BÀI TIỂU LUẬN CHỦ ĐỀ: BÊ TÔNG TỰ LÈN Sinh viên thực hiện : Lớp : D20XDK4 Giáo viên hướng dẫn: Lê Văn Trí Phú Yên, tháng 10 năm 2021 MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 3 PHẦN NỘI DUNG 5 I. TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG TỰ LÈN 5 1.1 Khái niệm 5 1.2 Đặc điểm của bê tông tự lèn 5 1.3 Ưu và nhược điểm của bê tông tự lèn 6 II. VẬT LIỆU CHẾ TẠO BÊ TÔNG TỰ LÈN 13 2.1 Xi măng 13 2.2 Cốt liệu nhỏ 13 2.3 Cốt liệu lớn 14 2.4 Phụ gia mịn 20 2.5 Phụ gia siêu dẻo 20 III. PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ CẤP PHỐI 21 Khái niệm 21 Phân loại bê tông nặng 21 Thành phần bê tông nặng 21 Ưu và nhược điểm của bê tông nặng 27 Ứng dụng của bê tông nặng 27 IV. THI CÔNG BÊ TÔNG TỰ LÈN 30 Khái niệm 30 Phân loại bê tông nhẹ 30 Thành phần bê tông nhẹ 32 Ưu và nhược điểm của bê tông nhẹ 34 Ứng dụng của bê tông nặng 35 PHẦN KẾT LUẬN 37 LỜI NÓI ĐẦU Bê tông tự lèn là một loại vật liệu mà tự nó có thể làm đầy cốp pha và có thể đi qua vật cản bằng trọng lượng bản thân của nó mà không cần rung động (không cần đầm) vẫn đảm bảo độ đồng nhất. Thi công bê tông cho các công trình thường phải đầm nén, rung để tăng tính đồng nhất và độ đặc sít của cấu trúc bê tông nhằm nâng cao chất lượng. Đối với những cấu kiện phức tạp, có mật độ cốt thép dày đặc hoặc ở những điều kiện thi công không thể đưa thiết bị để đầm rung được phải cần một loại bê tông có tính chảy dẻo cao nhưng không bị phân tầng và tự lèn chặt do trọng lượng bản thân mà không cần đến năng lượng đầm rung.Bê tông tự lèn là loại bê tông có khả năng đáp ứng các yêu cầu trên. Những tính chất đặc biệt khác như cường độ cao về chịu kéo và chịu nén, độ chống thấm cao, tuổi thọ cao,… càng khiến cho lĩnh vực áp dụng loại bê tông tự lèn ngày càng mở rộng. Trong những năm gần đây, mặc dù có những tín hiệu cho thấy bê tông tự lèn dần được chấp nhận ở Việt Nam nói chung và ở khu vực Miền Nam nói riêng thông qua việc sử dụng bê tông tự lèn trong một số kết cấu giới hạn như các kết cấu thành mỏng, ống thép nhồi bê tông, các vị trí dày đặc cốt thép như đầu dầm, đầu cột, đầu tháp cầu dây văng, các dầm hộp… Tuy nhiên, hầu như bê tông tự lèn còn khá mới mẻ đối với các nhà thiết kế, thi công cũng như các cơ quan quản lý ngành. Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc bê tông tự lèn chưa được áp dụng phổ biến là điều kiện cấp phối nghiêm ngặt, đặc biệt trong điều kiện địa phương chưa có những nghiên cứu đầy đủ và cụ thể. Một nguyên nhân khác là do hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế, thi công cho việc áp dụng vật liệu này chưa đầy đủ, rõ ràng. Cũng như chưa có nhiều nghiên cứu, ứng dụng sử dụng vật liệu sẵn có tại địa phương để chế tạo bê tông tự lèn. Mặc dù đây là loại vật liệu có nhiều tính năng mà so với bê tông truyền thống không có được. Ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã và đang triển khai rất nhiều các dự án xây dựng nhà cao tầng, các công trình cầu lớn có nhiều dạng kết cấu phức tạp. Vì vậy việc sử dụng bê tông tự lèn sử dụng vật liệu tại địa phương vào thực tế xây dựng sẽ đem lại lợi ích đáng kể về mặt kinh tế và kỹ thuật.
TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG TỰ LÈN
Đặc điểm của bê tông tự lèn
Bê tông tự lèn, giống như bê tông thông thường, được chế tạo từ các vật liệu như chất kết dính xi măng, cốt liệu nhỏ, cốt liệu lớn, nước và phụ gia Điểm khác biệt chính trong công nghệ thi công bê tông tự lèn là không cần sử dụng công đoạn đầm chặt bằng chấn động Để có thể lấp đầy cốp pha chỉ bằng trọng lượng của chính nó, bê tông tự lèn phải đạt khả năng chảy cao mà không bị phân tầng Do đó, đặc trưng quan trọng của loại bê tông này là sự cân bằng giữa độ chảy và tính ổn định của hỗn hợp Để đạt được điều này, bê tông tự lèn cần đáp ứng một số yêu cầu nhất định.
- Sử dụng phụ gia siêu dẻo để đạt khả năng chảy dẻo cao của hỗn hợp bê tông;
- Sử dụng hàm lượng lớn phụ gia mịn để tăng độ linh động của vữa xi măng;
Bê tông tự lèn có hàm lượng cốt liệu lớn thấp hơn so với bê tông thông thường Bên cạnh những đặc tính cơ bản, quy trình chế tạo và thi công của bê tông tự lèn cũng khác biệt so với bê tông truyền thống.
- Sự bắt đầu và kết thúc ninh kết của bê tông tự lèn có khuynh hướng chậm hơn so với bê tông thường
- Khả năng vận chuyển vữa bê tông theo đường ống bằng máy bơm của bê tông tự đầm cao hơn so với bê tông thường
Bê tông tự lèn đòi hỏi quy trình kiểm tra chất lượng, sản xuất và thi công nghiêm ngặt hơn so với bê tông thông thường, do sự nhạy cảm lớn dẫn đến dao động chất lượng và các sự cố trong quá trình trộn vật liệu.
- Do không thực hiện việc rung động làm chặt, yêu cầu quan tâm đến thời gian duy trì chất lượng cũng như độ chảy lớn hơn bê tông thường.
Ưu và nhược điểm của bê tông tự lèn
Bê tông tự lèn là một giải pháp hoàn hảo thay thế cho bê tông thông thường nhờ vào độ linh động cao, khả năng tự làm đầy, và khả năng chảy qua các vật cản mà không bị phân tầng Điều này làm cho bê tông tự lèn rất phù hợp cho các công trình xây dựng, đặc biệt ở những vị trí có cốt thép dày đặc, kết cấu mỏng, hoặc trong các điều kiện thi công khó khăn như dưới nước, trên cao, và các kết cấu như dầm, cột xiên Tại Việt Nam, bê tông tự lèn thường được áp dụng để giải quyết các vấn đề thi công trong những điều kiện mà bê tông thông thường không thể sử dụng, đồng thời vẫn đảm bảo chất lượng công trình.
Tiết kiệm chi phí lao động và máy móc trong thi công bê tông giúp rút ngắn thời gian xây dựng, từ đó giảm tổng giá thành các công trình Điều này không chỉ tiết kiệm ngân sách nhà nước mà còn nâng cao lợi nhuận cho các nhà đầu tư.
Nâng cao mức an toàn lao động cho con người trong xây dựng nhờ việc giảm chi phí nhân công
Việc thi công xây dựng có thể giảm thiểu đáng kể độ ồn nhờ không sử dụng các thiết bị đầm chặt cho bê tông, từ đó góp phần giảm ô nhiễm môi trường.
Nguồn nguyên liệu: xi măng, phụ gia trơ, xỉ lò cao, puzơland sẵn có ở Việt Nam.
Tuy mang trong mình khá nhiều ưu điểm nỗi trội nhưng bê tông tự lèn vẫn còn tồn tại song song một số nhược điểm nhất định như:
- Giá thành cao hơn bê tông thường
- Khó khăn cho việc kiểm soát chất lượng vật liệu đầu vào
Đội ngũ cán bộ kiểm tra và giám sát chất lượng bê tông cần phải có kinh nghiệm phong phú và tinh thần trách nhiệm cao, cả trong nhà máy lẫn trên công trường.
