1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về văn nghệ dân gian của dân tộc cống

39 404 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 516,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lễ này nhất thiết bố, mẹ chàng trai phải cùng đi,nếu một trong hai người đã mất thì phải mượn vợ chồng bác hoặc vợ chồng chúhoặc cô ruột những người ngang hàng với cha mẹ chàng tra

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Nước ta là một quốc gia đa dân tộc có tất cả 54 dân tộc anh em, mỗi dântộc có những nét văn hóa truyền thống đặc trưng riêng biệt đã góp phần tạo nênmột nền văn hóa dân tộc đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc Với các dân tộcthiểu số nước ta thì người Cống là dân tộc khá đặc sắc với kho tàng văn nghệdân gian vô cùng phong phú Dân tộc Cống là dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngônngữ Tạng-Miến cư trú chủ yếu tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và khu vựcven sông Đà Nền văn nghệ dân gian Cống khá phong phú với các làn điệu dân

ca sâu lắng được hát vào những dịp lễ hội vui chung Người Cống thường hátmúa vào dịp lễ tết, nhất là trong đám cưới Hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gáihôm đón dâu ở chân cầu thang trước khi lên nhà thực sự là một cuộc thi hát dângian Trai gái, già trẻ đều vui múa trong ngày cưới, đặc biệt là điệu múa đầu tiên

do các em gái của chàng rể trình diễn để bắt đầu cuộc vui Tuy nhiên, đến naytrải qua bao giai đoạn thăng trầm của lịch sử văn nghệ dân gian của người Cống

đã bị mai một thiếu sót đi rất nhiều Chính vì vậy mà việc nghiên cứu văn nghệdân gian một cách khoa học là một việc làm hết sức cần thiết Những nghiên cứunày không chỉ mang tính thiết thực gắn liền với địa phương mà còn góp phầnbảo tồn nền văn hóa vùng dân tộc thiểu số Sản phẩm, tác phẩm của văn nghệdân gian đã thể hiện rõ tâm lí, tình cảm, ước vọng, mong muôn, phong tục tậpquán,…của dân tộc Cống Tuy nhiên, họ sinh sống gần gũi với các dân tộc khácnhưng vẫn luôn giữ được những nét riêng độc đáo của mình trong từng câu cadao, dân ca, tục ngữ

Chính vì vậy việc nghiên cứu văn nghệ dân gian không chỉ tái hiện lại màcòn đặt ra những vấn đề cấp bách cho mỗi dân tộc Từ những lý do trên tôi đã

chọn đề tài “Tìm hiểu về văn nghệ dân gian của dân tộc Cống” để làm đề tài

tiểu luận của mình

Trang 3

PHẦN THỨ NHẤT KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC CỐNG VÀ NGHỆ THUẬT DÂN GIAN CỦA

1.1.2 Dân cư và vị trí địa lí

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Cống ở Việt Nam có2.029 người, cư trú tại 13 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố Người Cống cư trú tậptrung tại các tỉnh: Lai Châu (1.134 người, chiếm 55,9% tổng số người Cống tạiViệt Nam), Điện Biên (871 người, chiếm 42,9% tổng số người Cống tại ViệtNam), còn lại 24 người sinh sống ở một số tỉnh, thành khác..

Dân tộc Cống có khoảng 1.859 người ở huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.Hiện nay, phần lớn người Cống cư trú ven sông Đà

1.1.3 Đặc điểm kinh tế

1.1.3.1 Nông nghiệp

Người Cống là cư dân nông nghiệp trên đất dốc bao đời chỉ biết làmnương theo cách chặt phá rừng, đốt cây chọc lỗ du canh, một hình thức canh tácnương rẫy thấp nhất Ngày nay thì đồng bào đã biết làm nương, dùng cuốc,nương có thể canh tác kéo dài 15 năm Đồng thời đồng bào đang khai hoang làmruộng lúa nước, nuôi trâu làm sức kéo cày

Hái lượm còn giữ vai trò quan trọng trong đời sống của Người Cống Rừngcung cấp các loại củ hay cây có bột như củ mài, cây báng và các loại rau rừng

Người Cống quen bắt cá bằng tay hay duốc cá ở khe suối Ngày nay, đànông Cống đã học được cách dùng thuyền đánh cá trên sông bằng chài lưới Họmua thuyền của người Thái và tổ chức các đội thuyền

Trang 4

Người Cống sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, canh tác theo lốiphát rừng, đốt, chọc lỗ tra hạt giống Gần đây, đồng bào đã làm nương bằngcuốc và sử dụng trâu bò làm sức kéo Nhiều thức ăn của đồng bào là tìm kiếm ởtrong rừng, kiếm cá dưới suối chủ yếu bắt bằng tay hoặc bả thuốc độc lácây Phụ nữ Cống không biết nghề dệt, chỉ trồng bông đem đổi lấy vải.

