1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về văn nghệ dân gian của dân tộc lô lô tại đồng văn,ha giang

34 421 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các tộc người thiểu số ở nước ta,dân tộc Lô Lô có dân số 4.541người,cư trú tại 30 trên tổng số 6 tỉnh,thành phố vào năm 2009, cư trú chủ yếu ởcác huyện Đồng Văn, Mèo Vạc tỉnh Hà Gi

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Phần 1 KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI LÔ LÔ TẠI ĐỒNG VĂN, HÀ

1.1.Đặc điểm điều kiện tự nhiên ,dân cư và đời sống kinh tế của người Lô

Lô tại Đồng Văn, Hà Giang 3

1.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 3

1.1.2 Dân cư,địa bàn cư trú 4

1.3.3 Văn hóa tinh thần 11

1.3.4 Văn hóa xã hội 13

PHẦN 2 VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA NGƯỜI LÔ LÔ TẠI ĐỒNG VĂN,

Trang 2

PHẦN 3 ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP ĐỂ QUẢN LÝ, BẢO TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA VĂN NGHỆ DÂN GIAN NGƯỜI

LÔ LÔ TẠI ĐỒNG VĂN, HÀ GIANG 24

3.1 Đánh giá các giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc Lô Lô tại Đồng Văn,

Trang 3

MỞ ĐẦU

Việt Nam - Là một quốc gia có 54 dân tộc cư trú ở mọi miền đất nước,với cội nguồn lịch sử, tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán mang những đặctrưng khác nhau nên đời sống văn hoá nói chung cũng rất đa dạng Mỗi dân tộcđều có những đóng góp tích cực vào việc làm phong phú cho vốn văn hoá củađất nước Việt Nam Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, mỗi dântộc đã tạo dựng cho mình một kho tàng văn hóa đồ sộ, một truyền thống văn hóariêng để phân biệt với các dân tộc khác Những giá trị văn hóa đó tạo nên bảnsắc văn hóa tộc người, làm thành những chuẩn mực để phân biệt tộc người nàyvới tộc người kia

Trong các tộc người thiểu số ở nước ta,dân tộc Lô Lô có dân số 4.541người,cư trú tại 30 trên tổng số 6 tỉnh,thành phố vào năm 2009, cư trú chủ yếu ởcác huyện Đồng Văn, Mèo Vạc (tỉnh Hà Giang), Bảo Lạc (tỉnh CaoBằng,Mường Khương (Lào Cai) là một trong những tập xã đông người Lô Lô Cũng như nhiều dân tộc khác,dân tộc Lô Lô có bề dày truyền thống vănhóa và rất giàu về vốn văn hóa dân gian.Với văn hóa dân gian ấy ra đời cùng với

sự hình thành của dân tộc,được nuôi dưỡng trong môi trường sinh thái tựnhiên,môi trường kinh tế xã hội

Một trong những nét tiêu biểu về văn hóa nghệ thuật của người Lô Lô làvăn nghệ dân gian.Người Lô Lô coi dân ca của dân tộc mình như một món ăntinh thần khong thể thiếu trong cuộc sống.Văn nghệ dân gian của người Lô Lô

đã tạo nên sự gắn kết cộng đồng,có mặt trong đời sống sinh hoạt hằng ngày củangười dân nơi đây

Tôi là sinh viên chuyên nghành quản lý văn hóa , tự nhận thấy cần phải

có trách nhiệm và nghĩa vụ giúp nền văn hóa Việt Nam được bảo tồn, pháttriển,bản thân cần phải tìm hiểu về lịch sử nguồn gốc văn hóa dân tộc,đặc biệt lànhững dân tộc ít người thường ít được nhận sự quan tâm của xã hội,từ đó bảotồn giữ gìn và phát huy các truyền thống của dân tộc

Trang 4

Và sau học phần văn hóa dân tộc thiểu số,tôi đã được giảng viên Trần ThịPhương Thúy trang bị cho những kiến thức,kĩ năng cơ bản để tôi có thề hoànthành việc tìm hiểu văn nghệ dân gian của dân tộc Lô Lô.

Từ những lí do trên tôi quyết định “Tìm hiểu về văn nghệ dân gian của dân tộc Lô Lô tại Đồng Văn,Ha Giang” làm đề tài cho bài tiểu luận của mình

Trang 5

Phần 1 KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI LÔ LÔ TẠI ĐỒNG VĂN, HÀ GIANG

1.1.Đặc điểm điều kiện tự nhiên ,dân cư và đời sống kinh tế của người

Lô Lô tại Đồng Văn, Hà Giang.

