Năm 1919 Ông đã chứng tỏ được rằng các nguyên tử vật chất có cấu trúc bên trong: chúng tạo bởi một hạt nhân cực kỳ nhỏ mang điện dương và các electron quay quanh hạt nhân.. Vì năng lượng
Trang 1KHOA SƯ PHẠM - -
Giáo viên hướng dẫn:
Hoàng Xuân Dinh
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
Phần A: PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊM CỨU 3
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
Phần B: PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1 NHỮNG KHÁI NIỆM BAN ĐẦU VỀ HẠT CƠ BẢN 4
1.1 Những ký hiệu thường được sử dụng 4
1.2 Lịch sử hình thành hạt cơ bản 4
1.3 Khái niệm ban đầu về hạt cơ bản 6
1.4 Sản xuất hạt cơ bản 7
1.4.1 Bia đứng yên 7
1.4.2 Bia chuyển động 8
1.5 Các định luật vật lý được áp dụng 9
1.5.1 Phương trình Schrodinger 9
1.5.2 Hệ thức bất định Heisenberg 9
1.5.3 Định luật bảo toàn năng lượng 9
1.5.4 Định luật bảo toàn monment xung lựơng 10
CHƯƠNG 2 CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA HẠT CƠ BẢN 11
2.1 Kích thước 11
2.2 Khối lượng 11
2.3 Thời gian sống 12
2.4 Điện tích 12
2.5 Spin 13
2.6 Monmen từ 14
2.7 Phản hạt 14
2.8 Số barion- barion tích (B) 15
2.9 Số lepton-lepton tích (L) 16
2.10 Spin đồng vị và hình chiếu spin đồng vị 18
2.11 Số lạ (S) 20
2.12 Công thức Gell-Man và Nishijima 22
CHƯƠNG 3 PHÂN LOẠI HẠT CƠ BẢN 23
3.1 Phân loại theo khối lượng và năng lượng nghỉ 23
3.1.1 Photon 23
3.1.2 Lepton 23
3.1.3 Các Meson 24
3.1.3.1 Meson pi ,0, 24
3.1.3.2 Các meson muy ( ) 24
3.1.3.3 Meson Kaon (K) 25
3.1.4 Các barion 25
3.2 Phân loại theo tương tác 28
3.2.1 Hạt “ chất” và hạt “trường” .28
Trang 33.2.2 Tương tác hấp dẫn 29
3.2.3 Tương tác điện từ 30
3.2.4 Tương tác mạnh 31
3.2.5 Tương tác yếu 31
3.3 Phân loại theo số spin 32
CHƯƠNG 4 MẪU QUARK 33
4.1 Quark đầu tiên- đặc trưng của quark 33
4.1.1 Điện tích 33
4.1.2 Số barion-barion tích 33
4.1.3 Spin 33
4.1.4 Số lạ 33
4.1.5 Lepton tích 34
4.2 Cấu trúc của các hadron theo quark 35
4.2.1 Cấu trúc Barion theo quark 35
4.2.1.1 Cấu trúc của proton theo quark 35
4.2.1.2 Cấu trúc của neutron và phản neutron 35
4.2.1.3 Cấu trúc hạt lamda không 0 theo quark 36
4.2.2 Cấu trúc của quark trong quá trình phân rã 36
4.2.3 Cấu tạo của các meson theo quark 36
4.2.3.1 Cấu tạo của meson pi theo quark 36
4.2.3.2 Cấu trúc của meson K và các hạt lạ 37
4.3 Số lượng tử màu 38
4.4 Màu của quark-sắc động lực học 38
4.4.1 Màu của Quark 38
4.4.2 Tương tác mạnh giữa các Quark - Sắc động lực học 39
4.5 Giả Thuyết “Cầm Tù” Của Quark 40
4.6 Tương tác yếu trong hạt quark 41
4.7 Ba quark tiếp theo được tìm thấy 42
CHƯƠNG 5 BÀI TẬP ÁP DỤNG 45
PHẦN C: KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 4Phần A: PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Có bao giờ bạn tự hỏi thế giới vật chất của chúng ta được cấu tạo từ những thứ gì
không? Nếu có một người nào đó hỏi bạn như vậy thì bạn sẽ trả lời như thế nào? Và sẽ
có rất nhiều câu trả lời cho câu hỏi trên Ví dụ như thế giới vật chất của chúng ta được cấu
tạo bởi electron, proton, neutron…Câu trả lời đó là hoàn toàn chính xác trong những năm
đầu của thế kỷ XX Nhưng trong thời điểm hiện tại thì nó còn đúng hay không? Liệu bên
trong của các proton, neutron được cấu tạo từ những hạt nào nữa không? Nếu bên trong
của pronton và neutron còn được cấu tạo từ những hạt khác nữa thì nguyên tử của chúng
ta được cấu tạo từ hạt nào Để giúp mội người trả lời câu hỏi trên Đó cũng chính là lý do
mà em chọn đề tài “ Hạt Cơ Bản” làm luận văn tốt nghiệp của chính mình
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊM CỨU
Mục đích của đề tài là nhằm đi nghiên cứu tổng quát vật lý hạt cơ bản như là:
Tìm hiểu được sự hình thành và phát triển của hạt cơ bản
Khảo sát được những định luật vật lý mà hạt cơ bản tuân theo từ đó đi tìm hiểu các
đặc trưng của hạt, phép phân loại hạt và cấu trúc của một số hạt cơ bản
Vận dụng những định luật vật lý, các đặc trưng và phép phân loại của hạt cơ bản
để giải một số bài tập có liên quan đến xác định một số đặc trưng của hạt cơ bản
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu lý thuyết bằng cách thu thập những thông tin có liên quan trên sách,
báo, tạp chí khoa học và mạng Internet
Tổng hợp và trích lọc những thông tin thật sự cần thiết cho đề tài Và bắt tay vào
việc viết đề tài
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là hạt cơ bản, cấu trúc và cấu tạo của một số hạt Do đó
người viết chỉ tập trung tìm hiểu những đặc trưng, phép phân loại và cấu trúc của hạt cơ
bản
Phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức thông báo những đặc trưng, phép phân
