1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

lý luận hệ thống pháp luật anh mỹ 2 0

20 1,6K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 39,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống pháp luật Anh – Mỹ là dòng họ pháp luật lớn và cơ bản trên thế giới, nó bao gồm các hệ thống pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống pháp luật Anh như Mỹ, Úc, Canada. Tuy là dòng họ có cội nguồn từ hệ thống pháp luật Anh – quốc gia ở châu Âu nhưng dòng họ pháp luật này có những đặc trưng riêng, đồng thời có một số điểm khác biệt cơ bản với dòng họ pháp luật của đại đa số các nước ở châu Âu – dòng họ Civil law.

Trang 1

Mục lục

Biên bản học nhóm

Lời mở đầu

I Khái quát chung

1 Giải thích các thuật ngữ

2 Lich sử hình thành dòng họ common law

3 Tiền lệ pháp

II Đặc điểm của dòng họ common law

1 Dòng họ common law ở Anh

2 Dòng họ common law ở Mỹ

3 Sự khác nhau giữa hệ thống pháp luật Anh và Mỹ

4 Đặc điểm chung của dòng họ common law

III Ưu, nhược điểm của dòng họ common law

III So sánh hệ thống pháp luật Anh – Mỹ với hệ thống pháp luật châu Âu

lục địa

III Liên hệ ở Việt Nam

Kết luận

Danh sách tài liệu tham khảo.

Hệ thống pháp luật Anh – Mỹ

Hệ thống pháp luật Anh – Mỹ là dòng họ pháp luật lớn và cơ bản trên thế giới,

nó bao gồm các hệ thống pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống pháp luật Anh như Mỹ, Úc, Canada Tuy là dòng họ có cội nguồn từ hệ thống pháp luật Anh – quốc gia ở châu Âu nhưng dòng họ pháp luật này có những đặc trưng riêng, đồng thời có một số điểm khác biệt cơ bản với dòng họ pháp luật của đại đa số các nước ở châu Âu – dòng họ Civil law.

I Khái quát chung

1 Giải thích thuật ngữ

Pháp luật: Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử

sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí chung của một quốc gia, khu vực, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế

Hệ thống pháp luật:

Trang 2

• Quan điểm 1: Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành

• Quan điểm 2: Hệ thống pháp luật là cấu trúc bên trong của pháp luật, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại và thống nhất với nhau được phân thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được quy định bởi tính chất, cơ cấu các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh

Dòng họ common law:

Dòng họ pháp luật này được nhắc đến với nhiều tên gọi khác nhau: Dòng họ pháp luật Anh – Mỹ; dòng họ pháp luật Anglo saxon; dòng họ pháp luật án lệ hoặc dòng họ common law

Ngày nay, thuật ngữ common law được hiểu theo nghĩa thông dụng và thường được đặt trong mối quan hệ với luật thành văn Với nghĩa này có các cách diễn đạt là: luật án lệ, luật do thẩm phán đặt ra… Nói cách khác theo nghĩa này common law là luật không do cơ quan lập pháp làm ra mà được tạo ra bằng các phán quyết của tòa án (án lệ) và bằng tập quán pháp

Tiền lệ pháp: Tiền lệ pháp hay phép xét xử theo tiền lệ (án lệ) là một hình thức của pháp luật, theo đó Nhà nước thừa nhận những bản án, quyết định giải quyết vụ việc của tòa án (trong các tập san án lệ) làm khuôn mẫu và cơ sở để đưa ra phán quyết cho những vụ việc hoặc trường hợp có tình tiết hay vấn đề tương tự sau đó Tiền lệ pháp còn là quá trình làm luật của toà án trong việc công nhận và áp dụng các nguyên tắc mới trong quá trình xét xử Đây là một hình thức pháp luật chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (Anglo- Sacxon)

Pháp luật La Mã: Luật La Mã là hệ thống luật cổ, được xây dựng cách đây khoảng hơn 2000 năm (449 TCN), áp dụng cho thành Roma và sau đó là cả Đế quốc La