1.1.3.2 Nghề thủ công

Nghề đan lát của Người Cống khá phát triển.Song nam nữ đều đan látgiỏi, có nghề đan chiếu mây nhuộm đỏ.Cả nam lẫn nữ đều biết đan các loại đồđựng bằng mây, giang như: gùi, giỏ đựng cơm, rương, hòm, đặc biệt là sản phẩmchiếu mây đan hồi văn liên hoàn màu trắng đỏ rất đẹp (vì thế thành tên gọi là Côống sát dánh - Cống chiếu mây đỏ) Nghề thủ công đã làm cho đồ gia dụngNgười Cống thêm phong phú, tinh xảo

1.1.4 Quan hệ cộng đồng của dân tộc Cống

Người Cống ở khá tập trung trong các làng bản có quy mô vừa và lớn.Tính cộng đồng làng bản cao Phụ nữ có vai trò quan trọng trong gia đình cũngnhư xã hội Trong xã hội cổ truyền, chưa có sự phân hoá giai cấp, chịu sự chiphối chặt chẽ của hệ thống chức dịch người Thái

Dân số ít song người Cống có tới 13 dòng họ khác nhau Ða số các dòng

họ mang tên Thái như: Lò, Quang, Kha dấu vết tô tem giáo còn rõ nét với tụckiêng và thờ các loại chim muông, thú vật Mỗi dòng họ thường có người đứngđầu với chức năng chủ trì các công việc liên quan tới đời sống tinh thần

Mỗi họ của người Cống có một trưởng họ, có chung một kiêng cữ, cóchung quy định về chỗ đặt bàn thờ tổ tiên và cách cúng bái Trong từng gia đình,người chồng, người cha giữ vai trò đứng đầu, khi người cha chết thì con trai cảthay thế

1.2 Phong tục tập quán

1.2.1 Nhà ở

Đã bao đời nay, nhà sàn vẫn gắn liền với cuộc sống của người Cống Tuynhiên, nhà sàn của họ vẫn mang được những nét đặc trưng kiến trúc riêng biệt,độc đáo và phù hợp với phong tục tập quán

Trang 5

Với người Cống, nhà ở luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống sinhhoạt cũng như trong đời sống tín ngưỡng tinh thần Vì vậy, nhà ở của ngườiCống luôn mang những đặc trưng riêng.

Để bắt đầu dựng nhà, người Cống phải chọn thế đất tốt, gần nguồn nước.Căn cứ vào đó mà định hướng hướng nhìn của ngôi nhà Thông thường, nhà sàncủa họ nhìn xuống chân núi hoặc nhìn ra sông

Đồng bào người Cống ở nhà sàn ba gian hoặc bốn gian được làm bằng gỗ.Gian trong cùng là gian có buồng ngủ của bố mẹ và bếp nấu cơm Gian giữa cóbếp sưởi là nơi tiếp khách, nơi ngủ của khách Bên cạnh nơi ngủ của khách làbuồng của con trai cả và vợ, rồi đến buồng của con thứ… Con gái và rể (ở rể)ngủ ở gian ngoài cùng gần cửa ra vào Các gian được ngăn cách thành buồngbằng các phên vách bằng lá hoặc gỗ

Mái nhà sàn được lợp bằng các tấm lợp bện từ cây cỏ Mái nhà có bốnmái, cao tạo nên sự thoáng mát, rộng rãi cho ngôi nhà

Trong nhà của người Cống có hai đặc trưng riêng, mà chỉ cần nhìn thôichúng ta cũng nhận ra nhà sàn của họ Thứ nhất, trong thiết kế ngôi nhà củangười Cống chỉ có một cửa ra vào và một cửa sổ ở gian giữa Cửa sổ được chắnsong và phên đan dày có thể xê dịch được Thứ hai, mỗi nhà sàn đều có một cáisàn nhỏ ở phía sau hàng cột trên cùng Nó cao hơn sàn chính 15 - 16cm và rộng0,05 - 0,09cm Sàn này được cấu tạo bằng cách kê một cây gỗ dọc chạy suốt haiđầu nhà rồi dùng những thanh gỗ ngang gác lên hai bên Phía trên đặt dát tre,vầu theo chiều dọc

Điều đặc biệt là nơi đặt bàn thờ trong ngôi nhà Người Cống tùy theo từng

họ mà đặt bàn thờ ơt các vị trí khác nhau Đối với các họ Lò, Chang, Chảo bànthờ tổ tiên thường đặt trong buồng của bố mẹ, ở phên vách phía trước, giữa haihàng cột trong buồng Bàn thờ của họ Ly lại để gần cột cạnh bếp, phía ngoàiphên vách ngăn buồng bố mẹ Bàn thờ được làm đơn giản Nó có thể là mộtmiếng phên nhỏ (rộng 40cm) được buộc vào áp vách cùng với một cọc gỗ dài.Nếu vách đan phên kép thì không cần miếng phên nhỏ mà chỉ cần một cọc gỗ làđủ

Trang 6

1.2.2 Trang phục truyền thống

Y phục của người Cống giống người Thái Một ít gia đình còn giữ lại vài

bộ y phục truyền thống bằng vải dệt của người Lào

Chủ yếu biểu hiện qua trang phục nữ Ống tay áo trang trí giống người HàNhì Cổ trong giống cư dân Việt Mường, cúc giống phong cách Môn - Khmer.Váy đen, khăn đen không trang trí

Lễ đón dâu về nhà trai khi hạn ở rể đã hết, lúc đó đôi vợ chồng đã con cáiđầy nhà Của hồi môn bố mẹ cho con cái mang về nhà chồng Nếu nhà traingười cùng bản phải cõng cô dâu về tận nhà Trong ngày cưới, người ta khôngmặc quần áo mới vì có tục vẩy nước tro lên đoàn đón dâu trước khi ra về để cầumay

Trước kia chỉ trai gái người Cống mới lấy nhau, nay đã có một số dâu rể

là người Thái, Hà Nhì Theo phong tục Cống, người cùng họ phải cách nhau 7đời mới được lấy nhau Việc cưới xin do nhà trai chủ động Sau lễ dạm hỏi,chàng trai bắt đầu ở rể vài năm, còn cô gái bắt đầu búi tóc ngược lên đỉnh đầu,

