I. Tổng quan về Lạm phát 1. Khái niệm: Lạm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên liên tục trong một khoảng thời gian nhất định. Lạm phát có những đặc trưng là: Hiện tượng gia tăng quá mức của lượng tiền có trong lưu thông dẫn đến đồng tiền bị mất giá. Mức giá cả chung tăng lên 2. Phân loại lạm phát Tùy theo tiêu thức dùng để phân loại lạm phát mà có các loại lạm phát khác nhau. Người ta phân loại lạm phát trên cơ sở định lượng và định tính. 2.1 Về mặt định lượng: có 03 loại lạm phát:
Trang 1- Lạm phát vừa phải: Được đặc trưng bởi giá cả tăng chậm và có thể dự đoán trước được Đó
là mức lạm phát mà bình thường nền kinh tế trải qua và ít gây tác động tiêu cực đến nềnkinh tế Lạm phát vừa phải có hai cấp độ cơ bản đó là:
Thiểu phát: là tỷ lệ lạm phát ở mức 3 - 4 % một năm trở xuống
Lạm phát thấp: là mức lạm phát có tỷ lệ ở 3% đến 7% một năm
- Lạm phát cao ( lạm phát phi mã): là loại lạm phát ở mức hai đến ba con số một năm Khi lạm
phát phi mã xảy ra giá trị đồng tiền bị mất giá rất nhanh, tác động tiêu cực đến nền kinh tế,với những hậu quả cực kì khó khăn cho đời sống kinh tế, xã hội, chính trị trong nước Mọingười có xu hướng tích trữ hàng hóa, mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vàng hoặccác ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn ơn và tíchlũy của cải
- Siêu lạm phát: là trường hợp lạm phát đặc biệt cao, một tình trạng giá cả tăng nhanh chóng
khi tiền tệ mất giá trị Siêu lạm phát là lạm phát ở mức 4 con số, từ 1000% trở lên Đặcđiểm chung của mọi cuộc siêu lạm phát là sự tăng quá mức trong cung tiền, nhiều cuộcsiêu lạm phát đã có xu hướng xuất hiện trong thời gian sau chiến tranh, nội chiến hoặc cáchmạng, do sự căng thẳng về ngân sách chính phủ
2.2 Về mặ t định tính
Lạm phát được chia thành nhiều loại khác nhau, tuỳ theo tính chất của lạm phát mà người
ta chia thành các loại cơ bản sau:
- Lạm phát thuần túy: Đây là trường hợp đặc biệt của lạm phát, hầu như giá cả của mọiloại hàng hoá đều tăng lên cùng một tỷ lệ trong cùng một đơn vị thời gian
- Lạm phát cân bằng: Là loại lạm phát có mức giá chung tăng tương ứng với mức tăng thunhập
- Lạm phát được dự đoán trước: Là lạm phát mà mọi người có thể dự đoán trước nhờ vào
Trang 2sự diễn tiến liên tục theo chuỗi thời gian trong nhiều năm.