Mã Các nguồn của Luật La Mã thời Cổ đại được sưu tập trong Corpus Iuris Civilis được tái khám phá trong thời kỳ Trung cổ và mãi cho đến thế kỷ XIX vẫn được xem là nguồn luật pháp quan trọng trong phần lớn các quốc gia châu Âu Vì thế mà người ta cũng có thể gọi các luật lệ có hiệu lực trên lục địa châu Âu trong thời kỳ Trung cổ và trong thời gian đầu của thời kỳ Hiện đại là Luật La Mã

Luật công bình: Luật Công bình hay Luật Công lý là các nguyên lý xây dựng và áp dụng luật được dựa trên lẽ phải, công lý là chính Pháp điển hóa: là hoạt động của

cơ quan có thẩm quyền không những tập hợp các quy phạm pháp luật theo một trình tự nhất định, loại bỏ các quy phạm lỗi thời mà còn xây dựng những quy phạm mới thay thế cho các quy phạm đã bị loại bỏ và khắc phục những chỗ trống được phát hiện, sửa đổi, bổ sung, nâng cao hiệu lực quy phạm pháp luật… từ đó ra đời các quy phạm pháp luật mới

2 Lịch sử hình thành và phát triển

Trang 3

• Giai đoạn trước năm 1066

Từ thế kỉ I đến thế kỉ V, đế chế La Mã thống trị nước Anh song không để lại dấu tích gì đáng kể, kể cả về mặt pháp luật Sau thời kì này, nước Anh thoát khỏi

sự đô hộ của đế chế La Mã, lãnh thổ Anh chia thành nhiều miền phong kiến khác nhau, đứng đầu là các lãnh chúa phong kiến và bị chia làm nhiều vương quốc nhỏ với các hệ thống pháp luật mang tính địa phương, chủ yếu là ảnh hưởng từ các quy tắc tập quán và thực tiễn của các bộ lạc người Giecmanh

Về pháp luật, Luật La Mã hầu như không áp dụng ở Anh, nguồn luật áp dụng là các tập quán địa phương, chưa có hệ thống pháp luật thống nhất, tồn tại nhiều vùng, miền khác nhau với nhiều tập quán khác nhau, những tập quán này được người Anh gọi là Luật ví dụ như: Luật Dane được áp dụng ở miền Bắc, Luật Mercia ở miền Trung và Luật Wessex ở miền Tây và miền Nam Đặc điểm của tập quán: áp dụng theo nguyên tắc vùng, các tập quán rất đa dạng giữa các vùng, tập quán của vùng nào chỉ áp dụng cho vùng đó Khi các bên có tranh chấp thường áp dụng tập quán địa phương để phân xử Những người già sẽ đứng ra giải thích chính xác các tập quán địa phương áp dụng cho các tranh chấp đó

Về tư pháp, thì có các tòa án của các lãnh chúa phong kiến với phương thức xét xử sử dụng các yếu tố siêu nhiên, thần thánh Sự hiện diện của nhiều hệ thống tòa án khác nhau (gọi là các Tòa án truyền thống) Ở mỗi địa phương, đều có những Tòa địa hạt được chủ trì bởi các giám mục và các hạt trưởng, thực hiện việc xét xử dựa trên những tập quán địa phương Ngoài ra, còn có Tòa án Giáo hội sử dụng luật của Giáo hội, tòa án ở các thành phố áp dụng Luật thương gia và Tòa Lãnh chúa áp dụng các quy tắc tập quán phong kiến Tòa án lúc đó là những người dân được triệu tập để cùng giải quyết tranh chấp và nếu không xử được người ta dùng phương pháp thử tội bằng việc bắt bị cáo cầm vào một miếng sắt nung đỏ, hoặc cầm một viên đá đã được ngâm trong nước sôi, hoặc hình thức thề độc Nếu vết thương đó lành sau một thời gian xác định, anh ta sẽ bị tuyên là vô tội và ngược lại

