1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu, mô tả, đánh giá và đề xuất để bảo tồn những giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc mường ở tỉnh hòa bình

48 357 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 5,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bất kỳ một vùng miền nào trên đất nước Việt Nam vào bất kỳ khoảng thờigian nào trong năm đều thấy sự tồn tại và xuất hiện của các văn nghệ dân gian .Văn nghệ dân gian là nơi lưu trữ các

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

Đánh giá về văn học dân gian Việt Nam, Cù Huy Cận đã từng viết: “Vănnghệ dân gian (Folklore) là văn nghệ gốc Qua văn nghệ dân gian, nhân dântrước hết là nhân dân lao động tự biểu hiện mình, tự phản ánh cuộc sống củamình Chính trong văn nghệ dân gian ta tìm thấy những điều cơ bản nhất củabản sắc văn hóa của dân tộc mà bản sắc văn hóa lại là cốt lõi của bản sắc dântộc Điều này vô cùng quan trọng” [3]

Qua đánh giá trên, văn nghệ dân gian là cội nguồn của văn hóa dân tộc, vănhóa mẹ Điều đó hàm nghĩa văn nghệ dân gian gắn với lịch sử lâu đời của dântộc, là nguồn sản sinh và tiếp tục nuôi dưỡng văn hóa dân tộc Có con người là

có văn hóa, có dân tộc là có văn hóa dân tộc Văn nghệ dân gian bao gồm nhữngsáng tác nghệ thuật dân gian, tức là gồm văn học dân gian và các ngành nghệthuật dân gian khác như âm nhạc, hội họa, kiến trúc, điêu khắc dân gian Vănnghệ dân gian cũng là nơi thể hiện truyền thống quý báu của dân tộc, là nơi mọingười cùng sinh hoạt văn hóa, giao lưu

Bất kỳ một vùng miền nào trên đất nước Việt Nam vào bất kỳ khoảng thờigian nào trong năm đều thấy sự tồn tại và xuất hiện của các văn nghệ dân gian Văn nghệ dân gian là nơi lưu trữ các giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc về nhiềumặt của đời sống (chính trị, văn hóa, xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng…) của cư dânvùng trồng lúa nước Mỗi một dân tộc trên đất nước lại có văn nghệ dân gianđặc trưng, riêng biệt, dân tộc Mường cũng như vậy

Qua các văn nghệ dân gian của dân tộc Mường cho chúng ta thấy đượcnhiều nét văn hóa, phong tục của người Mường, mỗi một văn nghệ dân gian đềumang những ý nghĩa, đặc sắc riêng, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, tuy nhiêntrước nguy cơ đồng nhất về văn hóa cần có bảo tồn và phát huy kịp thời đểkhông mất đi những giá trị văn nghệ dân gian đầy ý nghĩa của dân tộc Mường

Trang 2

Trong một dịp may mắn ở Hòa Bình, tôi đã được chứng kiến các văn nghệ dângian của dân tộc Mường nơi đây Với những giá trị đó đã làm cho tôi thêm yêucon người và mảnh đất này

Với những lí do trên, tôi đã quyết định chọn đề tài: Tìm hiểu, mô tả, đánh giá và đề xuất để bảo tồn những giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình để làm bài nghiên cứu của mình.

2 Cảm nhận về học phần “Văn hóa các dân tộc thiểu số”

Đây là kết quả của quá trình học tập học phần văn hóa các dân tộc thiểu số.Học phần này là môn học chuyên ngành của tôi – Quản lý Văn hóa, đã góp phầncho tôi hiểu rõ hơn văn nghệ, văn hóa của các dân tộc thiểu số trên đất nướcViệt Nam, trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản, cần thiết, quan trọng về vănhóa các dân tộc thiểu số, giúp tôi nắm vững đường lối, chủ trương, chính sáchcủa Đảng và pháp luật của nhà nước về lĩnh vực văn hóa của các dân tộc thiểu,giúp tôi có được những kỹ năng nghiên cứu, phân tích và đề xuất xây dựngchính sách văn hóa, đặc biệt là văn hóa các dân tộc thiểu số, có thêm các kỹnăng hỗ trợ như kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc nhóm, làm việc độc lập,

kỹ năng xử lý tình huống, phân tích và giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, biết trân trọng giá trị của văn nghệ dân gian nói riêng và văn hóa nói chung.Đây là bước tập sự cho việc tiến hành các công trình nghiên cứu sau này,đóng góp vào nguồn tư liệu về các văn nghệ dân gian ở Việt Nam nói chung vàdân tộc Mường nói riêng

Không chỉ vậy, đề tài còn muốn góp một phần nhỏ bé vào việc khẳng địnhgiá trị văn nghệ dân gian của dân tộc Mường Qua đó, muốn mọi người, đặc biệt

là thế hệ trẻ biết được truyền thống của cha ông ta từ đó nâng cao ý thức gìn giữ,phát huy những giá trị văn nghệ dân gian đặc sắc của các dân tộc

Trang 3

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ TỈNH HÒA BÌNH VÀ DÂN TỘC MƯỜNG 1.1 Khái quát về tỉnh Hòa Bình

Hòa Bình [ Ảnh 1; tr 32] là một tỉnh miền núi thuộc vùng tây bắc ViệtNam, tỉnh lỵ là thành phố Hòa Bình nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 73 km,nằm giáp ranh giữa 3 khu vực: tây bắc, đông bắc và Bắc Trung Bộ của ViệtNam

Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.662.5 km², chiếm 1,41% tổng diện tích tựnhiên của Việt Nam Thu nhập bình quân đầu người: 1500 USD (tương đương34.090.909 đồng) (1/2016)

Theo kết quả chính thức điều tra dân số ngày 01/04/2009 dân số tỉnh HòaBình chỉ có 786.964 người

Trên địa bàn tỉnh có 6 dân tộc sinh sống, đông nhất là người Mường chiếm63,3%; người Việt (Kinh) chiếm 27,73%; người Thái chiếm 3,9%;người Dao chiếm 1,7%; người Tày chiếm 2,7%; người Mông chiếm 0,52%;ngoài ra còn có người Hoa sống rải rác ở các địa phương trong tỉnh Người Hoatrước đây sống tập trung ở Ngọc Lương, Yên Thủy; nhưng sau năm 1979 còn lạimột số gia đình và hiện nay sống phân tán ở các xã Yên Trị, NgọcLương và Phú Lai huyện Yên Thuỷ Ngoài ra, còn có một số người thuộc cácdân tộc khác chủ yếu do kết hôn với người Hòa Bình công tác ở các tỉnh miềnnúi khác

Hòa Bình là một tỉnh có khá nhiều những suối nước khoáng nóng, nhữngthung lũng hoang sơ huyền bí, với địa hình đồi núi trùng điệp, các động thác

Bờ, Hang Rết, động Hoa Tiên, vùng rừng nhiệt đới nguyên sinh Pù Noọc mở ranhững tuyến du lịch mạo hiểm leo núi, đi bộ, săn bắn, tắm suối Sức người vàthiên nhiên đã tạo cho Hòa Bình một vùng hồ sông Ðà thơ mộng cho phep pháttriển du lịch vùng lòng hồ và ven hồ có đầy đủ vịnh, đảo và bán đảo mà ở đó

