1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể theo bộ luật dân sự 2015

87 176 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu tuyệt đối trong các trường hợp sau: Khi vi phạm vào các điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức của xã hội; Khi giao dịch được xác lập một cách g

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài “Giao dịch dân sự vô hiệu

do vi phạm ý chí của chủ thể theo quy định của Bộ luật dân sự 2015” em

cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy cô bộ môn Dân sự và Tố tụng dân sự, khoa sau đại học và toàn thể các thầy, cô giáo tại trường Đại học Luật Hà Nội

Đặc biệt, em xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phùng Trung Tập – người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em thực hiện luận văn này

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã ủng hộ em trong suốt thời gian học tập tại trường

Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong thầy cô, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục

có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để luận văn được hoàn thiện hơn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chĩnh xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Lệ Nghĩa

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Bộ luật dân sự : BLDS Giao dịch dân sự : GDDS

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Tính mới và những đóng góp của đề tài 3

6 Kết cấu của luận văn 4

Chương 1 5

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO VI PHẠM Ý CHÍ CỦA CHỦ THỂ 5

1.1 Giao dịch dân sự vô hiệu 5

1.1.1 Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể 5

1.1.2 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu 6

1.2 Đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể 10

1.3 Quy định giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ 13

1.4 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí theo quy định pháp luật một số quốc gia trên thế giới 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25

Chương 2 26

CÁC TRƯỜNG HỢP VÔ HIỆU DO VI PHẠM Ý CHÍ CỦA CHỦ THỂ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 26

2.1 Do bị nhầm lẫn 26

2.2 Do bị lừa dối 30

2.3 Đe dọa, cưỡng ép 32

2.4 Giao dịch dân sự do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi 34

Trang 7

2.5 Do giả tạo 35

2.6 Giao dịch dân sự điện tử khi vi phạm ý chí của chủ thể 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 41

Chương 3 42

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO VI PHẠM Ý CHÍ CỦA CHỦ THỂ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 42

3.1 Thực trạng giải quyết về GDDS vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể và thẩm quyền tuyên vô hiệu tại các cơ quan tài phán 42

3.1.1 Thực trạng giải quyết về giao dịch dân sự vô hiệu tại cơ quan tài phán 42

3.1.2 Về thẩm quyền tuyên giao dịch dân sự vô hiệu 46

3.2 Một số vụ án liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể: 47

3.3 Những khó khăn, vướng mắc trong giải quyết tranh chấp về giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể và kiến nghị hoàn thiện 59

3.3.1 Quy định về nhầm lẫn 60

3.3.2 Quy định về lừa dối, đe dọa, cưỡng ép 61

3.3.3 Quy định về người xác lập không nhận thức làm chủ được hành vi 62

3.3.4 Quy định về giả tạo 63

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 67

KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Giao dịch dân sự là giao dịch diễn ra phổ biến trong đời sống xã hội nhằm đáp ứng được các nhu cầu trong sản xuất, tiêu dùng, khoa học kỹ thuật…đặc biệt khi nước ta ngày càng mở rộng hoạt động công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì các giao lưu dân sự lại càng phát triển Trong các giao dịch dân sự, vấn đề tự do, tự nguyện tham gia ý chí của các bên là nguyên tắc cơ bản khi tham gia giao dịch và phù hợp với Hiến pháp, BLDS khi tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên tham gia giao dịch Tự do ý chí không bị

ép buộc bởi bên nào trong giao dịch đã được thể hiện xuyên suốt từ những thời kỳ đầu khi bắt đầu “manh nha” có những hành vi giao dịch dân sự

Bên cạnh những giao dịch dân sự đã tuân thủ các quy định của BLDS thì vẫn còn tồn tại những hành vi vi phạm ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự Nguyên nhân là do chưa nắm rõ nội dung của các quy định của pháp luật hay các quy định chưa thực sự rõ ràng, cụ thể dẫn tới cách hiểu khác nhau Đặc biệt khi BLDS 2015 được ban hành có hiệu từ 01/01/2017 bên cạnh những tiến bộ tích cực thì vẫn còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc chưa được khắc phục

Chính vì lẽ đó, Tôi đã lựa chọn đề tài “giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể theo Bộ luật dân sự 2015” để làm luận văn thạc sĩ

luật học chuyên ngành dân sự và tố tụng dân sự.Tôi mong muốn nghiên cứu

kỹ hơn các trường hợp của giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể, từ đó đưa ra những vướng mắc, giải pháp để khắc phục những hạn chế của BLDS 2015 để quy định pháp luật phù hợp với thực tiễn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề vi phạm ý chí của chủ thể đã được đề cập đến ở các đề tài nghiên cứu bảo vệ khoa học và các bài viết nghiên cứu, trao đổi, cụ thể:

- Trịnh Thị Hòa -Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả của giao dịch dân

sự vô hiệu, luận văn thạc sĩ luật học, TS Bùi Minh Tuấn hướng dẫn, năm 2017

- Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay- Trần Hoài Thanh khoa luật- Người hướng dẫn PGS.TS Bùi Đăng Hiếu năm 2014

- Nguyễn Thị Nhàn – Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự, Luận án tiến sĩ luật học năm 2008

- Bùi Thị Thu Huyền – Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện ý chí của chủ thể, luận văn thạc sĩ luật học, năm 2010

Trang 10

chủ thể theo Bộ luật dân sự 2015” để làm rõ các quy định của pháp luật theo

BLDS mới, đồng thời tiếp tục kiến nghị những vướng mắc trong thực tiễn để hoàn thiện pháp luật

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Với chuyên ngành ứng dụng – Luận văn không có tham vọng giải quyết được các vấn đề về GDDS vô hiệu mà chỉ tập trung giải quyết vấn đề về GDDS vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể theo quy định của BLDS 2015,

do đó luận văn tập trung vào các vấn đề:

- Đưa ra những vấn đề về lý luận của giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể và lịch sử hình thành quy định về GDDS vô hiệu tại Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới

- Tập trung đánh giá, bình luận về các trường hợp vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá các vướng mắc trong thực tiễn

và kiến nghị hoàn thiện các quy định về GDDS vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể theo quy định của BLDS 2015

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu biện chứng, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích đánh giá, so sánh thống kê để giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn của đề tài

5 Tính mới và những đóng góp của đề tài

- Luận văn làm rõ khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể, đưa ra các vấn đề chung về giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể, quá trình phát triển của quy định về vi phạm ý chí của chủ thể qua các thời kỳ lịch sử tại Việt nam và trên Thế giới

- Đánh giá về hoạt động giao dịch dân sự online vi phạm ý chí của chủ thể

Trang 11

- Từ thực tiễn các vụ việc đã được giải quyết từ đó nhận xét, đánh giá giải quyết tại Tòa án

- Đưa ra các vướng mắc trong thực tiễn từ đó kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể theo quy định của BLDS 2015

6 Kết cấu của luận văn

- Chương 1: Một số vấn đề chung về giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể

- Chương 2: Các trường hợp vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể theo quy định của BLDS 2015

- Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do

vi phạm ý chí của chủ thể và kiến nghị hoàn thiện

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU DO VI

PHẠM Ý CHÍ CỦA CHỦ THỂ 1.1 Giao dịch dân sự vô hiệu

1.1.1 Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể

“GDDS là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh,

thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” (Điều 116 BLDS 2015)

Căn cứ vào quy định này và theo logic thì mọi hợp đồng đều là giao dịch dân

sự, nhưng không phải mọi giao dịch là hợp đồng Bởi vì, nếu giao dịch của hai bên là hợp đồng -một loại giao ước, có đặc điểm chung là thống nhất ý chí, còn hành vi pháp lý đơn phương lại thể hiện ý chí của một chủ thể Do vậy hành vi pháp lý đơn phương không là hợp đồng Ví dụ, như cá nhân thể hiện ý chí trong việc lập di chúc để lại tài sản cho người thừa kế được chỉ định theo ý chí của mình.1

Ý chí có vai trò cực kỳ quan trọng trong GDDS, bởi

đó là yếu tố cơ bản, không thể thiếu được trong GDDS, từ đó làm phát sinh,

thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự

Tại khoản 2 Điều 3 BLDS 2015 đưa ra nguyên tắc cơ bản của Pháp luật

dân sự “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền và nghĩa vụ

dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện, cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng” Như vậy, nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được xem

là nguyên tắc cơ bản, cốt lỗi trong BLDS

Ý chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong của con người

mà nội dung của nó được xác định bởi các nhu cầu về sản xuất, tiêu dùng của bản thân họ Ý chí của chủ thể được hiểu là ý chí tự nguyện, sự tự nguyện của