đó là dấu hiệu đã có chồng Thường họ sinh vài đứa con mới cưới Nhà trai phải

có bạc trắng làm lễ cưới nộp cho nhà gái, còn nhà gái phải cho của hồi môn để

cô dâu đem về nhà chồng

Đối với dân tộc Cống, trai, gái từ 14-15 tuổi trở lên đã được coi là trưởngthành và có thể bắt đầu quá trình tìm hiểu để xây dựng gia đình Trước đây họkhông có cơ hội để tìm bạn đời là người khác tộc và cũng không ai vượt quađược trở ngại về mặt tâm lý để kết hôn với những thành viên thuộc dân tộc khác

Trang 7

đang sinh sống cạnh kề như Thái, H’Mông, Si La… Do vậy người Cống khôngtránh khỏi vấn đề hôn nhân cận huyết, bởi lẽ dân tộc Cống có số dân khá ít, lạisinh sống tập trung nên giữa các gia đình người Cống hầu như đều có mối quan

hệ chằng chéo với nhau

Mùa cưới của người Cống cũng giống như nhiều tộc người khác thườngđược tổ chức vào tháng 11, 12 âm lịch là thời điểm nông nhàn đồng thời cũng làthời điểm sửa sang nhà cửa để đón năm mới và dựng vợ gả chồng cho con cái

Đối với các chàng trai người Cống đến tuổi trưởng thành và muốn lập tổ

ấm của riêng mình, chàng trai sẽ tìm hiểu và lựa chọn người thiếu nữ khác họ

mà mình thầm yêu trộm nhớ Khi đã tìm được người ưng ý, buổi tối chàng trai

sẽ đến chọc sàn và rủ cô gái đó ra ngoài để trò chuyện tâm sự Qua trò chuyện,nếu có sự đồng cảm và yêu nhau (pông lang cái) nhưng chưa công khai thì đôitrai gái vẫn chỉ được tâm sự với nhau ở dưới nhà sàn hoặc ở ngoài sàn Khi đã

bén duyên cô gái (lêm mạ) phải thưa chuyện với bố (a pa), mẹ (a má) Sau đó người con trai (lêm phạ) đến nhà người yêu mình thì lên tiếng từ cầu thang.

Không ưng, họ sẽ không ra mở cửa và chàng trai sẽ hiểu rằng gia đình khôngbằng lòng với tình yêu của hai người Còn ngược lại, nếu đồng ý, bố mẹ cô gái

sẽ mở cửa cho vào nhà Sau khi nhận được tín hiệu chấp thuận, chàng trai mớiđược vào nhà trò chuyện cùng gia đình cô gái

Nếu thuận thì một thời gian sau sẽ làm lễ đặt rể (mì tạp xái) Đây là lễ đểchàng trai đi ở rể nhà người yêu Lễ này thường được tổ chức vào tháng 1 âmlịch Khi tổ chức lễ đặt rể, bên nhà trai gồm: bố, mẹ, anh em họ hàng (cũng cókhi cả bản) đến nhà gái Trong lễ này nhất thiết bố, mẹ chàng trai phải cùng đi,nếu một trong hai người đã mất thì phải mượn vợ chồng bác hoặc vợ chồng chúhoặc cô ruột (những người ngang hàng với cha mẹ chàng trai) đi thay và phải đi

cả đôi, không được đi lẻ bởi đồng bào Cống quan niệm rằng đi lẻ là không hạnhphúc, không may mắn

Trong thành phần nhà trai đi lễ đặt rể hay bất cứ lễ nào liên quan đến hôn

nhân của dân tộc Cống đều có ông mối (po xứ) hoặc bà mối (me lam) đi cùng.

Điều kiện chọn người làm ông mối, bà mối phải là người khỏe mạnh, hiền lành,

Trang 8

tốt bụng, con đàn cháu đống càng tốt, đặc biệt phải là những người không chết

vợ hay không chết chồng Trong lễ đặt tên này nhà trai cũng thường chọn nhữngngười hát hay, hát giỏi đi theo để khi đến nhà gái có thể phải hát đối đáp

1.2.4 Ma chay

Khi nhà có người chết, phải mời thầy mo tới làm lễ cúng đưa hồn về với

tổ tiên Việc chọn ngày chôn được coi trọng Trong những ngày trước hôm chôn,thường phải cúng cơm cho người chết, buổi tối có các nghi thức nhảy múatruyền thống Sau khi táng có làm nhà mồ đơn giản Mười hai ngày sau khi chônngười chết, con cháu mới lập bàn thờ trong nhà Con cái để tang cha mẹ bằngcách cạo trọc đầu (con trai), cắt tóc mai (con gái) và đội khăn tang cho tới khicúng cơm mới, mới được bỏ

1.2.5 Thờ cúng

Người Cống cúng tổ tiên hai đến ba đời Người chồng đảm nhiệm việccúng tổ tiên Khi người chồng chết, người vợ đảm nhiệm, dù con trai cả đã lớncũng không được làm lễ cúng tổ tiên Nhiều khi mẹ không biết cùng thì con trai

cả ngồi cạnh giúp mẹ Khi mẹ mất, con trai cả làm chủ lễ Nếu anh em chia nhà

ra ở riêng thì mỗi người tự lập bàn thờ riêng Đồng bào không cúng tổ tiên vàođúng giỗ mà cúng vào các dịp như lễ cơm mới, ngày có lễ cưới xin, ma chay,ngày trẻ con ốm đau mà xem bói biết ma làm

Lễ vật cúng tổ tiên là một bát gạo, một ống nước, một con gà nhỏ luộc đặtngay xuống sàn dưới vách thờ Khi giết già, người ta lấy tiết bôi vào lá dong, gàigói là bọc tiết và vài lông gà vào tấm tiếp thờ