Việt Nam sở hữu nguồn nhân lực dồi dào và chi phí lao động thấp, điều này khiến cho việc tiết kiệm nhân lực không phải là yếu tố thuyết phục trong việc giảm giá thành sản phẩm.
- Không thi công được cho các cấu kiện nằm nghiêng, dốc (bản thang, mái dốc )
Thiết bị phục vụ cho chế tạo và thí nghiệm kiểm tra chất lượng bê tông tự đầm có tính chất phức tạp, yêu cầu sự đồng bộ và hiện đại Do đó, cán bộ và công nhân cần trang bị kiến thức chuyên môn nhất định để đáp ứng các yêu cầu trong quá trình này.
VẬT LIỆU CHẾ TẠO BÊ TÔNG TỰ LÈN
Xi măng
Hiện nay, bê tông tự lèn thường sử dụng các loại xi măng như xi măng poóc lăng thông thường, xi măng giàu belite (với thành phần C2S từ 40-70%) và xi măng toả nhiệt thấp có thành phần C3A và C4AF nhỏ Việc lựa chọn xi măng với hàm lượng khoáng C3A và C4AF thấp trong sản xuất bê tông tự lèn giúp cải thiện hiệu quả phân tán và giảm nhiệt tỏa ra trong quá trình thủy hóa mà không cần giảm hàm lượng chất bột.
CHUYÊN ĐỀ BÊ TÔNG TỰ LÈN SVTH: NHÓM 1
Hình 2.1 Xi măng chế tạo bê tông tự lèn
Cốt liệu nhỏ
Cốt liệu nhỏ trong bê tông tự lèn chủ yếu là cát thạch anh với mô đun độ lớn từ 2,6 đến 3,0 Sự thay đổi lượng nước có thể ảnh hưởng đến khả năng phân tầng và tách nước của bê tông, do đó, cần duy trì độ ẩm ổn định của cát trong quá trình sản xuất Độ ẩm của cát sử dụng nên tương tự như trong các thí nghiệm để đảm bảo chất lượng bê tông.
Hình 2.2 Cát thạch anh dùng để chế tạo bê tông tự lèn
Cốt liệu lớn
Trong bê tông, cốt liệu lớn chiếm 0,37-0,47% thể tích và ảnh hưởng đến chất lượng bê tông Tuy nhiên, trong bê tông tự lèn, hàm lượng cốt liệu lớn được sử dụng ít hơn để đảm bảo tính tự đầm Khả năng tự chảy và tự đầm của bê tông tự lèn phụ thuộc vào kích thước và hàm lượng cốt liệu lớn Nếu kích thước hạt lớn nhất vượt quá mức cho phép, khả năng chảy sẽ không đạt yêu cầu.
Đá dăm trong sản xuất bê tông tự đầm cần được duy trì ở trạng thái bão hòa khô bề mặt để đảm bảo không làm thay đổi lượng nước trộn trong bê tông, tương tự như cách sử dụng cát cho bê tông tự đầm.
Hình 2.3 Đá dăm để chế tạo bê tông tự lèn
Phụ gia mịn
Trong bê tông tự lèn việc sử dụng phụ gia khoáng có hàm lượng hạt mịn (bột) lớn làm tăng độ nhớt dẻo của vữa xi măng
Phụ gia khoáng mịn là thành phần quan trọng trong chế tạo bê tông tự lèn, với nhiều loại như silicafume, tro nhiệt điện, xỉ lò cao, bột đá vôi và tro trấu Những phụ gia này không chỉ cải thiện tính chất của bê tông mà còn tăng cường độ bền và khả năng chống thấm nước Sử dụng đúng loại phụ gia sẽ giúp tối ưu hóa quá trình thi công và nâng cao chất lượng công trình.
Bột đá vôi là sản phẩm từ việc nghiền mịn đá vôi, chủ yếu chứa canxi cacbonat (CaCO3) Với hoạt tính rất thấp, bột đá vôi thường được sử dụng như một phụ gia trơ hoặc thành phần mịn trong bê tông.
CHUYÊN ĐỀ BÊ TÔNG TỰ LÈN SVTH: NHÓM 1
Tro nhiệt điện là sản phẩm phụ thu được từ quá trình đốt than ăngtraxit và than đá tại các nhà máy điện Chất này tồn tại dưới dạng bột với kích thước nhỏ hơn 0,3 mm, có khối lượng riêng dao động từ 2,2 đến 2,8 g/cm3 và khối lượng thể tích xốp khoảng 500 - 1000 kg/m3.
