giao dịch dân sự đã tồn tại và duy trì trong suốt quá trình phát triển của loài người. Cùng với sự phát triển của xã hội và kinh tế, các giao dịch dân sự ngày một đa dạng, tăng dần cả về quy mô và cách thức. Nhưng như mọi mặt của xã hội, các giao dịch dân sự cần phải nằm trong các chế định cho phép. Những qui định chi tiết từ chế định giao dịch dân sự của Bộ luật dân sự giải quyết được đa số đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn cuộc sống, góp phần không nhỏ trong việc tạo lập một định chế pháp lý thống nhất về giao dịch dân sự. Tuy nhiên, xã hội thay đổi nhanh chóng và phức tạp, các giao dịch dân sự bị biến tướng, có thể có sự vi phạm vào một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Bài tiểu luận xin được trình bày và phân tích về vấn đề giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự 2015.
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN LUẬT DÂN SỰ ( HỌC PHẦN I)
CHUYÊN ĐỀ: GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÍ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT
DÂN SỰ NĂM 2015
Trang 2Mục lục
A. Lời mở đầu
B. Nội dung
I. Cơ sở pháp lí
I.1 Giao dịch dân sự và giao dịch dân sự vô hiệu
I.2 giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và giao dịch dân sự vô hiệu tương đối
II Phân tích, nêu tình huống giả định, xác định thời hiệu, so sánh các điều luậtdẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu của BLDS 2005 và BLDS 2015
Điều 123 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạođức xã hội
Điều 124 Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
Điều 125 Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mấtnăng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện
Điều 126 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn
Điều 127 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Điều 128 Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức vàlàm chủ được hành vi của mình
Điều 129 Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thứcIII Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
C. Tổng kết
D. Phụ lục: Các nguồn tại liệu
LỜI MỞ ĐẦU
Trang 3Từ xa xưa, giao dịch dân sự đã tồn tại và duy trì trong suốt quá trình pháttriển của loài người Cùng với sự phát triển của xã hội và kinh tế, các giao dịch dân
sự ngày một đa dạng, tăng dần cả về quy mô và cách thức Nhưng như mọi mặt của
xã hội, các giao dịch dân sự cần phải nằm trong các chế định cho phép Những quiđịnh chi tiết từ chế định giao dịch dân sự của Bộ luật dân sự giải quyết được đa sốđòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn cuộc sống, góp phần không nhỏ trong việc tạo lập mộtđịnh chế pháp lý thống nhất về giao dịch dân sự Tuy nhiên, xã hội thay đổi nhanhchóng và phức tạp, các giao dịch dân sự bị biến tướng, có thể có sự vi phạm vàomột trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Bài tiểu luận xin đượctrình bày và phân tích về vấn đề giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý củagiao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự 2015
NỘI DUNG
I Cơ sở pháp lí của vấn đề nghiên cứu:
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, ngành luật dân sự đóng một vai tròkhông thể thay thế Ngành luật dân sự điều chỉnh đến các đối tượng là những nhómquan hệ tài sản và quan hệ nhân thân phát sinh trong quá trình sản xuất, phân phối,lưu thông, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa nhằm thoả mãn các nhu cầu về vật chất,tinh thần của các chủ thể “Bộ luật dân sự góp phần bảo đảm cuộc sống cộng đồng
ổn định, lành mạnh, giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân, tương
ái, thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hoá dân tộc hình thành trong lịch sử lâu dàixây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, góp phần xây dựng nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội côngbằng, văn minh.”( BLDS 1995) Giao dịch dân sự, điều kiện của giao dịch dân sựvà sự vô hiệu của giao dịch dân sự cũng đã được đề cập từ bộ luật dân sự đầu tiên
đó của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trải qua các giai đoạn phát
Trang 4triển của đất nước đến nay, các quy định về vấn đề giao dịch dân sự dần được sửađổi bổ sung qua bộ luật dân sự 2005 và hiện nay là bộ luật dân sự 2015.