• Giai đoạn năm 1066 đến năm 1485

Đây là giai đoạn hình thành Thông luật, bắt đầu vào năm năm 1066 người Norman đánh bại người Anglo – Sacxon trong trận Hastings, thống trị nước Anh William I vốn là một người Pháp lên ngôi vua, ông vẫn duy trì tập quán pháp của Anh Nhưng trên thức tế lại cố làm cho mọi người quên đi ảnh hưởng của quá khứ và xây dựng một chế độ phong kiến tập quyền nhằm nắm độc quyền trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội kể cả lĩnh vực tư pháp Thuật ngữ luật chung xuất phát từ quan điểm cho rằng các tòa án do nhà vua lập ra, áp dụng các tập quán chung của vương quốc, trái ngược với những tập tục luật pháp địa phương áp dụng

ở các miền hay ở các tòa án của điền trang, thái ấp phong kiến

Trang 4

Đến thời vua Henry II (1133 - 1189) là giai đoạn phát triển của một hệ thống Common law có tính chất quốc gia Ông gửi các thẩm phán hoàng gia tới nắm tòa

án ở các nơi Trong nhiều thập kỉ, họ đã phải cạnh tranh với các tòa án ở địa phương như tòa án của tỉnh, tòa án giáo hội, tòa án của lãnh chúa phong kiến… Ông đưa các thẩm phán hoàng gia đi khắp nơi trong nước và sưu tầm và chọn lọc cách thức giải quyết các tranh chấp Sau đó những thẩm phán này sẽ trở về thành Luân Đôn và thảo luận về những cụ tranh chấp đó với các thẩm phán khác

Những phán quyết này sẽ được ghi lại và dần trở thành án lệ, hay theo Tiếng Latin

là stare decisis Theo đó, khi xét xử thẩm phán sẽ chịu sự ràng buộc bởi những phán quyết đã có từ trước đó Đến cuối thế kỉ XIII, các Tòa án Hoàng gia thắng thế trong việc xét xử vì chất lượng xét xử tốt và trình độ chuyên môn cao Dần dần, các tòa án địa phương lấy án lệ của Tòa án Hoàng gia làm khuôn mẫu Common law bắt đầu chiếm vị trí quan trọng và thu hút nhiều công việc pháp lí, mặc dù trong một thời gian dài đã phải cạnh tranh với nhiều hệ thống pháp lí: luật tập quán địa phương, luật thương gia hay các quy tắc tập quán phong kiến… đã tạo ra một

hệ thống luật chung và sáng tạo ra một hệ thống tòa án thống nhất đầy quyền năng, Thuật ngữ "Common Law" bắt đầu xuất hiện từ năm 1154 dưới thời vua Henry II

Các nguyên tắc bền vững của luật chung đã được tạo ra bởi ba tòa án được vua Henry II thành lập là Tòa án Tài chính để xét xử các tranh chấp về thuế, Tòa

án thỉnh cầu Phổ thông đối với những vấn đề không liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhà vua và Tòa án Hoàng Đế để giải quyết những vụ việc liên quan trực tiếp đến quyền lợi của Hoàng gia Đầu tiên, Tòa án Hoàng Đế có thẩm quyền kiểm tra sự lạm quyền của chính nhà vua, từ đó hình thành ra nguyên tắc căn bản của luật chung là sự tối thượng của pháp luật Ngày nay nguyên tắc này không phải chỉ

áp dụng cho vua, mà mọi hành vi của chính quyền đều có thể bị đưa ra xét xử trước tòa án

Thời kì này sự ra đời và phát triển của hệ thống trát hay là lệnh gọi ra tòa Một người muốn kiện lên tòa án Hoàng gia phải đến Ban thư kí của nhà vua, đóng phí và được cấp trát Trát nêu rõ cơ sở pháp lí mà bên nguyên đưa ra cho vụ việc của mình Hệ thống trát mang đặc trưng của pháp luật Thông luật, chứng tỏ vai trò quan trọng của các thủ tục tố tụng Đó là điều mà giới Luật gia Anh cho rằng luật

La Mã chỉ giúp cho việc tìm kiếm giải pháp đúng đắn cho tranh chấp nhưng chưa cho phép thắng kiện

Thông luật hình thành tách biệt với quyền lực lập pháp Thông luật hình thành bằng con đường nội tại Sự hình thành thông luật có tính liên tục và kế thừa

