xâm hại đến quan hệ
sở hữu thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì hành vi đó mới trở thành hành vi khách quan ở các tội xâm phạm sở hữu
Xem xét trong số các hành vi vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản, có những hành vi luôn có tính nguy hiểm không đáng kể cho xã hội, cho dù hành vi
Trang 28đó có thêm dấu hiệu nào đi nữa Đó là những hành vi không xâm hại đến quan hệ
sở hữu; Bao gồm:
- Hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo hành của bên bán tài sản
- Hành vi của bên cho thuê tài sản vi phạm nghĩa vụ bảo đảm giá trị sử dụng của tài sản thuê và bảo đảm quyền sử dụng tài sản của bên thuê trong hợp đồng thuê tài sản
- Hành vi không cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết theo luật định
- Hành vi không mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật (trong hợp đồng vận chuyển tài sản) và không thanh toán các chi phí hợp lý phát sinh trong quá trình thực hiện giao dịch theo luật định
- Không giữ bí mật các thông tin về quy trình gia công và sản phẩm gia công trong hợp đồng gia công tài sản
- Không thực hiện các biện pháp phòng ngừa thiệt hại (nghĩa vụ của bên được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm)
“bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”, “cưỡng đoạt tài sản”, “cướp giật tài sản”,
“công nhiên chiếm đoạt tài sản”, “trộm cắp tài sản” không thể có sự tương đồng với hành vi vi phạm nghĩa vụ trong các giao dịch dân sự về tài sản nên việc nghiên cứu để phân biệt giữa các tội này với các vi phạm trong giao dịch dân sự
Trang 29về tài sản là không cần thiết Hành vi sử dụng các biện pháp bất hợp pháp để buộc người vi phạm nghĩa vụ thanh toán, giao tài sản hoặc trả lại tài sản phải thực hiện nghĩa vụ và bồi thường thiệt hại (nếu có) không phải là vi phạm nghĩa
vụ trong giao dịch dân sự về tài sản, mà là vi phạm hành chính hoặc tội phạm, nên việc phân biệt giữa các hành vi này với các tội xâm phạm sở hữu không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này
Tội “chiếm giữ trái phép tài sản” không có sự tương đồng với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản vì tài sản là đối tượng tác động của tội này phải
là tài sản mà người phạm tội nhận được một cách ngẫu nhiên (do tìm được, bắt được, do được đưa nhầm, đưa thừa…) Tài sản là đối tượng của một giao dịch dân sự mà người nhận được là một bên trong giao dịch không phải là đối tượng tác động của tội này Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, đã có trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng quy kết người nhận được tài sản thông qua một giao dịch dân sự hợp pháp là phạm tội “chiếm giữ trái phép tài sản” Vụ án sau đây là một trường hợp như thế:
Ngày 21/4/2010, ông Nguyễn Huy K bàn giao số tiền 19 tỉ đồng cho ông Nguyễn Đình B để trả nợ cũ và mua lại phần vốn góp của ông B tại Công ty TNHH công nghiệp T.S Hình thức chuyển tiền bằng Giấy ủy nhiệm chi mang tên người trả tiền là Thái Khắc T, nội dung thanh toán ghi “Mua lại cổ phần Công
ty TNHH công nghiệp T.S” Ông B hoàn toàn không biết nguồn gốc số tiền này Sau đó, ông T làm đơn tố cáo ông K về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với
số tiền 34 tỷ đồng mà ông T góp vốn đầu tư với ông K (trong đó có 19 tỷ đồng là
số tiền ông K đã chuyển cho ông B thông qua ông T) Cơ quan điều tra yêu cầu ông B giao nộp số tiền trên, nhưng ông B đã sử dụng toàn bộ số tiền trên vào việc kinh doanh nên ông bị Cơ quan điều tra khởi tố, bắt tạm giam về tội “chiếm
Trang 30giữ trái phép tài sản” [19] Trong vụ án này, tài sản được xác định là bị “chiếm
giữ trái phép” là số tiền 19 tỉ đồng mà ông B nhận được thông qua một hợp đồng hợp pháp Số tiền này hoàn toàn không phải là tài sản mà ông B có được do ngẫu nhiên, nên không thể là đối tượng của tội “chiếm giữ trái phép tài sản” Ông B là chủ sở hữu số tài sản đó và ông không phạm tội “chiếm giữ trái phép tài sản”