1 Nguyễn Văn Cừ- Trần thị Huệ (2017),Bình luận khoa học Bộ luật dân sự 2015, NXB Công an Nhân dân,tr

229

Trang 13

chủ thể tham gia giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch Tự nguyện

là tự do định đoạt ý chí, không bị ép buộc, dọa nạt, lừa dối và không bị người khác áp đặt ý chí Chủ thể tham gia giao dịch tự mình lựa chọn chủ thể tham gia, lựa chọn đối tượng của giao dịch, lựa chọn giá cả, thời hạn, địa điểm và các sự lựa chọn khác trong việc xác lập giao dịch dân sự Mọi hành vi áp đặt khiến cho các chủ thể không thể hiện được ý chí một cách tự nguyện, được xem là vi phạm yếu tố căn bản của giao dịch dân sự, có thể dẫn tới sự vô hiệu

Trong giao dịch dân sự chủ thể có ý chí và thể hiện ý chí khi tham gia giao dịch Ý chí phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định

để các chủ thể khác có thể biết được ý chí của chủ thể muốn tham gia đã tham gia vào một giao dịch dân sự cụ thể Bởi vậy, giao dịch dân sự phải là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí Thiếu sự thống nhất này, giao dịch dân

sự có thể bị tuyên bố là vô hiệu hoặc sẽ vô hiệu.2

Từ đó có thể hiểu Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể là giao dịch dân sự mà không thể hiện đúng, đầy đủ mong muốn, nguyện vọng, mục đích của chủ thể tham gia giao dịch tại thời điểm giao kết hợp đồng hoặc thực hiện hành vi pháp lý đơn phương

1.1.2 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu

BLDS 2015 không phân loại giao dịch dân sự vô hiệu mà chỉ chỉ ra các trường hợp vô hiệu do vi phạm các điều kiện cụ thể của GDDS và hậu quả pháp lý của từng trường hợp khi GDDS vô hiệu Nhằm nghiên cứu GDDS vô hiệu một cách đầy đủ, các nhà nghiên cứu có nhiều cách phân loại GDDS cụ thể:

2Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập I, NXB Công an nhân

dân Hà nội, Trang 136

Trang 14

- Căn cứ vào tính chất, trình tự bị coi vô hiệu thì GDDS vô hiệu được

phân làm 02 loại đó là giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và giao dịch dân sự

vô hiệu tương đối 3

Một giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu tuyệt đối trong các trường hợp

sau: Khi vi phạm vào các điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức của xã hội; Khi giao dịch được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba; Khi hình thức của giao dịch không tuân thủ theo các quy định bắt buộc của pháp luật; Khi giao dịch của pháp nhân xác lập vượt ra ngoài lĩnh vực hoạt động được cho phép, đăng ký; Khi giao dịch được xác lập bởi người không có năng lực hành vi dân sự (chưa đủ 6 tuổi); Khi giao dịch được xác lập bởi người mất năng lực hành vi dân sự

Giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu tương đối trong các trường hợp: Khi

giao dịch được xác lập bởi người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi cho đến chưa

đủ 18 tuổi (có năng lực hành vi dân sự một phần); Khi giao dịch được xác lập bởi người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; Khi giao dịch được xác lập do

bị nhầm lẫn; Khi một bên chủ thể tham gia xác lập giao dịch do bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; Khi người xác lập giao dịch không nhận thức được hành vi của mình

GDDS vô hiệu tuyệt đối và GDDS vô hiệu tương đối có đặc điểm khác nhau

cơ bản như sau:

Về trình trình tự vô hiệu của giao dịch: GDDS vô hiệu tuyệt đối thì

mặc nhiên bị coi là vô hiệu dù tòa án có tuyên bố hay không Còn GDDS vô

3 Bùi Đăng Hiếu (2001), “Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối và vô hiệu tuyệt đối”,Tạp chí luật

học số 5/2001,Hà Nội

Trang 15

hiệu tương đối thì không mặc nhiên vô hiệu mà chỉ vô hiệu khi có đơn yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan và bị tòa án tuyên bố vô hiệu

GDDS vô hiệu tuyệt đối bị vô hiệu không phụ thuộc vào quyết định của toà án Khi GDDS vô hiệu tuyệt đối thì mặc nhiên giao dịch đó không có giá trị, vì giao dịch vi phạm pháp luật nghiêm trọng nên Nhà nước không bảo

hộ nhằm đảm bảo trật tự xã hội Còn đối với giao dịch dân sự vô hiệu tương đối thì quyết định của toà án mang tính chất phán xử Toà án tiến hành giải quyết vụ việc khi có đơn yêu cầu của các bên (hoặc của đại diện hợp pháp của họ) Bên yêu cầu phải có nghĩa vụ chứng minh trước toà các cơ sở của yêu cầu và dựa trên những minh chứng đó toà án mới cân nhắc để ra quyết định giao dịch có bị coi là vô hiệu hay không

Về thời hạn yêu cầu tuyên bố GDDS vô hiệu: đối với các GDDS vô

hiệu tuyệt đối thì thời hạn yêu cầu tòa án tuyên bố GDDS vô hiệu không bị hạn chế Còn đối với GDDS vô hiệu tương đối thì thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố GDDS vô hiệu là hai năm (Theo Điều 132 BLDS 2015) Vô hiệu tuyệt đối thường áp dụng đối với những loại GDDS vi phạm những nguyên tắc cốt lõi – do đó bản thân các giao dịch này đã không có hiệu lực nên không tính thời hiệu trong các loại giao dịch này Còn đối với các GDDS vô hiệu tương đối thì vô hiệu là phụ thuộc vào yêu cầu của chủ thể tham gia giao dịch, nên cần quy định thời hiệu để nâng cao tính kỷ luật của các bên trong giao lưu dân sự, từ đó xác lập sự ổn định quan hệ dân sự, đảm bảo các bên chủ động, tích cực trong GDDS Ngoại lệ trong đặc điểm này là trường hợp vô hiệu do

vi phạm quy định bắt buộc về hình thức cũng thuộc nhóm vô hiệu tuyệt đối nhưng vì hiệu lực của giao dịch phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể mà không phải là của Nhà nước nên theo quy định tại Điều 132 BLDS 2015 thì thời hạn yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu là 02 năm (giống như các trường hợp vô hiệu tương đối)

Trang 16

Về mục đích: các trường hợp pháp luật quy định giao dịch vô hiệu tuyệt

đối nhằm mục đích bảo vệ các lợi ích bên thứ ba, của người yếu thế, lợi ích công công (lợi ích của Nhà nước, của xã hội nói chung) Còn các trường hợp pháp luật quy định vô hiệu tương đối là nhằm mục đích bảo vệ lợi ích cho chính các chủ thể tham gia giao dịch

- Căn cứ vào phạm vi, nội dung vô hiệu, GDDS phân làm 02 loại là

GGDS vô hiệu toàn bộ và GDDS vô hiệu từng phần

Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ: xảy ra trong trường hợp toàn bộ mục

đích, nội dung của giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc một trong các bên tham gia giao dịch không có quyền xác lập GDDS hoặc vi phạm một thỏa thuận và ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại, dẫn đến toàn bộ giao dịch vô hiệu

Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần: theo quy định tại Điều 130 BLDS

2015 “Giao dịch dân sự vô hiệu tường phần khi một phần nội dung của giao

dịch dân sự vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch” khi đó, chỉ phần vô hiệu là không có hiệu lực, còn phần còn lại

vẫn có hiệu lực áp dụng

Trong một giao dịch có nhiều điều khoản, nhiều khác nhau, nếu một điều khoản vô hiệu mà không ảnh hưởng đến toàn bộ nội dung hay điều khoản cơ bản của giao dịch thì điều khoản đó vô hiệu và các điều khoản khác vẫn có hiệu lực (thông thường là giao dịch có đối tượng gồm nhiều vật khác nhau hoặc có nhóm các công việc khác nhau và khi vô hiệu phần nào, đối tượng nào thì chỉ phần giao dịch liên quan đến các đối tượng, phần đó bị vô hiệu, còn các phần khác của giao dịch vẫn có hiệu lực)