loại và các cấu trúc của hạt cơ bản
Trang 5Phần B: PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 NHỮNG KHÁI NIỆM BAN ĐẦU VỀ HẠT CƠ BẢN
1.1 Những ký hiệu thường được sử dụng
Aristotle tin rằng toàn bộ vật chất trong vũ trụ được tạo thành từ bốn yếu tố cơ bản:
đất, không khí, nước và lửa Các yếu tố này được tác động bởi hai lực: Lực hấp dẫn có xu
hướng làm chìm xuống đối với đất và nước Là lực nâng có xu hướng làm nâng lên đối
với không khí và lửa Sự phân chia nội dung của vũ trụ thành vật chất và các lực như thế
vẫn còn được dùng cho đến ngày nay
Aristotle cũng tin rằng vật chất là liên tục, tức là người ta có thể phân chia một mẩu
vật chất ngày càng nhỏ mà không có một giới hạn nào: người ta không bao giờ đi tới một
hạt vật chất mà không thể phân chia được nữa Tuy nhiên, một số ít người Hy Lạp chẳng
hạn như Democritus lại cho rằng vật chất vốn có dạng hạt và vạn vật được tạo thành từ
một số lớn các loại nguyên tử khác nhau (theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là “không thể phân
chia được nữa”)
Cuộc tranh cãi kéo dài hàng thế kỷ mà không bên nào có một bằng chứng thực tế nào
Mãi tới năm 1830, John Dalton - nhà vật lý và hóa học người Anh - đã chỉ ra rằng việc
các hợp chất hóa học luôn luôn được hóa hợp theo những tỷ lệ nhất định có thể được giải
Trang 6thích là do các nguyên tử đã cụm lại với nhau tạo nên những đơn nguyên gọi là phân tử
Tuy nhiên, cho tới tận những năm đầu thế kỷ XIX, cuộc tranh luận giữa hai trường
phái tư tưởng mới gục ngã với phần thắng thuộc về những người theo nguyên tử luận
Einstein là người đã đưa ra được một bằng chứng vật lý quan trọng Trong một bài báo
viết năm 1905, chỉ ít tuần trước bài báo nổi tiếng về thuyết tương đối hẹp, Einstein đã chỉ
ra rằng cái được gọi là chuyển động Brown - tức là chuyển động không đều đặn, ngẫu
nhiên của các hạt bụi lơ lửng trong một chất lỏng - có thể được giải thích như là kết quả
của sự va chạm của các nguyên tử chất lỏng với các hạt bụi
Năm 1897 Thomson đã tìm ra hạt cơ bản đầu tiên đó là electron (e) sau khi nghiên
cứu tính chất của tia âm cực Ông đã dùng một dụng cụ khá giống với bóng đèn hình của
máy thu hình (CRT) ngày nay và một sợi kim loại nóng đỏ phát ra các hạt electron và bởi
vì các hạt này mang điện âm nên có thể dùng một điện trường để gia tốc của chúng hướng
tới một màn phủ photpho Khi các hạt này đập vào màn, chúng sẽ gây ra những chớp
sáng
Năm 1900 Planck khi nghiên cứu bức xạ của vật đen tuyệt đối ông đã đưa ra khái
niệm lượng tử ánh sáng mà sau này gọi là photon Sau đó, 1905 Einsten đã vận dụng
khái niệm và giải thích thành công hiệu ứng quang điện Thí nghiệm đã trực tiếp sự tồn tại
của photon được tiến hành bởi Millikan 1912-1915 và hiệu ứng Compton vào năm 1922
Năm 1911 khi nghiên cứu về electron Rutherford đã khám phá ra hạt nhân nguyên tử
Năm 1919 Ông đã chứng tỏ được rằng các nguyên tử vật chất có cấu trúc bên trong:
chúng tạo bởi một hạt nhân cực kỳ nhỏ mang điện dương và các electron quay quanh hạt
nhân Ông rút ra điều này từ việc phân tích sự lệch hướng của các hạt alpha - hạt mang
điện dương do các nguyên tử phóng xạ phát ra - khi va chạm với các nguyên tử Và ông
đã đưa ra một hạt mới đó là pronton (p)
Đầu tiên người ta cứ tưởng rằng hạt nhân nguyên tử chỉ được cấu tạo từ electron (e)
mang điện âm và proton (p) mang điện dương Ít lâu sau đó vào năm 1922-1932 một đồng
nghiệp của Rutherford ở Cambridge là James Chadwick đã dựa trên lý thuyết của
Heisenberg và Ivanenko Chadwick đã phát hiện ra rằng hạt nhân còn chứa một hạt khác
gọi là neutron (n) Hạt neutron có khối lượng gần bằng hạt proton nhưng lại không mang
điện Sau khi phát hiện ra hạt neutron các nhà vật lý đã hoàn thành việc khám phá thành
phần cấu tạo của nguyên tử trong thời gian này
Khi đi vào nghiên cứu hiện tượng phân rã Pauli đã nhận thấy có một phần năng
lượng bị mất đi Lúc này các nhà vật lý bắt đầu nghi ngờ định luật bảo toàn năng lượng
Để giải quyết vấn đề khó khăn trên năm 1930 Pauli đã giả thuyết sự tồn tại của hạt
neutrino Đúng như lời tiên đoán của Pauli cho đến năm 1953 hạt này mới được tìm
Trang 7thấy bởi (Reines và Cowan)
Trong những năm 1928-1931 để giải quyết nghiệm âm của phương trình Einstein,
Dirac đã đưa ra giả thuyết sự tồn tại của hạt positron (
e ) là phản hạt của electron Năm
1932 khi nghiên cứu về thành phần của tia vũ trụ Anderson đã phát hiện ra hạt positron
(
e ) và đây là phản hạt đầu tiên được tìm thấy trong thực nghiệm
Năm 1936, Anderson và Neddermayer đã tìm thấy hạt muy trừ () và muy cộng