- Lạm phát không được dự đoán trước: Là lạm phát xảy ra bất ngờ, ngoài sự tiên liệu củamọi người về quy mô, cường độ cũng như mức độ tác động
- Lạm phát cao và lạm phát thấp: lạm phát cao là mức lạm phát mà tỷ lệ tăng thu nhập tăngthấp hơn tỷ lệ lạm phát, lạm phát thấp là mức tăng thu nhập tăng cao hơn mức độ tăngcủa tỷ lệ lạm phát
3 Nguyên nhân gây ra lạm phát
3.1 Lạm phát do cầu kéo:
Tổng cầu cao hơn tổng cung, người ta có cầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền phải tăng lên đểđáp ứng Do đó có lạm phát
3.2 Lạm phát do cầu thay đổi
Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lạităng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chất cứng nhắcphía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫnkhông giảm giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mứcgiá chung tăng lên, nghĩa là lạm phát
3.3 Lạm phát do chi phí đẩy
Nếu tiền công danh nghĩa tăng lên, thì chi phí sản xuất của các xí nghiệp tăng Các xí nghiệp vìmuốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm Mức giá chung của toàn thểnền kinh tế cũng tăng
3.4 Lạm phát do cơ cấu
Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động Ngành kinh doanhkhông hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình.Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm.Lạm phát nảy sinh vì điều đó
3.5 Lạm phát do xuất khẩu
Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuấtkhẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổngcầu Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng
3.6 Lạm phát do nhập khẩu
Sản phẩm không tự sản xuất trong nước được mà phải nhập khẩu Khi giá nhập khẩu tăng (do nhàcung cấp nước ngoài tăng giá như trong trường OPEC quyết định tăng giá dầu, hay do đồng tiềntrong nước xuống giá) thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng Lạm phát hình thành khi mứcgiá chung bị giá nhập khẩu đội lên
Trang 33.7 Lạm phát tiền tệ
Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền ngoại tệkhỏi mất giá so với trong nước; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầucủa nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát
- Chỉ số giá tiêu dùng hay chỉ số giá cả CPI được tính theo bình quân gia quyền của một nhóm hànghóa thiết yếu
Tuy nhiên, chỉ số CPI là chỉ số thông dụng nhất, chỉ số này được sử dụng để theo dõi sựthay đổi của chi phí sinh hoạt theo thời gian Khi chỉ số giá tiêu dùng tăng, các gia đình phảichi tiêu nhiều tiền hơn trước để duy trì mức sống như cũ
Chỉ số CPI được tính như sau:
CPI = (Giá cả của giỏ hàng hóa dịch vụ năm hiện tại)/(Giá cả của giỏ hàng hóa dịch vụ nămgốc)
Tỷ lệ lạm phát = (CPI n+1 – CPI n)/CPIn
là tác động lên lãi suất
Ta có: Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát
Do đó khi tỷ lệ lạm phát tăng cao, nếu muốn cho lãi suất thật ổn địnhvà thực dương thì lãi suất sanhnghĩa phải tăng lên theo tỷ lệ lạm phát Việc tăng lãi suất danh nghĩa sẽ dẫn đến hậu quả mà nềnkinh tế phải gánh chịu là suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng
b Lạm phát và thu nhập thực tế:
Khi lạm phát tăng lên mà thu nhập danh nghĩa không thay đổi thì làm cho thu nhậpthực tế của người lao động giảm xuống Lạm phát không chỉ làm giảm giá trị thật của
Trang 4những tài sản không có lãi mà nó còn làm hao mòn giá trị của những tài sản có lãi, tức
là làm giảm thu nhập thực từ các khoản lãi, các khoản lợi tức
c Lạm phát và phân phối thu nhập không bình đẳng
Khi lạm phát tăng lên, giá trị của đồng tiền giảm xuống, người đi vay sẽ có lợi trongviệc vay vốn để đầu cơ kiếm lợi Do vậy càng tăng thêm nhu cầu tiền vay trong nềnkinh tế, đẩy lãi suất lên cao
Lạm phát tăng cao còn khiến những người thừa tiền và giàu có, dùng tiền của mình vơvét và thu gom hàng hoá, tài sản, nạn đầu cơ xuất hiện, tình trạng này càng làm mấtcân đối nghiêm trọng quan hệ cung - cầu hàng hoá trên thị trường, giá cả hàng hoácũng lên cơn sốt cao hơn Cuối cùng, những người dân nghèo vốn đã nghèo càng trởnên khốn khó hơn Tình trạng lạm phát như vậy sẽ có thể gây những rối loạn tong nềnkinh tế và tạo ra khoảng cách lớn về thu nhập, về mức sống giữa người giàu và ngườinghèo