Trang 4

động thực vật quý hiếm được bảo tồn Thấp thoáng các bản Mường, bản Dao,bản Tày rải rác ven hồ, ven thung lũng tạo nên bức tranh sơn thủy hữu tình.Hòa Bình cũng là nơi đặt Nhà máy Thủy điện Hòa Bình công suất thiết kếđạt 1.920 megawatt Đây là công trình do Liên Xô viện trợ cho Việt Nam Côngtrình khởi công ngày 6 tháng 11 năm 1979, khánh thành ngày 20 tháng

12 năm 1994 Ngoài tác dụng phát điện, nhà máy này còn có chức năng ngăn lũcho sông Hồng, cung cấp nước tưới tiêu và cải thiện giao thông đường thuỷ

Về nông nghiệp, nhiều vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh nguyên liệutập trung được phát triển và nhân rộng như: vùng cam huyện Cao Phong; vùngmía tím huyện Tân Lạc, Cao phong; vùng gỗ, luồng nguyên liệu ở huyện ĐàBắc, Mai Châu; vùng lạc, đậu ở huyện Lạc Sơn, Yên Thủy; vùng cây dưa hấu ởhuyện Lạc Thủy, Kim Bôi; vùng cây dược liệu ở Tân Lạc, Lạc Sơn; vùng chè ởhuyện Lương Sơn, Mai Châu, Đà Bắc

Nằm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc của Tổ quốc, Hoà Bình là một tỉnh miền núi

có nền "Văn hoá Hoà Bình" nổi tiếng - cái nôi văn hoá của người Việt cổ, làvùng sử thi huyền thoại “Đẻ đất đẻ nước”, là miền đất âm vang tiếng cồng, tiếngchiêng, vùng của những lễ hội giầu bản sắc dân tộc Tây Bắc, của kho tàngphong phú về văn nghệ dân gian các dân tộc: Mường, Dao Thái, Mông Là quêhương của những làn điệu dân ca "ngọt như mật ong, trong như dòng suối";những trường ca, truyện thơ đậm nét văn hóa dân tộc và chất nhân văn tinh tế…

1.2 Khái quát về dân tộc Mường.

1.2.1 Dân số, nguồn gốc lịch sử, phân bổ dân cư

Theo những kết quả của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa thì ngườiViệt và người Mường có chung một nguồn gốc và cùng là những cư dân bản địacủa Việt Nam “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê…đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em một nhà” [1] Có thể nhận thấy, cả hai

Trang 5

dân tộc này đều là con cháu của người Việt cổ - những chủ nhân của nền vănhoá Đông Sơn nổi tiếng Sau nhiều năm của diễn trình lịch sử, do những điềukiện tự nhiên và xã hội nhất định đã phân hoá thành hai dân tộc Mường và Việtnhư hiện nay Cho đến ngày hôm nay, một trong những tồn tại lịch sử là các nhànghiên cứu còn chưa thống nhất được thời gian phân hoá thành hai dân tộc Việt

và Mường Và vì vậy, không thể có khái niệm người Việt có gốc là ngườiMường hay ngược lại: người Mường có gốc từ người Việt Tuy nhiên, do địabàn cư trú gần nhau trong suốt chiều dài lịch sử của nước Việt, mối quan hệ gầngũi, sự giao lưu văn hoá có tính chất truyền thống giữa hai dân tộc là cơ sở củanhiều nét tương đồng trong lịch sử mỗi dân tộc còn được bảo lưu đến ngày hômnay

Không phải ngay từ buổi đầu lịch sử, dân tộc Mường đã có tộc danh nhưngày nay Và đương nhiên trước đây, người Mường cũng không dùng danh từnày làm tên gọi cho dân tộc mình Theo Trần Từ (tức Nguyễn Đức Từ Chi),Mường là từ dùng để chỉ một vùng cư trú của người Mường bao gồm nhiềulàng Mỗi vùng được đặt dưới sự cai quản của một nhà Lang Qua sự tiếp xúcgiao lưu giữa người Mường và người Kinh, người Kinh đã sử dụng từ Mường đểgọi dân tộc này

Cho đến tận bây giờ, Người Mường vẫn từ gọi mình là mol, moăn như ở Hoà Bình, mon, mwanl như ở Thanh Hoá Còn ở Phú Thọ, đặc biệt là ở Thanh

Sơn, nơi người Mường tập trung đông đảo nhất, cũng như Người Mường ởhuyện Yên Lập và một số xã thuộc huyện Thanh Thuỷ, người Mường tự gọi

mình là Mol, Monl Mặc dù những từ này có biến âm hơi khác ở mỗi vùng, mỗi

địa phương nhưng đều quan niệm giống nhau về mặt nghĩa Tất cả những từ mà

người Mường dùng để chỉ dân tộc mình có nghĩa là người Vì lẽ đó mà người

Mường thường tự xưng mình là con Mol hoặc là con monl: con người Còn

Trang 6

quan gì đến tộc danh ngày nay của mình Mặc dù vậy cùng sự biến động của lịch

sử cũng như quá trình giao lưu kinh tế, văn hoá với các dân tộc anh em khác chođến nay từ "Mường" đã được người Mường chấp nhận và coi đó là tộc danh củamình, và hiển nhiên, họ tự nhận mình là người Mường như ngày nay Do đó,Mường đã trở thành tên gọi chính thức và duy nhất của tộc người này để phânbiệt với các dân tộc khác Tộc danh Mường đã được các tổ chức, thể chế, cácnhà nghiên cứu và nhân dân dùng khi tìm hiểu, nghiên cứu gọi dân tộc này:Người Mường

“Người Mường cư trú trên một vùng đồi núi khá rộng nằm giữa vùng ngườiViệt ở phía Đông và vùng người Thái ở phía Tây, chủ yếu là ở tỉnh Hòa Bình vàmột số tỉnh khác như Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ, Yên Bái, Sơn Lacùng với một số tỉnh ở phía Nam.” [2]

Người Mường là một dân tộc sống ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam,

là thành viên của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam Người Mường nói tiếngMường, ngôn ngữ thuộc nhóm Việt - Mường, trong ngữ chi Việt thuộc ngữ tộcMôn - Khmer của ngữ hệ Nam Á

Người Mường tập trung đông nhất ở tỉnh Hòa Bình và các huyện miền núitỉnh Thanh Hóa Dân số của dân tộc Mường tại Việt Nam theo kết quả điều tradân số năm 2009 là 1.268.963 người

Hòa Bình là một trong bốn tỉnh của Việt Nam mà trong đó có người Việt(Kinh) không chiếm đa số “Đến với Hòa Bình là đến với thế giới của ngườiMường, ở đó lấp lánh những địa danh hấp dẫn khơi gợi biết bao nguồn cảmhứng, làm rung động biết bao tâm hồn như Mường Bi, Mường Vang, MườngThàng, Mường Động!” [4] Người Mường (79.197 người, chiếm 63,3% dân sốcủa tỉnh), xét về phương diện văn hóa - xã hội là dân tộc gần gũi với người Kinh

Trang 7

nhất Địa bàn cư trú của người Mường ở khắp các địa phương trong tỉnh, sốngxen kẽ với người Kinh và các dân tộc khác.