() trong các tia vũ trụ Hạt này rất giống với hạt electron và phản electron Năm 1947,
cũng trong tia vũ trụ nhóm nghiên cứu Powell đã phát hiện ra các meson Pi Hạt này
có vai trò rất quan trọng trong tương tác giữa các nucleon (p-n) trong hạt nhân nguyên tử
đã được Yukawa khẳng định bằng lý thuyết vào năm 1935
Trong những năm 1940-1950 là giai đoạn tìm ra các hạt lạ Hạt lạ đầu tiên được tìm
thấy trong tia vũ trụ là hạt (meson
và hạt 0
) Từ khi con người chế tạo ra máy gia tốc thì những hạt lạ tiếp theo đã được tìm thấy bằng việc tăng tốc những hạt mang điện
trái dấu Khi các hạt mang điện trái dấu được tăng tốc nhờ máy gia tốc thì kết quả con
người đã thu được rất nhiều phản hạt nặng, chẳng hạn phản proton p được tìm thấy vào
năm 1955, phản neutron n cũng được tìm thấy vào năm 1956…
Năm 1964 người ta đã phát hiện ra một hạt nặng nhất đó là hạt Omega trừ
Năm
1962 các nhà vật lý đã phát hiện ra 2 hạt neutrino khác nhau đó là: Hạt đi kèm với
electron (e) là neutrino electron e và hạt đi kèm với hạt muy () là neutrino muy ( )
Năm 1975, người ta đã tìm thấy hạt tau ( ) Về tính chất hạt này rất giống với hạt
electron và muy nhưng có khối lượng lớn hơn Và ít lâu sau đó, người ta đã tìm thấy một
neutrino thứ ba đó là neutrino tau ( )
Tại phòng thí nghiệm CERN châu âu năm 1983 người ta đã tìm thấy được các hạt
Boson trung gian (W và Z ) Cho đến ngày nay thì các nhà vật lý luôn luôn săn bắt được
những hạt cơ bản mới
1.3 Khái niệm ban đầu về hạt cơ bản
Hạt cơ bản (hay còn gọi là hạt sơ cấp) là những hạt nhỏ nhất cấu tạo nên vật chất Và
tên gọi này chỉ mang tính quy ước vì hiện nay người ta chưa biết cấu trúc bên trong của
tất cả các hạt cơ bản Và có thể bên trong của các hạt cơ bản có thể có những hạt nhỏ hơn
nữa Cũng giống như việc khám phá ra nguyên tử, thì lúc đó cứ tưởng nguyên tử là thành
phần nhỏ nhất cấu tạo nên vật chất nhưng sau đó khi tìm hiểu cấu tạo của nguyên tử thì
người ta lại phát hiện bên trong nguyên tử có ba hạt electron, proton và neutron
Trang 8Khi nghiên cứu về hạt cơ bản ngày càng đi sâu vào lĩnh vực năng lượng cao Bởi vì
khi các hạt cơ bản va chạm với nhau ở năng lượng cao thì sẽ sinh ra nhiều hạt mới Nếu
động năng ban đầu lớn thì việc sinh ra hạt mới sẽ rất phong phú
Trước những năm 50 của thế kỷ XX khi nghiên cứu hạt cơ bản phải gắn liền với các
tia vũ trụ Vì trong tia vũ trụ là nguồn tự nhiên có năng lượng cao, đây là nguồn năng
lượng lý tưởng để các nhà vật lý tìm ra được các hạt mới Tuy nhiên cường độ tia vũ trụ
rất bé nên khả năng gây ra phản ứng rất kém Do đó việc nghiên cứu hạt cơ bản gặp rất
nhiều khó khăn trong các tia vũ trụ
Sau những năm 50 của thế kỷ XX khi con người đã chế tạo thành công máy gia tốc
Thì việc nghiên cứu các hạt cơ bản gắn liền với máy gia tốc năng lượng cao và cường độ
chùm hạt lớn đã tạo điều kiện cho việc nghiên cứu các hạt cơ bản phát triển một cách
chóng mặt Và nhờ máy gia tốc năng lượng cao người ta đã tìm được tất cả các hạt cơ bản
mà chúng ta được biết ngày nay Và hiện máy gia tốc lớn nhất thế giới đó là máy gia tốc
LHC tại châu âu
1.4 Sản xuất hạt cơ bản
Đa số các hạt cơ bản mà chúng ta được biết hiện nay đều không có mặt trong các vật
chất thông thường Vì vậy muốn khảo sát được chúng thì đầu tiên chúng ta phải tạo ra
được chúng
Thông thường người ta có hai cách để tạo ra hạt cơ bản đó là: Bia đứng yên và bia
chuyển động
1.4.1 Bia đứng yên
Người ta bắn một chùm hạt proton (p) nhờ máy gia tốc, các hạt này được tăng tốc đến
một năng lượng cao vào một bia cố định (Hình 1.4.1) Bia thường được làm bằng kim
loại Tuy nhiên muốn sản xuất ra được hạt cơ bản theo ý muốn sử dụng thì chúng ta phải
Trang 9Vì năng lượng chùm hạt proton bay tới mang năng lượng rất lớn, do đó xem năng
lượng liên kết giữa các nucleon trong hạt nhân là không đáng kể so với năng lượng bay
tới của các proton (p)
lk
E
Vì vậy các proton bay tới hoàn toàn va chạm vào các nucleon tự do bên trong bia
nghĩa là hoàn toàn va chạm với các proton và neutron bên trong bia
Ví dụ: Nếu có 2 quả cầu được nói với nhau bằng một sợi dây mảnh Nếu ta cung cấp
vận tốc cho một trong hai quả cầu nói trên thì quả cầu được cung cấp vận tốc sẽ chuyển
động và kéo theo quả cầu kia sẽ chuyển động theo, cả 2 quả cầu sẽ chuyển động theo một
hệ hai chất điểm Còn nếu ta cung cấp một vận tốc rất lớn thì quả cầu được cung cấp vận
tốc sẽ bay đi và làm đứt sợi dây còn quả cầu kia sẽ ở lại
Vậy khi hạt proton (p) mang năng lượng cao bay đến va chạm vào một nucleon (p-n)
trong hạt nhân nguyên tử thì các nucleon này sẽ bay ra khỏi hạt nhân cùng với proton tới