d Lạm phát và nợ quốc gia
Lạm phát cao làm cho Chính phủ được lợi do thuế thu nhập đánh vào người dân,nhưng những khoản nợ nước ngoài sẽ trở nên trần trọng hơn Chính phủ được lợi trongnước nhưng sẽ bị thiệt với nợ nước ngoài Lý do là vì: lạm phát đã làm tỷ giá giá tăng
và đồng tiền trong nước trở nên mất giá nhanh hơn so với đồng tiền nước ngoài tínhtrên cá khoản nợ
5.2 Tác động tích cực
Lạm phát không phải bao giờ cũng gây nên những tác hại cho nền kinh tế Khi tốc độ lạm phátvừa phải đó là từ 2-5% ở các nước phát triển và dưới 10% ở các nước đang phát triển sẽ mang lạimột số lợi ích cho nền kinh tế như sau:
+ Kích thích tiêu dùng, vay nợ, đầu tư giảm bớt thất nghiệp trong xã hội
+ Cho phép chính phủ có thêm khả năng lựa chọn các công cụ kích thích đầu tư vào nhữnglĩnh vực kém ưu tiên thông qua mở rộng tín dụng, giúp phân phối lại thu nhập và các nguồn lựctrong xã hội theo các định hướng mục tiêu và trong khoảng thời gian nhất định có chọn lọc Tuynhiên, đây là công việc khó và đầy mạo hiểm nếu không chủ động thì sẽ gây nên hậu quả xấu
6 Biện pháp kiềm chế lạm phát
Khi nền kinh tế xảy ra tình trạng lạm phát cao hoặc siêu lạm phát,để kiềm chế lạm phát,để kiềmchế lạm phát các nước thường áp dụng những biện pháp tình thế sau:
- Biện pháp về chính sách tài khóa:
Tiết kiệm triệt để trong chi tiêu ngân sách,cắt giảm những khoảng chi tiêu công chưacấp bách
Tăng thuế trực thu,đặc biệt là những các nhân và những doanh nghiệp có thu nhậpcao,chông thất thu thuế
Kiểm soát chưng trình tín dụng nhà nước
- Biện pháp thắt chặt tiền tệ
Đóng băng tiền tệ
Trang 5 Nâng lãi suất
Nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để hạn chế khả năng tạo tiền của các ngân hàng thương mại
- Biện pháp kiềm chế giá cả:
Nhập hàng hóa của nước ngoài để bổ sung cho khối lượng hàng hóa trong nước tạo ramột sự cân bằng giữa cung và cầu hàng hóa Đây là biện pháp ‘chữa cháy’ tuy rất hữuhiệu trong việc chận đứng sự khan hiếm hàng hóa ,nhưng có nhiều mặt hạn chế
Nhà nước bán vàng và ngoại tệ nhằm thu hút tiền mặt trong lưu thông, ổn định giávàng, ổn định tỷ giá hối đoái
Quản lý thị trường, chống đầu cơ tích trữ
- Biện pháp đóng băng lương và giá để kiềm chế giá
II Phân loại lạm phát ( Anh Được)
- Căn cứ vào mức độ người ta chia làm ba loại
- Lạm phát vừa phải: Loại lạm phát này xẩy ra với mức tăng chậm của gía cả được giới
hạn ở mức độ một con số hàng năm (tức là > 10%) Trong điều kiện lạm phát thấp gía cả tươngđối thay đổi chậm và được coi như là ổn đị
- Lạm phát phi mã: Mức độ tăng của gía cả đã ở hai con số trở lên hàng năm trở lên.
Lạm phát phi mã gây tác hại nghiêm trọng trong nền kinh tế Đồng tiền mất giá một cách nhanhchóng-lãi suất thực tế giảm xuống dưới 0 (có nơi lãi suất thực tế giảm xuống tới 50-100/năm),nhân dân tránh giữ tiền mặt
- Siêu lạm phát: Tiền giấy được phát hành ào ạt, gía cả tăng lên với tốc độ chóng mặt
trên 1000 lần/năm Siêu lạm phát là thời kì mà tốc độ tăng giá vượt xa mức lạm phát phi mã và
vô cùng không ổn định
- Các nguyên nhân chủ yếu gây ra lạm phát
- Lạm phát để bù đắp các thiếu hụt của ngân sách: Đây là nguyên nhân thông thường
nhất do sự thiếu hụt ngân sách chi tiêu của Nhà nước (y tế, giáo dục, quốc phòng) và do nhu cầukhuếch trương nền kinh tế Nhà nước của một quốc gia chủ trương phát hành thêm tiền vào lưuthông để bù đắp cho các chi phí nói trên đang thiếu hụt
Ở đây chúng ta thấy vốn đầu tư và chi tiêu của Chính phủ được bù đắp bằng phát hành,
kể cả tăng mức thuế nó sẽ đẩy nền kinh tế đi vào một thế mất cân đối vựợt quá sản lượng tiềmnăng của nó Và khi tổng mức cần của nền kinh tế vượt quá khả năng sản xuất của nền kinh tế (vì
Trang 6các yếu tố sản xuất của một nền kinh tế là có giới hạn) lúc đó cầu của đồng tiền sẽ vượt quá khảnăng cung ứng hàng hoá và lạm phát sẽ xẩy ra, gía cả hàng hoá tăng lên nhanh chóng.