Trang 5

lịch sử pháp luật các giai đoạn trước Nguyên tắc Stare Decisis (tiền lệ phải được tuân thủ) được hình thành và trở thành nguyên tắc rất quan trọng trong hệ thống thông luật Thông luật vừa có tính cứng nhắc vừa có tính linh hoạt

• Giai đoạn năm 1485 đến năm 1832

Đến thế kỷ thứ 15, khi đó xuất hiện một thực tiễn pháp lý là khi Thông luật không đủ sức để giải quyết một vụ việc, và người đi kiện cho rằng cách giải quyết của Thông luật là chưa thỏa đáng Chính điều này là cơ sở để xuất hiện hệ thống mới là hệ thống pháp luật công bình , đồng thời xuất hiện thiết chế Tòa công bình,

do viên Tổng chưởng lý hay Đại Chưởng ấn đứng đầu

• Giai đoạn năm 1832 đến nay

Đặc điểm cơ bản của hệ thống Thông luật là dựa trên những phán quyết theo tập quán của tòa án, và bản thân thuật ngữ luật chung cũng thường được dùng khi muốn nói đến việc pháp luật nước Anh không căn cứ vào văn bản luật Cơ sở của luật chung là các phán quyết của tòa án, thường được gọi là tiền lệ, đây là đặc điểm

cơ bản chủ yếu để phân biệt hệ thống luật này với hệ thống Dân luật của La Mã – Đức

Ngày nay bên cạnh án lệ với tư cách là một loại nguồn pháp luật đặc thù của

hệ thống Common Law, luật thành văn và các loại qui tắc khác cũng được coi là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật này Khi xét xử những nước theo hệ thống pháp luật Common Law thường căn cứ vào hai câu hỏi lớn, đó là câu hỏi sự thật khách quan và câu hỏi về luật – theo nghĩa rộng Trong bất cứ vụ việc nào, ngày nay khi xét xử các thẩm phán của Common Law vẫn dựa cả vào án lệ, luật viết và những căn cứ thực tế để xét xử

3 Tiền lệ pháp

a Điều kiện để một bản án trở thành án lệ

Phải có vấn đề pháp lý: Nội dung của bản án được coi là án lệ phải liên quan đến vấn đề pháp lý

Việc phán quyết của thẩm phán trong vụ việc cụ thể này tạo ra một án lệ (một tiền lệ pháp) cho các vụ việc tương lai (thẩm phán thủ lý vụ án phải sáng tạo

ra pháp luật khi xét xử)

Phải xuất phát từ một chanh chấp hoặc một sự biến pháp lý cụ thể

b Học thuyết về tiền lệ pháp

Trang 6

Học thuyết tiền lệ pháp ở các hệ thống pháp luật này đều ít, nhiều chi phối các luật

án lệ theo hướng: Các phán quyết đã tuyên của tòa án cấp trên nói chung có giá trị ràng buộc tòa án cấp dưới trong quá trình xét xử các vụ việc hiện tại Học thuyết này được triển khai áp dụng trên thực tế thông qua việc xuất bản các phán quyết của tòa án có giá trị ràng buộc để tạo điều kiện thuận lợi và tạo nguồn tài liệu có hệ thống, đáng tin cậy trong việc áp dụng thống nhất tiền lệ pháp tại các tòa án trên toàn quốc trong công tác xét xử

Dựa trên nguyên tắc bất thành văn stale decisis-“ tiền lệ phải được tôn trọng”

Nguyên tắc:

Tôn trọng quyết định của tòa cấp trên

VD: nước Anh: Tòa sơ cấp- Tòa địa phương phải tuân theo án lệ của tòa cấp cao, Tòa hoàng gia, Tòa phúc thẩm, tòa tối thượng

Không buộc phải tuân theo án lệ của hệ thống tòa án khác Những quyết định của tòa án thuộc hệ thống tòa án khác chỉ mang tính tham khảo chứ không bắt buộc

Chỉ dựa vào cơ sở pháp lí: Những quyết định của thẩm phán trước đó dựa trên phần chứng cứ phái lí của vụ án thì mới có giá trị bắt buộc