- Căn cứ vào sự vi phạm điều kiện hiệu lực của giao dịch thì GDDS

được chia thành:

Trang 17

Vô hiệu do chủ thể không có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành

vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập

Vô hiệu do chủ thể tham gia giao dịch dân sự không tự nguyện (vi phạm ý chí của chủ thể)

Vô hiệu do mục đích và nội dung của giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

Trong phạm vi đề tài, Tôi chỉ đề cập đến vô hiệu do do vi phạm ý chí của chủ thể Trong trường hợp này, GDDS phân chia thành GDDS vô hiệu

do nhầm lẫn, do lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, do không nhận thức, làm chủ được hành vi và do giả tạo

Đây là những trường hợp khi tham gia GDDS do các nguyên nhân khác nhau mà họ không tự nguyện hoặc không đúng với mong muốn của họ khi xác lập giao dịch (do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, do không nhận thức làm chủ được hành vi) và có trường hợp tự nguyện xác lập giao dịch nhưng lại nhằm mục đích để che dấu một giao dịch khác trong trường hợp giả tạo (tức là không có sự thống nhất giữa ý chí đích thực và bày tỏ ý chí: không thực sự tự nguyện)

1.2 Đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể

Giao dịch dân sự có một số đặc điểm sau:

- Vi phạm điều kiện có hiệu lực của của giao dịch dân sự đó là vi phạm

điều kiện ý chí tự nguyện, đích thực của chủ thể tham gia giao dịch

GDDS vi phạm ý chí của chủ thể đều có đặc điểm chung là vi phạm ý chí đích thực, tự nguyện của chủ thể chứ không phải vi phạm các nguyên tắc có hiệu lực khác của GDDS vô hiệu

Sự tự nguyện tham gia giao dịch là một yếu tố, nguyên tắc cơ bản không thể thiếu trong GDDS Vì vậy, các chủ thể tham gia giao dịch phải được thể hiện ý chí đích thực của mình Mọi GDDS vi phạm ý chí tự nguyện của chủ

Trang 18

thể đều có thể vô hiệu Pháp luật của Việt Nam từ trước đến nay cũng như Pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều đòi hỏi các bên tham gia phải thể hiện ý chí đích thực Ý chí đích thực trong giao dịch là thể hiện, khi tham gia giao dịch các chủ thể có quyền thể hiện ý chí của mình ra bên ngoài (thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí) trong khuôn khổ pháp luật cho phép mà không phải chịu bất cứ sự tác động của yếu tố nào khác

- Chịu những hậu quả pháp lý nhất định khi giao dịch dân sự vô hiệu

Khi GDDS vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể thì đều chịu hậu quả pháp

lý nhất định cụ thể:

“Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền

và nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập”Khoản 1 Điều 131 BLDS 2015 Do đó giao dịch không được pháp luật

công nhận và quan hệ dân sự không có giá trị về mặt pháp lý, coi như giao dịch không được xác lập, quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên không đạt được

Trong trường hợp này, GDDS vô hiệu không phụ thuộc vào các bên đã thực hiện giao dịch hay chưa, đối với GDDS vô hiệu tuyệt đối trong trường hợp giả tạo thì giao dịch mặc nhiên vô hiệu tại thời điểm ký kết, không phụ thuộc vào việc Tòa án có tuyên vô hiệu hay không và không có thời hạn yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu Còn đối với GDDS vô hiệu tương đối trong trường hợp nhầm lẫn, đe dọa, cưỡng ép, người không nhận thức, làm chủ được được hành vi thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố GDDS vô hiệu, thời hạn yêu cầu tuyên bố GDDS vô hiệu là 02 năm và cả vô hiệu tương đối hay vô hiệu tuyệt đối thì giao dịch vô hiệu không phụ thuộc vào việc thực hiện giao dịch giữa các bên

“Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu,

hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trường hợp không thể hoàn trả được

Trang 19

bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả” Khoản 2 Điều 131 BLDS

2015 Tại thời điểm xác lập giao dịch, mặc dù GDDS vô hiệu ngay từ đầu nhưng các bên đã, đang thực hiện giao dịch tức là đã thực hiện quyền và nghĩa vụ (giao tài sản, lợi ích…) Như vậy, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận là biện pháp cần thiết để khôi phục lại hiện trạng ban đầu như khi chưa xác lập giao dịch Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng hoàn trả được hiện trạng ban đầu ví dụ như tài sản hao mòn, đối tượng công việc…trong trường hợp này thì trị giá tính bằng tiền để hoàn trả cho nhau

“Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường” khoản 4 Điều 131 BLDS

2015 Đây là trách nhiệm dân sự phát sinh do thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ dân sự theo hợp đồng (có lỗi) Do đó, trách nhiệm ở đây là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Khi GDDS vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể thì các bên phải chịu bất lợi do việc không tuân thủ các quy định của GDDS và giao dịch không được công nhận, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và bên có lỗi phải bồi thường Tòa án là cơ quan có quyền tuyên bố GDDS vô hiệu

- Thể hiện ý chí của nhà nước trong kiểm soát giao dịch dân sự khi thấy cần

thiết nhằm bảo vệ các bên, của người thứ ba ngay tình và trật tự công cộng

Quy định GDDS vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể cho thấy nhà nước bảo vệ quyền và lợi các bên và của bên thứ ba khi bị vi phạm điều kiện

về ý chí tự nguyện Đó là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt của BLDS đồng thời cũng bảo vệ quyền tự định đoạt của các bên trong trường hợp quyền và lợi ích chỉ ảnh hưởng đến các bên trong trường hợp GDDS vô hiệu tương đối: nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, không nhận thức làm chủ được hành vi Đồng thời bảo vệ bên thứ ba và trật tự công cộng trong trường hợp GDDS vô hiệu tuyệt đối (giả tạo)

Trang 20

1.3 Quy định giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ

Khi nghiên cứu pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ, các nhà nghiên cứu thường xem xét ở các giai đoạn: pháp luật Việt Nam thời kỳ phong kiến; thời kỳ pháp thuộc và Thời kỳ hiện đại từ năm 1945 đến nay

Thời kỳ phong kiến

Trong thời kỳ này (từ thế kỷ XV đến thời kỳ pháp thuộc), các nhà lập pháp đã thấy được tầm quan trọng của giao dịch cần tự nguyện, tự định đoạt được thể hiện qua các giao dịch liên quan đến mua bán, cầm, cho…do đó các chủ thể khi tham gia vào các khế ước thời bấy giờ sẽ bị trừng phạt nếu có các hành vi vi phạm về ý chí (như hành vi lừa dối, đe dọa…) Mặc dù chưa có những quy định khái quát chung nhưng đã được quy định cụ thể trong các điều luật cho thấy sự tiến bộ của các quy định pháp luật trong thời kỳ này và đến nay vẫn giữ nguyên giá trị cốt lõi Nổi bật trong giai đoạn này là hai bộ luật: Quốc triều hình luật dưới thời đại Nhà Lê Sơ và Bộ Hoàng Việt luật lệ dưới thời nhà Nguyễn

Bộ Quốc triều hình luật (hay còn gọi là Bộ luật Hồng đức) thời Lê là bộ luật tiêu biểu cho hệ thống pháp luật phong kiến Việt Nam, đã thể hiện khá đầy đủ các mối quan hệ trong xã hội phong kiến đương thời Mặc dù sau này nhà Nguyễn ban hành Hoàng Việt luật lệ thì các quy định tại Bộ Quốc triều hình luật vẫn có giá trị rất lớn và đã trở thành những tập quán trong xã hội, trong đó có các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể

Trong Quốc triều hình luật, mặc dù không đề cập tới khái niệm và yêu cầu chung đối với khế ước hợp pháp hoặc vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể, nhưng vẫn có những quy định rải rác cho thấy nguyên tắc tự do ý chí vẫn được thể hiện rõ trong các điều luật

Trang 21

Quy định về giao dịch dân sự với tên gọi khế ước được quy định chủ yếu trong Bộ Quốc triều hình luật không ghi rõ là hợp đồng hay khế ước mà chỉ quy định các hành vi cụ thể như mua bán, cầm, cho…Mặc dù không có các khái niệm, nguyên tắckhái quátthể hiệný chí của chủ thểnhưng khi phân

tích các quy định cụ thể thì yếu tố thỏa thuận, “thuận mua vừa bán” đã thể

hiện rõ trong các quy định này cụ thể :