- Lạm phát do nguyên nhân chi phí: Trong điều kiện cơ chế thị trường, không có quốc
gia nào lại có thể duy trì được trong một thời gian dài với công ăn viêc làm đầy đủ cho mọingười, gía cả ổn định và có một thị trường hoàn toàn tự do
Trong điều kiện hiện nay, xu hướng tăng gía cả các loại hàng hoá và tiền lương côngnhân luôn luôn diễn ra trước khi nền kinh tế đạt được một khối lượng công ăn việc làm nhấtđịnh Điều đó có nghĩa là chi phí sản xuất đã đẩy gía cả tăng lên ngay cả trong các yếu tố sảnxuất chưa được sử dụng đầy đủ, lạm phát xẩy ra
Lạm phát như vậy có nguyên nhân là do sức đẩy của chi phí sản xuất
Một số nhà kinh tế tư bản cho rằng việc đẩy chi phí tiền lương tăng lên là do công đoàngây sức ép Tuy nhiên một số nhà kinh tế khác cho rằng chính công đoàn ở nước tư bản đã đóngvai trò quan trọng trong việc làm giảm tốc độ tăng của lạm phát và giữ không cho lạm phát giảmxuống quá nhanh khi nó giảm Vì các hợp đồng lương của các công đoàn thuờng là dài hạn vàkhó thay đổi
Ngoài ra các cuộc khủng hoảng về các loai nguyên liệu cơ bản như dầu mỏ, sắt thép đãlàm cho giá cả của nó tăng lên (vì hiếm đi) và điều đó đã đẩy chi phí sản xuất tăng lên Nóichung việc tăng chi phí sản xuất do nghiều nguyên nhân, ngay cả việc tăng chi phí quản lý hànhchính hay những chi phí ngoài sản xuất khác cũng làm cho chi phí sản xuất tăng lên và do vậy nóđẩy gía cả tăng lên
Có thể nói nguyên nhân ở đây là sản xuất không có hiệu quả, vốn bỏ ra nhiều hơn nhưngsản phẩm thu lại không tăng lên hoặc tăng rất chậm so với tốc độ tăng của chi phí
- Lạm phát ỳ: Là lạm phát chỉ tăng với một tỷ lệ không đổi hàng năm trong một thời gian dài Ở
những nước có lạm phát ỳ xẩy ra, có nghĩa là nền kinh tế ở nước đó có một sự cân bằng mongđợi, tỷ lệ lạm phát là tỷ lệ được trông đợi và dược đưa vào các hợp đồng và các thoả thuận khôngchính thức Tỷ lệ lạm phát đó được Ngân hàng Trung ương, chính sách tài chính của Nhà nước,giới tư bản và cả giới lao động thừa nhận và phê chuẩn nó Đó là một sự lạm phát nằm trong kếtcấu biểu hiện một sự cân bằng trung hoà và nó chỉ biến đổi khi có sự chấn động kinh tế xảy ra (tỷ
Trang 7E1 P1
- Lạm phát cầu kéo: Tổng mức cầu vượt quá khả năng sản xuất của nền kinh tế trong
điều kiện có đầy đủ công ăn việc làm, nhưng người ta phải chi tiêu quá nhiều tiền để lấy mộtlượng cung hạn chế về hàng hóa, làm tăng giá, dẫn tới lạm phát
Khi nhu cầu tăng đột biến thì tổng cầu AD dịch chuyển từ AD0 lên AD1 làm cho giá cảhàng hóa tăng từ P0 lên P1 gây lạm phát Nghĩa là lạm phát xảy ra khi quá nhiều chi tiêu săn đuổiquá ít hàng hóa
- Chi tiêu Chính phủ tăng: Tổng cầu tăng trực tiếp thông qua các khoản đầu tư thuộc lĩnh vực
Chính phủ quản lý hoặc có thể gián tiếp thông qua các khoản chi phúc lợi xã hội tăng và kết quả
là giá cả hàng hóa tăng lên Khi nhu cầu Chính phủ tăng lên dẫn đến bội chi thì việc phát hànhtiền và đi vay từ các ngân hàng thương mại để bù đắp thiếu hụt rất dễ gây ra lạm phát cao, kéodài
-Chi tiêu hộ gia đình tăng lên: do mức thu nhập thực tế tăng lên, lãi suất giảm, do điều kiện vay