Tham khảo đối với phần bình luận:Những nhận định và phán quyết dựa trên

cơ sở của thẩm phán sẽ không có giá trị bắt buộc tòa án câp dưới tuân thủ nhưng có thể được xem xét, cân nhắc

Hiệu lực bất kể thời gian: Yếu tố thời gian không làm mất đi tính hiệu lực của các tiền lệ

c Việc ghi chép án lệ

Phải đầy đủ, chi tiết, giúp người tra cứu tìm được án lệ một cách nhanh chóng chính xác

Nội dung chính:

+ Tên vụ án

+ Năm tòa án ra phán quyết đối với vụ án

+ Số tập văn bản của văn bản ghi chép án lệ

+ Số thứ tự trang đầu tiên của văn bản ghi chép lại vụ án (đôi khi người ta sử dụng số thứ tự của trang cuối cùng)

d Thẩm quyền ghi án lệ

Nước Anh lập hội đồng ghi chép án lệ ghi một cách trung thực tình tiết của

vụ án, quan điểm của thẩm phán cùng với quyết định của tòa

Nguyên tắc : sau khi ghi chép thì phải được tòa án nơi đưa ra phán quyết kiểm tra lại trước khi xuất bản

e Lưu trữ, công bố án lệ

Lưu trữ án lệ: sau khi được ghi chép, các án lệ được lưu giữ, công bố trước các tập báo cáo luật, sau đó được xuất bản thành nhiều kì khác nhau

Trang 7

Công bố án lệ: được các tòa đăng tải trước các báo cáo viên, có kí hiệu quy định

II Đặc điểm của common law

1 Dòng họ common law ở Anh

a Sự ra đời của common law

Sau triều đại William đệ nhất, nước Anh đã có nhiều hoàng đế nhưng vị hoàng đế có công lao lớn nhất trong việc thúc đẩy sự ra đời của common law, với nghĩa là luật chung áp dụng thống nhất trên toàn nước Anh là Henry đệ nhị (1154-1189) Henry đệ nhị là hoàng đế Anh quốc có nhiều thành tựu trong việc trị quốc

và một vài thành tựu đó là đã thể chế hóa thành common law từ việc nâng cấp các tập quán địa phương lên thành tập quán quốc gia và kết thúc việc kiểm soát của luật bất thành văn ở từng địa phương; để loại trừ các biện pháp cưỡng chế tùy tiện

và phục hồi hệ thống bồi thẩm đoàn điều tra những khởi kiện hình sự và khởi kiện dân sự có cơ sở Bồi thẩm đoàn đi đến phán quyết bằng những hiểu biết, bằng nhận thức của mình về vụ việc chứ không thông qua việc đưa ra chứng cứ Đây là kiểu thủ tục tố tụng rất khác với thủ tục tố tụng của hệ thống tòa án dân sự và hình sự ngày nay ở Anh quốc

Henry đệ nhị đã cử các thẩm phán từ Toàn án Hoàng gia đặt tại thủ phủ Westminster của Anh quốc đi giải quyết các tranh chấp ở địa phương trên toàn quốc Ban đầu, các thẩm phán giải quyết tranh chấp theo một cách thức đặc biệt, phụ thuộc vào cách họ hiểu ra sao và nhận thức như thế nào về tập quán địa phương liên quan đến vụ việc Sau mỗi vụ án như vậy các thẩm phán thường quay

về Westminster để thảo luận về những vụ án mà họ đã xử, về tập quán pháp mà họ

đã áp dụng và những phán quyết mà họ đã ra Các phán quyết đó đã được ghi chép lại, gọt giũa và sắp xếp có hệ thống Theo thời gian một nguyên tác có tên “stare decisis” hay còn được biết đến như “rule of precedent” đã phát triển, theo đó thẩm phán có thể bị ràng buộc bởi những phán quyết của các thẩm phán khác trong quá khứ, bởi các giải thích pháp luật của những thẩm phán tiền bối Kết quả là khi xét

xử những vụ án ở thời điểm hiện tại, người thẩm phán có nghĩa vụ áp dụng những nguyên tắc đã được các thẩm phán tiền bối áp dụng Nói cách khác nếu hai vụ án

có tình tiết tương tự thì phán quyết mà toà án đưa ra phải có kết cục tương tự Trên

cơ sở áp dụng tiền lệ pháp này, các phán quyết của tòa án đã được duy trì và ngày càng trở nên cứng nhắc đồng thời các tập quán địa phương từ thời Norman đã từng bước bị thay thế bằng tiền lệ pháp, áp dụng thống nhất trên toán nước Anh