1.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

Đồng Văn là một huyện miền núi vùng cao của tỉnh Hà Giang, nằm ở điểmcực Bắc của Tổ quốc Việt Nam Huyện Đồng Văn có vị trí địa lý trong tọa độ từ

23006' đến 230 -21' - 17'' vĩ bắc, 1050 - 24'-40'' kinh đông, phía Bắc và Tây giápnước cộng hoà nhân dân Trung Hoa với chiều dài đường biên giới quốc gia52,5km, phía Nam giáp huyện Yên Minh, phía Đông giáp huyện Mèo Vạc.Huyện có 18 xã và 1 thị trấn

Huyện có diện tích tự nhiên là 44.666 ha, trong đó 11.837 ha là đất sảnxuất nông nghiệp Diện tích núi đá chiếm 73,49% Địa hình phức tạp, có nhiềunúi cao, vực sâu chia cắt Nhiều ngọn núi cao như Lũng Táo 1.911m, Cán Tỷ1.491 m án ngữ phía Tây và phía Nam với dãy Mã Pì Lèng dựng đứng bên bờsông Nho Quế làm cho địa hình khó khăn về đi lại, giao lưu, tạo nên sự cách biệtgiữa các vùng và trong sự nghiệp mở mang, phát triển kinh tế, văn hoá Độ caotrung bình 1.200m so với mặt nước biển Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông Nhiệt độ trunh bình hàng năm từ 170 - 190C Do địa hình núi cao, chia cắtnên tính chất khí hậu khắc nghiệt, nhiều vùng khác nhau (khí hậu tiểu vùng).Lượng mưa hàng năm trung bình từ 1.600mm đến 2.000 mm Một năm chia làm

2 mùa: Mùa mưa từ tháng 5 - 10, vào mùa này mưa lớn, núi đá có độ dốc caoxói lở mạnh, chia cắt, đi lại khó khăn Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 nămsau, thường có sương mù, sương muối Ở một vài tiểu vùng nhiệt độ có lúcxuống tới 40 - 50 như ở Lán Xì, Phó Bảng Thời tiết khí hậu khắc nghiệt vàomùa đông (tháng 11,12) nhiều ngày có tuyết và sương muối phủ Mùa đông ít

Trang 6

mưa, khô lạnh, địa hình kiến tạo núi đá vôi, rừng nguyên sinh cạn kiệt, khí hậuthuỷ văn khắc nghiệt làm cho khan hiếm nguồn nước sinh hoạt và sản xuất, gâykhó khăn cho cuộc sống của con người

Đồng Văn có con sông lớn nhất là sông Nho Quế, bắt nguồn từ các dẫy núiphía Tây Bắc của huyện, chảy qua Malé Đồng Văn sang Mèo Vạc và Bắc Mêrồi đổ vào sông Gâm Sông Nho Quế là nguồn sinh thuỷ quốc tế trong phát triểnthuỷ điện và tưới tiêu cũng như nước sinh hoạt và điều hoà khí hậu, mùa đôngdòng sông đầy ắp sương mù Ngoài ra còn có các dòng suối nhỏ như Lũng Táochảy về Yên Minh, suối Đồng Văn, suối ở Phó Bảng, Phố Là mùa mưa mới cónước Quá trình tạo sơn tự nhiên lâu đời trên địa bàn hình núi đá vôi để lạinhững thắng cảnh đẹp cho Đồng Văn Địa hình đá vôi cũng làm cho Đồng Vănthiếu nước sinh hoạt và tưới tiêu nghiêm trọng Thời tiết khí hậu Đồng Vănmang tính ôn đới, thích hợp trồng các loại cây ăn quả và cây thuốc như: đỗtrọng, huyền sâm, xuyên khung, ý dĩ, thảo quả Đồng Văn có giống chè ngon nổitiếng phù hợp với vùng đất Lũng Phìn

Rừng Đồng Văn có thảm thực vật phong phú, thích hợp cho sự phát triểnnhiều loại như: cây dẻ, sồi, thông đá, pơmu nhưng do bị khai thác bữa bài nên đãcạn kiệt Động vật có các loại như: sóc, gà lôi, nhím, trăn, rắn, tê tê Do khôngcòn rừng và nạn săn bắn nên nhiều loài gần như tuyệt chủng Tài nguyên khoángsản đến nay chưa phát hiện ra loại nào có trữ lượng lớn và giá trị cao Tuy nhiênđây cũng là vùng đất ấn tượng với những địa danh như Cột cờ, Lũng Cú, nhữngphong tục tập quán riêng của người dân, với những dãy núi đá tai mèo, với ditích lịch sử nhà Vương Tất cả được hội tụ tạo nên cao nguyên đá Đồng Vănmang những giá trị địa lý, môi trường đặc sắc nơi cực Bắc Tổ quốc