Trường hợp trên đây không phải là trường hợp nhầm lẫn giữa tội xâm phạm sở hữu với vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản, mà là sự nhầm lẫn giữa tội xâm phạm sở hữu với hành vi không phải là vi phạm pháp luật Việc phân biệt giữa tội xâm phạm sở hữu với hành vi không phải là vi phạm pháp luật không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này
Tội “chiếm giữ trái phép tài sản” chỉ có sự tương đồng với hành vi chiếm hữu không có căn cứ pháp luật (Điều 195 BLDS 2005), nhưng việc phân biệt giữa tội xâm phạm sở hữu với hành vi chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này
Do không có sự tương đồng giữa tội “chiếm giữ trái phép tài sản” với các
vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản nên việc nghiên cứu để phân biệt giữa tội này với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản là không cần thiết
Vấn đề phân biệt được đặt ra đối với những hành vi có sự tương đồng giữa các tội xâm phạm sở hữu và các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản Những hành vi đó là:
Thứ nhất, các hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không
đầy đủ nghĩa vụ thanh toán, giao tài sản, trả lại tài sản trong các giao dịch dân sự
về tài sản có sự tương đồng với hành vi chiếm đoạt tài sản trong các tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Trang 31Tương tự hành vi chiếm đoạt tài sản, các hành vi này làm cho chủ tài sản mất khả năng thực tế thực hiện quyền sở hữu của mình đối với tài sản, qua đó xâm phạm đến quan hệ sở hữu Nhưng trong trường hợp các hành vi này chỉ làm mất khả năng đó của chủ tài sản một cách tạm thời và không tạo cho chủ thể hành vi có khả năng thực hiện việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trái pháp luật tài sản đó, và chủ thể không có lỗi cố ý trực tiếp, tức hành vi này không phải là hành vi chiếm đoạt, thì hành vi này chưa thể hiện tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội, chỉ là vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản, dù giá trị tài sản có thể là rất lớn; bởi lẽ, mặc dù những hành vi đó cũng gây thiệt hại cho người có quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ bị vi phạm, nhưng sự thiệt hại đó chỉ là tạm thời và người vi phạm không mong muốn điều đó, việc người vi phạm không có điều kiện thực hiện đúng, đủ nghĩa vụ là do những nguyên nhân ngoài ý muốn Trong trường hợp các hành vi đó được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, làm mất hẳn khả năng thực hiện quyền sở hữu của chủ tài sản và tạo khả năng thực hiện việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trái pháp luật tài sản đó cho chủ thể hành vi, tức hành vi này là hành vi chiếm đoạt, thì dấu hiệu này đã làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, và mức độ nguy hiểm cho xã hội sẽ ở mức đáng kể khi giá trị tài sản đó đạt đến giá trị luật định (từ 2 triệu đồng trở lên đối với tội
“lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và từ 4 triệu đồng trở lên đối với tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, sở dĩ mức giá trị tài sản tối thiểu ở tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” cao hơn mức giá trị tài sản tối thiểu ở tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là do tính chất lỗi ở hai tội này: lỗi ở tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là lỗi cố ý đột xuất, lỗi ở tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là lỗi cố ý có dự mưu, có mức độ nguy hiểm cao hơn so với lỗi cố ý đột xuất) hoặc tuy chưa đạt đến giá trị luật định nhưng chủ thể có nhân thân xấu (đã bị xử phạt
Trang 32hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản và chưa được xóa án tích), và các hành vi đó là hành vi khách quan ở các tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” Sở dĩ hành
vi chiếm đoạt có mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn hành vi vi phạm nghĩa
vụ đã nêu ở trên vì hành vi chiếm đoạt có bản chất là những hành vi làm mất hẳn khả năng thực hiện quyền sở hữu của chủ tài sản, qua đó gây thiệt hại về tài sản cho người đó và đem lại lợi ích (vật chất) bất chính cho mình, nhằm đạt được mục đích, thỏa mãn nhu cầu không chính đáng, xuất phát từ động cơ xấu (tư lợi)