Henry đệ nhị đã sáng tạo ra hệ thống tòa án đầy quyền lực và thống nhất tới mức hạn chế được cả thẩm quyền của toà án giáo hội và đặt mình vào thế xung đột với nhà thờ Trong lịch sử pháp luật Anh, common law được phát triển bởi các toàn án Hoàng gia đã được thừa nhận trên toàn vương quốc trong vài thế kỷ, trước khi Nghị viện Anh được trao quyền lập pháp

Trang 8

Nếu xét về phương diện luật thành văn, triều đại Edward đệ nhất (1272 – 1307) đã chứng kiến sự gia tăng của văn bản pháp luật và vì vậy, Edward đệ nhát được mệnh danh là Justinian của Anh quốc Sự bùng nổ về số lượng của luật thành văn trong giai đoạn này đã làm cho common law phát triển một cách chậm chạp Chỉ thới thế kỷ XIX khi diễn ra cuộc cải tổ pháp luật, nước Anh mới được chứng kiến sự phát triển tương tự của luật thành văn

b Đặc điểm của common law

Thứ nhất, “common law” xuất hiện ở Anh thế kỷ XIII là hệ thống pháp luật tập trung cao độ Sự ra đời của common law chủ yếu dựa vào ba yêu tố: (1) Các cuộc vi hành của các thẩm phán Hoàng gia lưu động trong quá trình thực thi công

lý trên toàn lãnh thổ nước Anh; (2) Sự phát triển của chế độ phong kiến tập trung

đã sản sinh ra tính bất biến trong quá trình quản lí nhà nước; (3) Tầm quan trọng ngày càng tang lên của các Toà án Hoàng gia

Common law có được sự tập trung cao độ không phải bằng sự đàn áp hay phủ nhận các toà án địa phương mà người khiếu kiện có thể tiếp cận thủ tục tố tụng hiện đại hơn và các giải pháp pháp lý hiệu quả hơn được khai thác và sử dụng ở Tòa án Hoàng gia so với thủ tục tố tụng và giải pháp pháp lí được khai thác và sử dụng bởi các toà án địa phương

Thứ hai, các thành tố quan trọng của common law gồm: (1) những quy phạm rút ra từ những khái niệm pháp lý từ thời Anglo – Saxon và được thực thi bởi toà

án hoàng gia từ thời thượng cổ; (2) Tập quán pháp dựa trên những quyền lực được thiết lập từ lâu đời, qua nhiều thế hệ, được phát triển và sửa đổi; (3) Các phán quyết của tòa án Phán quyết của toà án là thành tố vô cùng quan trọng trong common law mặc dù những phán quyết này cũng được xây dựng dựa trên vô số tập quán và truyền thống có từ lâu đời hay như người ta vẫn thường nói, common law

do Tòa án Hoàng gia tạo ra từ vô số những tập quán địa phương.Trong thực tiễn, những tập quán về đất đai từ thời Anglo – Saxon và thời Norman đã định hình common law ở giai đoạn đầu khi nó mới hình thành Tuy nhiên, chính sự phát triển của chủ nghĩa phong kiến Anh sau này đã quyết định bản chất của common law Nói cách khác, common law là bộ phận pháp luật của Anh mà từ khi hình thành cho tới trước cuộc cải cách tư pháp (1873- 1875) được thực thi bởi các Tòa án Hoàng gia Bộ phận pháp luật này có nguồn gốc từ những tập quán cổ, được thừa nhận rộng rãi và sau đó chủ yếu được thừa nhận rộng rãi và sau đó chủ yếu phát triển và gọt giũa thong qua các phán quyết của tòa án quan nhiều thời đại