1.1.2 Dân cư,địa bàn cư trú

Người Lô Lô có nhiều dòng họ.Người trong họ thường cộng cư với nhauthành một làng.Có hai nhóm:Lô Lô hoa hay Di trắng (bình dân) và Lô Lô đenhoặc Di đen (quý tộc)

Trang 7

Ở Việt Nam,năm 1999 có 3.307 người Lô Lô,cư trú chủ yếu ở các huyệnĐồng Văn,Mèo Vạc (tỉnh Hà Giang),Bảo Lạc (tỉnh Cao Bằng),Mường Khương(Lào Cai).[1,Tr264]

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009,người Lô Lô ở Việt Nam códân số 4.541 người,cư trú tại 30 trên tổng số 6 tỉnh,thành phố.Người Lô Lô cưtrú tập trung tại các tỉnh : Cao Bằng ( 2.373 người,chiế 52,3 % tổng số người Lô

Lô tại Việt Nam ),Hà Giang (1.426 người),Lai Châu (617 người)

1.2 Khái quát về tộc người và nguồn gốc lịch sử của người Lô Lô tại Đồng Văn, Hà Giang

ở Việt Nam và Thái Lan

 Ngôn ngữ

Trang 8

Người Lô Lô nói tiếng Lô Lô (hay tiếng Di), là một ngôn ngữ thuộc ngữtộc Tạng-Miến trong ngữ hệ Hán-Tạng Tiếng Lô Lô có chữ viết riêng theo vần(âm tiết) Chữ viết của người Lô Lô trước kia là chữ tượng hình, nhưng hiện naykhông dùng nữa Theo Ethnologue, nhóm các ngôn ngữ Di tại Trung Quốc baogồm 29 ngôn ngữ có quan hệ gần gũi với nhau.

Khoảng thế kỷ 14 người Lô Lô đã có chữ tượng hình với 140 bộ thủ.Người ta dùng phương pháp ghép bộ thủ để diễn đạt nghĩa Chữ được ghi trêncác tấm gỗ mỏng, trên da thú hoặc loại giấy dày, thô Tới nay chỉ có một số giađình còn giữ lại được một vài mảnh có ghi lại loại chữ đó mà ít ai đọc được

1.2.2 Nguồn gốc lịch sử

Dân tộc Lô Lô có tên tự gọi là Lô Lô, đây cũng là tộc danh chính thứcdùng trong các văn bản Nhà nước Người Lô Lô có 2 nhóm đại phương, do trangphục mà gọi để phân biệt là Lô Lô hoa, Lô Lô đen còn chính Người Lô Lô gọitheo tiếng dân tộc mình có khác nhau chút ít là do từ ngữ âm vùng địa phương

cư trú, nên tên tự gọi thường thấy là: Mùn Dì, Màn Dì, Màn Chỉ (có nghĩa làngười Di, có nguồn gốc từ Trung Hoa) Còn có tên gọi do dân tộc khác gọi: La

La, Qua La, Lu Lộc Màn, Ô Man

Nguồn gốc Người Lô Lô từ phương Bắc xuống (do những điều kiện xãhội), nhưng họ có mặt từ rất sớm ở vùng biên giới VIệt Trung, cực Bắc của ViệtNam, trên các vùng núi Họ sống tụ cư thành bản địa và định cư suốt dọc cáctỉnh cực Bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Tuyên Quang, Lai Châu Trong gần

100 năm lại đây, Người Lô Lô cũng đã sống quần cư cùng các dân tộc anh emtrên núi cao thành thôn bản với người Mông, Dao, Giáy, Tày…

Người Lô Lô thuộc ngữ hệ Hán – Tạng, nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến.Trong các dân tộc ngữ hệ Hán – Tạng ở nước ta, người ta còn tìm thấy vết tíchcủa chữ tượng hình Lô Lô có vào khoảng thế kỉ XIV, chữ viết trên da thú, gỗmỏng…Hiện có một số gia đình còn giữ gìn vết tích chữ cổ, nhưng không một aiđọc hiểu được Nó đã biến mất từ lâu trong đời sống dân tộc Lô Lô.Tuy ở sát

Trang 9

biên giới Trung Hoa, không như một vào dân tộc khác, đa số Người Lô Lôkhông dùng chữ hán Dân tộc Lô Lô có khoảng 4.541 người.