Người Cống có tục cúng ma bố mẹ vợ (mì no tư nghé) vào dịp tết sau khicúng tổ tiên nhà mình Đôi khi họ cúng mà bố mẹ vợ khi nhà có người bị ốmhay khi xem bói thấy ma bố mẹ vợ đòi Đây là tàn dư của chế độ mẫu hệ

Đồng bào tin vào truyền thuyết nạn hồng thủy và sự tích quả bầu mẹ,kiêng kị các con vật như trăn, tê tê Đi rừng nếu nhìn thấy nó về nhà phải cúng lễ

tạ thần vật thiêng Đồng bào có nhiều lễ thức liên quan tới sản xuất nương rẫy

Trang 9

1.2.6 Lễ hội

Đồng bào có tục mở lễ hội cúng bản vào tháng ba âm lịch (trước khi cúnggieo hạt ga ma thú) ở bên gốc cây to cạnh bản, gọi là cúng mồ pá do thầy cúngđảm nhiệm Sau khi cúng xong, thầy cúng dùng gậy chọc lỗ tra ít lúa bên gốccây cúng Trong ngày cúng mồ pá, các ngả đường vào bản đều được rào kín,kiêng một ngày không được ai vào bản Chỉ sau khi tiến hành lễ cúng này, cảbản mới bắt đầu gieo lúa Đồng thời ở các gia đình cũng tiến hành cúng nương ởlều nương với ít lễ vật (cá, cua, thịt sóc) cầu mong lúa tốt, thú rừng chim chóckhông phá hoại Cúng xong, gia chủ trồng vài ba khóm kiệu bên lán nương cầumong lúa chóng xanh tốt như cây kiệu Lúc mang những bông lúa bên khómkiệu, chủ nhà khấn gọi lúa về kho

Người Cống thường tổ chức múa hát vào dịp lễ tết, nhất là vào dịp có đámcưới Hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái ở chân cầu thang nhà gái, hát múa khiđón dâu về tới nhà trai của các em chú rể, các cô vừa múa hát vừa giơ cao tặngphẩm truyền thống do anh trai tặng (như con gà, con sóc, cá khô…) Trẻ emNgười Cống thường chơi những trò chơi tập thể như đuổi bắt, đánh khăng, càkheo, bắn nỏ

Người Cống có lễ cúng tập thể mở đầu vụ gieo trồng lúa và một số lễ thứckhác nữa nhằm cầu mong mùa màng tươi tốt, nhà nhà no đủ Ví dụ: Tết Ngô củadân tộc Cống ở Lai Châu…

Tết ngô là ngày Tết cổ truyền của dân tộc Cống sinh sống ở Lai Châu.Đây là ngày tết lớn, tết cả của người Cống nên quy mô tổ chức to nhất so với các

lễ tết khác trong năm Tết Ngô là tết lớn nhất trong năm của người Cống được tổchức vào ngày 1/6 âm lịch hằng năm nhằm mục đích trình báo với tổ tiên vềnhững việc đã làm được trong năm Cảm ơn tổ tiên đã phù hộ cho con cháu khỏemạnh, chăn nuôi, sản xuất gặp nhiều thuận lợi, mùa màng tươi tốt, thóc, ngô đầynhà Tết Ngô được gắn liền với những sinh hoạt của tộc người, mang tính cộngđồng cao, là một kho tàng văn hóa dân gian với nhiều loại hình nghệ thuật, xứngđáng được quan tâm đầu tư, bảo tồn và phát huy góp phần vào việc xây dựngnền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Trang 10

PHẦN THỨ HAI TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN TRONG

ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC CỐNG

2.1 Các loại hình văn nghệ dân gian dân tộc Cống

2.1.1 Truyện cổ

Được đồng bào kể vào những buổi tối, bên bếp lửa, dịp tết , lễ của dântộc hay những đêm trăng, những lúc đi đường, trong khi lao động sản xuất,… Ởđâu có người tụ họp là đồng bào lại kể chuyện cho nhau nghe, đời này truyền lạicho đời kia Nội dung truyện phản ánh hiện thực đời sống, tâm tư tình cảm, ước

mơ khát vọng, nguồn gốc lịch sử, nguồn gốc vũ trụ của cộng đồng người Cống.Các truyện chúng tôi sưu tầm được chia làm những nhóm:

2.1.1.1 Truyện cổ giải thích sự vật hiện tượng tự nhiên

Lý giải sự không có chữ của dân tộc Cống bà con kể: ngày xưa ngườiCống đi học cùng các dân tộc anh em khác, ai học cũng giỏi, ngày chia tay thầycho mỗi người một quyển sách, người Cống mang sách về gác lên mái gianhnhà, không may nhà cháy, sách cũng cháy nên người Cống không còn biết chữ.Hoặc giải thích về nguồn các cảnh quan thiên nhiên như: Tại sao sông Đà lắm đásỏi (Chuyện chàng Khun), tại sao suối tên là Nậm Khao (Chuyện nàng NhưLống), tại sao lại có sét và sấm(Chuyện anh em ăn mừng Trề Trế Trề Chố), tạisao lại có bầy trời đầy sao (Chuyện đánh rơi lửa), tại sao nhà người Cống vừa cónhà sàn, vừa có nhà đất Chẳng hạn như việc làm nhà đất giống như hang đá, cólối vào nhưng không có lối ra, nhà thường thấp và tối, mái nhà nhọn là do ôngthần núi thương tổ tiên người Cống không có chỗ trú chân ngày nắng, ngày mưamới dẫn đến hang cho ở nhờ và dạy cho cách làm nhà bằng cách nhồi đất thậtdày, để một cửa ra, mái nhọn như mái núi, vừa tránh được thú dữ, vừa tránhđược gió bão, mưa dông (Chuyện Hồng Mư) Qua những câu truyện cổ này cho

ta thấy sự phát triển tư duy nhận thức của người Cống xưa mang dấu ấn của quátrình phát triển lịch sử của dân tộc Cống Con người từ chỗ sống ở các hangđộng đã vươn ra chiếm lĩnh các không gian và tạo dựng cuộc sống cho mình Tất

Trang 11

cả các chuyện liên quan đến các sự tích thiên nhiên đều phản ánh một quá trìnhchinh phục môi trường xung quanh đầy gian khổ của người Cống ở vùng núihiểm trở.