I.1 Giao dịch dân sự và giao dịch dân sự vô hiệu
Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát
sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự ( Điều 116 BLDS 2015)
Giải thích: - Hành vi pháp lí đơn phương là chỉ cần có một chủ thể xác địnhtrước, việc tự định đoạt do một bên nêu ra, nghĩa vụ của bên tuyên bố ý chí chỉ phátsinh khi có chủ thể phía bên kia tham gia, đáp ứng đầy đủ các điều kiện đã nêu Ví
dụ bố tặng cho con trai 15 cây vàng, hay di chúc giữa cha mẹ để lại cho con cái
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấmdứt quyền, nghĩa vụ dân sự
Trong đó, các giao dịch dân sự cần thỏa mãn các điều kiện cụ thể để có hiệu
lực, đã được quy định trong điều 117 BLDS 2015:
Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giaodịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật,không trái đạo đức xã hội
2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sựtrong trường hợp luật có quy định
Và khi giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại
Điều 117 BLDS 2015 thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác
Trang 5( Điều 122 BLDS 2015 Giao dịch dân sự vô hiệu) Trong đó, quy định về các giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các điều 123, 124, 125, 126, 127, 127, 128, 129
của bộ luật dân sự 2015 Các quy định này đã quy định một cách tương đối cụ thểcác trường hợp liên quan đến vi phạm giao dịch dân sự, tạo tiền đề cơ sở pháp lícho việc bảo vệ các bên liên quan của giao dịch dân sự
I.2 giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và giao dịch dân sự vô hiệu tương đối:
- Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối:
Một giao dịch bị coi là vô hiệu tuyệt đối khi rơi vào các trường hợp sau: giaodịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, tráiđạo đức xã hôi; Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằmche giấu một giao dịch dân sự khác; Giao dịch dân sự vi phạm quy định điềukiện có hiệu lực về hình thức
- Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối:
Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vidân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bịhạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập; hi một bên tham gia giao dịch dân
sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép; Người có năng lực hành vi dân sựnhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủđược hành vi của mình
- Sự khác biệt của vô hiệu tuyệt đối và vô hiệu tương đối dựa trên
+ Khác biệt về trình tự vô hiệu của giao dịch
+ Khác biệt về thời hạn yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu
+ Sự khác biệt về hiệu lực pháp lý của giao dịch
+ Sự khác biệt về mục đích
II Phân tích, nêu tình huống giả định, xác định thời hiệu, so sánh
“Điều 123 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
Trang 6Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.”
Khi sống trong một mình tại hoang đảo, nơi không có chuẩn mực đạo đức,không có luật, không chịu sự quản lí nào, con người muốn làm gì cũng được.Nhưng khi sống trong một xã hôi, một nhà nước, thì mỗi bản thân phải để mìnhtrong khuôn khổ “ Đạo đức xã hội” và không làm “ Điều cấm của luật” Luật chophép các chủ thể tự do xác lập các giao dịch dân sự Nhưng sự tự do này chỉ đượcthừa nhận nếu không vi phạm luật và chuẩn mực xã hội Một giao dịch vô hiệu cóthể xảy ra khi vi phạm một trong 2 điều kiện trên
Ví dụ 1: A với B là vợ chồng đã đăng kí kết hôn lâu năm C là người có mộtngồi nhà muốn bán cho A Nhưng trong hợp đồng bán nhà thì C lại thêm một khoảnnếu A ly hôn B thì C sẽ bán cho A ngôi nhà với giá rẻ hơn rất nhiều so với giá trịthực Trong trường hợp này giao dịch dân sự giữa A và C là giao dịch vô hiệu
Ví dụ 2: C bán pháo hoa cho D trong ngày tết, giao dịch này đã bị luật quyđịnh không được thực hiện giao dịch Mặc dù mục đích bắn pháo hoa ngày tếtkhông trái với đạo đức xã hội
Thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu trong trường hợp
này không bị hạn chế, được quy định tại điều 132 BLDS 2015 Trong nhiều trường
hợp, pháp luật buộc các bên phải biết là mình đã tham gia giao dịch bất hợp pháp,ngoài việc có lỗi và phải chịu thiệt hại, các bên còn có thể bị truy cứu trách nhiệmhình sự Ví dụ như việc buôn cần sa
Trang 7Điểm khác biệt giữa “Điều 128 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điềucấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội” ở BLDS 2005 và “Điều 123 Giao dịch dân
sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội” BLDS Vậy pháp luậtlà gì? (Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và đảm bảothực hiện) Do đó pháp luật là khái niệm rất rộng, gồm tất cả những văn bản donước ban hành có tính chất hướng dẫn xử sự: Bộ luật, luật, nghị quyết, nghị định,thông tư trước đây BLDS 2005 quy định "trái pháp luật" có nghĩa mở rộng phạm vinhững điều cấm của pháp luật mà giao dịch dân sự làm trái Gồm cả luật (bộ luật,luật) và các văn bản khác như: thông tư, nghị định
Còn hiện nay BLDS 2015 quy định "trái luật" nghĩa là thu hẹp phạm vi này.Chỉ còn trái luật: bộ luật dân sự, các luật khác mới là trái luật và bị vô hiệu Đây là
tư duy thống nhất của nhà nước ta sau Hiến pháp 2013 Theo đó, cái gì cấm thì phảiđược quy định trong luật: bộ luật, luật Để tránh tình trạng các bộ, chính phủ, các
cơ quan khác tùy tiện ban hành quy định cấm
“Điều 124 Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
1 Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.