Trong thực nghiệm thì sau khi ra khỏi bia thì các proton tới này bị lệch đi một hướng
nào đó
Nếu bia đủ dầy thì các proton (p) trong chùm hạt tới sẽ hoàn toàn va chạm vào các
nucleon bên trong hạt nhân của bia
Khi năng lượng của proton tới rất lớn thì sẽ xuất hiện một hiện tượng mới đó là việc
sinh ra các hạt mới không sẳn có trong chùm hạt tới
Quá trình sinh ra hạt mới, một phần động năng của hạt ban đầu đã chuyển hóa thành
năng lượng nghỉ của các hạt mới sinh ra
Ngoài bia đứng yên người ta còn sử dụng bia chuyển động để tạo ra hạt mới
1.4.2 Bia chuyển động
Người ta sử dụng máy gia tốc hai chùm tia (máy gia tốc tròn)
Trong máy gia tốc này người ta tăng tốc hai chùm hạt chuyển động ngược chiều nhau
và phải có điện tích trái dấu
Ví dụ: electrion (
e ) và positron (
Khi hai chùm tia đạt đến giá trị năng lượng mong muốn thì chúng ta cho hai chùm này
bắn vào nhau hay cho va chạm vào nhau thì chúng ta sẽ thu được hạt mới
Bằng hai cách làm trên thì chúng ta đã thu được rất nhiều hạt mới không sẳn có trong
tự nhiên Bên cạnh đó cũng có một số ưu khuyết điểm của hai cách làm
Ưu điểm: Năng lượng đạt gấp đôi so với bia đứng yên
Trang 10Khuyết điểm: mật độ bia thấp hơn so với bia đứng yên
1.5 Các định luật vật lý được áp dụng
1.5.1 Phương trình Schrodinger
Theo quan điểm của cơ học lượng tử thì cá hạt vi mô mang tính chất sóng rõ rệt Do
đó phương trình chuyển động của hạt cũng phải tuân theo phương trình schrodinger
2 2
là hàm sóng mô tả trạng thái của hạt
1.5.2 Hệ thức bất định Heisenberg
Nếu có hai toán tử Lˆ và toán tử Mˆ lần lượt được biểu diễn cho hai biến số động lực L
và M Nếu hai toán tử này giao hoán được với nhauL Mˆ ˆ, 0 thì đo được chính xác đồng
thời hai biến số động lực L và M Nếu hai toán tử đó không giao hoán được với nhau
Nếu muốn đo được chính xác đồng thời hai biến số động lực L và M thì sai số của
phép đo sẽ tuân theo hệ bất định
2
c M
1.5.3 Định luật bảo toàn năng lượng
Trong một hệ cô lập năng lượng toàn phần của một hệ luôn luôn không đổi Năng
lượng chỉ biến từ dạng này sang dạng khác ( động năng biến thành thế năng, cơ năng biến
thành nhiệt năng ) Nếu lấy tổng cộng các năng lượng của hệ lại thì tại mội thời điểm ta
luôn luôn thu được một giá trị xác định
Trang 11Khi sử dụng định luật bảo toàn năng lượng ta cần chú ý đến năng lượng tĩnh của nó
2
0 mc
E
Vậy năng lượng toàn phần của hệ các hạt tước tương tác đúng bằng năng lượng toàn
phần của các hạt sau tương tác
1.5.4 Định luật bảo toàn monment xung lựơng
Mọi hạt cơ bản đều chuyển động rất nhanh, gần bằng với vận tốc của ánh sáng
Vì hạt chuyển động gần bằng với vận tốc của ánh sáng Theo thuyết tương đối của
Einstein thì khối lượng của hạt là:
2 0
m m
Xung lượng của hạt trong hệ quy chiếu đứng yên sẽ là: 0
Định luật bảo toàn động lượng phải được hiểu thêm là monment xung lượng toàn phần
của hạt tức là monment quỹ đạo và spin của hạt
Công thức liên hệ giữa xung lượng và năng lượng 2 2 2
0
Trang 12CHƯƠNG 2 CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA HẠT CƠ BẢN
2.1 Kích thước
Các hạt cơ bản nhỏ đến một mức kì lạ mà chúng ta không thể tưởng tượng nỏi Bằng
phương pháp thực nghiệm người ta đã tìm thấy đường kính của proton vào khoảng
)(
Mỗi một hạt đều có một khối lượng nghỉ m0 xác định Trừ hạt photon ( )có khối
lượng nghỉ bằng không m 0 Ngay cả các hạt neutrino cũng có khối lượng nghỉ khác
A
c N
MeV kg
2
0c m
Trang 13Ngoài ra, để tính khối lượng của các hạt cơ bản khác nặng hơn electron người ta
thường lấy khối lượng của electron làm đơn vị
Ví dụ: m p 1840m e
2.3 Thời gian sống
Thời gian sống trung bình ( )được tính bằng (s) dùng để đo độ bền của hạt cơ bản
Trong tự nhiên có những hạt sống rất lâu có thể xem như thời gian sống của chúng là
mãi mãi ( ) ví dụ như các hạt: e,p, và các hạt neutrino
Thực nghiệm đã chứng tỏ rằng thời gian sống của electron và proton là:
Qua sự nghiên cứu của các nhà khoa học thì tuổi mặt trời là vào khoảng 1010 năm, vì
vậy thời gian sống của hạt proton không gây ra mối nguy hiểm nghĩa là mặt trời sẽ vỡ tan
khi các proton không còn nữa (vì thời gian sống của proton lâu hơn tuổi thọ của mặt trời)
Hạt neutron (n) theo số liệu của các nhà khoa học nghiên cứu trong những năm (1986)
cho thấy thời gian sống của chúng là vào khoảng n (89816 (s)và phân rã theo phản
ứng
e
e p
n
Bên cạnh các hạt có thời gian sống rất lâu còn tồn tại các hạt có thời gian sống cực
ngắn, thời gian sống của chúng vào khoảng 1023(s)nghĩa là chúng vừa cất tiếng khóc
chào đời thì lại cất tiếng khóc từ biệt bố mẹ mà ra đi Người ta gọi các hạt có thời gian
sống cực ngắn là các hạt cộng hưởng