2.1.1.2 Truyện cổ về sự tích các loài vật

Là những chuyện nói về sự xuất hiện của chúng và những nét riêng biệt

mà tạo hóa sinh ra chúng: Có con trâu là do anh chàng lười không chịu làm gì,lớn tuổi mẹ vẫn phải chăm, bực quá bà mẹ rủa “Không muốn làm chỉ muốn ănthì chỉ đi ăn cỏ” (Chuyện Pằng Ná), hoặc do có công dẫn người Cống đến vùngđất trù phú, giàu có mà chim được người thưởng cho việc ăn thóc (Chuyện SiLà) Vì sao mào gà trống đỏ và được gọi là mặt trời (Chuyện Kha Pả)… Trướcnhững hiện tượng thiên nhiên khó hiểu, do trình độ tư duy còn chưa cao, ngườiCống có cách giải quyết riêng của mình Những cách giải thích đó một mặt chothấy sự ngây thơ, hồn nhiên đến đáng yêu của họ, mặt khác cũng cho thấy tâmhôn lãng mạn, trí tưởng tượng của dân gian Đồng thời, những truyện cổ ấy cũngphản ánh sự quan sát của người Cống đối với thiên nhiên xung quanh Thiênnhiên đối với họ vừa hãi hùng vừa bí hiểm, song cũng thật thân thuộc, gần gũi.Chỉ khi con người có thái độ xấu, ác ý, phá hủy thiên nhiên thì mới bị trừngphạt, còn nếu con người có sự ân cần, có tình yêu tha thiết với thiên nhiên thì sẽđược thiên nhiên đền đáp một cách thỏa đáng

Thiên nhiên luôn bên cạnh, bao dung, che chở và nuôi sống con người nếucon người biết sử dụng nó vì mục đích đúng đắn Những nhỡ nhàng, sai lầm,thiếu thận trọng trong hành động đối với thiên nhiên ắt sẽ dẫn đến những hậuquả đáng tiếc như chuyện chàng Khun vì muốn lấp sông Đà nên đã nhặt hết đásỏi mọi nơi dồn về đổ vào sông Đà, bao nhiêu đá, sỏi chàng đổ vào đều bị sông

Đà lấy hết vì sông Đà đã khỏe hơn chàng nên chẳng lấp được sông mà chỉ có thể

để lại nhiều bãi đá sỏi bên bờ cũng như lòng sông Và cuối cùng chàng bị sông

Đà biến thành một vách đá sừng sững, thẳng đứng còn đến ngày nay (Chuyệnhàng Khun) (Hình 1)

Trang 12

2.1.1.3 Truyện cổ tích thế sự

Là loại truyện liên quan đến đời sống hàng ngày của con người, như tìnhcảm gia đình, tình vợ chồng, con cái, tình yêu nam nữ… Những câu chuyện mộcmạc, chân thận mà chứa chan tình cảm như chuyện nàng Hó Lúm Là tiên nữtrên trời thương chàng Thủi nhà nghèo, lại bị người giàu hắt hủi, đã xin cha cho

về sống ở trần gian, nàng còn dạy những người dân cách dệt vải, thêu váy áo chođàn ông, đàn bà, những hình hoa văn trên trang phục Cống là do các bà các chịhọc được, truyền đến ngày nay Thời hạn ở trần của nàng là ba mươi ngày (bamươi ngày trên trời bằng 30 năm dưới mặt đất) Hết hạn cha trời gọi nàng vềnàng không về Giận con ông biến nàng thành loại cây có hương thơm NgườiCống gọi là Hó Lúm Khát vọng tình yêu chân chính và gia đình bền vững thểhiện rõ trong câu chuyện tình cảm động này cho thấy đời sống tinh thần vừanhân bản vừa phong phú của người Cống Tính nhân văn của truyện cổ còn đượcthể hiện ở truyện (Chị em Me É) Hai chị em Me É, sinh ra một thời gian thì bố

mẹ chúng đi nương bị hổ tinh ăn thịt Mất cha, mất mẹ, hai chị em được một bàgóa mang về nuôi, sống nhờ vào bát cơm, củ khoai, bột báng của các mẹ, các chịtrong bản Lúc nào chúng cũng bị đói nên người ta đặt tên cho chúng là Me É.Sau bao nỗi vất vả và nghèo đói, tình cờ hai chị em mồ côi có một gia tài lớn,giàu sang, nhưng vẫn nhớ ơn bà con trong bản nên hai chị em đã lấy vàng bạcchia cho bà con trong bản Câu chuyện là sự gửi gắm ước vọng vươn tới cuộcsống tươi đẹp, ấm no, hạnh phúc của người Cống và ca ngợi lòng biết ơn, tình

nghĩa bản làng Dù ít hay nhiều, ở mức độ cao hay thấp, mỗi dân tộc đều có

những thể loại truyện phù hợp với cuộc sống tinh thần và xã hội của họ

2.1.2 Ca dao, dân ca dân tộc Cống

Ca dao, dân ca Cống phản ánh nhiều lĩnh vực của cuộc sống, gồm nhiềuhình thức: Hát giao duyên, hát răn dạy, hát ru, hát vui chơi… Nội dung nổi bậtnhất trong thơ ca của dân tộc Cống là đề cao lao động, ca ngợi thiên nhiên, tìnhyêu nam nữ và tình cảm gia đình