1.2.2 Khái quát về đặc điểm văn hóa

Từ xưa đến nay, chính từ cội nguồn là một vùng đất cổ - nơi tổ tiên tiền sửngười Việt đã tồn tại và phát triển "Văn hóa Hòa Bình cổ đại" cách đây hàngchục nghìn năm, trải qua quá trình phát triển, đến nay người Hòa Bình đã xâydựng nên một nền văn hóa đặc sắc - niềm tự hào của nhân dân các dân tộc tỉnhHòa Bình Văn hóa của dân tộc Mường bao gồm văn hóa về vật chất, văn hóa vềtinh thần và văn hóa về xã hội

Văn hóa về vật chất, dân tộc Mường sống tập trung thành bản ở chân núi,bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối Nhà sàn gỗ 4 mái [Ảnh 2; tr 32].Phần trên sàn người ở, dưới gầm đặt cối giã gạo, chứa công cụ sản xuất Tổ chứcgia đình nhỏ phụ hệ

Người Mường thích ăn xôi đồ, cơm tẻ, rau, cá ; uống rượu cần [Ảnh 3; tr.33] và hút thuốc lào [Ảnh 4; tr 33] Rượu là đặc sản nổi tiếng bởi cách chế biến

Văn hóa về tinh thần, người Mường nói tiếng Mường, ngôn ngữthuộc nhóm Việt - Mường trong ngữ chi Việt thuộc ngữ tộc Môn-Khmer của ngữ hệ Nam Á

Người mường theo đạo Tin Lành, Thiên Chúa, Phật giáo nhưng có sự khácbiệt ở người theo đạo Phật là mọi nghi lễ đều phải có chủ lễ là thầy mo chủ trì

Trang 8

Người Mường thờ cúng tổ tiên, thờ Vua Cha Ngọc Hoàng, Phật, Thánh, Quốcmẫu Hoàng Bà, thờ đá, thờ cây, thờ động vật… [Ảnh 8; tr 35].

Người Mường có nhiều ngày hội quanh năm: Sắc bùa [Ảnh 9, 10; tr 36],hội xuống đồng (Khuông mùa) [Ảnh 11; tr 37], hội cầu mưa (tháng 4) [Ảnh 12;

tr 37], lễ rửa lá lúa (tháng 7, 8 âm lịch) [Ảnh 13; tr 38], lễ cơm mới [Ảnh 14; tr.38]

Đối với tang ma [Ảnh 15; tr 39], thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải

và quần áo và đặt trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ áovẩy rồng bằng vải

Đối với hôn nhân, trai gái tự do yêu đương tìm hiểu Việc cưới qua cácbước chạm ngõ, ăn hỏi, xin cưới, đón dâu [Ảnh 16; tr 39]

Văn hóa về xã hội, quan hệ trong làng xóm với nhau chủ yếu là quan hệláng giềng Gia đình hai, ba thế hệ chiếm phổ biến Con cái sinh ra lấy họ cha.Quyền con trai trưởng được coi trọng va con trai trong gia đình được thừa kế tàisản Người Mường theo từng nơi mà có nơi không theo quan niệm con chú conbác mà dù là con chú hay con bác ai ra đời trước đều là anh là chị, phân theotuổi tác chứ không theo thứ hay trưởng Nhưng người vai trên thì vẫn gọi là chúhay cô mà không phân biệt tuổi tác

Trang 9

Chương 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA DÂN

TỘC MƯỜNG Ở TỈNH HÒA BÌNH 2.1 Các thể loại hát của dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình

2.1.1 Hát Xéc bùa

Hát sắc bùa hay xéc bùa (có nghĩa là xách cồng) là lễ hội lớn của ngườiMường, đặc biệt là người Mường miền Hòa Bình, diễn ra hàng năm vào ngàyTết cổ truyền của dân tộc Mường Đây là một hình thức diễn xướng dân gian,gắn với một số nghi lễ trong nông nghiệp nhằm cầu mong một năm mới phát tàithịnh vượng, đất đai màu mỡ, mùa màng bội thu, con người may mắn và dồi dàosức khỏe

Tổ chức những người hát sắc bùa được gọi là phường bùa, số lượng thường

là 12 người tương ứng với một bộ cồng chiêng gồm 12 chiếc, là những ngườibiết đánh cồng chiêng và hát những bài thường (điệu hát dân gian Mường) Thờigian tổ chức hội từ mùng một tết trở đi, kéo dài một tuần lễ, có khi đến nửatháng

Phường bùa do một thầy thường là người có giọng hát hay và có tài ứngtác, đặc biệt là phải biết lựa chọn các thành viên cho phường bùa của mình -làm trưởng nhóm Trang phục dành cho những người sắc bùa cũng không cầu kìnhưng phải đẹp Nữ mặc váy áo Mường là trang phục truyền thống, đeo vòngtay, kiềng, bạc xích, nam mặc áo dài chít khăn đầu rìu

Từ sau ngày mùng hai Tết, phường bùa tiến hành đi sắc các gia đình trongbản và những ngày sau họ có thẻ đi sắc sang các bản làng bên cạnh Phường bùaxuất phát từ nhà để cồng chiêng Trước khi xuất hành, thầy thường đọc lời xuấtphát Đoàn sắc bùa đi theo thứ tự từ anh hát "Rằng thường” đến những ngườixách các loại chiêng cái, chiêng năm, chiêng bảy, chiêng dàm Từ xa các giađình đã biết các phường bùa đang tới nhà mình nên chuẩn bị nghênh tiếp,

Trang 10

thường là được hẹn trước như người Kinh có tục xông nhà Do đã được chuẩn bị

từ trước, các gia đình tập trung đầy đủ bà con họ hàng ở trong nhà để đónphường bùaPhường bùa vừa đi, vừa đánh những bài cồng chiêng khác nhau vàhát những bài tùy hứng như: lên chiêng, bồng một, bồng hai, bồng ba, bồng bốn,lộn cồng Tiếng cồng chiêng vang lên hòa quyện với tiếng hát mừng năm mới,khởi sắc trong giây phút đầu ngày hội Không gian âm nhạc của các điệu cồngchiêng cổ truyền chuyển động theo đường mòn trong làng Phường bùa đi đếnđâu là hàng trăm người dân đi theo xem thật đông vui

Theo tục lệ của người Mường, phường bùa sẽ đi thăm nhiều nhà và hátnhững lời chúc tết [Ảnh 17; tr 40] Trong phường bùa, ngoài những người đánhcồng chiêng và hát còn có hai người khiêng theo một cái thúng để đựng quà,thường là thóc gạo, của các gia đình tặng cho phường bùa