Điều 355 Quốc triều hình luật về đe dọa trừng trị nặng những người cậy

quyền thế ức hiếp để mua ruộng đất của người khác: “người nào ức hiếp mua

ruộng đất của người khác thì bị xử biếm hai tư, cho được giả tiền mua hay nếu các quan cai quản, nhà quyền quý mà sách nhiễu vay mượn của cải đồ vật của dân trong hạt thì phải khép vào tội uổng pháp (tức là làm trái pháp luật) phải hoàn trả lại đồ vật cho chủ” Các bên phải thực hiện khế ướcđúng

thỏa thuận, các bên đều bình đẳng với nhau trong quá trình giao kết khế ước Trong quá trình thực hiện khế ước, nếu bên nào vi phạm khế ước thì chủ yếu

là chịu các hình phạt nặng như trượng, roi, biếm hai tư, một tư… ,

Điều 198 quy định về hành vi ức hiếp “những người từ chối không tiêu

tiền đồng bị sứt mẻ hoặc đòi giá hàng quá cao mới bán, hay là đóng của hàng không bán để bán giấu ở trong nhà, thì đều xử tội biếm và bắt diễu đi trước công chứng 3 ngày Những hàng hóa nói trên đều bị tịch thu sung công Những người cậy quyền mua hàng ức hiếp, thì cũng bị tội như thế”

Điều 187 Quốc triều hình luật quy định về hành vi lừa dối “Trong các

chợ kinh thành và thôn quê, những người mua bán không theo đúng cân, thước, thăng, đấu của nhà nước mà làm riêng của mình để mua bán thì xử tội biếm hoặc đồ” và tại Điều 190: “người dùng thăng, đấu, cân thước để mua bán lấy lợi riêng thì tội cũng như tội ăn trộm”

Bên cạnh đó cũng có việc bồi thường thiệt hại hoặc hoàn trả tài sản,

tiền…như tại Điều 378 bộ Quốc triều hình luật quy định “Cha mẹ còn sống,

Trang 22

mà bán trộm điền sản, nếu con trai thì xử phạt 60 trượng, biếm hai tư, con gái thì xử phạt 50 roi, biếm một tư, phải trả nguyên tiền cho người mua điền sản trả cha mẹ”

Như vậy, trong Quốc triều hình luật dưới thời Lê đã có những quy định

về vấn đề vi phạm ý chí của chủ thể khi giao kết hợp đồng và các hành vi lừa dối, đe dọa, cưỡng ép sẽ bị trừng phạt cho thấy sự tiến bộ trong Bộ luật thời bấy giờ và đến nay vẫn còn có giá trị khi áp dụng các quy định về hoàn trả tài sản, tiền…

Bộ Hoàng Việt Luật lệ (Bộ luật Gia long) ban hành năm 1813 dưới thời nhà Nguyễn quy định khế ước: cũng như trong Quốc triều hình luật, Hoàn Việt luật lệ không có những khái niệm, nguyên tắc chung về vi phạm ý chí của chủ thể trong các giao dịch mà có các khái niệm như mua bán, vay nợ, thuê… và những quy định đó thể hiện quan điểm tự do giao kết khế ước của

cá nhân và pháp luật chỉ điều chỉnh những quan hệ giao kết có nguy cơ xâm phạm thuần phong mỹ tục, trật tự xã hội Về ý chí của chủ thể khi giao kết tại Điều 137 Hoàng Việt Luật quy định về hành vi lừa dối, đe dọa, cưỡng ép cụ

thể: “khi một người mua và một người bán đồ vật gì, nếu hai bên đương sự

không đồngý, và một bên cậy mình có tư cách nhà buôn có giấy phép dùng áp lực hoặc những người buôn bán thông đồng với các người có giấy phép để manh tâm lừa dối bán đắt những đồ vật rẻ tiền, hoặc mua những đồ vật quý giá của người khác thì bị phạt 80 trượng”

Ngoài ra, Hoàng Việt luật còn có quy định nghiêm cấm việc bán điền

sản phi pháp bằng lừa dối tại điều 87 Hoàng việt luật lệ “phàm đem bán

trộm ruộng đất người khác, đem đất mình cày cấy không nổi đổi cho người khác, và mạo nhận đất ruộng người khác làm đất của mình (như chữa trong giá tiền thiết lập văn khế loại bán có thể chuộc lại được và xâm chiếm ruộng đất người ta) ruộng một mẫu, nhà một gian trở xuống thì phạt 50, mỗi mẫu

Trang 23

ruộng, 3 gian nhà thì thêm một bậc tội, một tội là 80 trượng, đồ 2 năm Liên

hệ với ruộng đất của quan thì tăng 2 bậc” quy định thể hiện các các hành vi

lừa dối thể hiện:

- Bán tài sản không có quyền bán vừa có nghĩa chiếm đoạt tài sản và lừa dối người mua

- Đem đất mình khô cằn, lỗi lõm… cày cấy không nổi đổi cho người khác

Các trường hợp trên ngoài hình phạt, người vi phạm còn phải chịu chế tài về dân sự như tiền bán và hoa lợi thu được trong năm ấy thì chiếu theo sổ

mà nhập quan để trả lại cho chủ sở hữu

Trong trường hợp cưỡng bách, pháp luật có những quy định nhằm trừng phạt những người cưỡng bách người khác phải giao kết khế ước như ức hiếp để mua ruộng đất, xâm chiếm bờ cõi, sách nhiễu vay mượn của cải của dân…thì sẽ bị trừng trị

Trong thời kỳ này, các quy định về nhầm lẫn không thấy xuất hiện như lừa dối hay đe dọa, sự nhầm lẫn chỉ được nhà làm luật quan tâm đến khi nào

sự nhầm lẫn ấy là một hậu quả hay một thành tố của sự lừa dối.4

Thời kỳ Pháp thuộc

Năm 1858, thực dân Pháp sang xâm lược Việt Nam Thời kỳ này, Việt Nam chia làm ba kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ Do nhận thức được vị trí, vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, thực dân Pháp đã ban hành BLDS áp dụng cho ba miền của nước ta đó là: Bộ luật dãn yếu Nam kỳ (ban hành năm 1883), Bộ luật Bắc kỳ (ban hành năm 1931), Bộ Hoàng Việt Trung

kỳ hộ luật (thường gọi là Bộ luật Trung kỳ, ban hành năm 1936) Riêng đối với Bộ luật dãn yếu Nam kỳ do thiếu phần khế ước nên đã bổ sung vào sắc lệnh Tân Điền Thổ vào năm 1925 chỉ quy định riêng về khế ước

4 Vũ Văn Mẫu (1975), cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử, Quyển thứ hai, Sài gòn, tr 19

Trang 24

Thời Pháp thuộc, nguyên tắc giao ước và thực hiện khế ước tôn trọng quyền tự do ý chí, các bên được tự do giao ước với nhau theo điều 896 Dân luật Bắc kỳ và Điều 1022 Hoàng Việt trung kỳ hộ luật thì trong hợp đồng mãi mại, các bên được tự do thỏa thuận về tài sản mãi mại, giá cả, quyền và nghĩa

vụ của mỗi bên

Trong thời kỳ này, các nguyên tắc đã quy định rõ ràng, cụ thể hơn chứ không quy định rải rác trong các điều luật cụ thể Tại Điều 651 Dân luật Bắc

kỳ và Điều 687 Hoàng Việt trung kỳ hộ luật quy định nguyên tắc khế ước hợp pháp trong đó quy định đầu tiên là phải có sự thống nhấtý chí của các bên về hình thức, nội dung khế ước và mọi điểm mà các bên đưa ra thỏa thuận và sau khi khế ước hình thành phải có đủ hai điều kiện thì khế ước mới có giá trị đó là:

- Các bên giao kết khế ước hoàn toàn tự nguyện, không có sự hiểu lầm hoặc cưỡng bách làm cho trái với tự thỏa thuận của các bên;

- Chủ thể phải có đủ tư cách mà pháp luật đã quy định hoặc có người đại diện hợp pháp (Điều 683 Dân luật Bắc kỳ và Điều 688 Hoàng Việt trung kỳ hộ luật)

Và khế ước vô hiệu nếu không có một trong các điều kiện làm cho khế ước hợp pháp, và vấn đề vi phạmý chí của chủ thể trong trường hợp này cụ thể như:

- Có sự hiểu lầm về nội dung và chủ thể của khế ước

- Có sự lừa dối, đe dọa, hành hung

- Có sự giả dối trong khế ước

Khế ước vô hiệu do hiểu lầm: đó là vì một sự hiểu lầm nào đó mà người lập khế ước không chú ý lập cùng một ước như nhau, hay là không chủ định một người, một vật, hay cùng một sự việc như nhau (Điều 658 dân luật Bắc kỳ và Điều 692 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật) sự hiểu lầm có thể là về

Trang 25

chủ thể, đối tượng, nội dung, tư cách tài năng của một người lập khế ước…thì khế ước không có giá trị

Bên cạnh đó còn có một số trường hợp mặc dù có hiểu lầm nhưng không làm khế ước vô hiệu như:

- Hiểu lầm về một điểm không quan trọng trong khế ước, theo đoạn 2

điều 692 Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật quy định“nếu trong các người lập ước,

có người hiểu lầm về tính cách hiệp ước mà chỉ lầm lời hứa hiệp ước với chính lời hiệp ước mà thôi, thời không chỉ vì thế mà làm cho hiệp ước không

có giá trị”

- Hiểu lầm về tư cách người lập ước có thể không làm cho khế ước vô hiệu, nếu khế ước không nhất thiết phải do một người có tư cách, phẩm chất đặc biệt thực hiện mà một bên khế ước đã đòi hỏi người này phải có

Khế ước do sự lừa dối: lừa dối về chất lượng hàng hóa phổ biến là bán hàng giả hoặc cố ý che dấu khuyết tật của vật mua bán là cho người mua không biết mà mua vật thì vô hiệu

Khế ước do bạo hành: sự bạo hành vi phạmý chí của chủ thể thì sẽ bị

vô hiệu Tuy nhiên, không phải sự bạo hành nào cũng dẫn đến vô hiệu Chỉ những bạo hành như cưỡng ép bằng cách hành hung hay dọa nạt mà bên kia không thể chống lại được nên phải giao ước để tránh thiệt hại lớn hơn, nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của bản thân vợ hoặc chồng hay người thân thích khách hoặc thiệt hại đến tài sản của những người này thì khế ước đó bị

vô hiệu (từ điều 660 đến 662 Dân luật bắc kỳ và từ điều 696 đến điều 698 Hoàng Việt trung kỳ hộ luật)

Thời kỳ hiện đại từ năm 1945 đến nay

Trong những năm đầu từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa do chưa có điều kiện ban hành văn bản pháp luật thay thế nên nhà làm

luật chấp nhận hệ thống luật cũ trừ những quy định “trái với nền độc lập của

Trang 26

nước Việt Nam và chính thể cộng hòa” (điều 12 Sắc lệnh số 47 ngày

10/10/1945) Với chủ trương đó, toàn bộ hệ thống pháp luật về dân sự trong thời kỳ Pháp thuộc (Dân luật dãn yếu Nam kỳ năm 1883, Dân luật Bắc kỳ

1931 và Hoàng Việt trung kỳ hộ luật 1936) được giữ nguyên và tiếp tục áp dụng

Đến năm 1950, trước yêu cầu cấp bách của thực tiễn trong việc xóa bỏ các tàn tích của chế độ phong kiến trong lĩnh vực dân sự, người làm luật trong hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc đấu tranh chống pháp, đã nỗ lực vượt qua khó khăn để xây dựng một hệ thống pháp luật dân sự xã hội chủ nghĩa Một trong những thành tựu đáng chú ý nhất trong thời kỳ này là việc ban hành sắc lệnh

97 ngày 22 tháng 5 năm 1950 sửa đổi một số quy định và chế định trong dân luật trong đó các quy định tại Điều 13 quy định về hành vi cưỡng ép thì giao

dịch vô hiệu “Khi lập ước mà có sự tổn thiệt do sự bóc lột của một bên vì điều

kiện kinh tế của hai bên chênh lệch thì khế ước có thể coi là vô hiệu”

Pháp luật cũ không còn được dùng làm căn cứ cho việc xem xét xử của các Tòa án từ năm 1957 theo chỉ thị số 772/TATC ngày 10/7/1957 của Tòa án Nhân dân tối cao Tuy nhiên, do chiến tranh và những khó khăn của thời kỳ đầu sau chiến tranh, giao lưu dân sự không phát triển; bởi vậy, từ đó cho tới thời kỳ đầu thập niên 80, hầu như không có văn bản nào chứa đựng hệ thống các quy định về dân sự được ban hành

Từ năm 1980 đến nay, cùng với sự phát triển của kinh tế, các giao lưu dân sự ngày càng phát triển, bắt đầu từ năm 1987 với tích lũy của cải trong tư nhân được khuyến khích và phát triển Thời kỳ thay đổi từ kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường hàng loạt các văn bản pháp luật ra đời, trong đó phải kể đến là: Pháp lệnh hợp đồng dân sự có hiệu lực từ ngày 01/07/1991; Pháp lệnh nhà

ở ngày 26/03/1991; Pháp lệnh thừa kế ngày 10/09/1990

Trang 27

Theo quy định của pháp luật thời kỳ này thì hợp đồng dân sự được giao kết trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, không trái pháp luật và đạo đức xã hội Theo Điều 15 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự, thì hợp đồng vô hiệu do vi

phạm ý chí thể hiện: “khi một bên hợp đồng bị nhầm lẫn về nội dung chủ yếu

của hợp đồng, bị đe dọa hoặc bị lừa dối, thì có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu” Như vậy, trong thời kỳ này đã quy định các trường hợp vô

hiệu do vi phạm ý chí tự nguyện của chủ thể tuy nhiên vẫn chưa bao quát được các trường hợp

BLDS1995 và BLDS 2005 và BLDS 2015 ra đời đánh dấu sự tiến bộ của kỹ thuật lập pháp, những quy định của pháp luật phù hợp với thực tiễn và tình hình xã hội, xóa bỏ tàn dư của chế độ phong kiến và tiếp thu những tiến

bộ của pháp luật hiện đại Trong đó BLDS quy định rõ ràng, đầy đủ về các vấn đề giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạmý chí của chủ thể như giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, vô hiệu do nhầm lẫn, vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa,

do người xác lập không nhận thức được hành vi của mình mà chúng ta sẽ đề cập ở các phần tiếp theo

1.4 Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí theo quy định pháp luật một số quốc gia trên thế giới

Thời kỳ La Mã

Quy định về tự do, tự nguyện ý chí của chủ thể trong GDDS đã rất được coi trọng và được quy định ở các nước trên thế giới Từ thời kỳ La Mã đến nay, các quy định vẫn tiếp tục kế thừa và bổ sung mặc dù có những quy định khác nhau nhưng các nước đều có nguyên tắc chung khi GDDS vi phạm

ý chí của chủ thể thì vô hiệu

Vấn đề ý chí của chủ thể đã được quy định từ thời kỳ La Mã cổ đại (từ thuật ngữ Convenire-đi đến sự thỏa thuận được sử dụng để biểu hiện sự thống nhất về một điểm của cả hai bên, ý chí đã thỏa thuận của các bên là điều kiện

Trang 28

quan trọng để giao dịch có hiệu lực Luật La Mã thời kỳ đầu đã cực kỳ tiến bộ khi quy định những vấn đề về thể hiện ý chí trong các giao dịch dân sự cụ thể như theo Luật La Mã nếu mới có ý đồ xác lập những quan hệ pháp lý nhất định mà ý chí chưa được thể hiện ra bên ngoài thì không dẫn tới hậu quả pháp

lý, vì ý chí đó chưa được mọi người biết tới và không một ai có thể chấp nhận chúng Ý chí phải được nêu ra, hình thức biểu hiện ý chí đó rất khác nhau: lời nói, cử chỉ, văn tự, im lặng Cuối cùng ý chí có thể được biểu hiện bằng hành

vi mà dựa vào đó để kết luận hay ghi nhận (concludere) rằng đương sự đã hoàn tất một giao dịch cụ thể