tiêu dùng thuận lợi… thúc đẩy AD dịch phải => tạo áp lực lên lạm phát
Trang 8E1 P1
P
P0 O
E0
AD
AS1 AS0
- Nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp tăng lên: xuất phát từ việc dự đoán về triển vọng phát
triển kinh tế, khả năng mở rộng thị trường, do lãi suất đầu tư giảm, điều kiện vay vốn đầu tư dễdàng hơn…
- Nhu cầu của nước ngoài: Các yếu tố như tỷ giá, giá cả hàng hóa nước ngòa so với trong nước
và thu nhập bình quân của thị trường nước ngoài có những ảnh hưởng quan trọng đến nhu cầuhàng hóa nhập khẩu và do đó ảnh hưởng đến tổng cầu cũng như mức giá chung nội địa
- Thuế giảm:dẫn đến thu nhập của dân chúng tăng, kích thích tiêu dùng
- Cung tiền tăng: Làm cho lãi suất thực giảm, kích thích đầu tư và xuất khẩu ròng, tăng cầu
- Lạm phát chi phí đẩy: Ngay cả khi sản lượng chưa đạt mức tiềm năng nhưng vẫn có
thể xảy ra lạm phất ở nhiều nước, kể cả ở những nước phát triển cao Đó là một đặc điểm củalạm phát hiện tại Kiểu lạm phát này gọi là lạm phát chi phí đẩy, vừa lạm phát vừa suy giảm sảnlượng, tăng thêm thất nghiệp nên cũng gọi là “lạm phát đình trệ”
Chi phí đẩy giá lên ngay cả trong những thời kỳ tài nguyên không được sử dụng hết gọi
là lạm phát do phí đẩy
Ví dụ như việc tăng giá dầu hoặc tăng lượng lớn xảy ra khi nền kinh tế đang suythoái đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng giá hàng hóa, dẫn tới lạm phát
Trang 9Trên đồ thị, những sự tăng chi phí đẩy đường cong AS từ AS0 đến AS1, bởi vậy giá cảhàng hóa tăng từ P0 lên P1.
III Thực Trạng Lạm Phát tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2016 ( Chị Hằng)
Trong thực tế, có nhiều thước đo để đo lường biến động giá cả của các quốc gia, hay chính là đolường lạm phát như: chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá sản xuất (PPI), chỉ số giảm phát GDPnhưng CPI vẫn được coi là thước đo phổ biến nhất để đo lường lạm phát và được quan tâm nhiềunhất vì biến động CPI phản ánh biến động trong mức sống của người dân Do đó, khi nền kinh tế
có lạm phát có nghĩa là có sự gia tăng liên tục và kéo dài của CPI
Ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầucủa mỗi quốc gia Thực tiễn đã chứng minh, trong quá trình phát triển kinh tế rất nhiều quốc gia
đã từng đối mặt với lạm phát và những tác động không mong muốn của lạm phát Nhiều quốc gia
đã đưa ra những biện pháp trước mắt cũng như lâu dài nhằm kiểm soát lạm phát và kiểm soátlạm phát thành công
Nguồn ngân hàng nhà nước việt nam
Trong giai đoạn 2011 - 2015 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều hành chủ động, linh hoạtcác công cụ chính sách tiền tệ (CSTT), phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa góp phần quantrọng trong kiểm soát và đưa lạm phát ở mức cao 23% vào tháng 8/2011 xuống còn 6,81% năm
2012, 6,04% năm 2013, 1,84% năm 2014 và 0,6% năm 2015
Trang 10CPI tháng 3/2016 tăng 0,57% so với tháng trước, 1,69% so với cùng kỳ; 0,99% so với cuối nămtrước Theo quy luật mùa vụ hàng năm, tháng 3 là thời điểm sau tết Nguyên Đán nên CPI thường