Đến cổng một ngôi nhà, phường bùa sẽ đánh cồng chiêng và hát bài mởcổng [Ảnh 18; tr 40], khi chủ nhà mở cổng mời vào, phường bùa vừa đi vừađánh cồng chiêng và hát những bài hát chúc tụng, ca ngợi cảnh làm ăn thịnhvượng của gia chủ Khi thầy thường hát, chủ nhà chăm chú lắng nghe Nếukhông mời phường bùa lên gác, chủ nhà trao cho thầy thường một thúng thócnhỏ Thầy ngả chiêng đỡ lấy thóc của chủ nhà cho rồi giao lại cho người khiêng.Sau đó thầy hát bài phát rác tạ ơn chủ nhà Sau đó, phường bùa sẽ đến các nhàkhác trong làng

Nếu muốn giữ phường bùa lại, chủ nhà bê ra đặt ở đầu cầu thang một mâmgồm chai rượu, vài cái cốc, hai bát to đựng gạo trên có cắm bốn nén hương, mộtcái đĩa trầu cau rồi mời bùa hát tiếp Thầy thường hát một bài tạ ơn chủ nhà, hát

kể chặng đường mà đoàn bùa đã qua và khen ngợi gia thế chủ nhà

Chủ nhà đứng ở đầu cầu thang hát đáp lại Hai người sẽ hát đối đáp vớinhau, nếu phường bùa hát kém, họ sẽ không được mời lên gác và phải chịu đóibụng, hát mãi vẫn thua, họ sẽ tự động rút lui Ngược lại, nếu hát hay, họ sẽ được

Trang 11

mời lên gác Chủ nhà và thầy thường ngồi đối diện nhau sát cửa sổ Nhữngngười còn lại ngồi thành vòng tròn Họ dùng cơm, uống rượu rồi tiếp tục hát đối,hát giao duyên Sau đó, phường bùa ra về, thầy thường hát chào và chúc chủ nhàsống lâu muôn tuổi Chủ nhà mang quà, bánh, thóc gạo tặng cho phường bùa đểcảm ơn.

Nét đặc sắc và cuốn hút của loại hình diễn xướng dân gian này là tất cả mọihành động, cử chỉ, thái độ đều biểu hiện qua lời hát Mọi trình tự diễn ra trongsuốt buổi hát sắc bùa đều có câu hát tương ứng, người ta không phải dừng lại đểnói hay hướng dẫn Hát mở cổng, hát chúc mừng, hát xin lên nhà, hát đồng ý,hát cảm ơn… Độc đáo nhất là màn hát đối đáp của phường bùa và chủ nhà, thểhiện cái tài và khả năng ứng tác của cả hai bên Những câu hát đều do sự ngẫuhứng của cả hai bên trên nền tảng của truyền thống dân ca Mường và thực tế bốicảnh tại nơi xảy ra cuộc sắc bùa

Hát sắc bùa đối với dân tộc Mường có một giá trị vô cùng thiêng liêng Nó

là di sản văn hóa của người Mường luôn được phát huy và gìn giữ Để rồi cứmỗi năm, khi mùa xuân về trên sắc hồng của hoa đào, sắc trắng của hoa mơ, hoamận thì khắp các nẻo đường của bản Mường đều vang lên những tiếng cồngchiêng và tiếng hát chúc mừng năm mới trong niềm vui dào dạt

2.1.2 Hát thường đang, bọ mẹng, ví đúm

Thường đang, bọ mẹng [Ảnh 19; tr 41] là hình thức hát dân ca trong cácdịp vui, ngày hội của đồng bào Mường, ca ngợi cuộc sống yên bình, no đủ vàyên ấm Với người Mường, đây còn là câu hát tình tứ, giao duyên nam nữ trongnhững đêm hội vằng vặc ánh trăng, hay khi bên bếp lửa nhà sàn bập bùng trongmùa đông buốt giá Những lời ca ấy đều là những câu hát tự duyên, tự nghĩ, như

là câu hát được vỡ ra từ trái tim thể hiện tâm tình, tiếng lòng của con người nơiđất Mường Yên Mông nói riêng và đất Mường Hòa Bình nói chung Qua lời ca,

Trang 12

câu hát trong Thường đang, bọ mẹng chúng ta sẽ hiểu thế giới quan, nhân sinhquan của đồng bào Mường.

Trải qua những giai đoạn phát triển lại chịu dưới nhiều tầng áp bức, nhưngngười Mường vẫn luôn vững tin và thể hiện sự khát vọng về tình yêu, khát vọng

về tự do, thoát khỏi các tầng áp bức, đè nén con người, đề cao cái tôi trong sáng,nhiệt tình qua hát thường đang, bọ mẹng

Có lẽ cũng bởi thế mà lời ca trong thường đang, bọ mẹng không theo mộtkhuôn mẫu có sẵn mà luôn được sáng tạo cho phù hợp với hoàn cảnh, tình cảmcủa người hát Đặc biệt, trong hát giao duyên nam nữ, tùy thuộc vào tài năng củachàng trai, cô gái mà lời hát sẽ thể hiện được thái độ vui vẻ, giận hờn, trách móchay nũng nịu, đằm thắm Chính vì vậy, các chàng trai thường trổ hết tài năngcủa mình học trong dân ca, học người đi trước hay tự mình sáng tác, hát chongười mình yêu thích để bày tỏ tình cảm với cô gái Người Mường sáng tạo rathường đang, bọ mẹng, và với sức sống mãnh liệt nét sinh hoạt văn hóa độc đáo

đó vẫn tồn tại cho đến ngày hôm nay

Cùng với giai đoạn xuất hiện hát thường đang, bọ mẹng còn tồn tại một thểloại dân ca khác là hát ví đúm [Ảnh 20; tr 41] Loại hát này sử dụng thể thơ lụcbát và lục bát biến thể Ví đúm được hát trong các cuộc vui, những buổi gái traigặp nhau muốn bộc bạch tâm tình loại hát giao duyên này một khi đã bén rễ ởvùng Mường nhanh chóng được nhiều lớp người yêu chuộng Tuy ý tứ kém sâu

xa so với các loại dân ca truyền thống như thường đang, bọ mẹng, nhưng lợi thếcủa hát ví đúm là lời hát ngắn gọn, nhanh trí đối đáp đúng hướng, giai điệu baybổng, nhịp chuyển nhanh tác động trực tiếp đến tâm trí người nghe Như:

"Thương nhau như cà đủ muối, không thương nhau chín bạc mười vàng cũngchẳng ưng"

Hát đúm là loại hình hát hội, hát đối đặc trưng của người Mường Đây làloại hát giao duyên (tựa như hát quan họ của người Kinh bắc, hát ví dặm của

Trang 13

người Nghệ Tĩnh, hát si, hát lượn của đồng bào Tày, Nùng) Hát đúm thườngđược những chàng trai, cô gái Mường thể hiện, bởi đó là những giai điệu củatình yêu, thường diễn ra vào mùa xuân khi hoa đào, hoa mận khoe sắc trên bảnMường.