1.3.Khái quát về đặc điểm kinh tế và văn hóa của người Lô Lô tại Đồng Văn, Hà Giang

1.3.1.Kinh tế truyền thống

Canh tác nông nghiệp là hoạt động sản xuất chính của Người Lô Lô Họ

là cư dân có truyền thống làm ruộng, do điều kiện nơi ở nên họ chủ yếu canh táctrên ruộng bậc thang có hệ thống tưới tiêu Người Lô Lô làm nường cày ở nơiđất bằng, nương cuốc ở nơi có độ dốc cao Người Lô Lô xem ngô là lương thựcchính nên việc phát triển cây ngô chiếm vị trí quan trọng.Họ rất coskinh nghiệmtrong thổ canh hốc đá Nương thổ canh hốc đá để trồng ngô Trên triền núi đá,

họ phá vỡ từng cụm đá tạo thành các hốc to nhỏ Nếu có đất sẵn thì gieo trồng,không có thì mang đất đổ vào Mỗi hốc chừng dăm hạt ngô Họ đã biết dùngphân chuồng nên các hốc đá khô cằn nhỏ chừng 2,3 mét đến nửa mét đã thànhvạt ngô, xanh tốt Người Lô Lô biết tận dụng nương rẫy để thâm canh ruộnglúa,hốc ngô Ngoài ra họ còn trồng xen canh các loại rau, đậu, củ, các loại khoai:

sọ, lang, môn, củ từ Họ cũng trồng bồng và có nghề dệt vải Trước kia, Người

Lô Lô có những nương thuốc phiện,nay đã bỏ

Người Lô Lô dùng liềm cắt lúa Dụng cụ nông nghiệp có cày (trâu bòkéo), bừa, cào cỏ, cuốc, dao phát, liềm…Biết dùng phân ủ và phân lá VớiNgười Lô Lô công việc hái lượm không giữ vai trò quan trọng Vì sống định cư,địnhcanh nên việc chăn nuôi nhà nào cũng phong phú: lợn, gà, dê, ngựa, trâu,bò…phần lớn thả rông tự kiếm ăn, một nửa ngày mới cho ăn thêm Đồng bào Lô

Lô có những đàn trâu và ngựa khá đông, Ngựa dùng thồ hàng ra chợ, tải phân raruộng, chở người

Phương tiện vận chuyển và đi lại chủ yếu của Người Lô Lô là dùng gùiđeo qua vai để chuyên chở hàng, địu con Dùng ngựa chở những nơi đường cóthể đi được Ngày nay họ đã dùng xe máy

Trang 10

Người Lô Lô đã biết làm kinh tế hàng hóa hoặc trao đổi vật phẩm tại cácchợ Họ mua muối, dụng cụ sản xuất, vải vóc, thuốc…và đem bán các sản vậtnông nghiệp, gia súc, dược liệu.

Lô Đen và Lô Lô Hoa chỉ khác nhau về trang phục, còn tiếng nói, phong tục tậpquán thì không có gì khác biệt

Đồng bào dân tộc Lô Lô cư trú thành xóm riêng với những ngôi nhà dựalưng vào vách núi, nhìn ra thung lũng hoặc cánh đồng Cũng như nhiều dân tộcsinh sống trên cao nguyên đá Đồng Văn, người Lô Lô cũng làm nhà trình tườnghoặc nhà sàn, với tường rào được xếp bằng đá cao hơn một mét: Nhìn từ ngoàivào, ngôi nhà của người Lô Lô không khác mấy so với nhà trình tường của cácdân tộc khác nhưng khi quan sát cách thức bố trí, sử dụng không gian trong nhàthì mới thấy sự khác biệt: "Nhà phải có 3 gian Một gian ở giữa với hai gian haibên Gian bên phải là chỗ ở của ông bà, bố mẹ, gian giữa dành cho tiếp khách vàđám cưới, đám ma Gian trái là chỗ ở của con trai, con dâu, con rể Trên gác thìdành cho khách khi ở lại và để ngô, sắn".[xem hình 1 ở phụ lục]

Gian giữa trong ngôi nhà của đồng bào Lô Lô là gian rộng nhất và bàn thờ

tổ tiên được đặt sát vách nhà đối diện với với cửa chính Trên bàn thờ có nhữnghình nhân được làm bằng những miếng gỗ hoặc mo tre, tượng trưng cho các thế

hệ tổ tiên được thờ Đặc biệt, người Lô Lô còn thờ cúng Chủ tịch Hồ Chí Minh

"Dịp Lễ, Tết, chúng tôi đều thắp hương tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh Dân