có xu hướng giảm Tuy nhiên, diễn biến tăng lạm phát tháng 3 năm nay xuất phát từ một số yếu
tố đột biến gồm:
(i) Giá dịch vụ y tế tăng từ 1/3/2016 theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính, theo đó, giá các mặt hàng dịch vụ y tế áp dụng cho đốitượng có bảo hiểm y tế tăng 32,9% góp phần làm cho CPI tăng khoảng 1,27%
(ii) Thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 củaChính phủ, một số tỉnh đã tăng học phí các cấp làm cho chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 0,66%.(iii) Cú sốc cung lúa gạo do tình trạng hạn hán, ngập mặn nghiêm trọng đẩy nhu cầu mua lúa,gạo tích trữ trong khi nguồn cung giảm tác động làm giá lương thực tăng 0,23% (Theo báo cáocủa Hiệp hội Lương thực Việt Nam, tổng lượng gạo tồn kho của các doanh nghiệp thành viêntính đến ngày 18/2/2016 còn khoảng 826 nghìn tấn thấp hơn gần 500 nghìn tấn so với cùng kỳnăm ngoái Ngoài ra, Vụ Đông Xuân năm nay dự báo sẽ có sản lượng thấp hơn năm trước do bịhạn hán và xâm nhập mặn)
Ngoại trừ 3 nhóm trên đây, các nhóm hàng khác đều giảm hoặc tăng chậm lại so với tháng trước
do quy luật giá giảm sau kỳ nghỉ tết Nguyên Đán; cùng với việc điều chỉnh giảm giá xăng dầu,gas trong kỳ tính CPI Lạm phát cơ bản giảm 0,09% so với tháng trước và tăng 1,64% so vớicùng kỳ 2015, thấp hơn mức tăng 1,72% của tháng 2/2016 Điều này cho thấy áp lực tiền tệ vàtăng trưởng kinh tế lên lạm phát là chưa đáng lo ngại
Dự tính cả năm 2016, lạm phát có khả năng tăng mạnh nhưng nguyên nhân chủ yếu là do Nhànước điều chỉnh tăng mạnh giá dịch vụ y tế, giáo dục Đối với giá y tế, sau khi đã điều chỉnh tănghơn 30% vào tháng 3/2016, dự kiến sẽ còn 1 lần điều chỉnh tăng vào tháng 7/2016 Học phí giáodục hiện đã được một số địa phương điều chỉnh tăng dần nhưng dự kiến cao điểm tăng sẽ vàothời điểm đầu năm học mới
Đáng chú ý, nếu như lạm phát giảm thấp trong năm 2015 chủ yếu do giá lương thực, xăng dầugiảm mạnh thì 2 loại giá này bắt đầu tăng trở lại, tạo thêm áp lực lạm phát năm 2016 Như vậy,nếu các áp lực từ tăng trưởng kinh tế và yếu tố tiền tệ lên lạm phát vẫn ổn định như thời giantrước (theo đó giúp ổn định lạm phát cơ bản ở mức khoảng 2%) thì tỷ lệ lạm phát cuối năm vẫn
có khả năng lên đến trên 5%, đòi hỏi chính sách tiền tệ phải được điều hành thận trọng không tạothêm áp lực gia tăng lạm phát Nếu lạm phát cơ bản của NHNN vẫn dao động ổn định trongkhoảng 2% là tương đối ổn định và giá các mặt hàng nhà nước quản lý được điều chỉnh phù hợp.Nhưng nếu tiếp tục điều chỉnh tăng mạnh giá nhà nước quản lý theo lộ trình, giá lương thực xăngdầu tiếp tục tăng thì lạm phát có khả năng lên trên 5%
Trong điều kiện tăng trưởng kinh tế chậm lại, sức ép lạm phát có xu hướng tăng lên nhưng xuấtphát từ các nhân tố bên cung thì trước mắt cần chú ý: Điều chỉnh tăng các mặt hàng do nhà nướcquản lý cần xem xét thời điểm hợp lý để tránh cộng dồn tăng lạm phát; Chính sách tài khóa cần
có hiệu quả, huy động nguồn vốn trái phiếu chính phủ cho ngân sách với lãi suất hợp lý, tránh