Nội dung hát đúm rất đa dạng và phong phú Nét đặc sắc của loại hình hátđúm là thể hiện sự hiểu biết sâu rộng của hai bên tham gia hát Nội dung đối đáp

có thể là những câu đố, lời ca Trong hội hát, hai bên sẽ cử ra một người đạidiện để hát đúm, phía sau sẽ có người hỗ trợ (hỗ trợ thông tin, câu chuyện) Khihát có nhạc bát âm, hai bên trai gái đối đáp Bên nào không đối đáp được làthua Đây là một hình thức thử tài văn chương, kiến thức của nhau, ướm lời yêuđương "tìm hiểu" bằng nghệ thuật, phải thuộc tục ngữ, truyện tích Hát đúm cònmang những nét riêng biểu hiện phương thức diễn xướng, lối tiến hành âm điệu,thủ pháp phổ thơ, nội dung lời ca Một số lời ca còn phản ánh nội dung nghi lễ,chứa đựng sắc thái riêng, độc đáo của dân tộc mình

2.1.3 Hát ru, hát đồng dao, lễ ca

Đồng dao [Ảnh 21; tr 42] là các lời hát, câu hát, lối nói có giai điệu, có vần

vè thường được trẻ em hát trong lúc chơi đùa, lúc chăn trâu, cắt cỏ, em lớn trông

em bé hoặc người lớn trông em bé

Hát ru con của người Mường [Ảnh 22; tr 42] gọi là: Rằng đều hoặc úi ui,được chia làm hai loại: Rằng đều ban ngày - hát ru ban ngày và Rằng đều banđêm - hát ru ban đêm Hát ru ban ngày chủ yếu có làn điệu: Uí ui và U óm Hát

ru ban đêm có làn điệu: Đập bông bông Hát ru con là những bài đồng dao đượcphổ nhạc hát ru, dỗ dành cho em bé ngủ, nếu đọc thì thành đồng dao, nếu hát thìthành hát ru Vì thế, lời đồng dao, lời các bài hát ru con có thể đọc theo vần,điệu và cũng có thể hát được

Các bài đồng dao Mường khá đa dạng về nội dung và độ dài ngắn khôngtheo niêm luật nào Có bài ngắn, thậm chí rất ngắn, có thể chỉ một đến hai câu,

Trang 14

song cũng có những bài dài Nội dung thường gắn với đời sống, đồ vật xungquanh, theo quan sát, cảm nhận của các em.

Lời và giai điệu các bài đồng dao của người Mường cơ bản được chia làm

4 loại: Một loại chủ yếu được hát trong các trò chơi gắn liền với trò như: đậpnàng Khọt, đập nàng Bạn, đu đu - điển điển Loại thứ hai chủ yếu được dùngtrong hát ru con với mục đích giỗ dành cho con trẻ ngủ Các bài này thường dàihơn cả Hình thức diễn xướng khi ôm con vào lòng cho con bú dỗ dành chúngngủ hoặc bên cánh võng, lúc đưa nôi Người ta thường hay hát ru cho trẻ ngủ.Loại thứ ba rất ngắn, đó là các câu đố dân gian Hình thức nói để đố nhau

Có một thể loại đi kèm với các câu chuyện truyền miệng dân gian khi kếtthường có vài câu nói vần, có thể nói đấy cũng là lối kể chuyện cuối câu chuyện

có kết là vài câu đồng dao hoặc hát ru Đây vừa là dạng kể chuyện, vừa là hát rumang tính răn dạy hay khuyên nhủ về nhân tình thế thái

Các thể loại đồng dao này có cách sử dụng, diễn xướng khác nhau và cótính độc lập tương đối với nhau trong diễn xướng

Các dân tộc khác như người Kinh gần gũi với người Mường, các bài hát ruđược sáng tạo giai điệu dựa trên ý các câu ca dao, nội dung lời thường ngắn.Riêng với người Mường, các bài hát ru chủ yếu được lấy lời từ các bài đồng dao.Các bài hát ru thường dài và có giai điệu đều đều, buồn buồn và rất khó hát caogiọng, hát to, chỉ vừa để dỗ dành cho em bé ngủ

Nội dung lời các đồng dao và hát ru con của người Mường thực chất là loạihình văn học dân gian được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, là sáng tạo tậpthể của nhân dân Do vậy, nó mang trong mình những đặc điểm của văn học,phản ánh thế giới xung quanh theo cảm nhận của trẻ thơ, hướng các em biếtnhận thực những điều tốt đẹp trong cuộc sống, bồi dưỡng nhân cách và ngônngữ và tập tư duy qua các câu đố

Trang 15

Giai điệu các bài ru con của người Mường thường êm êm, đều đều và manmác buồn, có nội dung lời ru như vẽ ra các hình ảnh, sự việc sống động, kể mộtcâu chuyện hay, để cho các bé thả hồn mình vào đó và giai điệu hát miên mandần dần dẫn em vào giấc ngủ lúc nào không hay.

Hát đồng dao và hát ru con của người Mường là loại hình sinh hoạt, diễnxướng văn nghệ dân gian rất thông dụng và phổ biến trong đời sống ngườiMường

Hát đồng dao và nội dung các bài đồng dao của người Mường có các loạihình chính, loại hát cầm nhịp, hát mở trò trong các trò chơi của các em nhỏ, loạidùng trong hát ru con, hát đố nhau, kể một câu chuyện đoạn cuối kết bằng cáccâu đồng dao, hát ru Mỗi một loại hình có cách diễnm xướng khác nhau

Phần lời hay nói rộng hơn là nội dung của các bài đồng dao, hát ru con, câu

đố dân gian thực chất là một loại hình văn học dân gian nên nó mang trong mìnhcác thuộc tính của văn học Trong đó, chức năng phản ánh đời sống, giáo dục,bồi dưỡng nhân cách con người, hướng con người tới những điều tốt đẹp hơntrong cuộc sống

Ở người Mường đặc biệt phải kể đến lễ ca Ðó là những áng mo, bài khấn

do thầy mo đọc và hát trong đám tang Trong ngày vui là dịp để mọi người đượcthưởng thức những áng mo bất hủ sử thi thần thoại, thể hiện cách nhìn nhận củangười Mường về cuộc sống, về vũ trụ có ý nghĩa rất sâu sắc Đồ vật của thầy molàm lễ là những vật được lấy từ thiên nhiên, vì vậy khi lời thầy mo cất lên nhưmột sự giao hòa của đất trời với cuộc sống con người

2.2 Các loại hình múa của dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình

Trong các loại hình nghệ thật dân gian truyền thống, hoạt động diễn xướngcủa người Mường trong các nghi lễ, lễ hội và đời thường luôn kèm theo các điệumúa, trong đó có nhiều loại hình múa dân gian sinh động Chuyện cũ kể rằng:tiếng hát, điệu múa của người Mường có từ lâu lắm rồi, từ thời “Đẻ đất, đẻ

Trang 16

nước” tạo ra đất mường Ngày ấy Dạ Dân gánh một gánh nặng những tiếng hát,điệu múa đi gieo khắp cả vùng quê của người Mường Tiếng hát thường tình tứ,những điệu múa rộ ràng, uyển chuyển hoà cùng với tiếng cồng, tiếng chiêng,ngân vang xa mãi từ mường này tiếp sang mường khác không dứt Ngườimường Bi có múa và biết múa từ đấy.