Thứ ba, common law được xem như việc luận ra hay bộc lộ pháp luật thông qua các phán quyết được tuyên của Tòa án Hoàng gia Vì vậy, các thẩm phán Hoàng gia không chỉ được coi là những nhà làm luật mà đúng hơn là những người tuyên bố hay bộc lộ pháp luật Tiền lệ pháp vì vậy đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc xây dựng và phát triển của common law Các thẩm phán Hoàng gia lúc khởi nghiệp nếu không giàu có và quyền thế thì sau khi hành nghề thì trở nên giàu

Trang 9

có và quyền thế vì vai trò của họ trong xã hội và quan hệ gần gũi với Quốc vương.

Họ đã làm hình thành nên đội ngũ thẩm phán của Nhà vua, gồm những thẩm phán

có phẩm chất xuất sắc, được tuyển chọn lựa kĩ lưỡng Rất ít người trong số các thẩm phán này được học luật dân sự hay luật giáo hội nhưng chính những thực tiễn

đã làm cho học trở thành những thẩm phán chuyên nghiệp và common law đã được phát triển nhờ có đội ngũ thẩm phán này

Thứ tư, nói đến sự phát triển của common law không thể không đề cập sự phát triển của hệ thống trát Hình thức khởi kiện hay hệ thống trát là đặc điểm quan trọng nhất của hệ thống pháp luật Anh thời trung cổ Trong quá trình phát triển của common law ở Anh, hình thức khởi kiện và thủ tục tố tụng tương tụ đóng vai trò hết sức quan trọng

Trát là văn bản hành chính dưới dạng một bức thư, được chứng thực bằng dấu đóng trên trát, được dùng vào mục đích hành chính và tư pháp

Các hình thức khởi kiện: (1) Trát khởi kiện về bất động sản, được sử dụng để yêu cầu tòa án giải quyết những vấn đề có liên quan tới quyền sử dụng đất đai; (2) Trát khởi kiện cá nhân, được sử dụng để yêu cần tòa án giải quyết những vụ việc có liên quan tới nghĩa vụ trả nợ hoặc bồi thường thiệt hại về thương tật hay tài sản xảy

ra đối với bên nguyên;(3) Trát hỗn hợp dùng để khởi kiện đối với những vụ việc thuộc cả hai loại (1), (2) Ngoài ra còn nhiều hình thức khởi kiện khác

Thứ năm, đặc điểm đặc thù nhất của common law là common law không được tìm thấy trong các bộ luật, đạo luật, trong các bản chuyên luận về luật của các học giả pháp lý mà được tìm thấy trong các phán quyết của các thẩm phán, ghi nhận lại kết quả giải quyết những tình huống có thật trong thực tiễn Nói một cách chính xác, common law được tìm thấy trong tập hợp tiền lệ pháp được tích lũy trong nhiều năm Từ khi common law hình thành, người Anh đã cho rằng luật do thẩm phán làm ra không chỉ là nguồn luật duy nhất mà còn là nguồn luật quan trọng ở Anh

2 Dòng họ common law ở Mỹ

Sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật Mĩ:

Ngay từ giai đoạn khởi đầu của quá trình : nội địa hóa của người Anh ở châu

Mỹ, hệ thống pháp luật đã tỏ ra không phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của các lục địa ở Châu Mỹ Nhiệm vụ chủ yếu của thực dân Anh Mỹ trong những ngày đầu đặt chân lên mảnh đất này chống chọi với thiên nhiên và sự tấn công của người da

đỏ vì nhu cầu về tòa án và luật sư hầu như không nãy sinh

Một vài thuộc địa của Anh ở Mỹ như Pennsylvania và Massachusetts đi dựng chế độ thần quyền trong đó mọi tranh chấp đều được quyết bởi các giáo sĩ cơ đốc giáo dựa trên kinh thánh chứ chưa cần dùng tới luật sư, thẩm phán và án lệ của Anh quốc Từ đầu của thế kỉ XVII các thuộc địa này đã có xu hướng coi luật thành văn thể hiện ở hoạt động pháp điển hóa và bộ luật ở Massachusetts năm 1643 và