Như vậy, dấu hiệu phân biệt cơ bản giữa các hành vi vi phạm nghĩa vụ nói trên với hành vi khách quan ở các tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” chính là dấu hiệu chiếm đoạt của hành vi, vì dấu hiệu đó làm thay đổi cơ bản tính chất của hành vi; các dấu hiệu khác: mức giá trị tài sản tối thiểu theo luật định và nhân thân xấu của chủ thể ít có giá trị phân biệt giữa các tội nói trên với các vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản mà chủ yếu là để phân biệt giữa các tội nói trên với vi phạm hành chính, nên trong những phân tích ở các phần sau, khi nói đến hành vi có dấu hiệu chiếm đoạt, chúng ta ngầm hiểu rằng những dấu hiệu đó đã được thỏa mãn Trong thực tiễn
áp dụng pháp luật, do các biểu hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt còn chưa được làm rõ nên việc phân biệt giữa các tội đó với các vi phạm trong giao dịch dân sự
về tài sản, trong nhiều trường hợp, là một vấn đề khó Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu để làm rõ các biểu hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt ở các tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Thứ hai, hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo quản tài sản hoặc nghĩa vụ sử
dụng tài sản đúng công dụng của tài sản (dẫn đến việc tài sản bị hư hỏng) trong giao dịch dân sự về tài sản có nhiều biểu hiện khách quan tương đồng với hành
Trang 33vi khách quan ở các tội “hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản”, “vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản”, “thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước”
Điểm tương đồng giữa hành vi này với hành vi khách quan ở các tội “vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản” và “thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước” là: các hành vi đó đều là hành vi vô ý làm hư hỏng, làm mất mát tài sản; Điểm khác nhau giữa chúng là: hành vi vô ý làm hư hỏng, làm mất mát tài sản ở các tội này phải gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên, dấu hiệu hậu quả của hành vi làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đến mức đáng kể và là đặc điểm khác nhau cơ bản giữa các tội này với hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo quản tài sản trong giao dịch dân sự về tài sản; dấu hiệu này được biểu hiện rõ ràng trong thực tế nên việc phân biệt giữa các tội này với vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản là không cần thiết
Điểm tương đồng giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo quản tài sản hoặc nghĩa vụ sử dụng tài sản đúng công dụng của tài sản (dẫn đến việc tài sản bị hư hỏng) trong giao dịch dân sự về tài sản với hành vi khách quan ở tội “hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” là: đó đều là hành vi làm hư hỏng tài sản; Điểm khác nhau là: hành vi khách quan ở tội “hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” phải được thực hiện với lỗi cố ý và giá trị thiệt hại về tài sản phải từ 2 triệu đồng trở lên hoặc tuy chưa đến mức 2 triệu đồng nhưng chủ thể có nhân thân xấu (đã
bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này và chưa được xóa án tích); các dấu hiệu đó làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đến mức đáng kể Như vậy, điểm phân biệt cơ bản giữa tội “hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” với vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản là ở yếu tố lỗi
Trang 34vì yếu tố này làm thay đổi cơ bản tính chất của hành vi; Dấu hiệu hậu quả của hành vi và nhân thân xấu của chủ thể ít có giá trị phân biệt giữa tội này với vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản mà chủ yếu là để phân biệt giữa tội này với vi phạm hành chính, nên trong những phân tích ở các phần sau, khi nói đến hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, chúng ta ngầm hiểu rằng những dấu hiệu đó