2.2.1 Múa trong tín ngưỡng làm mỡi

Trước hết phải kể đến các hình thức nghệ thuật của tín ngưỡng làm mỡi.Trong nghi lễ này, nhạc và múa đóng một vai trò hết sức quan trọng Người làmmỡi phải nhập vào mỗi vai diễn phù hợp với tính cách, phải thể hiện được điệu

bộ, dáng đi, giọng nói và các động tác của nhân vật mà mình nhập vào Vì vậy,khi thăng hoa, nhập hồn, họ thực sự như một nghệ nhân điêu luyện Từ nhữngđiệu múa trong nghi lễ ấy mà người dân cũng như các nghệ nhân dân gian đưavào những điệu múa khác trong nghi lễ và sinh hoạt của mình Tương tự nhưvậy là việc thực hành nghi lễ của các ông mo ở các đám tang, đám cúng Nhữngđộng tác vũ điệu mà các ông mo làm khi cúng như múa kiếm, đuổi trừ ma, dẫn,đưa, vỗ về hồn người chết đều là những hành động diễn xướng phong phú, sau

đó được khai thác trong đời sống văn hoá nghệ thuật của người Mường

2.2.2 Múa Trống đồng, múa đâm đuống

Múa trống đồng là một hình thức biểu diễn đánh trống đồng được cách điệunhư là điệu múa “Đánh” trống ở đây thực chất là dùng dùi trống để tạo ra những

âm vang trầm bổng của trống đồng Lối biểu diễn này cũng thấy ở người MườngPhú Thọ trong các trò diễn diễn chàm thau (đâm trống đồng) và đâm đuống.Điệu múa này có nhiều người tham gia và có sự kết hợp nhịp điệu để tạo ra một

âm thanh trầm bổng mà hùng tráng của trống đồng [Ảnh 23; tr 43]

Người Mường Hoà Bình cũng có múa đâm đuống [Ảnh 24; tr 43], cònngười Thái Mai Châu thì gọi là múa keng loóng Điệu múa này động tác đơngiản nhưng ngoài việc đâm vào đuống, những người múa còn nhảy múa xung

Trang 17

quanh trước khi giã vào đuống như mô phỏng những động tác giã gạo ngàythường.

2.2.3 Múa trong tang lễ

Một đặc điểm nổi bật về múa ở mường Bi là các thể loại múa đều đượcđưa vào sử dụng phục vụ trong tang ma Cần lưu ý, trong đám tang, đặc biệt cácđám tang nhà lang, mọi thành phần, mọi hình thức sinh hoạt văn hoá dân giancủa dân tộc đều đưa vào nghi lễ Hay còn nói cách khác có thể xem đám tang làthời điểm quy tụ sự tham gia có hiệu quả nhất các thành phần cơ bản văn hoádân gian: Nghệ thuật biểu diễn: Múa, nhạc, hát…; văn học: mo; nghệ thuật tạohình: trang trí, đạo cụ, quần áo…; môi trường tiến hành tang lễ: trong nhà sàn,cánh đồng…; các món ăn dân gian cơ bản…Như vậy nghệ thuật múa trong tang

lễ chiếm một vị trí khá quan trọng, một thành phần không thể thiếu được Nhữngđiệu múa không còn được gọi là múa nữa mà chuyển sang gọi là tế

2.2.4 Múa cờ

Múa cờ là một hình thức múa tế lễ, thường chỉ diễn ra ở nhà lang Nhà langchia ruộng cho những người tham gia múa cờ và coi họ là lính múa nhà lang.Tuỳ từng loại người được hưởng phần ruộng phu, ruộng công hay ruộng nóc nhàhoặc ruộng nhà ậu Bởi vậy, khi nhà lang có tang, những người dân này phải đếnhầu hạ phục dịch suốt thời gian làm ma và có nhiệm vụ bảo vệ đưa người nhàlang sang thế giới bên kia an toàn, không bị ma quỷ quấy nhiễu Đây là điệumúa tập thể có số người tham gia khá đông, khoảng từ 60 đến 70 người trở lên,được tổ chức chặt chẽ có quy mô lớn Do đó, nhìn số lượng người múa, người

ta cũng có thể đoán biết được sự giàu có của nhà lang ấy thế nào Điệu múa biểuthị uy quyền nhà lang thông qua những người lính múa Người múa theo hiệulệnh, dưới sự chỉ đạo của cai bách (người coi lính) múa theo nhịp chiêng, trống,

gõ từng tiếng một

Trang 18

- Hiệu lệnh: Quân ta người nào ở đâu, chú ý đứng nghiêm, cờ cắm trướcmặt Chuẩn bị, bắt đầu.

- Nhấc cờ – Bật cờ xuống – Quấn cờ – Dựng cờ lên – Vác cờ lên vai –Quay mặt bên phải (Người múa chạy quanh nhà xe, theo hướng phải ba vòng,đường chạy dích dắc hình chữ A)

- Đứng nghiêm (dừng lại) – Giơ cờ lên – Bật cờ xuống – Thả cờ – Dựng cờlên – Cắm cờ trước mặt Hết

Múa cờ được làm lại nhiều lần, trang phục quần áo kiểu lính mầu đỏ Địađiểm múa ở khu vực quanh chỗ để nhà xe ngoài cánh đồng Điệu múa đòi hỏi sựđồng đều và nghiêm túc, không nhốn nháo lộn xộn

áo chùng trắng, yếm đỏ, hai tay đeo vòng hạt cườm, tay phải cầm quạt cọ múa,tay trái cầm que gậy, đầu đội mũ quạt trong trí tua hạt cườm; phía trước đặt mộtchiếc ghế mây

Động tác múa còn đơn giản, phù hợp với mọi lứa tuổi Người múa quaymặt phía thầy mo, tay cầm cán quạt che trước ngực, cách ngực khoảng 4cm, taycòn lại cầm gậy chống đầu xuống đất Múa theo tiếng trống, tiếng chiêng vànhịp bài mo

Sau mỗi lần thầy mo đọc xong 1 câu, hay một đoạn mo, tay ông lại giơ caolên rung chiếc chuông Người múa từ từ đưa thẳng tay quạt về phía trước, hơi xê

Trang 19

ra phía bên cạnh để quạt ngang tầm mặt Khi khuỷu tay đưa ra gần thẳng thì lấy

đà guộn nhẹ quạt Đầu quạt quay dần chúc vào phía người, khuỷu tay kéo vàođưa quạt về vị trí ban đầu

Múa theo thứ tự từ dâu cả đến hàng dâu tiếp theo lần lượt cho đến hết Múakiểu đuổi nhau hình sóng lượn, người sau làm động tác chậm hơn người trướcmột chút Cứ múa như vậy khoảng 5-7 lần thì đồng loạt chuyển tay cho đỡ mỏi.Các đạo cụ gồm có:

- Quạt: Làm bằng tàu lá cọ, lá tách nhỏ dùng làm sợi đan theo kiểu xoáytrôn ốc tạo dáng quạt hình tròn