Trang 11

tộc Lô Lô ciu Chủ tịch Hồ Chí Minh là ông cụ tổ của gia đình, con hơn cả ông

bà ba đời của mình Không có Chủ tịch Hồ Chí Minh thì không có ngày nay"

 Trang phục

Trang phục của dân tộc Lô Lô là một trong những bộ trang phục độc đáo,

đa dạng sắc màu và cầu kỳ hoa văn trang trí Trang phục của nam giới là quầnđen với áo đen thân dài đến trên đầu gối, xẻ tà hai bên, cài cúc bên nách phải.Trên đầu thường chít khăn, dắt mối khăn phía sau gáy Với Phụ nữ Lô Lô Đen,

họ mặc áo cổ vuông chui đầu có các mảng hoa văn hình chim vòng quanh thân

áo Tay áo rộng được ghép bằng nhiều vòng vải màu khác nhau áo kết hợp vớiváy và mảnh vải hình chữ nhật dài chùm phía sau hông, xà cạp quấn chân Phụ

nữ Lô Lô Hoa lại mặc áo cánh cổ tròn, xẻ ngực Tay áo được ghép bằng cácvòng vải màu khác nhau Khác với nhóm Lô Lô Đen, phụ nữ Lô Lô Hoa lạizmặc quần ống trang trí hoa văn Chị Lùng Thị Minh, thôn Sảng Pả A, Thị trấnMèo Vạc, cho biết: Dù có điểm khác nhau nhưng bộ trang phục nữ giới của hainhóm này đều rất đẹp, được làm rất công phu, trang trí các loại hoa văn như:Hoa văn hình tam giác, hình vuông, hình quả thảo quả… Bộ trang phục nữ Lô

Lô được kết hợp với những đồ trang sức bằng bạc, nhôm Cũng theo chị Minh:

"Dân tộc Lô Lô có trang phục rất khó làm, chăm chỉ thì 2,3 năm mới xong Màu

đỏ đầu tiên, rồi đến màu trắng màu hồng Quần của nam giới và nữ giới giốngnhau, chỉ khác là quần nam giới chỉ dùng thắt lưng, không có yếm phía sau như

Trang 12

Thịt: Gồm thịt lợn, thịt gà, thịt dê và đặc biệt trong các phiên chợ haytrong các lễ hội đồng bào có món ăn truyền thống đó là: Thắng cố Cho các phầnnội tạng đã làm sạch của gia súc vào nấu trong một cái chảo lớn, được bỏ thêmcác gia vị như: Sả, gừng, hạt tiêu, hạt dổi, thảo quả, ớt Đặc biệt người Lô Lô

có món thịt lợn, đó là: Thịt lợn ướp muối treo trên gác bếp, phơi khô dùng để ănquanh năm Vì kinh tế người Lô Lô là "Tự cung, tự cấp", đồng bào mổ lợn vàocuối năm, rồi làm món thịt treo để ăn dần Khách đến nhà đồng bào cũng lấymón thịt treo ra đãi khách Ăn chưa quen cảm thấy món thịt treo có mùi vị khói,nhưng khi quen rồi lại thấy món ăn có một hương vị riêng, không thể quên được

Thường thường người Lô Lô chỉ ăn hai bữa trong một ngày: Bữa sáng bữa chính khoảng 9h và bữa chiều tối khoảng 18 h - 19h

- Hôn nhân

Theo truyền thống từ xa xưa, trong ngày lễ cưới nhà trai phải nhờ bốnngười làm mai mối Nếu là hai cặp vợ chồng thì càng tốt bởi họ quan niệm nhưthế sẽ mang lại nhiều may mắn và hạnh phúc Nhà trai sau khi chọn ngày lànhtháng tốt sẽ nhờ người mai mối mang hai chai rượu và lễ vật đến nhà gái Khiđược phép của nhà gái thì nhà trai sẽ ấn định ngày cưới Đồ thách cưới của dântộc Lô Lô thường là gạo, nếp, thịt lợn, rượu hay nhà gái có thể thách cưới thêmváy, quần áo, vòng tay, vòng cổ cả bạc trắng hồi môn

Dân tộc Lô Lô đặc biệt coi trọng vai trò của người cậu cô dâu Người Lô

Lô bên nhà trai không mang lễ vật trực tiếp sang nhà gái mà thông qua ông cậucủa cô dâu Ông cậu có vai trò quyết định việc hôn nhân và cả việc phân chia tàisản Nhà trai mang lễ vật đến nhà ông cậu sau đó ông cậu sẽ đưa lễ vật này đếncha mẹ cô dâu