Hạt cộng hưởng được tạo thành từ hai hạt mang năng lượng cao va chạm vào nhau,
kết hợp với nhau trong một thời gian rất ngắn rồi sau đó phân rã thành các hạt khác
Các hạt có thời gian sống lâu hơn 22
10
năm được gọi là các hạt bền
Các hạt ở trạng thái tự do thì có thời gian sống hạn hẹp nhưng trong hạt nhân thì
chúng có thời gian sống không thua kém vì với proton và neutron
2.4 Điện tích
Điện tích (Q) của hạt đặc trưng cho khả năng của hạt tham gia và tương tác điện từ
Điện tích của tất cả các hạt cơ bản đều được biểu diễn thông qua đơn vị điện tích
nguyên tố electron 19
1, 6 10
e C
Trang 14Trong hạt cơ bản có những hạt không mang điện ví dụ: Hạt n,,0 người ta gọi đó
Ngoài ra các hạt quark cũng mang điện, là phân số của điện tích nguyên tố
Để thuận tiện cho tính toán người ta lấy điện tích của electron làm chuẩn cho các điện
tích của các hạt khác Và người ta gán cho điện tích của electron là -1 Vậy điện tích của
positron là +1 Các hạt cơ bản khác cũng tương tự
Ví dụ: Q e 1 ; Q 1 ; Q 1 ;Q p 1 ;
2.5 Spin
Spin là một đại lượng thuần lượng tử nó không có sự tương tự như cổ điển
Mỗi một hạt đều tồn tại một chuyển động nội tại được đặc trưng bởi một lượng tử số s,
xác định bởi monmen động lượng riêng của hạt Ký hiệu S
S s s( 1)
Với s là số lượng tử spin, S có thể là số nguyên hay bán nguyên
Hình chiếu của S lên phương z bất kỳ có giá trị: S z m z
Trong đó m z là số lượng tử hình chiếu của spin
Với m z s, s 1, , 0, s1,s
Như vậy sẽ có tất cả 2s+1 giá trị khác nhau của m z
Giá trị s của hạt được xác định theo loại thống kê mà chúng tuân theo
Các hạt có số spin nguyên được gọi là các boson chúng tuân theo thống kê
Trang 152.6 Monmen từ
Về mặt điện từ học của các hạt cơ bản nó tồn tại một monmen từ quỹ đạo l
và monmen từ riêng s
là những monmen chuyển động cơ và chuyển động nội tại của hạt
Monmen từ quỹ đạo l
e
e e
e
e e
e S
Cho đến nay người ta chỉ nói đến các hạt cơ bản Tuy nhiên mỗi hạt đều có một phản
hạt riêng của nó Chúng được ký hiệu cùng một ký hiệu nhưng có thêm một dấu gạch
ngang ở trên đầu hoặc hạt A+ phản hạt A- trong đó A là tên hạt
Để giải quyết nghiệm âm của phương trình Eisntein:
4 2 0 2 2 4
2 0 2 2 2
c m p c E c m p c
Năm 1930 Dirac đã đưa ra tiên đoán sự tồn tại của hạt positron (
e ) là phản hạt của electron (e) Đây là phản hạt đầu tiên được tiên đoán Và bắt đầu từ đó người ta bắt đầu
đi vào tìm kiếm các phản hạt còn lại
Hạt và phản hạt có cùng một khối lượng, thời gian sống, số spin nhưng lại ngược dấu
về các đặc trưng: điện tích và monmen từ
Ví dụ: Electron e có phản hạt positron e , proton p có phản proton p ,
neutron n có phản neutron n
Trang 16Bên cạnh đó cũng có những hạt đồng nhất với phản hạt của nó Đối với tất cả các hạt
này thì điện tích của chúng đều bằng không Q=0 Do đó chúng ta gọi chúng là các hạt
trung hòa
;
Những hạt trung hòa không mang điện nên các phản hạt chỉ ngược dấu về momen từ
Ví dụ: như ở hạt neutron
Thực nghiệm đã chứng tỏ rằng hạt và phản hạt khi va chạm vào nhau thì chúng sẽ hủy
diệt nhau và đồng thời sinh ra hai photon
Ví dụ:
2 ; 2 p p e e Cho đến ngày nay nhờ máy gia tốc năng lượng cao thì hầu như người ta đã tìm thấy tất cả các phản hạt của chúng 2.8 Số barion- barion tích (B) Barion là các hạt cơ bản nặng, chúng có khối lượng bằng hoặc lớn hơn khối lượng của proton (m Barion m p) Các barion gồm có các nucleon và các hyperon Trong các phản ứng nếu có các barion tham gia thì nhận thấy rằng: Mỗi khi có một barion mất đi thì có một barion mới xuất hiện Ví dụ: 0 0 0 0
p
Để mô tả tính chất trên người ta đưa ra một số lượng tử mới được gọi là số barion (B)
Các barion p n , , , , có số barion bằng một (B=1)
Còn các barion p n , , , , có số barion bằng trừ một (B=-1)
Vậy tất cả các hạt trong nhóm barion đều có số barion bằng một hay có barion tích
bằng một (B=1) Còn đối với các phản hạt thì có barion tích bằng trừ một (B=-1), đối với
các hạt không thuộc nhóm barion thì có số barion bằng không (B=0)
Trang 17Trong tương tác giữa các hạt với nhau thì số barion phải được bảo toàn Nghĩa là tổng
số barion trước phản ứng phải bằng tổng số barion sau phản ứng
Nếu có một lepton mất đi thì sẽ có một lepton khác xuất hiện cùng một cập
Để mô tả tính chất trên các nhà vật lý đã đưa ra một số lượng tử mới mang tên số
Vậy các lepton thì có số lepton bằng một (L=1) hay lepton tích bằng 1 (L=1) còn đối
với các phản lepton thì có lepton tích bằng trừ một (L=-1) Các hạt không thuộc nhóm
lepton thì có số lepton tích bằng 0
Một số quá trình phân rã lepton
, , ,
Trang 18Quá trình có các hạt nặng tham gia
Phân rã này có hai loại là phân rã toàn bộ lepton và nữa lepton