- Một chiếc gậy dài 1,5 m còn gọi là tôl lại, làm bằng cành tre thẳng (Gậy

này thường dùng để bôi sáp làm trơn sợi trên khung cửi) Đầu gậy buộc một cáikéo một chiếc lá tay ma- loại lá dây leỏơ rừng trông giống hình tay người.Người buộc kéo và lá tay ma phải do bà mụ trong ban tang lễ buộc

- Một chiếc ghế hình trụ, mặt trên nhỏ hơn mặt đáy làm bằng mây, song vàtre Ghế đặt trước những người múa

Múa quạt ma tỏ rõ ân nghĩa và tình cảm thiêng liêng của người sống vớingười đã khuất Dâu hiền quạt mát cho linh hồn người chết thanh thản trước khi

đi sang thế giới khác Do vậy điệu múa này luôn luôn bám sát quan tài, đượcthực hiện ở hai nơi: trong nhà sàn và ngoài cánh đồng.Múa quạt ma trong lễrước nhà xe, về động tác cơ bản giống như trong nhà sàn, chỉ thêm bước đi(chân đi miết trên mặt đất, bước đi dò dẫm) và tay trái vác gậy trên vai

2.2.6 Múa dâng lễ vật

Múa dâng lễ vật còn gọi là lễ tế vật, được thực hiện ở trong tang lễ Đâycũng là dịp biểu lộ lòng thành kính của những người còn sống đối với người đãmất Tất cả những món ăn dân gian truyền thống ngon nhất đều được đưa làm lễvật cũng tế hương hồn người chết.Tham gia múa tế vật gồm những chàng trai

Trang 20

trong mường Số người tham gia múa nhiều hay ít tuỳ thuộc vào gia đình có đámtang giàu hay nghèo, thường thường có 12 thanh niên tham gia.

Động tác múa dâng lễ vật đơn giản Hướng mặt nhìn về phía bàn thờ hoặcphía nhà xe Người múa hai tay nâng bưng mâm lễ vật ngang tầm trán, dâng vềphía trước Đội hình cứ 3 người một hàng, dàn hàng ngang mang cùng một thứ

lễ vật tiến đến bàn thờ, vái ba vái rồi từ từ lui về vị trí cũ Lần lượt sau đó đếnhàng hai, ba, bốn… làm như hàng một, chí có khác mang thứ lễ vật khác, baogiờ hết lễ vật mới thôi Điệu múa dâng lễ vật phải hết sức đều, nghi thức trangtrọng Trang phục trong điệu múa là đầu vấn khăn trắng, áo dài mầu nâu nhạt(không đội mũ) Múa trên nhà sàn, và khi có lễ rước nhà xe [Ảnh 28; tr 45]

2.2.7 Múa mặt nạ

Múa mặt nạ còn gọi là tế mặt mẻ Điệu múa nhắc lại cảnh sinh hoạt của tổtiên xã xưa theo trí tưởng tượng, cùng diễn trong tang lễ Tham gia múa lànhững chàng trai Mường khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, thông minh và có tài bắtchước giọng Động tác múa đơn giản Người múa đeo mặt nạ ( Những mặt nạmang hình thù mặt người, hoặc loài vật như khỉ, gà, chó, trâu bò,…) Động tác

cơ bản theo hình thức mô phỏng, bắt chước các loài vật, có thể múa tuỳ hứng vàđược phép ứng tác tại chỗ Người diễn lúc đứng, lúc quỳ, lúc thì chống xuốngđất cả hai tay, quay bên phải, quay bên trái Có lúc nằm lăn, hò reo rồi đứng lênnhảy múa bằng cách hai tay khua lên trời rất say sưa, thoả mãn Lại có lúc ngườimúa chạy vòng tròn rồi ôm nhau quay, hoặc nhấc bổng nhau lên khỏi mặt đất….Nhìn chung các loại tế nêu trên ( mà chúng tôi gọi là múa) các động tác vũđạo còn đơn giản, lại bị bó trong môi trường diễn ra tang lễ, bị quy định chặt bởicác nghi thức không khỏi làm hạn chế người múa, ít gây xúc cảm thẩm mỹ nghệthuật Đa số các điệu múa là dạng diễn xướng nghi lễ phong tục và có tính chấttrò diễn ở các ngày hội Mường

2.3 Các nhạc cụ dân gian của dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình

Trang 21

Ngoài sáo, nhị, trống, kèn,… dân tộc Mường còn có những loại nhạc cụ nổitiếng.

2.3.1 Cồng chiêng

Cồng chiêng là nhạc cụ đặc sắc Nói đến xứ Mường không thể không nhắcđến cồng Mường [Ảnh 29; tr 46], vật tượng trưng cho sự phồn thịnh về tinhthần lẫn vật chất Cồng Mường không khi nào vắng mặt trong các lễ hội dângian của bốn Mường lớn xưa là: Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng,Mường Động ở Hòa Bình với hội cồng chiêng của những người phụ nữ dân tộcMường Vốn là những người hàng ngày chân lấm tay bùn, nhưng trong ngày hộiphụ nữ Mườngmượt mà trong trang phục truyền thống đồng bộ của dân tộcmình với khăn trắng, áo xanh, váy đen nổi bật giữa không gian linh thiêng củađất trời vào xuân Cồng chiêng tham gia hầu hết vào mọi sinh hoạt hàng ngàycủa cộng đồng như hội Sắc bùa, lễ cưới, lễ tang, cuộc đi săn, kéo gỗ, mừng nhàmới, hội xuống đồng, khi thiên tai địch hoạ Đặc biệt trong lễ hội mùa Xuân ởHoà Bình thường có những phường Chiêng, phường Cồng đi chúc Tết các giađình ( gọi là phường Sắc Bùa ) [Ảnh 30; tr 46] Trong sinh hoạt dân gian nổi lên

lễ xướng trường ca Đẻ đất - Đẻ nước vừa diễn tả, giải thích nguồn gốc vũ trụ,con người, muôn loài với quan niệm linh thiêng đầy chất huyền thoại

Sau những nghi lễ cầu mong mùa màng bội thu, nhân khang, vật thịnh, đếnphần hội là các đội cồng chiêng đến từ nhiều bản làng khác nhau tạo nên mộtdàn hòa âm trầm hùng cùng các trò chơi dân gian khác Mỗi người phụ nữ cómột chiếc cồng, tay này xách quai đeo cồng, tay kia cầm dùi gõ có quấn vải đỏmột đầu, gõ vào núm cồng theo nhịp điệu và tiết tấu của bài

Cồng chiêng biểu diễn theo hai hình thức là dàn hàng ngang đứng đánh tạichỗ [Ảnh 31; tr 47] hoặc vừa đi theo vòng tròn [Ảnh 32; tr 47] Lễ hội cũng làdịp người Mường trở về với cội nguồn Mường Thàng là nơi có mật độ cồngchiêng rất lớn, nhà nào cũng có ít nhất vài ba chiếc, nhiều nhất là một dàn 12