đã được thỏa mãn
Tuy nhiên, việc phân biệt này chỉ thực hiện đối với trường hợp giá trị thiệt hại về tài sản dưới 50 triệu đồng, vì trong trường hợp giá trị thiệt hại về tài sản từ
50 triệu đồng trở lên, nếu hành vi được thực hiện với lỗi vô ý thì sẽ cấu thành tội
“vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản” hoặc “thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước”, việc phân biệt các tội đó với tội
“hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” không thuộc phạm vi nghiên cứu của
đề tài này
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, việc nhận định chính xác yếu tố lỗi của chủ thể, trong nhiều trường hợp, là một vấn đề khó; vì lỗi là yếu tố thuộc mặt chủ quan, muốn nhận thức được nó phải thông qua mặt khách quan của hành vi, nhưng không phải trong trường hợp nào những biểu hiện khách quan của hành vi cũng phản ánh được đầy đủ và rõ ràng ý thức chủ quan của chủ thể Vì vậy, cần nghiên cứu để tìm ra những biểu hiện của yếu tố lỗi trong hành vi làm hư hỏng tài sản
Thứ ba, hành vi vi phạm nghĩa vụ sử dụng tài sản đúng mục đích đã thỏa
thuận trong giao dịch dân sự về tài sản có điểm tương đồng với hành vi khách quan của tội “sử dụng trái phép tài sản”
Trang 35Điểm tương đồng đó là: đó đều là hành vi cố ý khai thác giá trị sử dụng của tài sản trái với sự cho phép của chủ tài sản Những dấu hiệu khác nhau giữa các hành vi đó là: Hành vi khách quan của tội “sử dụng trái phép tài sản” được thực hiện đối với tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên và với mục đích vụ lợi, gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc chủ thể có nhân thân xấu (đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này và chưa được xóa án tích); Sự kết hợp của những dấu hiệu đó làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi sử dụng tài sản không đúng mục đích đã thỏa thuận trong giao dịch dân sự về tài sản đến mức đáng kể Vấn đề là tìm ra trong số những dấu hiệu đó, dấu hiệu nào là dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa tội “sử dụng trái phép tài sản” với vi phạm dân sự Xem xét những dấu hiệu đó, chúng ta thấy: dấu hiệu tài sản bị sử dụng có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên và dấu hiệu mục đích vụ lợi đều có thể có
ở hành vi vi phạm dân sự, hành vi vi phạm dân sự cũng có thể có những dấu hiệu đó; vì vậy, cả hai dấu hiệu đó đều không phải là dấu hiệu khác nhau cơ bản Xem xét dấu hiệu hậu quả (gây thiệt hại nghiêm trọng) chúng ta thấy dấu hiệu này làm thay đổi căn bản tính chất của hành vi: Cùng là hành vi vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên, trong trường hợp hành vi này gây hậu quả nghiêm trọng thì là tội “sử dụng trái phép tài sản”, trong trường hợp gây hậu quả chưa đến mức nghiêm trọng thì hành vi này là vi phạm hành chính (Điểm d Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ), còn trong trường hợp không gây hậu quả gì thì hành vi này là vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản; Như vậy, dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” chính là dấu hiệu khác nhau cơ bản giữa tội “chiếm giữ trái phép tài sản” với vi phạm dân sự; Dấu hiệu này đã được giải thích cụ thể tại Thông tư liên tịch
số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của
Trang 36TAND Tối cao, VKSND Tối cao, Bộ công an, Bộ tư pháp nên việc nghiên cứu làm rõ là không cần thiết Tuy nhiên, trong trường hợp dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” không được thỏa mãn thì dấu hiệu nhân thân xấu của chủ thể có
thể thay thế cho dấu hiệu hậu quả, tức là theo quy định của Điều 142 BLHS thì
trong trường hợp chủ thể có nhân thân xấu (như đã nêu ở trên) vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên, thì dù không gây hậu quả
gì, hành vi đó vẫn cấu thành tội “sử dụng trái phép tài sản” Và vấn đề chính là ở đây Liệu dấu hiệu nhân thân xấu của chủ thể có thể làm thay đổi căn bản tính chất của hành vi: từ một hành vi vi phạm dân sự trở thành tội phạm?