Ra toàn bộ lepton: Meson Lepton
,,,,
,
,,
,
e e
e e
Trong quá trình tương tác thì số lepton cũng được bảo toàn Nghĩa là hiệu số của
lepton ở trạng thái đầu Li và trạng thái cuối Lf bằng 0
Nếu gán cho electron e và neutrino electron v e có số lepton là L e 1, còn các
phản hạt positron e và phản neutrino electron v e là L e 1 Còn các lepton khác
;;;;v ;v ;v ;v thì có số lepton L e 0
Các lepton L e,, được gọi là các lepton thế hệ Thực nghiệm cũng đã chứng
tỏ được rằng các lepton thế hệ cũng được bảo toàn
L
Ví dụ
0110:0
110:
1001:1
001:
L L
v v v
v e
e
e
Hệ quả của các lepton thế hệ:
Các quá trình vi phạm số lepton xảy ra với xác suất rất nhỏ
Trang 19Ví dụ: Hạt lepton muy chủ yếu là quá trình phân rã thuần túy
Phân biệt các loại neutrino qua sự bảo toàn các lepton thế hệ Vì các hạt neutrino
e; ; là những hạt có số spin bán nguyên, không mang điện và có khối lượng rất nhỏ
Do đó để phân biệt được hạt neutrino phải sử dụng quy tắc bảo toàn lepton thế hệ
Trong đó X và Y là các hạt thử, ví dụ neutron và proton Nếu ở trạng thái cuối người
thu được lepton
Thời gian sống (s)
0,51
*
Muy trừ
105,7
*
6
102,
2
Tau
1784
*
6
1005,
3
Bảng 2.9 Những đặc trưng cơ bản của lepton
2.10 Spin đồng vị và hình chiếu spin đồng vị
Thực nghiệm đã chứng tỏ rằng, lực tương tác giữa các nucleon trong hạt nhân không
phụ thuộc vào điện tích Cụ thể là các nucleon ở những trạng thái giống nhau, thì tương
tác giữa (p-p), (n-n), (p-n) là như nhau Tính chất đó được gọi là tính độc lập điện tích
Nếu không xét đến khối lượng thì 2 hạt (p-n) là như nhau Sự khác biệt về điện tích được
thể hiện ở tương tác điện từ
Trong cơ học lượng tử khi xét đến số spin để mô tả trạng thái lượng tử khác nhau của
cùng một hạt Người ta dùng sự mô tả năng lượng của electron phụ thuộc vào số spin
Electron có spin bán nguyên
21
s thì mỗi trạng thái khi không xét đến spin thì mỗi trạng thái electron trong nguyên tử tương ứng với một mức năng lượng Còn nếu xét đến
spin thì mức năng lượng sẽ được tách thành hai mức năng lượng gần nhau tương tác với 2
trạng thái của electron khác nhau
) 1 (
s s S
Trang 20Mỗi trạng thái ứng với hình chiếu S z: S z m z
Do đó đã xuất hiện nên định nghĩa spin đồng vị
Đồng vị của hạt cơ bản là những hạt có những đặc trưng gần giống nhau như: Khối
lượng, spin…nhưng chúng chỉ khác nhau về điện tích và thời gian sống
Vì vậy Heisenberg đã đưa ra khái niệm spin đồng vị I, như vậy hệ sẽ có 2I+1 trạng
thái khác nhau với hình chiếu Iz lên trục z nào đó Được xác định bởi
N
I
Cũng giống như số lượng tử m được xác định bằng giá trị hình chiếu của monmen
động lượng lên trục oz thì hình chiếu của spin đồng vị cũng có giá trị bằng
I I I
I
I z , 1 0 1,Vậy có tất cả 2I+1 giá trị Iz
Ví dụ: Proton và neutron lập lại thành một lưỡng tuyến có N=2
hợp lại thành một tam tuyến có N=3
Trang 21 là các hạt tham gia vào tương tác mạnh, hạt
Từ khi máy gia tốc ra đời người ta đã tìm thấy được rất nhiều hạt, trong đó có một số
hạt có những biểu hiện hết sức lạ thường Nó sinh ra trong một thời gian rất nhanh
s
23
10
nhưng phân rã trong một thời gian tương đối chậm 1010s108s
Trong quá trình sinh ra hạt mới không thể nào sinh ra hai hay ba loại hạt khác nhau
nhưng không bao giờ sinh ra lẻ loi ( không bị cô đơn) hay hai ba hạt cùng loại
Từ những hiện tượng bất thường không giống ai ở trên người ta gọi nó là hạt lạ
Ví dụ: K,K0,0,0,,
Vậy đối với các hadron người ta đưa ra một đặc trưng mới nữa đó là số lạ (S) Nếu là
hạt lạ thì có số lạ khác không (S 0), còn hạt không lạ thì có số lạ bằng không (S 0)
Số lạ được tính theo công thức sau: S 2Q B
Q: là điện tích trung bình trong tuyến của spin đồng vị
B: là số barion của hạt trong tuyến đó
Trang 22Ví dụ 1: Xét trong lưỡng tuyến (p-n)
Mặt khác số barion trong tuyến là: B=1
Vậy số lạ S trong tuyến là: 1 0
2
1 2
,, 0
Bằng cách tính tương tự ta sẽ tìm được tất cả các số lạ của hạt lạ
Chú ý: Trong quá trình tương tác giữa các hạt cơ bản thì số lạ S phải được bảo
toàn Trong tương tác mạnh và tương tác điện từ còn trong những tương tác khác thì số lạ
S không nhất thiết phải được bảo toàn
Ví dụ:
0 0
Trang 23Phản ứng chứng tỏ số lạ không được bảo toàn trong những tương tác khác
2.12 Công thức Gell-Man và Nishijima
Đối với các hadron Gell-Man và Nishijima đã tìm ra được công thức liên hệ giữa điện
tích Q, số lạ S, số Barion và hình chiếu của spin đồng vị Iz được xác định bởi công thức
Trang 24CHƯƠNG 3 PHÂN LOẠI HẠT CƠ BẢN
3.1 Phân loại theo khối lượng và năng lượng nghỉ
Muốn phân loại được chúng thì ta phải dựa vào khối lượng nghỉ và những tính chất