Trang 22

chiếc Âm nhạc cồng chiêng có mặt trong nhiều sinh hoạt của cộng đồng Mường

và được tổ chức đánh theo bài bản nhất định Trong khung cảnh mường tiên TâyBắc, âm hưởng ấy lắng đọng vào tâm trí mỗi người đến khó quên

Nói đến cồng chiêng phải nhắc đến dàn cồng sắc bùa Mường gồm nhiềuchiếc cồng Dựa vào chức nǎng âm nhạc người ta đặt riêng cho từng chiếc cồnghoặc từng nhóm cồng như:

- Chiêng Cái hoặc chiêng Gọi là chiếc cồng đánh mở đầu bài nhạc cồng

- Chiêng Boòng Beng là một đôi cồng cỡ nhỏ có âm vang cao nhất

- Chiêng Đủm là đôi cồng trung

- Chiêng Boòng Beng và chiêng Đủm diễn tấu giai điệu Có nơi gọi 4 chiếcnày là chiêng Đom hoặc chiêng Dóng

- Chiêng Dàm là chiếc cồng to có âm trầm nhất

- Chiêng Khộ là nhóm cồng to, có âm trầm, tham gia diễn tấu chùm âm bènền

Cồng Mường Hòa Bình là loại nhạc cụ tự thân vang, bằng đồng ở thànhcồng có hai lỗ để luồn dây quai Kích cỡ các ống to nhỏ khác nhau Loại nhỏ cóđường kính khoảng 20 cm, nặng 0,7 – 0,8kg Loại to có đường kính 50 – 60 cm,nặng 5 – 6 kg Số lượng đầy đủ của dàn cồng xưa là 12 chiếc Ngày nay tathường gặp những dàn cồng có số lượng ít hơn

Hàng âm của các dàn cồng Mường không đồng nhất, tổ chức cao độ tronghàng âm giữa các dàn không cố định Có nghĩa là mỗi dàn cồng có một hàng âmriêng Những chiếc cồng trầm (chiêng Dàm) là những chiếc cồng không định

âm Còn những chiếc cồng cao (chiêng Dóng) có độ cao tương đối, cách nhau từquãng 2 đến quãng 4

Âm chất của cồng có mầu sắc kim khí, ngân nga, vang xa Với cường độlớn, âm thanh cồng nổi rõ bồi âm, cồng càng trầm bồi âm càng rõ Những cồng

Trang 23

đánh giai điệu (chiêng Dóng) có âm thanh thánh thót, tươi sáng những chiêngDàm đánh bè đệm có âm thanh ấm, nặng nề, hùng tráng, ngân xa.

Dàn cồng sắc bùa Mường do các nữ cồng đánh và một người đàn ông (gọi

là thầy Thường) tham gia hát Khi diễn tấu mỗi người xách một cồng xếp theohàng một vừa đi vừa đánh cồng Thầy Thường đi trước, cuối hàng là một người

đi theo để nhận quà tặng Có thể đứng tại chỗ hoặc ngồi đánh cồng, tùy theo tục

lệ của từng lễ thức.Dàn cồng được người Mường quí trọng, coi như vật gia bảotrong nhà và đem ra trình diễn vào những ngày tết đón xuân với phong tục sắcbùa Ngoài ra trong ngày lễ cưới, lễ làm nhà mới, đón khách quí v,v… cũngkhông thể thiếu âm thanh của dàn cồng

2.3.2 Sáo Ôi

Ngoài loại nhạc cụ Cồng chiêng, Sáo Ôi [Ảnh 33; tr 48] cũng là loại nhạc

cụ được người Mường tôn kính, yêu mến và quý trọng Người Mường thường sửdụng Sáo Ôi để đệm cho hát, như vậy Sáo Ôi không những chỉ sử dụng để trìnhdiễn cho độc tấu, mà Sáo Ôi còn được sử dụng để đệm cho hát các bài dân caMường Sáo Ôi là một loại nhạc cụ luôn được người Mường cất giữ, bảo tồn vàquý trọng, cây Sáo Ôi được người Mường gọi bằng từ (Ống Ôi hay Kháo Ôi).Sáo Ôi là một loại nhạc cụ có xuất sứ từ dân tộc Mường, nó đã được thế hệ ông cha của dân tộc Mường sáng chế ra một cách khéo léo, tài tình và đã đượccác bậc nghệ nhân truyền dạy từ đời này, qua đời khác, cho đến tận ngày hômnay cây Sáo Ôi vẫn đang được tồn tại trong đời sống sinh hoạt của ngườiMường, bản thân nó luôn được các thế hệ ông cha giữ gìn, bảo tồn và phát triển.Cho đến ngày nay Sáo Ôi được nâng lên một tầm cao mới, nó có thể biểu diễncác tác phẩm trong nước và ngoài nước Về tính năng nhạc cụ cây Sáo Ôi ngàynay đã được đổi thay nhiều so với Sáo Ôi cổ

Cây Sáo Ôi cổ nó được sinh ra bởi chính với nền âm nhạc cổ truyền của đấtnước ta, âm lượng của Sáo Ôi cũng như âm của các sáo dọc khác, bởi nó được

Trang 24

làm cùng từ một loại cây nứa Song vì ống Ôi dài hơn, cấu tạo của nó chỉ có 4

lỗ bấm và 5 nốt nhạc là: Hò; Sự; Sang; Xê; Cống và lên quãng cao (quãng 8)cũng chỉ có thế Do vậy, tiếng Sáo Ôi phát ra man mát, dịu dàng, êm êm, có mộtsắc thái riêng biệt của nó Sáo Ôi khác với Sáo trúc, Sáo Ôi thổi được các lànđiệu dân ca Mường và các loại nhạc trữ tình, tiếng Sáo Ôi rất phù hợp với chấtdân ca, chữ tình của người Mường Tiếng Sáo Ôi của người Mường được ví thaycho tiếng gọi người yêu, tiếng gọi của tình yêu

Sáo Ôi là một loại nhạc cụ hơi được làm từ thân cây nứa và có xuất xứ từnhững câu truyện dân gian của người Mường Sáo Ôi mang đậm nét văn hóa củadân tộc Mường, là một loại nhạc cụ mang hình giáng đơn sơ, có âm thanh hếtsức đặc biệt Từ bản chất âm thanh của cây Sáo Ôi được phát ra nghe thật não

nề, thương nhớ, nghe đâu đó văng vẳng xa xa lại gần gần, thì thầm, lúc to lúcnhỏ, âm thanh đó làm cho người nghe luôn luôn thương, luôn luôn nhớ cái tiếngSáo Ôi

Tiểu kết

Trong chương 2, tôi đã nghiên cứu, tìm hiểu về văn nghệ dân gian của dântộc Mường ở tỉnh Hòa Bình Trong đó, tôi đã được đi sâu tìm hiểu về các thểloại múa, loại hình múa cũng như các nhạc cụ của dân tộc Mường Trên cơ sở

đó, rút ra được những đánh giá về văn nghệ dân gian của dân tộc Mường cũngnhư đưa ra một số biện pháp để bảo tồn và phát huy giá trị văn nghệ dân giancủa dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình

Ngày đăng: 11/04/2018, 01:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w