Tro nhiệt điện là một vật liệu mịn có tính puzơlanic, được sử dụng trong bê tông tự lèn để cải thiện các đặc tính của bê tông.
Xỉ lò cao là sản phẩm phụ từ quá trình luyện gang, được làm nguội nhanh để tạo thành hạt pha thủy tinh Khi nghiền mịn, xỉ lò cao trở thành chất độn mịn với khả năng thuỷ hoá cao Việc thêm xỉ lò cao nghiền mịn vào bê tông tự lèn giúp cải thiện đáng kể tính chất lưu biến của hỗn hợp bê tông.
Mêta cao lanh là phụ gia khoáng có hàm lượng SiO2 + Al2O3 vượt quá 90%, được hình thành từ quá trình chuyển đổi kaolinít thành mulít dưới nhiệt độ cao từ 700-900 độ C Sau khi được nghiền mịn, mêta cao lanh có thể sử dụng làm phụ gia khoáng hoạt tính cho bê tông, giúp cải thiện tính công tác của hỗn hợp và tăng cường độ đặc chắc cho bê tông sau khi đã đóng rắn.
Tro trấu là sản phẩm thu được từ quá trình đốt cháy trấu, với hàm lượng SiO2 vượt quá 85% Sau khi được nghiền mịn, tro trấu có thể được sử dụng như một phụ gia cho bê tông, tương tự như mêta cao lanh.
CHUYÊN ĐỀ BÊ TÔNG TỰ LÈN SVTH: NHÓM 1
Hình 2.8 Tro sau quá trình đốt cháy trấu
Tro trấu cải thiện tính chất bê tông bằng cách phản ứng với hydroxyt canxi, làm tăng lượng gel hydrosilicat canxi và lấp đầy khoảng trống giữa các hạt xi măng, từ đó nâng cao độ đặc chắc của bê tông.
Silicafume là một vật liệu mịn chứa từ 85-98% oxit silic vô định hình, được sản xuất từ quá trình sản xuất xilic và hợp kim silic bằng hồ quang Với bề mặt hấp phụ lớn, silicafume có khả năng giữ nước tốt trong hỗn hợp bê tông, giúp cải thiện tính công tác Đồng thời, silicafume tham gia vào phản ứng với các sản phẩm thủy hóa của xi măng, cùng với các hạt siêu mịn, lấp đầy các lỗ rỗng trong xi măng, từ đó tăng cường độ và độ đặc chắc cho đá xi măng.
Phụ gia siêu dẻo
Trong chế tạo bê tông tự lèn, hai loại phụ gia siêu dẻo thường được sử dụng là phụ gia siêu dẻo giảm nước mức độ cao và phụ gia siêu dẻo giảm nước cuốn khí Những phụ gia này không chỉ giúp tăng độ chảy của hỗn hợp bê tông mà còn phải duy trì tính công tác theo thời gian Hiện nay, phụ gia siêu dẻo gốc polycarboxylate được ưa chuộng vì khả năng duy trì tính công tác của bê tông tự lèn tốt hơn so với các loại phụ gia khác.
II PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ CẤP PHỐI
2.1 Nguyên lý cấp phối của bê tông tự lèn Đặc điểm của BTTL là cường độ cao (> 40 MPa) vì lỗ rỗng ít, tuổi thọ cao, độ chống thấm tốt [35] BTTL được chế tạo theo nguyên tắc sử dụng phụ gia khoáng hoạt tính, tỷ lệ N/B thấp, giảm tối đa hàm lượng cốt liệu lớn, lượng phụ gia siêu dẻo cao.
Phụ gia khoáng hoạt tính được sử dụng để tăng hàm lượng bột trong hỗn hợp bê tông, giúp tăng thể tích hồ và cải thiện tính lưu biến với lượng xi măng tương đối nhỏ và tỷ lệ N/B thấp Điều này không chỉ tăng độ liên kết của hỗn hợp bê tông tự lèn (BTTL) mà còn đảm bảo cường độ yêu cầu, đồng thời giảm tối đa hàm lượng cốt liệu lớn để cải thiện tính công tác Hỗn hợp BTTL có tỷ lệ bột cao hơn và cốt liệu lớn thấp hơn so với bê tông truyền thống, cùng với hàm lượng phụ gia siêu dẻo cao để đảm bảo độ chảy cần thiết Thành phần vật liệu của BTTL có xu hướng tương tự như bê tông cường độ cao, như được thể hiện trong Hình 2.1 khi so sánh với bê tông truyền thống.