đặc trưng của chúng thì ta mới phân loại chúng được Dựa vào những đặc trưng vừa mới
trình bài ở trên thì ta chia phạt cơ bản ra làm 4 loại: photon, lepton, meson và barion
3.1.1 Photon
Photon là phần tử cơ bản của tương tác điện từ giữa các hạt mang điện với nhau, bản
thân photon không có khối lượng nghỉ m 0 nhưng nó lại mang năng lượng E hf
Hạt photon có số spin nguyên s 1do đó nó là một boson, photon chỉ có thể tồn tại
dưới vận tốc ánh sáng c 8 m s
10.3
, hạt photon lúc nào cũng chuyển động, không thể nào dừng photon lại được, photon không thể dùng làm gốc hệ quy chiếu
Khi tương tác các photon có thể đàn hồi hoặc không đàn hồi, các photon không tồn tại
trong dưới dạng có sẳn trong hạt nhân, các photon được sinh ra trong lúc xây dựng cấu
trúc nguyên tử, phân tử hay hạt nhân
Tuy hạt photon không có khối lượng nghỉ nhưng nó lại có khối lượng trung gian theo
công thức năng lượng của Einstein E hf
Photon là hạt không có khối lượng hay khối lượng nghỉ bằng không (m 0) , bản
thân photon không mang điện (Q 0) nhưng nó là phần tử cơ bản mang tương tác điện
từ giữa các hạt cơ bản mang điện khác
c
h c
hf c
E m c m E
Các lepton có thời gian sống khá lâu so với thời gian sống của hạt nhân, thời gian sống
trung bình của lepton là vào khoảng 23s
tương tác yếu
Trang 25Ứng với 6 lepton thì sẽ có 6 phản lepton và cũng được chia là 3 nhóm:
e; e , ; , ; ; Nhóm lepton có một số lượng tử đó là số lepton
3.1.3.1 Meson pi ,0,
Các meson pi lần đầu tiên được quan sát trong các tia vũ trụ và sau đó được bắn phá
các bia bằng chùm hạt proton trong các máy gia tốc và người ta đã quan sát và thấy được
được hạt meson pi mang điện và meson pi trung hòa
Các meson pi có số spin bằng không s 0 là các lượng tử của trường lực hạt nhân,
chúng là các hạt truyền tương tác mạnh giữa các nucleon trong hạt nhân, chúng có khối
lượng m m 273, 6m e 139,568MeV 2; m 0 267, 7m e 135MeV 2
Nó là sản phẩm của quá trình phân rã hạt meson Pi hay tự sinh ra trong các quá trình
tương tác giữa các hạt cơ bản khác Hạt muy có khối lượng vào khoảng
2
658 , 105
c
MeV m
và có thời gian sống trung bình là 6
2,197 10 s Trong quá trình tương tác hạt meson muy phân rã thành những hạt mang điện khác nhẹ hơn nó và cập neutrino – phản neutrino
Trang 26MeV m
m K K , thời gian sóng là K 1 , 2 108(s), điện tích là
e Q
e
Q K ; K và chúng được phân rã theo phản ứng:
0 0
0 0
0 0 0
0
0 0
v v
e
v K
v K
Các hạt meson K0 và K0có cùng khối lượng nhưng khác nhau về thời gian sống
m
K
K và thời gian sóng là 0 10 10(s); 0 3.10 8 10 6(s)
K K
0
0 0
0 0
v e K
v e K
K
e e
3.1.4 Các barion
Các barion là các hạt nặng, chúng có khối lượng ít nhất là bằng khối lượng của proton
(m Barion m p) và có số spin nguyên, được chia làm hai nhóm
Nhóm nucleon: gồm hai hạt đó là pronton và neutron (p-n)
Hạt proton hay còn gọi là hạt nhân nguyên tử, proton là hạt mang điện tích dương,
khối lượng 1839 , 8 938 , 3 2
c MeV m
m p e , proton là một fecmion
21
s và có monmen
từ là p 2 , 79 hn trong đó hnlà monmen từ của hạt nhân
c m
e
p hn
2
Trang 27Hạt proton là một hạt bền, nó là một trong những thành phần cơ bản cấu tạo nên hạt
nhân nguyên tử Các hạt proton phân rã thành hạt neutron với sự phát ra một positron và
neutrino tương ứng
e
v e n
p
Phản proton: Theo lý thuyết của Dirac thì hạt proton củng có một phản proton và hạt
này phải có khối lượng âm Để tạo thành một cập proton- phản proton p p thì cần ít
nhất một năng lượng E 2m p 2 938 , 3 1876 , 6MeV Đây cũng chính là năng lượng cần
thiết để hủy cập p p với điều kiện là hai hạt này phải chuyển động ngược chiều nhau
Nếu dùng một hạt proton bắn phá một bia có chứa các nucleon thì năng lượng của hạt
proton tới phải lớn hơn giá trị E1876,6MeV
Phản proton cũng được phân rã và theo phản ứng sau: pne v e
Hạt neutron là hạt trung hòa không mang điện có spin bán nguyên
21
s Tuy là hạt không mang điện nhưng nó lại có monment từ khác không n 1,83. hn và có khối
lượng là 1843 , 4 939 , 6 2
c
MeV m
m n e Neutron là hạt có khối lượng lớn nhất trong hạt
nhân nguyên tử n pev e
Phản neutron cũng là hạt trung hòa không mang điện, có khối lượng bằng với khối
lượng của neutron nhưng có monment từ ngược dấu
Phản neutron cũng có tính chất phóng xạ và bị phân rã thành phản proton đi kèm theo
là positron, neutrino tương ứng
Các phản neutron được quan sát bằng thực nghiệm bằng sự trao đổi điện tích của phản
proton trong phân rã pne v e, n pev e
Nhóm: Hyperon , , ,
Sau này người ta còn đưa thêm số lượng tử mới đó là số lượng tử duyên và đẹp nên
có các barion duyên và barion đẹp
Các Barion tham gia vào tương tác mạnh