Khó khăn nhất theo quan niệm của các luật gia lúc mà mâu thuẫn giữa hình thức thể hiện ý chí và thực chất bên trong của ý chí chỉ biểu hiện ở một bên Luật La mã quy định các loại nhầm lẫn: nhầm lẫn trong tính chất của giao dịch (error in negotio) ví dụ nhầm hợp đồng gửi giữ là hợp đồng tặng cho Trong trường hợp này là hiểu lầm nên sẽ không xuất hiện giao vì không

có sự thỏa thuận; nhầm lẫn tư cách chủ thể (error in persona) hay nhầm lẫn về

đồ vật (error in corpora): nếu chỉ nhầm lẫn tên gọi đồ vật, nhưng thực tế họ chỉ có ý định về một đồ vật thì hợp đồng hoàn toàn có hiệu lực Nếu nhầm lẫn

về tính chất của đồ vật mà tính chất đó buộc phải công nhận đồ vật đó hoàn toàn khác như ý định (ví dụ mua ấm vàng mà thực tế bằng đồng) thì hợp đồng không có hiệu lực Nếu nhầm lẫn về chủng loại, chất lượng…(mua đồ bằng vàng nhưng thực chất là mạ vàng Thì theo người La Mã mạ vàng cũng có chữ vàng nên thỏa thuận có hiệu lực)5

Luật La Mã quy định trong giao dịch ý chí phải được thể hiện tự do, tự giác, hoàn toàn không bị sức ép từ bên ngoài, do đó, các hành vi lừa dối, cưỡng chế hay sử dụng bạo lực không được chấp nhận

5Nguyễn Ngọc đào, Luật La Mã, Đại học Tổng hợp , tr 89

Trang 29

Trong Luật La Mã, các hành vi trên được quy định rải rác ở các điều luật cụ thể và tùy từng trường hợp cụ thể để xử lý các hành vi khác nhau, những giao dịch được xác lập nếu bị lừa dối hoàn toàn không phải mất hết hiệu lực; nó gây ra hậu quả pháp lý, và người thể hiện ý chí do ảnh hưởng của

sự lừa dối được sử dụng biện pháp để làm mất hiệu lực của giao dịch và được bồi thường từ phía người lừa đảo

Theo Luật La Mã, tình trạng cưỡng bức về mặt thể xác và tinh thần để

ép buộc thực hiện giao dịch là đe dọa bất hợp pháp và thực tế là điều ác đối với người buộc phái ký

Ở khía cạnh khác thì thỏa thuận được ký dưới ảnh hưởng của sự đe dọa,

bản thân đã là sự thỏa thuận có hiệu lực vì theo cácluật gia La Mã thì “dù có

cưỡng bức, áp đặt nhưng tôi đã thể hiện ý chí” (Bộ Degest, quyển 4, mục 2,

trích đoạn 25, điều 5 luật gia Paulus) nhưng trong trường hợp này sự thể hiện

ý chí xảy ra ngược với ý muốn của người thể hiện ý chí sau đó, vì thế họ được phép khiếu nại

Với lịch sử La Mã, những điều kiện của nền kinh tế chiếm hữu nô lệ, việc quy định các chế định về thể hiện nguyên tắc tự do thể hiện ý chí trong giao dịch là cực kỳ tiến bộ thời bấy giờ

BLDS Pháp

Bộ luật dân sự Pháp hay còn gọi là Bộ luật Napoleon được ban hành từ năm 1804, đây là một tác phẩm luật quan trọng nhất của thời kỳ hiện đại Tại Pháp, nhiều phần cơ bản Bộ luật Napoleon vẫn còn hiệu lực cho đến ngày nay trong đó có quy định về GDDS vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể

Theo bộ luật này tại Điều 1109 thì “sự thỏa thuận không có giá trị nếu

đạt đượcdo bị nhầm lẫn, bịđe dọa, bị lừa dối” Bên cạnh đó, Bộ Luật pháp

cũng quy định hành vi bạo lực tại Điều 1111”bạo lực đối với người giao kết

hợp đồng là một căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu, cho dù bạo lực ấy được

Trang 30

thực hiện bởi người thứ ba không phải là người được hưởng lợi ích do việc giao kết hợp đồng”

Theo bộ luật dân sự Pháp quy định tại Điều 93 đến điều 96 quy định rõ các hành vi vi phạm ý chí như hành vi giả tạo, lừa dối, cưỡng ép, nhầm lẫn đều có thể bị coi là vô hiệu

Như vậy, hành vi vi phạm ý chí tự nguyện của chủ thể đã được quy định từ lâu trong bộ luật dân sự Pháp và đến nay, những quy định này vẫn còn nguyên giá trị cho thấy sự tiến bộ của bộ luật Pháp thời bấy giờ

Pháp luật Hoa kỳ

Pháp luật Hoa kỳ thừa nhận tự nguyện là yếu tố cơ bản của giao dịch, qua đó, thể hiện sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các bên Theo Pháp luật Hoa Kỳ, những giao dịch được giao kết thể hiện sự vi phạm nguyên tắc thống nhất ý chí như giao kết có sự lừa dối, gian lận; do nhầm lẫn, hiểu lầm,

do có sự ép buộc hoặc lạm dụng ảnh hưởng Những giao dịch này có thể bị coi là vô hiêu do vi phạm thống nhất ý chí của các bên trong giao dịch

Ngoài ra, Hoa Kỳ có sự phân biệt nhầm lẫn một bên và nhầm lẫn hai bên, nên theo pháp luật Hoa kỳ, nếu có sự nhầm lẫn của một bên thì ít khi bị tuyên vô hiệu, còn hợp đồng hai bên thường bị tuyên vô hiệu do nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của hợp đồng Pháp luật Hoa kỳ còn quy định trong trường hợp lạm dụng ảnh hưởng là sự vi phạm điều kiện thống nhất ý chí giữa các bên trong giao kết hợp đồng trong khi tại Việt Nam chưa quy định trường hợp này

Bộ Luật Dân sự Nhật Bản

Cũng như các Luật khác trên thế giới, BLDS Nhật Bản quy định vi phạm ý chí của chủ thể thì bị vô hiệu Cụ thể đối với Giao dịch giả tạo hoặc bị lừa dối, bị đe doạ trong pháp luật Nhật bản:

Trang 31

Trường hợp các bên thông đồng với nhau để lập hợp đồng một cách giả tạo: ngay từ đầu khai gian để lập hợp đồng nhưng thực chất là không có ý định để lập hợp đồng đó Ví dụ, nhằm che giấu bất động sản, A và B lập hợp đồng, theo đó A bán bất động sản cho B (có đăng ký); nhưng thực chất không

có ý chí bán tài sản Trong trường hợp này, hợp đồng giữa A và B bị huỷ Tuy nhiên có ngoại lệ: nếu xuất hiện người thứ ba ngay tình (C) và C tin tưởng vào giao dịch đó (thông qua xem đăng ký) và mua bất động sản từ B; theo luật Nhật Bản, người thứ ba (C) được bảo vệ (Khoản 2 Điều 94 Bộ Luật dân

sự Nhật Bản)

Trong truờng hợp hợp đồng được lập do bị lừa dối (ý định thật của hợp đồng bị che dấu; ý định gian dối 1 chiều, nói dối) thì hợp đồng bị vô hiệu chỉ trong truờng hợp bên kia nhận ra hoặc phải nhận ra điều đó (Ðiều 93 Bộ Luật dân sự Nhật Bản)

Có thể hủy việc tuyên bố ý chí do bị lừa dối hoặc bị đe doạ, cưỡng ép (Khoản 1 Điều 96 Bộ Luật dân sự) Tuy nhiên, trong quan hệ với nguời thứ 3 ngay tình không biết sự thật của gian dối thì không thể áp dụng (đoạn 3 Điều

96 Bộ Luật dân sự) Ví dụ, A lừa dối B để mua bất động sản của B; sau đó, A bán nó cho C, nếu C không biết sự lừa dối, C không phải trả bất động sản lại cho A

Như vậy, qua tìm hiểu Pháp luật của các nước trên thế giới thì điểm quan trọng, xuyên suốt, bao trùm trong các giao dịch dân sự là phải đảm bảo nguyên tắc phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự do ý chí, công bằng giữa các chủ thể, ghi nhận cao nhất quyền tự quyết của các chủ thể trong các quan hệ dân sự

Trang 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Những thỏa thuận, cam kết trong giao dịch dân sự nhằm thiết lập một quan hệ dân sự, mà ở đó mỗi bên đều đạt được một mục đích nhất định và chỉ trở thành quyền và nghĩa vụ dân sự chỉ khi GDDS xác lập có hiệu lực theo quy định của pháp luật Tuy nhiên hiện nay vẫn có rất nhiều các trường hợp GDDS vô hiệu do vi phạm điều kiện của GDDS có hiệu lực, và một trong những điều kiện đó là vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể

Trong thực tiễn, có rất nhiều cá nhân chỉ biết các trường hợp của vô hiệu do vi phạm ý chí tự nguyện nhưng chưa nắm rõ những đặc điểm, phân loại các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm ý chí tự nguyện của chủ thể.Cũng qua phân tích, chúng ta thấy được dù cùng là vi phạm ý chí của chủ thể nhưng có những GDDS vô hiệu tương đối (tức là có yêu cầu của chủ thể bị vi phạm ý chí tự nguyện đề nghị Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu) vì các giao dịch này chỉ liên quan đến hai bên và Nhà nước tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên trong giao lưu dân sự như GDDS vô hiệu do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép và không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình và cũng có những giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối(tức là không cần Tòa án tuyên bố mà đương nhiên vô hiệu) đó là trường hợp vô hiệu do giả tạo

vì liên quan đến lợi ích của người thứ ba và trật tự công cộng

Bên cạnh đó, chúng ta có thể biết lịch sử hình thành các quy định về GDDS vi phạm ý chí qua các thời kỳ và dần cùng với sự phát triển của giao lưu dân sự, quy định ngày càng được hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn Ở các nước trên thế giới, từ thời kỳ La Mã các quy định về vi phạm ý chí của chủ thể cũng đã phát triển mạnh mẽ và được quy định cụ thể,rõ ràng cho thấy lịch sử hình thành về quy định ý chí tự nguyện của chủ thể rất được coi trọng

và có tính cốt lõi để xác định một giao dịch là hợp pháp hay không hợp pháp Đến nay, các quy định, chính sách về GDDS vô hiệu ngày càng hoàn thiện phù hợp với đặc điểm, văn hóa, kinh tế chính trị của từng quốc gia trên thế

giới

Trang 33

Chương 2 CÁC TRƯỜNG HỢP VÔ HIỆU DO VI PHẠM Ý CHÍ CỦA CHỦ THỂ

THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015

Như theo phân loại về GDDS vô hiệu thì GDDS vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể gồm GDDS vô hiệu do nhầm lẫn; do lừa dối; do đe dọa, cưỡng ép; do người xác lập không nhận thức, làm chủ hành vi và do giả tạo

Để hiểu rõ hơn các trường hợp này, chúng ta cùng phân tích các quy định của BLDS 2015 và có so sánh với các quy định của BLDS trước đây về các trường hợp này

2.1 Do bị nhầm lẫn

Nhầm lẫn là việc các bên nhận thức không đúng/chính xác về nội dung của giao dịch mà tham gia vào giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên kia Sự nhầm lẫn xuất phát từ nhận thức của các bên hoặc phán đoán sai lầm

về đối tượng sự việc, sự nhầm lẫn phải được thể hiện rõ ràng mà căn cứ vào nội dung của giao dịch phải xác định được Nếu bên bị nhầm lẫn chứng minh được sự nhầm lẫn của mình thì giao dịch có thể bị tuyên bố vô hiệu

Các quy định về nhầm lẫn từ BLDS 1995 đến nay có một số thay đổi nhưng về cơ bản vẫn tôn trọng quyền tự do ý chí của chủ thể Tại Điều 141

BLDS 1995 quy định “1 Khi một bên do nhầm lẫn, thì bên kia bị nhầm lẫn có

quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu 2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn, thì bên có lỗi trong việc để xảy ra nhầm lẫn phải bồi thường thiệt hại” BLDS 1995 không quy định lỗi trong nhầm lẫn để yêu cầu

tòa tuyên vô hiệu, chỉ quy định yếu tố lỗi để xác định bồi thường thiệt hại

Điều 131 BLDS 2005 quy định “khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên

kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên

bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên

Trang 34

bố giao dịch vô hiệu Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định của Điều 132 của Bộ luật này” BLDS 2005 đã có thay đổi, một trong những thay

đổi cơ bản so với quy định của BLDS 1995 là xác định yếu tối lỗi trong GDDS vô hiệu do nhầm lẫn

Đến BLDS 2015 tại Điều 126 quy định nhầm lẫn:“Trường hợp giao

dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này

Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được”

Quy định này đã có sự thay đổi so với quy định tại BLDS 2005 và BLDS 1995 khi quy định về lỗi Điều 131 BLDS 2005 đã dự liệu trường hợp một bên nhầm lẫn do lỗi vô ý của bên kia (đây là quy định không khả thi vì trong các giao dịch dân sự, việc xác định lỗi cố ý, vô ý rất khó thực hiện), trong khi lại không dự liệu trường hợp một hoặc các bên cùng nhầm lẫn do không biết hoặc không buộc phải biết về sự nhầm lẫn (Ví dụ, bên bán nghĩ rằng tài sản của mình bán là đồ cổ của thế kỷ thứ 15 và người mua cũng nghĩ

là như vậy Một thời gian sau, khi giám định lại thì mới biết rằng đây là đồ cổ của thế kỷ thứ 12), trường hợp này không ai có lỗi

Ngoài ra, trường hợp nhầm lẫn do thiếu thiện chí (một bên biết bên kia nhầm nhưng cố ý để cho giao dịch xảy ra trên cơ sở sự nhầm lẫn đó) cũng không được quy định Đây là những trường hợp nhầm lẫn cần được tuyên vô

Trang 35

hiệu để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các bên khi thực hiện các giao dịch dân

sự

Điều 131 BLDS 2005 thể hiện các bất cập sau:

- Chưa bao quát được trường hợp cả hai cùng nhầm lẫn và không xác

định được bên nào có lỗi, Luật 2005 chỉ đề cập đến nhầm lẫn do lỗi một bên

- Chỉ đề cập đến nhầm lẫn “về nội dung” trong khi đó thực tiễn có rất

nhiều trường hợp nhầm lẫn về “chủ thể”

- Việc bắt buộc phải thực hiện theo đúng trình tự “yêu cầu thay đổi, nếu

không thay đổi có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu” là không

thể thực hiện được vì thực tiễn có trường hợp nhầm lẫn mà không thể thay đổi được đó là nhầm lẫn về chủ thể hoặc có những tình huống khách quan (ví dụ bên kia đã mất, giải thể hoặc phá sản và quyền và nghĩa vụ được chuyển giao cho chủ thể khác)

Cách quy định như vậy sẽ gây khó cho bên bị nhầm lẫn khi có yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu và bỏ sót các trường hợp quy định về nhầm lẫn khiến việc áp dụng khó khăn khi không biết trong những trường hợp kể trên thì có áp dụng được quy định giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn hay không trong khi bản chất thì lỗi 2 bên hay 1 bên và nhầm lẫn về nội dung hay nhầm lẫn về chủ thể thì đều là nhầm lẫn Bên cạnh đó, còn bỏ sót trường hợp vì thực tiễn có trường hợp “không thể thay đổi được” như đã phân tích ở trên

Từ những hạn chế đó BLDS 2015 đã có sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện quy định về nhầm lẫn cụ thể là đã bỏ yếu tố lỗi,đã bao quát được trường hợp nhầm lẫn về chủ thể và về nội dung của giao dịch và bỏ quy định về nội dung không thể thay đổi được tại BLDS 2005 Giữa BLDS 1995 với BLDS 2015 đều có điểm chung là không xác định yếu tố lỗi trong tuyên bố giao dịch vô

Trang 36

hiệu, điểm khác giữa BLDS 2015 và BLDS 1995 là BLDS 2015 đã bổ sung thêm trường hợp cả hai cùng nhầm lẫn chứ không riêng một bên nhầm lẫn và trường hợp dù nhầm lẫn nhưng vẫn không vô hiệu nếu các bên đã đạt được mục đích của giao dịch hoặc các bên có thể khắc phục ngay được làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được Như vậy, GDDS trong BLDS 2015 dù cónhầm lẫnnhưng nếu mục đích của giao dịch dân sự vẫn đạt được hoặc khắc phục (ý chí hướng tới mục đích nhất định) thì GDDS không vô hiệu

Sự nhầm lẫn liên quan đến nhiều yếu tố nhưng nhầm lẫn chủ yếu và phổ biến trong đời sống xã hội gồm:

Nhầm lẫn về chủ thể xác lập giao dịch và thực hiện giao dịch: là nhầm

lẫn về khả năng thực hiện giao dịch, làm ảnh hưởng đến mục đích của giao dịch và ảnh hưởng đến người thứ ba Ví dụ: A cho B vay tiền vì tưởng B vẫn còn là giám đốc công ty C, thực tế B đã nghỉ làm trước đó Như vậy, A đã nhầm lẫn về chủ thể thực hiện giao dịch, tức là nhầm về khả năng thanh toán của B nên mới cho B vay tiền

Nhầm lẫn về đối tượng của giao dịch:là nhầm lẫn khi một hoặc các bên

không hiểu đúng về đối tượng của giao dịch khi xác lập giao dịch.Đối tượng của giao dịch có thể là một tài sản, quyền tài sản, giấy tờ có giá; cũng có thể

là một công việc (trình tự, quy mô và phương thức thực hiện công việc)

Nhầm lẫn về giá cả của giao dịch: khi một hoặc hai bên không xác định

đúng giá cả của giao dịch, giá có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá của vật cùng loại

Nhầm lẫn về thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện giao dịch: khi

các nhầm lẫn này làm ảnh hưởng tới mục đích của giao dịch và ảnh hưởng đến quyền lợi của người thứ ba

Trang 37

Nhầm lẫn về bản chất của giao dịch: khi thực chất là hợp đồng tặng

cho nhưng nhầm lẫn là hợp đồng gửi giữ

Theo quy định tại khoản 1 Điều 126 BLDS 2015, giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa

án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu Bởi vì, chủ thể tham gia giao dịch nhằm đáp ứng một mục đích nhất định, khi mà mục đích không đạt được tức là nhu cầu vật chất và tinh thần của mình hoặc vì lợi ích của người thứ ba không đạt được (vi phạm ý chí của mình dẫn đến giao dịch không đạt được mục đích) thì Tòa án sẽ bảo vệ và có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết để tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn Còn nếu trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được, thì giao dịch không bị tuyên vô hiệu (khoản 2 Điều 126 BLDS 2015)

Ví dụ: Có sự nhầm lẫn về giá cả, nhưng các bên đã điều chỉnh lại giá cả cho phù hợp thì giao dịch bị nhầm lẫn trong trường hợp này không bị tuyên

Điều 142 “Lừa dối là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai

lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó” đến Điều 132 BLDS 2005 và Điều 127 BLDS 2015

trên cơ sở kế thừa BLDS 1995 nhưng có một số thay đổi cụ thể “ Lừa dối

trong giao dịch là hành vi của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho

Trang 38

bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó”

Các quy định của BLDS đều là “hành vi cố ý” hành vi cố ý được hiểu

thông thường là lừa những công việc cụ thể hoặc lừa dối về cung cấp thông tin cho bên kia một cách có chủ đích

Hành vi lừa dối trong giao dịch dân sự xảy ra khi “nhằm làm cho bên

kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó” tức là làm bên kia hiểu sai lệch (làm bên

kia nhầm lẫn) Như vậy, trong cả nhầm lẫn và lừa dối đề có sự hiểu sai , tuy

nhiên “sự nhầm lẫn vốn do người kí kết hợp đồng tự mình hiểu sai còn sự lừa

dối là sự hiểu sai do đối phương gây ra”6

Hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng

“lừa dối được xem là trường hợp đặc biệt của nhầm lẫn”7, hành vi lừa dối là hành vi trái pháp luật nhằm làm cho người khác nhầm lẫn Nhầm lẫn hay lừa dối đều dẫn đến hậu quả pháp lý là GDDS vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể

Khi hợp đồng được giao kết có lừa dối thì không phải chủ thể nào cũng

có quyền yêu cầu Tòa án can thiệp mà chỉ là những người bị lừa dối (những người bị quyền và lợi ích bị xâm phạm) mới có quyền yêu cầu Có rất nhiều loại lừa dối về chủ thể, nội dung của giao dịch…

Lừa dối về chủ thể tham gia giao dịch là lừa về khả năng thực hiện giao

dịch, điều kiện về tài sản, về chuyên môn, kinh nghiệm của chủ thể, hiểu sai

về tính chất của đối tượng Đối tượng của giao dịch không đạt tiêu chuẩn về chất lượng, hình thức, giá trị, số lượng, phạm vi công việc…nhưng một bên

6

Lê Bích Thọ, Lừa dối trong hợp đồng kinh tế, trường Đại học Luật thành phố HCM

7 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật dân sự Việt Nam, Nxb Đại học quốc

gia, tr.350

Trang 39

của giao dịch hoặc người thứ ba cố ý lừa dối để một bên hình dung sai về đối tượng cho nên xác lập giao dịch.8

Lừa dối về nội dung của giao dịch rất rộng về các điều khoản về đối

tượng, giá cả, điều kiện thanh toán, quyền và nghĩa vụ của các bên , hành vi lừa dối cũng từ đó đa dạng để nhằm chiếm đoạt tài sản của bên kia, do đó hành vi lừa dối trái với ý chí của bên bị vi phạm

Ví dụ che giấu hành vi bất hợp pháp để hưởng thừa kế theo di chúc; dùng thủ đoạn nói là vật tốt để bán với giá đắt

Một số ý kiến cho rằng “sự không hành động thông qua việc cố tình im lặng hoặc việc cố tình không cung cấp đầy đủ tài liệu, giấy tờ cần thiết có thể được coi là yếu tố dẫn đến sự vô hiệu của hợp đồng”9

trường hợp này thường xảy ra trong hợp đồng bảo hiểm, khi bên bán hàng cố tình không cung cấp đầy đủ tài liệu hoặc cố tình im lặng thông tin bất lợi để bán được bảo hiểm cũng bị coi là hành vi lừa dối Theo tôi ý kiến là hợp lý bởi lẽ hành vi “cố ý”

ở đây có thể thông qua hành động hoặc không hành động để làm bên kia hiểu sai lệch nên đã xác lập giao dịch và có đầy đủ yếu tố của hành vi lừa dối

2.3 Đe dọa, cƣỡng ép

Theo BLDS 1995 tại Điều 142 thì “đe dọa trong giao dịch dân sự là

hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên sợ hãi mà phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc những người thân thích”, đến quy định tại

BLDS 2005 Điều 132 quy định “ đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của

một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình” đến Điều 127

8

Nguyễn Văn Cừ - Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015 của nước CHXHCN

Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội

9 Nguyễn Ngọc Khánh (2007), chế định hợp đồng trong BLDS Việt Nam NXB Tư pháp, tr.158

Trang 40

BLDS2015 “đe dọa, cưỡng ép là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba

làm cho bên kia sợ hãi mà phải xác lập, thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc người thân thích của mình” Tuy nhiên sự đe dọa, cưỡng ép phải nghiêm

trọng và có thực (không thể là đe dọa tưởng tượng) Hành vi đe doạ, cưỡng ép

có thể được thực hiện từ phía đối tác cũng có thể từ người thứ ba Trong trường hợp này, rõ ràng một bên chủ thể tham gia không hoàn toàn tự nguyện Nói cách khác, việc tham gia xác lập thực hiện giao dịch dân sự của một bên trái với ý chí đích thực của người này Do đó, giao dịch dân sự đã xác lập vô hiệu10

So với quy định tại Điều 125 BLDS 2005 thì BLDS 2015 thêm vào cụm từ “cưỡng ép” Nếu hành vi đe dọa là tác động làm cho người bị đe dọa

sợ hãi, thì hành vi cưỡng ép thường là việc dựa vào hoàn cảnh đặc biệt của người xác lập giao dịch để dồn ép người đó phải miễn cưỡng tham gia giao dịch theo mục đích của người cưỡng ép

“Cưỡng ép là sử dụng sức mạnh vật chất hoặc tinh thần buộc người phải phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc trái với ý chí hoặc mong muốn của họ” và “Cưỡng ép trong pháp luật dân sự là hành vi cố

ý của một bên nhằm làm cho bên kia sợ hãi mà buộc phải xác lập, thực hiện giao dịch nhằm tránh sự thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân hoặc của những người thân thích khác”11 Như vậy, hành vi lừa dối đe dọa, cưỡng ép đã làm trái với nguyên tắc tự do, tự nguyện ý chí của chủ thể trong các giao dịch dân

sự, từ đó các hành vi trên có thể bị vô hiệu

Ngày đăng: 02/08/2019, 19:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w