Trang 10

Pennsylvania năm 82 Tuy nhiên, hoạt động pháp điển hóa này hoàn toàn không có liên hệ nào với kĩ thuật pháp điển hóa hiện đại

Bước sang thế ki XVIII, tình hình kinh tế xã hội của các thuộc địa của Anh ở

Mỹ đã có những biến chuyển lên do nhu cầu giao lưu thương mại giữa các thuộc địa này với nước ngoài và với nước mẹ Anh quốc đã tăng lên Trước tình thế đó, chính trị thần quyền đã mất dần chỗ đứng ở các thuộc địa này, đồng thời một tầng lớp luật sư gồm những người đã từng tốt nghiệp các cơ sở đào tạo luật sư ở London

từ trước khi di cư sang châu Mỹ đã bắt đầu hành nghề ở các thuộc địa mới này Cùng với sự hiện diện và hoạt động của các luật sư Anh, sách luật từ Anh quốc cũng dần dần được sử dụng phổ biến ờ các thuộc địa, đặc biệt là cuốn “Bình luận

về pháp luật Anh” của Blackstone

Chủ nghĩa đế quốc của Anh vào giữa thế ki XVIII đã dẫn đến phong trào đấu tranh giành độc lập ở Mỹ Người phát ngôn của cả hai phía đều là các luật sư

và có không dưới 25 luật sư trong số 56 người kí kết bản tuyên ngôn độc lập năm

1776 Sau khi giành được độc lập năm 1776, lí tưởng về nền cộng hoà và sự nhiệt tình đối với luật tự nhiên đã khuyến khích ý tưởng pháp điển hoá ở Mỹ Trong suốt thòi gian chiến tranh với người Anh cho tới tận khi kết thúc chiến tranh năm 1781, đại diện của các nước Mỹ đã giành được độc lập đã cố gắng liên kết với nhau về mặt chính trị nhưng vẫn phải tới tận năm 1787 Công ước Philadenphia về lập hiến mới được kí kết với thành phần tham dự của quá nửa sổ thành viên là luật sư và đã đưa ra bản Hiến pháp Liên bang có hiệu lực Hiến pháp năm 1789 đã thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kì, từ 13 thuộc địa của Hoàng gia Anh Tới nay, Hiến pháp

Mỹ vẫn còn tiếp tục có hiệu lực với một vài sửa đổi

Sau khi Mỹ giành được độc lập, đã có sự đấu tranh quyết liệt giữa hai trường phái : một ủng hộ common law của Anh và một ủng hộ pháp điển hóa Năm 1808, New Orleans đã tách khỏi Lousiana lúc đó và đã thông qua Bộ luật dân sự kiểu Pháp Bất kể sự đấu tranh quyết liệt giữa hai trường phái trên, cuối cùng, hệ thống pháp Luật Mỹ vẫn thuộc dòng common law, trừ New Orleans từ năm 1812 đã trở thành một bộ phận của bang Lousiana Lí do là common law đã ăn sâu vào tiềm thức của người Anh ở Mỹ vì thế khó có thể hoàn toàn dứt bỏ mô hình hệ thống pháp luật này

Ngày nay hệ thống Pháp luật Mỹ vẫn còn dựa trên những nguyên tắc pháp lí truyền thống của luật án lệ của Anh nhưng vốn là quốc gia đa sắc tộc, đa tôn giáo với nền văn hóa đa dạng và lãnh thổ rộng lớn cùng với những thay đổi nhanh chóng về xã hội và kinh tế Mỹ đã và đang xây dựng phát triển một hệ thống pháp luật không hoàn toàn theo chiều hướng hệ thống pháp luật của Anh

Hệ thống pháp luật hiện hữu của Mỹ hinhg thành cùng với việc soạn thảo, phê chuẩn và thi hành Hiến pháp Mỹ năm 1787 – 1789, theo đó cơ cấu tổ chức của Chính phủ liên bang và mối quan hệ giữa chính phủ liên bang và chính phủ bang được quy định rõ Chính phủ liên bang được tổ chức thành ba ngành: lập pháp,

Ngày đăng: 08/01/2018, 19:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w