2.1.2.1 Một số hình thức hát dân ca

* Hát tự phát:

Trang 13

Là hình thức hát của một nam, một nữ hoặc một tốp nam nữ tình cờ gặpnhau ở chợ, ở nương rẫy, trên đường đi chơi tự cất tiếng hát với nhau Nội dungnhững bài hát này do hoàn cảnh ứng tác và người tự hát quyết định Thôngthường trai gái người Cống hễ thấy mặt nhau lần đầu, dù là ở ngoài đường,ngoài chợ hay chỉ nhìn thấy bóng dáng nhau đi trong bản, trên nương hoặc ngoàiđồng ruộng, họ đều chào hỏi nhau bằng những câu dân tộc miền núi Khi hát tựphát đơn lẻ không phụ thuộc vào thời gian, không gian và người hát không có ýnghĩ rằng mình đang làm văn nghệ Đây là lối hát tự phát Không gian thích hợpcho lối hát tốp là vào những ngày hội, ngày chợ phiên, ngày tết và vào dịp làngbản có tiệc vui như sau nghi lễ đám cưới, sau lễ mừng nhà mới hay vào nhữnglúc công việc ngày mùa đã nhàn rỗi Lối hát này không quy định nam hát trướchay nữ hát trước, mà phụ thuộc vào tốp nào nhìn thấy nhau trước, nhiều khi chỉcần nghe phong thanh có tốp nào đó vào bản hay đang ngồi đâu đó, chưa cầnnhìn thấy mặt là tốp kia đã cất tiếng hát giao duyên Mối đầu là những câu ướmhỏi gọi mời tốp kia hát lại, nếu hát một lần chưa thấy bên kia đáp lại thì hát lầnthứ hai, thứ ba… Nếu tốp kia vẫn chưa hát đáp lại thì tốp trước phải trổ tài trêuchọc, mỉa mai cho đến khí đối phương hát đáp, lúc đó cuộc hát mới chính thứcbắt đầu Cuộc hát có thể chỉ là một lúc, cũng có thể kéo dài suốt đêm, suốt ngàyvới nội dung ứng tác của những người tham gia hát Có khi bắt đầu là nhữngcảm xúc của đám trai bản vớ một tốp nữ bản bên Đám trai bản cất lời hát ướm:

Bao cô gái xinh đẹp

Ở nơi nào đến đây Thăm ông bà cha mẹ Hay thăm nhà người yêu

Đáp lại, một cô trong tốp nữa ấy cũng hát:

Em từ bản xa đến đây Không thăm cha thăm mẹ Muốn tìm người trai tài Dẫn về thăm cha mẹ của em

Trang 14

Bên trai lại hát:

Ta hát thì không hay Nhưng lo lắng quá

Em có dẫn ta về Như lời em đã ngỏ

Nữ đáp lại:

Lòng anh em đã biết Như câu hát anh trao Ngày vui ta xin hẹn Vào ngày này năm sau

Và như đã hiểu ý nhau, nhiều đôi nam nữ trong tốp hát ấy dần dần tự táchriêng để tìm hiểu và giao duyên

ở một góc chợ… họ trao nhau những lời ca mộc mạc chân thành thật duyên dáng

ý nhị Sau đó họ trao nhau quà kỉ niệm, thường là nhẫn, khăn, vòng Nhiều đôichỉ qua các cuộc hát vui mà sau này thành vợ thành chồng

* Hát có tổ chức, lề lối:

Là hình thức hát được hai bên chuẩn bị trước, đồng thời cũng được thốngnhất tổ chức theo những nghi thức khá chặt chẽ nội dung thường bao gồm cảphần nghi thức và giao duyên với các chặng hát: Hát chào, hát đón khách, hátcảm ơn, hát tiễn đưa Hát có tổ chức thường vào các thời điểm: Lên nhà mới,đám cưới, đám tang.(Hình 2)

2.1.2.2 Một số loại hình ca dao, dân ca dân tộc Cống

Ca hát là một trong những sinh hoạt nghệ thuật truyền thống, độc đáocũng là nhu cầu sinh hoạt văn nghệ phổ biến của đồng bào người Cống NgườiCống từ trẻ đến già hầu hết đều biết hát và sáng tạo thơ ca Họ có thể hát vào bất

Trang 15

kì thời gian nào như nhân dịp trai gái đến chơi làng, hát sau nghi lễ cưới, vàonhà mới, trong ngày hội hay ngày chợ phiên…

Kho tàng dân ca Cống là một di sản văn hóa quý báu mang đậm bản sắcdân tộc mà chúng ta chưa thể nắm bắt hết được cả về số lượng và nội dung.Công tác phân loại ca dao, dân ca Cống cũng chưa được đề cập nhiều nên chưathực sự rõ ràng và thống nhất Tuy vậy, căn cứ vào cách phân loại dân ca của cácnhà nghiên cứu văn học dân gian và dựa vào nội dung các bài ca dao, dân ca baogồm: dân ca lao động, dân ca nghi lễ phong tục, dân ca sinh hoạt