Ngày cưới bên nhà gái bắt đầu bằng việc làm cỗ trình cúng tổ tiên Họmời người thân, họ hàng lại ăn tiệc uống rượu chung vui Những khách đếntham dự tiệc sẽ mừng cô dâu bằng những hiện vật như quần, áo, vòng vàng, tiềnbạc hoặc các đồ dùng khác Nhà trai khi dẫn lễ đến nhà gái thường vào ngày lẻ

để đến hôm au đón dâu về sẽ là ngày chẵn để cặp vợ chồng son không bị chia rẻ,

Trang 13

lẻ loi Tối hôm đó, nhà gái hát ca, tiệc tùng thâu đêm chúc phúc cho cô dâu chúrể.

Đến sáng hôm sau, chú rể phù rể bái lạy tổ tiên, lễ sống cha mẹ và ôngcậu cô dâu thì được ông cậu dắt cháu gái từ phòng ra trao cho chú rể Gia đìnhnhà gái sẽ khóc để thể hiện sự lưu luyến, cô dâu khóc to hơn để thể hiện sựquyến luyến khi về nhà chồng

Nhà trai cũng thực hiện nghi thức như ở nhà gái Bốn người làm mối cùnguống rượu và hát Bố mẹ chồng phải lánh mặt khi cô dâu về nhà mình vì theoquan niệm sợ vía lấn át con dâu khiến con dâu sau này không khỏe mạnh Saukhi nhà trai dẫn dâu về thì ông cậu cùng nhà gái cũng theo sau mang của hồimôn sang Đó có thể là lợn, gà, hòm quần áo…nhà giàu thì dắt một con bò

Nhà trai cũng tổ chức tiệc tùng linh đình, ăn uống hát ca để chúc phúc chođôi vợ chồng trẻ Nhà trai tiễn ông cậu và nhà gái về bằng một ít tiền đưa lại gọi

là tiền đi đường

 Ma chay

Khi trong nhà có người thân mất, họ tắm rửa thay quần áo cho người chếtxong thì bắn ba phát súng báo hiệu (nếu là nam), bốn phát (nếu là nữ) sau đó cửngười đi mời thầy cúng, thầy mo

Tục lệ người Lô Lô, con cháu trong nhà phải chịu tang một năm Con traikhông được cưỡi ngựa, con gái không mang đồ trang sức Sau khi chồng chếtmột năm người vợ được tái giá Bố mẹ qua đời sau một năm con cái mới đượclấy vợ, lấy chồng

1.3.3 Văn hóa tinh thần

 Tín Ngưỡng thờ cúng

Người Lô Lô thờ tổ tiên là chính Họ theo tín ngưỡng coi mọi vật đều có

linh hồn Đứng đầu dòng họ là Thầu chú (Bimaw) Ông này phụ trách việc cúng

bái và duy trì tục lệ của dòng họ Họ vẫn còn giữ được một vài văn bản tôn giáo

cổ viết bằng một thứ chữ tượng hình của họ Tôn giáo của họ cũng mang nhiềuyếu tố của Đạo giáo và đạo Phật

Trang 14

Tang ma có nhiều lễ thức độc đáo như hoá trang, nhảy múa, đánh lộn Dấu vết của tục săn đầu còn thể hiện khá rõ ở hiện tượng một người luôn đeochiếc túi vải có đựng khúc gỗ hay quả bầu có vẽ mặt người trong tang lễ.

 Văn hóa,Văn nghệ dân gian

Văn hóa, văn nghệ người Lô Lô đã từ trăm năm không nhận biết thứ chữtượng hình cũ của dân tộc xưa, nên việc để lại một kho tàng lớn văn hóa, nghệthuật là từ truyền miệng Truyện về Sự tích trống đồng, sự tích nguồn gốc người

Lô Lô (qua đại hồng thủy, còn sót 2 anh em ruột chui vào trống) Nước rút hết,chẳng còn ai Họ lấy nhau và trở thành thầy tổ của người Lô Lô bây giờ).Chuyệnông Sáng bằng thơ là một thần thoại hay của người Lô Lô người Lô Lô còn cónhững điệu hát, ca dao, tục ngữ còn truyền lại Ngày nay, người Lô Lô học tiếngphổ thông, tiến bộ rất nhanh trong chế độ mới, nhiều người học hết cấp 2, cấp 3(phổ thông trung học ngày nay), đại học, có người đỗ Tiến sĩ, người làm côngtác kinh tế, khoa học