2 Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.”
Đặc điểm của điều luật này là các giao dịch bên trong đó hoàn toàn tự
nguyện xác lập giao dịch dân sự (phù hợp với điểm b khoản 1 điều 117 BLDS 2015), nhưng lại cố bày tỏ sai lệch ý chí không đúng với ý chí đích thực của họ.
Trang 8Giao dịch vô hiệu khi xác lập một giao dịch nhằm che giấu một giao dịch kháchoặc giao dịch nhằm trốn tránh trách nhiệm với bên thứ ba Khi đó với giao dịchnhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch bị giả tạo sẽ vô hiệu còn giao dịch
bị che giấu vẫn có hiệu lực nếu như giao dịch bị che giấu đó vẫn tuân thủ đúngcác điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Trường hợp giao dịch giả tạo nhằmtrốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch giả tạo đương nhiên bị vô hiệu
Ví dụ: A vay nợ của là B 100 triệu đồng A kí giấy vay nợ và đồng ý nhượnglại căn hộ chung cư cho B để trả nợ Trong thời gian giao dịch giữa A và B chưahoàn thành thì A lại bán căn hộ của mình cho C(hợp đồng mua bán đã công chứng).Sau khi bán căn hộ xong, A không trả nợ cho B thì giao dịch mua bán giữa A và C
sẽ bị coi là giao dịch dân sự vô hiệu A sẽ phải bán nhà cho B để thực hiện tiếp giaodịch ban ở giấy vay nợ được A và B xác lập tại thời điểm ban đầu
Cũng giống với thời hiệu “Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội” thì thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân
sự vô hiệu trong trường hợp này không bị hạn chế, được quy định tại điều 132 BLDS 2015.
Trong điều 124 BLDS 2015 đã bổ sung cụm từ “ dân sự” đằng sau những
cụm từ giao dịch Sự bổ xung này nhắm tăng tính chính xác của câu từ, tránh cáctình huống lách luật Cụm từ tiếp theo được bổ sung là cụm từ “ hoặc luật khác cóliên quan” Từ đó ta có thể nhận thấy, phạm vi để xác định các giao dịch dân sự vôhiệu do giả tạo đã được mở rộng hơn
“Điều 125 Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện
Trang 91 Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành
vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2 Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu trong trường hợp sau đây:
a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;
c) Giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi
đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự.”
Chúng ta có thể gọi một cái tên khác của giao dịch nêu trên với một cái tênkhác, đó là “ giao dịch của người yếu thế” Điều luật này được đưa ra nhằm bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể đã được nêu trong các điều 21, 22, 23, 24 BLDS 2015 Ở khoản 1 điều 125 BLDS 20155 có sự bổ sung về đối tượng so với điều 130 BLDS 2005, đó là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
“Việc bổ sung này là cần thiết vì pháp luật đã thừa nhận rằng sự trợ giúp pháp lícho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là hoàn toàn cân thiết Do
đó, nếu người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi xác lập, thực hiện giaodịch dân sự mà không có sự đồng ý của người đại diện, hoặc theo quy định củapháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện thì người
Trang 10đại diện trong trường hợp này có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự
vô hiệu”01
Nhưng không phải bất cứ giao dịch dân sự của bất cứ đối tượng nào quy định
ở trên cũng luôn bị coi là vô hiệu Tại bộ luật dân sự 2015 đã chỉ ra một số trườnghợp mà giao dịch của họ vẫn được chấp nhận tiến hành, đây là một điểm tiến bộ
vượt bậc so với điều 130 BLDS 2005 Các trường hợp đó đã được đề cập đến tại
khoản 2 của điều luật này, bao gồm:
Thứ nhất, giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lựchành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó Ở đây,nhu cầu thiết yếu đã được định nghĩa trong khoản 20 điều 3 bộ luật hôn nhân và giađình năm 2014 “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở,học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thểthiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình” Những giao dịch cần thiết nàythường chỉ mang giá trị nhỏ và mỗi người có thể tự mình thực hiện giao dịch
Thứ hai, giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụcho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăntrong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vớingười đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ Ví dụ, một câu bé 5 tuổi được thựchiện những giao dịch mang lại quyền và lợi ích hợp pháp cho mình Khi cậu béđược người thân tặng cho tài sản thì cậu ta được xác lập quyền đối với tài sản màcậu được cho
Thứ ba, giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lựcsau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự
1 Trích trang 147, Bình luận khoa học những điểm mới của bộ luật dân sự năm 2015, nhà xuất bản Hồng Đức-Hội luật gia Việt Nam
Trang 11Ví dụ 1: cha để lại di sản thừa kế cho con nhưng con chưa thành niên thì khi
đó người mẹ là người đại diện hợp pháp cho con sẽ thay con quản lý tài sản đó rồisau này khi con đã thành niên thì con sẽ trực tiếp được hưởng các quyền tài sản đốivới di sản thừa kế đó
Ví dụ 2: đối với hợp đồng mua bán nhà ở Đối với trường hợp hợp đồng muabán mà xác lập với 1 bên mất năng lực hành vi dân sự toàn bộ không có uỷ quyềnhay người đại điện mà xác lập thì hợp đồng đó bị vô hiệu Nhưng nếu sau đó người
đó được hội đồng giám định xác nhận không bị mất nặng lực hành vi dân sự Lúc
đó năng lực hành vi dân sự của người đó được khôi phục lại Lúc đó người xác lậpquan hệ giao dịch vẫn tiếp tục xác lập giao dịch trước
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại điều
125 BLDS 2015 là 02 năm, kể từ ngày: Người đại diện của người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủhành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người đượcđại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch Hết thời hiệu quy định mà không cóyêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực
“Điều 126 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn
1 Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2 Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong
trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các
Trang 12bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được.”