2.1.2.2.1 Dân ca về lao động sản xuất

Người Cống vốn cần cù cày cấy, tằn tiện, tiết kiệm Cuộc sống của họ gắnchặt với núi rừng, ruộng nương Đến với bản người Cống, ta sẽ nhận thấy suốtngày họ chỉ cặm cụi trên nương rẫy bên cái mênh mông của đất trời, trập trùngquanh co của đồi núi Họ lao động quần quật cả năm, chỉ lúc lễ, tết dân tộc, haylúc bản có công to việc lớn mới dừng tay tham gia việc của làng, bản Bởi vậy,truyền thống văn hóa nông nghiệp luôn in đậm trong đời sống tinh thần họ Họluôn đề cao lao động và lấy lao động làm thước đo con người Điều này đượcphản ánh đậm nét trong văn học dân gian Cống Trong ca dao, dân ca có nhữnglời ca thể hiện tâm tình của chàng trai với người con gái chăm chỉ lao động:

Mờ sương em lên nương làm cỏ

Gà lên chuồng em từ ruộng về Trên lưng thêm địu củi

Áo em thẫm màu, anh thương

Trong những câu hát giao duyên, trai gái người Cống thể hiện sựgắn bó, hòa quyện gữa tình yêu đổi lứa với tình yêu lao động:

Vào mùa nương anh cùng em đốt nương Chúng mình cùng nhau đi tra hạt Đến ngày lúa chín chĩu bông Anh cùng em sẽ đi gặt hái

Những câu hát ấy trước hết thể hiện niềm vui, sự đoàn kết trong lao động.Nhưng đằng sau đó là cả một quan niệm về tình yêu của đồng bào người Cống

Trang 16

Trong lao động, những lứa đôi yêu nhau sẽ luôn bên nhau, vui lao động, không

chỉ mong sản phẩm lao động “Chĩu bông” mà ẩn trong đó còn thể hiện khát

vọng tình yêu đơm hoa kết trái

Trong cuộc hát, trong niềm niềm vui gặp gỡ tràn đầy, chàng trai, cô gáingười Cống mong ước được thành đôi lứa, khát vọng nên duyên vợ chồngkhông chỉ đơn thuần là khao khát hạnh phúc lứa đôi mà mong thành lứa đôi đểcùng chung tay lao động, lao động để bồi đắp cho tình yêu vững bền:

Nếu lời ghi lời mà nhớ Ngày thêm ngày không quên Đến ngày lúa nương chín

Em nhờ anh về gặt đỡ em

Công việc lao động của người dân Cống rất vất vả bởi ruộng ít, chủ yếu

phải làm nương rẫy, kiểu thổ canh “hốc đá” rất vất vả, năng suất lại không cao,

thiên nhiên khắc nhiệt… thế nhưng đồng bào vẫn tin vào sức lực của mình, tinvào đôi bàn tay và có khát vọng lao động để xây dựng một gia đình ấm no hạnhphúc cũng là góp phần xây dựng làng bản thêm giàu mạnh:

Anh có đôi tay cứng rắn

Em có đôi tay mềm mại Tay cứng anh quăng chài, kéo lưới Tay mềm em nấu nướng cho cả nhà Không có tay em không nên bếp ấm Không có tay anh không thành cửa nhà Mong trời nắng, mưa thuận Lúa ruộng, nương bội thu Vật nuôi sinh sôi nhiều Cho lòng người vui vẻ

Hôn nhân, tình yêu gắn liền với vấn đề lao động, xây dựng gia đình hạnhphúc ấm no, bản làng giàu có thực chất là quan niệm thẩm mỹ của đồng bàoCống đó là: sinh ra là con người phải biết yêu thương, biết lao động mới có thể

Trang 17

đem hạnh phúc lại cho mình Đó là những phẩm chất đáng quý, rất cần đối vớinhững con người sống ở nơi khó khăn và hẻo lánh nhất này.

2.1.2.2.2 Dân ca nghi lễ phong tục

Người Cống quan niệm chu kỳ đời người trải qua sinh ra, lấy chồng, cưới

vợ, làm nhà, lên lão Trong cuộc đời con người ứng với mỗi giai đoạn của cuộcđời lại có nhiều nghi lễ phong tục khác nhau Trong các nghi lễ ấy đều có dấu ấncủa thơ ca, đặc biệt là dân ca như: hát cúng bản, hát kể sự tích các thần, hát phùphép

* Dân ca trong lễ cúng trẻ sơ sinh: Khi đứa trẻ sinh ra được ba ngày (vớingười Cống chọn ngày tốt mời thầy cúng hoặc ông bà đến cúng cảm ơn bà mụ

đã cho gia đình đứa bé Trong nghi lễ ấy, người cha đứa trẻ phải vái lạy bàn thờ

tổ tiên hát ý:

“Bà mụ cho gia đình đứa con,

Đủ chân tay mặt mũi, nhưng còn bé bỏng,

Che chở cho cháu bé.”

* Dân ca lễ cưới: Gồm hai loại: hát nghi thức và hát vui chơi Hát nghithức phải do các nghệ nhân thông thuộc các bài hát ướm hỏi, những người này

là đại diện cho nhà trai và đại diện cho nhà gái hát để mô phỏng nghi lễ, trao đổivới nhau các vấn đề cưới hỏi với những nghi thức cố định Đồng bào gọi là ôngmối, bà mối:

Ví dụ: Ông mối nhà trai bắt đầu đến nhà gái hát:

Nắng có quyền của nắng Mưa có quyền của mưa

Bố mẹ có quyền bố mẹ Hôm nay chúng tôi đến đây Thăm nhà sinh con gái hay làm Mong nối đường hai nhà đi lại.