Một nét riêng, độc đáo vẫn còn duy trì hiện nay của người Lô Lô là trốngđồng dùng trong các ngày lễ trọng, trong đón giao thừa năm mới và tiễn đưangười chết về nơi an nghỉ Trống đồng, cách đánh trống biểu hiện quan niệm về

vũ trụ, trời đất, âm dương theo cách hiểu của dân tộc Lô Lô Trống đồng đượcchôn bí mật nơi kín dưới đất Khi có việc mới đào lên,lau chùi sạch sẽ Có trốngđực và trống cái, vì thế dùng trống phải đánh cả đôi Quy định chỉ đàn ông chưavợhoặc nếu có vợ nhưng người vợ chưa ở thời kì thai nghén, lúc đó mới đượcđánh trống Hai cái trống quay mặt vào nhau, có một khoảng trống ở giữa.Người đánh trống cầm dùi và đánh trống bằng hai đầu dùi Đánh trống có biếntấu, nhịp điệu, cao thấp, to nhỏ Người ta đã sáng tạo ra 36 điệu trống đồng

Hội hóa trang (không mặc quần áo) và múa lễ cũng là nét văn hóa tiêubiểu, cổ xưa còn giữ lại của người Lô Lô Quan niệm âm dương hòa hợp sẽ làmnảy sinh và bảo tồn cuộc sống đã được cụ thể hóa ở người Lô Lô qua việc phảicùng lúc sử dụng trống đực và trống cái Các hình vẽ từ một trâu, bò lợn thổiphồng cố tạo ra hình dáng cơ quan sinh dục của người dùng trong lễ hội hóa

Trang 15

1.3.4 Văn hóa xã hội

Người Lô Lô có nhiều lễ hội, nhưng tiêu biểu là Lễ mừng ngô mới và Lễhội cầu mưa Theo ông Lò Sì Páo: Do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, chỉ trồngđược một vụ ngô vào cuối mùa xuân sang đầu mùa hè, nên thường thu hoạchvào tháng 9 và tháng 10 Sau khi thu hoạch xong, người dân tiến hành tổ chức lễmừng ngô mới Trong ngày lễ thường có các lễ vật như rượu, xôi, gà hoặc lợnđược tổ chức tại một mảnh nương đã thu hoạch xong Họ mời thầy cúng đến làm

lễ cảm tạ thần nông, tổ tiên, trời đất và cầu khấn cho năm sau mưa thuận, gióhoà, làm cho mùa màng tốt tươi Lễ mừng ngô mới được duy trì hàng năm vàđược tổ chức trang trọng nhưng tiết kiệm

Lễ hội Cầu mưa thường diễn ra vào đầu tháng 3 (âm lịch) hàng năm, vớinhững nghi thức độc đáo, được lưu truyền từ đời này tới đời khác, cầu cho mưathuận gió hòa, mùa màng tốt tươi Đây là một lễ hội tín ngưỡng phồn thực, họtâm nguyện, cầu khấn, ước ao năm nay có nhiều hạt mưa rơi xuống tưới chonương rẫy ngày càng xanh tốt, cho dân bản được mùa, đời đời no ấm Đồ để tế

lễ bao gồm gà trống, chó, thanh kiếm bằng gỗ hoặc sắt, bát nước, chén rượu;ống hương bằng tre tượng trưng cho 4 phương trời, cùng với hương, giấy vàng,bạc Một vật tế lễ không thể thiếu được trong lễ hội cầu mưa của đồng bào Lô

Lô đó là trống đồng và đàn nhị Thông qua việc tổ chức lễ hội, bà con dân tộc

Lô Lô còn truyền dạy cho con cháu của mình niềm tự hào và giữ gìn những giátrị văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc Ngoài ra, đồng bào Lô Lô còn

có vốn văn hoá dân gian phong phú, thể hiện qua những điệu múa, làn điệu dân

ca, truyện cổ tích [ xem hình 2 trong phụ lục]

Những hoạt động văn hóa cộng đồng luôn được người Lô Lô coi trọng,nóthể hiện qua các phong tục.tín ngưỡng ,lễ hội…Đây cũng là nét đặc sắc văn hóariêng rất đáng quý trọng cần được bảo tồn và phát huy