CHUYÊN ĐỀ BÊ TÔNG TỰ LÈN SVTH: NHÓM 1
Hình 2.1 So sánh thành phần vật liệu giữa BTTL và BT truyền thống
2.2 Phương pháp thiết kế cấp phối bê tông tự lèn
Hiện nay, chưa có tiêu chuẩn riêng về thiết kế cấp phối bê tông thương phẩm (BTTL) tại nhiều quốc gia, mà thiết kế cấp phối chủ yếu dựa vào hướng dẫn từ các tổ chức, hiệp hội nghề và nhà nghiên cứu bê tông Hầu hết các phương pháp thiết kế cấp phối tập trung vào tính công tác của hỗn hợp bê tông, trong khi chỉ có hai phương pháp dựa vào cường độ nén làm tiêu chí thiết kế Phương pháp thiết kế cấp phối BTTL được chia thành hai nhóm chính.
- Thiết kế dựa trên sự tối ưu hóa lượng hồ bao quanh cốt liệu.
- Thiết kế dựa trên số liệu thực nghiệm và đánh giá vật liệu sử dụng.
Phương pháp thiết kế bê tông dựa trên tối ưu hóa lượng hồ bao quanh cốt liệu bao gồm phương pháp CBI và ICAR Thể tích hồ được xác định từ thể tích khoảng trống giữa các cốt liệu, trong khi thiết kế thành phần hồ phụ thuộc vào việc đo lưu biến của hồ Mặc dù quy trình này phức tạp do cần phải đo đạc để xác định thể tích khoảng trống và tính lưu biến, nhưng kết quả cuối cùng vẫn cần được thử nghiệm để kiểm tra tính công tác của hỗn hợp bê tông và cường độ nén, từ đó điều chỉnh các thành phần vật liệu cho phù hợp.
Phương pháp thiết kế dựa trên số liệu thực nghiệm và đánh giá vật liệu sử dụng giúp đơn giản hóa quy trình, nhờ vào việc tận dụng các kết quả khảo sát đã có Điều này không chỉ giảm thiểu khối lượng công việc mà còn nâng cao hiệu quả trong việc lựa chọn vật liệu phù hợp.
40% thể tích vữa, cốt liệu lớn (đá) chiếm 50% thể tích bê tông, tỷ lệ (N/B)v giả định trong khoảng 0,9 – 1(Hình 3.1).
The European Federation of National Associations Representing Concrete (EFNARC) recommends a volume-based water-to-binder ratio (N/B) ranging from 0.85 to 1.10 It suggests a binder volume of 160 to 240 liters, coarse aggregate volume of 270 to 360 liters, and sand comprising 48-55% of the total aggregate volume Additionally, the recommended water volume is between 150 to 210 liters per cubic meter, with air content around 2% of the total volume.
Viện bê tông châu Mỹ khuyến cáo trong ACI 237.R: cốt liệu lớn lấy bằng 50% thể tích bê tông, thể tích hồ 34 - 40%, thể tich vữa 68 - 72%, tỷ lệ N/B = 0,32
Tính tự lèn của bê tông có thể đạt được thông qua việc điều chỉnh tỷ lệ N/B và hàm lượng phụ gia siêu dẻo Để thiết kế cấp phối bê tông tự lèn (BTTL), cần kết hợp đánh giá công nghệ - kỹ thuật, thiết bị chế trộn bê tông trong phòng thí nghiệm, chất lượng vật liệu thành phần, trình độ nhân lực thí nghiệm, và phương pháp thiết kế dựa trên số liệu thực nghiệm cùng với việc lựa chọn các vật liệu sử dụng phù hợp.