Trang 11sức ép làm tăng lãi suất của các TCTD; Với kỳ vọng lạm phát tăng cao, CSTT tiếp tục duy trì ổnđịnh lãi suất để một mặt hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn thận trọng với rủi ro lạm phát
Lạm phát cuối năm nhiều khả năng tăng trên 5%, do đó chính sách tiền tệ phải tiếp tục thận trọng
để không làm gia tăng áp lực lạm phát nhưng cũng không tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh
tế Do đó, cần chú ý:
(i) CSTT cần tiếp tục điều hành thận trọng theo hướng: giữ ổn định mặt bằng lãi suất thị trường
và kiểm soát tốc độ tăng M2, tín dụng theo đúng chỉ tiêu đã đặt ra từ đầu năm (tín dụng tăng 20%)
18-(ii) Có biện pháp truyền thông chủ động, tích cực để giải thích nguyên nhân lạm phát tăng caotrong năm nay không xuất phát từ yếu tố tiền tệ hay tăng trưởng “nóng” mà do điều chỉnh giá
NN quản lý, cú sốc cung; lạm phát sẽ ổn định trở lại nếu các yếu tố này không còn và chính sáchtiền tệ vẫn được kiểm soát chặt chẽ Điều này giúp công chúng hiểu rõ hơn về diễn biến lạm pháttăng trong năm 2016, kiểm soát kỳ vọng lạm phát và củng cố lòng tin của công chúng vào điềuhành chính sách tiền tệ của NHNN, qua đó cũng giảm bớt yếu tố tâm lý lên tỷ giá
(iii) NHNN phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành đặc biệt là Bộ Công thương, Bộ Tài chính, Bộ
Y tế, Bộ Giáo dục, Tổng cục Thống kê để thu thập thông tin về dự kiến điều chỉnh các loại giáNhà nước quản lý, tính toán tác động lên lạm phát năm 2016 và 2017, phục vụ phân tích triểnvọng lạm phát trung hạn để có phương án điều hành chính sách tiền tệ hợp lý, đồng thời kiếnnghị phối hợp chính sách đảm bảo kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra
2 Nguyên nhân lạm phát tại Việt Nam
Trước hết ta xem xét, về mặt lý thuyết lạm phát có thể do các nhóm nguyên nhân:
2.1 Lạm phát do chính sách: thường xảy ra do những biện pháp tiền tệ mở rộng, phản ánh thâm
hụt thu chi ngân sách lớn và việc tài trợ thâm hụt bằng tiền tệ, thường là cội rễ của lạm phát cao.Một ví dụ kinh điển đó là những trận siêu lạm phát ở áo và Đức những năm 20 do mở rộng tiền
tệ thái quá
Điều này được hiểu một cách đơn giản qua ví dụ năm ngoái trong nền kinh tế có 100 đơn vị hànghóa và 100 đồng tiền thì giá 1 hàng hóa là 1 tiền Năm nay, do tăng trưởng kinh tế 10% nên nềnkinh tế có 110 đơn vị hàng hóa Do những yếu tố khác nhau (chủ yếu vẫn là việc gia tăng cungtiền của ngân hàng trung ương) mà nền kinh tế có đến 121 đơn vị tiền Kết quả là giá 1 hàng hóabằng 1,1 tiền hay lạm phát là 10%
2.2 Lạm phát do cầu kéo: xảy ra do tổng cầu vượt trội đẩy mức giá chung lên cao Sự thúc đẩy
của cầu có thể xuất phát từ những cú sốc bên trong hay bên ngoài nhưng thường hình thành từnhững chính sách thu chi ngân sách hay tiền tệ mở rộng
Một ví dụ đơn giản nhất của cầu kéo là những gói kích thích kinh tế của chính phủ Với một kếhoạch chi tiêu lớn được đưa ra sẽ làm cho tổng cầu của nền kinh tế gia tăng dẫn đến mức giá gia
Sự nóng lên bất thường của các thị trường tài sản (chứng khoán, bất động sản ) cũng có thể gây
ra lạm phát cầu kéo do nhiều người trở nên giàu có bất thường sẽ gia tăng mức chi tiêu rất lớn