Xem xét trường hợp chủ thể có nhân thân xấu vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên nhưng không gây ra hậu quả gì, chúng ta thấy: Hành vi sử dụng trái phép tài sản trong trường hợp này bị quy định là tội phạm chỉ vì chủ thể có nhân thân xấu, nếu chủ thể không có nhân thân xấu thì hành vi nói trên chỉ là vi phạm dân sự Tuy nhiên, “trong luật hình sự, một nguyên tắc vẫn được thừa nhận là: Một người không thể bị xử phạt hình sự
về nhân thân xấu của họ” [12; 62] Theo nguyên tắc đó, “đặc điểm xấu về nhân thân không có ý nghĩa quyết định hành vi trở thành hành vi phạm tội mà chỉ có ý nghĩa làm tăng mức hình phạt cho người thực hiện hành vi phạm tội để đảm bảo cho hình phạt đạt được mục đích” [12; 62] Như vậy, dấu hiệu nhân thân xấu của chủ thể không thể làm thay đổi căn bản tính chất của hành vi, từ một hành vi vi phạm dân sự trở thành tội phạm Vì vậy, quy định nói trên của Điều 142 BLHS
là một bất cập của luật hình sự, bất cập đó thực chất là việc hình sự hóa một hành
vi có tính nguy hiểm không đáng kể cho xã hội Từ bất cập đó sẽ dẫn đến những bất cập khác, như: cùng một tội phạm (trong cùng Điều, Khoản) lại có hai cấu thành tội phạm (CTTP) khác nhau, một là cấu thành vật chất trong trường hợp
Trang 37chủ thể là chủ thể thường, một là cấu thành hình thức trong trường hợp chủ thể là chủ thể có nhân thân xấu; Xem xét trường hợp CTTP là cấu thành hình thức, ta cũng thấy được sự bất hợp lý: trong số các tội xâm phạm sở hữu, chỉ có các tội ngoài xâm phạm quan hệ sở hữu còn xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm đến quan
hệ nhân thân thì mới có cấu thành hình thức, nhưng tội sử dụng trái phép tài sản chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu cũng có cấu thành hình thức; thêm vào đó, hành vi sử dụng trái phép tài sản có mức độ nguy hiểm cho xã hội không cao bằng hành vi chiếm đoạt, nhưng trong trường hợp này hành vi đó không cần gây
ra hậu quả cũng đã cấu thành tội phạm, trong khi hành vi chiếm đoạt không xâm phạm nhân thân thì cần phải gây ra hậu quả mới cấu thành tội phạm (cấu thành vật chất) kể cả trong trường hợp chủ thể có nhân thân xấu
Bất cập nêu trên cũng dẫn tới một bất cập khác, đó chính là sự giao thoa, xung đột giữa luật hình sự và luật dân sự Trong trường hợp nêu ở trên thì hành
vi đó có bản chất là một vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản nhưng đồng thời theo quy định của luật hình sự thì đó lại là một tội phạm Sự giao thoa, xung đột này làm mất ranh giới phân biệt giữa tội xâm phạm sở hữu với vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản
Vì vậy, bất cập này của luật hình sự cần được khắc phục theo hướng: Không sử dụng dấu hiệu nhân thân xấu của chủ thể làm tình tiết định tội, dấu hiệu này chỉ được sử dụng làm tình tiết định khung tăng nặng và tình tiết tăng nặng TNHS Việc khắc phục bất cập này của luật hình sự cũng có ý nghĩa trong việc phân định rõ ranh giới giữa tội “sử dụng trái phép tài sản” với vi phạm trong giao dịch dân sự về tài sản