Trang 16

PHẦN 2 VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA NGƯỜI LÔ LÔ

TẠI ĐỒNG VĂN, HÀ GIANG

2.1 Các loại hình văn nghệ dân gian của người Lô Lô

Ngược dòng lịch sử ngày xưa Thái úy Lý Thường Kiệt đã cho treo một lá

cờ khi ông hội quân trấn ải biên thùy và cho chôn một hòn đá tảng để đánh dấulãnh địa nước ta Sau này, Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ cũng theo vị trí

đó mà đặt trống báo cầm canh Cứ mỗi canh, tiếng trống lại vang lên ba hồi đĩnhđạc, vang xa mấy dặm, như một sự khẳng định chủ quyền đất nước Thời kỳ đó,tiếng trống còn là phương tiện thông tin nhanh nhất Chính vì thế, Lũng Cú khiđọc chệch âm sang âm tiếng địa phương có nghĩa là Long Cổ, tức trống của vua

Năm 1887, khi Thực dân Pháp và triều đình Mãn Thanh tiến hành phângiới cắm mốc đã có ý định cắt phần đất này cho phía Trung Quốc Nhờ sự đấutranh bảo vệ kiên cường của nhân dân nên mảnh đất biên cương được giữ vữngmốc giới như ngày nay Theo các vị cao niên trong làng kể lại: “Khi thực dânPháp, cho quân lên chiếm đóng phía cực bắc đã chọn trí núi Lũng Cú ngay cạngnúi Rồng để xây dựng đồn bốt Từ đây chúng có thể quan sát, khống chế cả khuvực rộng lớn là toàn bộ các bản làng Nhưng lạ thay mỗi lần chúng có ý địnhxây dựng trên ngọn Lũng Cú đều không thể thực hiện được nếu không mưa to,gió lớn thì cũng trời long, đá lở Năm 1954, quân Pháp tháo chạy người Lô Lô

Trang 17

lại được sống trong hòa bình, cùng nhau xây dựng quê hương nơi địa đầu Tổquốc.

Trong thời kỳ chiến tranh biên giới 1979 - 1980, người dân làng Lô Lô,theo chỉ thị phải đi tản cư, bỏ lại ruộng vườn, nhà cửa sau bao thế hệ gây dựng

để đi xuống vùng Yên Minh (Hà Giang) lánh nạn Chiến tranh kết thúc mọingười lại trở về quê cũ, khắc phục hậu quả, chiến tranh bắt tay vào xây dựngcuộc sống mới Nhưng có điều làm ai trong làng cũng cảm thấy rưng rưng khinhững ngôi nhà thân yêu của họ đều không bị hề hấn gì cho dù đạn pháo củađịch cày nát những thửa ruộng bậc thang

Ngày nay về làng Lô Lô ta vẫn còn bắt gặp những nếp nhà cổ đã có hàngtrăm năm tuổi với tường được làm bằng đất nện, ngói mái cong mang màu củathời gian Và đây cũng chính là những nét truyền thống độc đáo của người dân

Lô Lô ở Lũng Cú mà Trung tâm Văn hóa, thể thao và du lịch Hà Giang đangđưa vào việc bảo tồn phát triển khu làng văn hóa du lịch trong quần thể khu dulịch cột cờ quốc gia Lũng Cú

“Cách đây vài thập kỷ, địa phương đã cho xây dựng hệ thống thủy lợi đểdẫn nước từ 2 hồ lớn về khu ruộng Tuy nhiên, khi xây dựng xong hệ thống cũng

là lúc mực nước ở 2 hồ xuống mức thấp kỷ lục, có nguy cơ cạn kiệt Người dâncho rằng việc xây dựng đã vô tình động chạm vào hồ thiêng nên đã phá bỏ hệthống này và cũng thật lạ là ngay sau đó 2 hồ nước lại trở lại mực nước nhưtrước Từ đó không ai có ý định động chạm đến vùng đất thiêng này nữa”

Đúng vậy, từ trên đỉnh núi nhìn xuống hai hồ nước trong veo, xanh biếcnhư điểm cho núi rừng Lũng Cú thêm thơ mộng Còn người dân thì lại vui mừng

vì kinh nghiệm cho thấy năm đó sẽ được mùa, lúa ngô sẽ đầy nhà Nhiều người

đã thử đi tìm nước chảy vào hồ bắt nguồn từ đâu, nhưng cũng đành bó tay chịuthua Họ chỉ nghe kể lại là phía góc hồ bên phải (mắt phải của rồng) có mộthang động nhỏ, thông nhau với hồ bên trái Vì vậy, mực nước hai hồ lúc nàocũng bằng nhau, hồ bên này cạn nước thi hồ bên kia cũng cạn và ngược lại hồ

Ngày đăng: 11/04/2018, 01:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w