Trang 29Vậy hadron bao gồm các barion và các meson
3.2 Phân loại theo tương tác
3.2.1 Hạt “ chất” và hạt “trường”
Vật chất có hai dạng là chất ( các hạt) và trường (sóng) Trong thế giới vi mô, spin của
photon mà người ta quy ước chọn bằng một s 1 Người ta dựa vào thuộc tính của spin
để phân chia hạt cơ bản ra thành 2 loại
Hạt có spin nguyên được gọi là hạt chất như (electron, proton,…là các Fermion),
chúng tương tác với nhau thông qua trường lực sóng
Các hạt có spin bán nguyên còn gọi là hạt trường, là “lượng tử” của các trường lực
tương tác giữa các hạt chất như (photon và meson là các photon)
Các electron và photon tương tác với nhau thông qua trường điện từ (từ trường và điện
trường) mà lượng tử của nó là photon
Photon là hạt của hạt trường điện từ
Hai electron đẫy nhau bằng cách liên tục trao đổi (phát ra hay thu vào) các photon
Trang 30Trong cơ học lượng tử người ta cho rằng các lực hay sự tương tác giữa các vật chất
(hạt chất) được truyền bởi các hạt có số spin nguyên
Một hạt phát ra một “ hạt truyền tương tác”, sự giật lùi do việc này luôn luôn làm thay
đổi vận tốc ( năng lượng) của hạt vật chất đó Sau đó “hạt truyền tương tác” sẽ va chạm
với một hạt vật chất khác và bị hạt này hấp thụ Kết quả là vận tốc (năng lượng) của hạt
thứ hai bị thay đổi một cách nhanh chống, giống hệt như lực tác dụng giữa hai hạt vật chất
đó
Tính chất của hạt truyền tương tác là chúng không tuân theo nguyên lý loại trừ Pauli
Đều này có nghĩa là có một số không hạn chế các hạt, như vậy đã được trao đổi vật chất
giữa các hạt Vì vậy có thể làm cho lực trở nên rất mạnh Tuy nhiên hạt truyền tương tác
lại có khối lượng lớn (năng lượng lớn) thì chúng sẽ khó được tạo ra và khoảng cách trao
đổi lớn Do đó lực do các hạt truyền tương tác sẽ có bán kính tác dụng rất ngắn
Nếu hạt truyền tương tác không có khối lượng hoặc có khối lượng không đáng kể thì
sẽ có tầm tác dụng xa ( Ví dụ như tương tác hấp dẫn)
Các hạt truyền tương tác sẽ được trao đổi giữa các hạt vật chất, thường được gọi là các
hạt ảo Bởi vì nó không giống với các hạt thực, chúng không được phát hiện bằng các
máy dò hạt
Vì vậy các hạt “truyền tương tác” nói trên sẽ được chia làm 4 loại Tùy theo cường độ
của lực mà ta mang theo và các vật chất mà chúng tương tác
Các nhà vật lý đã chia ra làm 4 loại tương tác:Tương tác hấp dẫn, tương tác điện từ,
tương tác mạnh, tương tác yếu
F , trong đó G là hằng số hấp dẫn
2 11
Tương tác hấp dẫn có tác dụng rất lớn đối với những vật chất có khối lượng lớn Còn
trong các hạt cơ bản thì sao? Vì khối lượng của các hạt cơ bản rất nhỏ và bé nên tương tác
hấp dẫn rất bé Vì vậy trong hạt cơ bản tương tác hấp dẫn thường được bỏ qua Bán kính
tác dụng của tương tác hấp dẫn là rất lớn có thể xem bán kính tác dụng là vô cùng Hạt
truyền tương tác là gaviton 00G có số spin (s=2)
Trang 31Ví dụ: Tương tác giữa trái đất và mặt trăng là do sự trao đổi các hạt graviton ảo Các
hạt này gây ra một một hiệu ứng đo được và làm cho mặt trăng quay xung quanh trái đất
Hạt graviton vẫn còn nằm trong lý thuyết và chưa được kiểm chứng bằng thực nghiệm
3.2.3 Tương tác điện từ
Đầu tiên thì người ta mới biết đến tương tác điện Tương tác điện là tương tác giữa các
hạt mang điện proton, electron…) với nhau đó là cơ sở của lực Culong 122
r
q q k
F trong
đó k là hằng số điện 2
2 9
10.9
C
Nm
k
Về sau khi con người đã tìm ra được tương tác từ ( tương tác giữa nam châm với nam
châm, giữa dòng điện với dòng điện và giữa dòng điệ với nam châm)
Khi đi xét các điện tích chuyển động trong từ trường và điện trường thì người ta đã cố
gắng thống nhất tương tác điện với tương tác từ thành một tương tác duy nhất Kết quả là
thuyết điện động lực học lượng tử ra đời thì con người đã thống nhất tương tác điện với
tương tác từ thành một gọi chung là tương tác điện từ Tương tác điện từ lớn hơn tương
tác hấp dẫn rất nhiều lần
Tương tác điện từ rất giống với tương tác hấp dẫn chỉ khác ở chỗ tương tác hấp dẫn
luôn luôn là lực hút còn trong tương tác điện từ thì có hút nhau và có đẩy nhau tùy vào
điện tích của chúng mang trên người Bán kính tác dụng của tương tác điện từ giống với
tương tác hấp dẫn Đều có bán kính tác dụng là vô cùng
Để so sánh độ lớn của tương tác lực hấp dẫn và tương tác điện từ giữa
electron-electron (e-e) đứng yên, cùng một khoảng cách
r r
71 2
2 31
11 9,1.10 5,31.1010
.68,6
28 2
2 19
9 1,6.10 2,304.1010
.9
F
Đây là một tỷ số rất lớn
Tương tác điện từ thường xảy ra ở các quá trình sau:
Quá trình sinh và hủy cập electron và positron X X ee
Trong đó X thường là hạt nhân nguyên tử , phản ứng muốn xảy ra được phải cần ít