Trong mọi hoạt động của cuộc sống, không phải ta thực hiện bất cứ điều gì tacũng có thể chính xác, chuẩn bị trước được cho mọi biện cố, giao dịch dân sự cũnglà một trường hợp như thế Khi một giao dịch dân sự được tiến hành, có thể do mộtsố yếu tố nào đó như khác biệt về tiếng địa phương, khác biệt vùng miền, khác biệt
về thời gian mà dẫn đến một sự nhầm lẫn nào đó có thể xác định đó là “lỗi vô ý”màcác bên không đạt được mục đích mà mỗi bên hướng tới thì bên bị nhầm lẫn cóquyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu
Ví dụ: A kí hợp đồng mua 50 bộ chén của B, hai bên đã có sự thỏa thuận vềgiá cả và thời điểm giao hàng Đến ngày giao hàng, do khác biệt về vùng miền nênthay vì nhận được chén (là loại bát nhỏ dùng ăn cơm theo cách gọi của người miềnNam) thì B lại giao cho A 50 bộ chén uống trà (theo cách gọi chén của người miềnBắc Hai bên đã bị nhầm lẫn về mặt hàng giao dịch do sự khác biệt trong tên gọi vậtứng với từng vùng miền
Nhưng không phải giao dịch dân sự nhầm lẫn nào cũng dẫn tới trở thành mộtgiao dịch dân sự vô hiệu Tại khoản 2 của điều luật này đã mở ra một hướng giảiquyết vấn đề khá đơn giản và dễ áp dụng Kết quả, mục đích hướng tới của các bênkhi xác lập ban đầu mới là điều họ quan tâm Cho nên khi mục đích xác lập giaodịch dân sự của các bên đã đạt được thì tại sao họ lại phải yêu cầu tòa án tuyên bố
vô hiệu giao dịch đó Còn nếu giao dịch đó chỉ cần sửa đổi đôi chút mà đạt đượckết quả cả hai bên mong muốn thì họ sẽ làm chứ không dễ dàng hủy bỏ gây thiệthại cho cả 2 bên Tiếp tục với ví dụ phía trên ta sẽ có:
Trong trường hợp giao dịch dân sự của A và B bị vô hiệu do nhầm lẫn, vì Bkhông vi phạm nghĩa vụ giao vật nên A sẽ không có quyền yêu cầu B phải bồithường do vị phạm hợp đồng Đồng thời, B không có quyền yêu cầu A phải trả
Trang 13phần tiền còn lại Song một bên có thể thỏa thuận, yêu cầu bên kia thực hiện việcthay đổi nội dung hợp đồng nhằm ngăn ngừa thiệt hại xảy ra với hai bên.
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại điều
126 BLDS 2015 là 02 năm, kể từ ngày: người bị nhầm lẫn biết hoặc phải biết giaodịch được xác lập do bị nhầm lẫn Hết thời hiệu quy định mà không có yêu cầutuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực
“Điều 127 Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng
ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.”
Ta có thể hiểu rằng lừa dối là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bênkia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịchnên đã xác lập giao địch đó (che giấu hành vi bất hợp pháp để hưởng thừa kế theo
di chúc; dùng thủ đoạn nói là vật tốt để bán với giá đắt…) Còn đe dọa là hành vicố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia sợ hãi mà phải xác lập, thựchiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhânphẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình Ở đây sự đe