Nhà gái trả lời:

Trăng có quyền của trăng Sao có quyền của sao

Trang 18

Các bác đến thăm nhà Lời đầu tiên xin mời vào uống nước

Trong đám cưới người Cống, các nghệ nhân sẽ ngẫu hứng chúc mừng bố

mẹ, chúc mừng cô dâu, chú rể của những người dự cưới Thậm chí trong đámcưới trai gái còn ngỏ lời, ướm lời hò hẹn của thanh niên nhà trai với thanh niênnhà gái trước khi chia tay hoặc những bài than thân hoặc thể hiện nỗi nhớ nhungcủa gia đình với con gái sắp đi lấy chồng.(Hình 3)

* Dân ca, dân vũ trong lễ mừng nhà mới: Khi một gia đình nào đó trongbản tổ chức lên nhà mới đương nhiên trở thành ngày hội vui của cả bản, ngàyhòa nhập nhất của cả bản và cũng trong ngày này người ta không chỉ có ăn thịtuống rượu mà người ta còn tổ chức hát múa góp thêm niềm vui cho cả cộngđồng

Là những bài hát của bà con trong bản, có đủ con trai con gái đứng hát đốiđáp chúc mừng gia chủ Ngoài ra còn là bài hát của chính người chủ nhà trựctiếp hát để cầu mong tổ tiên, thần thánh phù hộ cho gia đình, để cảm ơn sự giúp

đỡ của anh em họ hàng và bà con thôn bản Người Cống lên nhà mới vừa múavừa hát Các cuộc hát, múa có thể diễn ra từ sáng đến khuya, diễn ra ngay bênmâm rượu, có người tự ứng tác lời hát để chúc mừng, dặn dò rất được bà con tánthưởng

Khi mọi người đã ngấm hơi men đồng bào thường tổ chức vui văn nghệtrong ngày lên nhà mới Người ta quan niệm rằng việc tổ chức múa hát trongngày này là cầu may cho gia chú, khi gia đình nào tổ chức lên nhà mới càng cónhiểu người tham gia múa hát, uống rượu nhiều, té nước lắm thì gia đình cótrong tương lai càng gặp được nhiều

* Dân ca trong lễ tang: Cũng giống các dân tộc thuộc khối Tạng Miến khi

có người thân quá khố, con cháu phải biết hát khóc, ngoài ra bà con trong bảncũng sẽ đến hát khóc Thầy cúng trong một số nghi lễ cũng trở thành thầy hát.Trong các nghi lễ chính của đám tang, các thầy cúng thầy hát phải hát các bài canghi lễ để phụ họa các hoạt động diễn xướng nghỉ lễ Các bài ca trong đám tang

Trang 19

còn phản ánh tình cảm xót thương của người thân, bà con dân bản với người quácố.

2.1.2.2.3 Dân ca sinh hoạt

Khác với dân ca nghi lễ phong tục, dân ca sinh hoạt của người Cống lànhững bài hát phản ánh tình cảm của người hát với những đối tượng thân thiết,gần gũi như người mẹ với đứa con trong các điệu hát ru, những đứa trẻ trong hátđồng dao, nam giới hát với nữ giới trong các bài hát giao duyên Vì vậy, dân casinh hoạt của người Cống chủ yếu là do người hát tự đặt lời truyền khẩu, nên ít

bị gò bó như hát theo nghi lễ

* Hát ru: Bài ca ru con của người Cống khá phong phú với những bài hát

ru buổi sáng, buổi trưa, buổi tối và tùy từng đối tượng hát mà có hát ru của bà rucháu, mẹ ru con, chị ru em… nội dung chủ yếu là tình cảm mẹ thương con, dạycon nỗi vất vả của cha mẹ, khuyên con tránh thói hư tật xấu, có khi lời bài hátgiới thiệu cho trẻ những hình ảnh gần gũi của núi rừng Bài hát ru thường gồm

ba phần: phấn đầu tạo nhịp êm ái ru ngủ, phần sau khuyên răn đứa trẻ, kết thúc

là nhắc đứa trẻ ngủ ngoan Hát ru con chứa đựng biết bao điều đã nói về cuộcsống, về sự hình thành nhân cách của tuổi thơ, của một đời người mà người mẹ

đã gửi gắm trọn vẹn tấm lòng qua lời hát:

Con là bông hoa thơm của mẹ,

Là cánh nỏ chắc của cha, Ngủ cho thật ngoan,

Ăn cho thật khỏe, Mai kia con biết xuống suối bắt cá cho mẹ, Biết lên nương ngăn khỉ cho cha.

Hát ru con truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệkhác, nhằm biểu hiện những trạng thái tình cảm của người phụ nữ mà tuổi thơ làđối tượng trực tiếp được hưởng thụ, thưởng thức những giai điệu ngọt ngào,đằm thắm, chan chứa niềm yêu Nghe mẹ, bà, chị hát đứa bé có hiểu gì đâunhững nội dung sâu sắc của cái hồn ca dao về nhân tình thế thái, vì có lúc mẹ

Ngày đăng: 11/04/2018, 11:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa Cục Xuất bản - Bộ Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa Cục Xuất bản- Bộ Văn hóa
2. Phan Kiên Giang (2011), Văn hóa dân tộc Cống, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân tộc Cống
Tác giả: Phan Kiên Giang
Nhà XB: Nhà xuất bản Vănhóa Thông tin
Năm: 2011
3. Nguyễn Văn Huy, Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuấtbản Giáo dục
4. Ngô Văn Lệ - Nguyễn Văn Tiệp - Nguyễn Văn Diệu (1998), Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Khác
5. Hoàng Nam (2002), Đặc trưng văn hóa các dân tộc Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w