Hình 2.1 Tỷ lệ theo thể tích của các thành phần trong hỗn hợp BTTL [99]
III THI CÔNG BÊ TÔNG TỰ LÈN
CHUYÊN ĐỀ BÊ TÔNG TỰ LÈN SVTH: NHÓM 1
Bê tông tự lèn, so với bê tông truyền thống có độ sụt thấp hơn, dễ bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi trong đặc điểm vật liệu và phương pháp trộn Do đó, quá trình sản xuất và thi công cần được giám sát chặt chẽ Đối với bê tông tự lèn sản xuất tại nhà máy, hoạt động và vật liệu cần được kiểm soát theo chương trình đảm bảo chất lượng Hỗn hợp bê tông tự lèn phải đáp ứng tiêu chuẩn công bố và các quy định về sản phẩm, hàng hóa.
3.1.2 Yêu cầu chuẩn bị vật liệu
Yêu cầu kỹ thuật cho vật liệu sản xuất bê tông tự lèn bao gồm xi măng, cốt liệu nhỏ, cốt liệu lớn (Dmax < 20 mm), phụ gia khoáng, phụ gia hóa học và nước, cần tuân thủ theo quy định tại TCVN 12209 Đảm bảo khối lượng vật liệu phù hợp là rất quan trọng để tránh tình trạng gián đoạn trong quá trình cấp bê tông.
3.1.3 Yêu cầu thiết bị trộn và mẻ trộn thử
Bê tông tự lèn có thể được trộn bằng nhiều loại máy trộn, nhưng máy trộn cưỡng bức là lựa chọn tối ưu nhất Để đảm bảo chất lượng, hỗn hợp bê tông tự lèn cần được trộn đồng nhất và tách rời, giúp phụ gia siêu dẻo phân tán đều trong hỗn hợp.
Trước khi cung cấp bê tông tự lèn, cần thực hiện mẻ trộn thử để đảm bảo tỷ lệ thành phần và cấp phối đáp ứng yêu cầu kỹ thuật Mẻ trộn thử phải tuân thủ quy trình và thứ tự nạp vật liệu, giúp kiểm tra thời gian duy trì độ linh động của hỗn hợp, từ đó tính toán thời gian vận chuyển đến công trường Ngoài ra, việc trộn thử còn nhằm đúc mẫu kiểm tra cường độ bê tông ở các tuổi 3, 7, 14 và 28 ngày, phục vụ cho quyết định tháo dỡ ván khuôn sau thi công.
3.1.4 Quy trình trộn tại trạm
Bê tông tự lèn có hàm lượng chất kết dính và tính chảy cao, nên việc trộn để đạt được hỗn hợp đồng nhất rất khó khăn Nếu không tuân thủ quy trình, sẽ hình thành các "quả bóng" vật liệu không đồng đều trong thùng trộn, khó bị phá vỡ, đặc biệt khi sử dụng máy trộn rơi tự do hoặc máy trộn gắn trên xe chuyển trộn Để trộn bê tông tự lèn hiệu quả, cần bắt đầu bằng cách kết hợp cốt liệu với chất kết dính, bột mịn, và thêm nước cùng phụ gia siêu dẻo Đối với máy trộn rơi tự do, khoảng hai phần ba lượng nước được cho vào trước, sau đó là cốt liệu và xi măng; khi hỗn hợp đã đồng nhất, thêm nước còn lại và chất siêu dẻo Nếu sử dụng phụ gia biến tính độ nhớt (VMA), hãy cho vào cuối cùng, sau khi đã thêm nước và phụ gia siêu dẻo.
Khi sử dụng máy trộn gắn trên xe chuyển trộn, thời gian trộn yêu cầu thường dài hơn so với máy tại trạm trộn do hiệu quả kém hơn Việc kiểm tra tình trạng của bom chuyển trộn và lưỡi trộn là rất quan trọng, đặc biệt đối với bê tông tự lèn Tốc độ quay của bom trong chu kỳ trộn cần tuân theo khuyến nghị của nhà sản xuất, với tốc độ trộn cho bê tông tự lèn thường nằm trong khoảng (10 + 15) r/min Đối với máy trộn cưỡng bức, cốt liệu, xi măng và bột mịn thường được cho vào trước, sau đó mới bổ sung nước trộn chính và phụ gia siêu dẻo Khi sử dụng, phụ gia biến tính độ nhớt (VMA) cũng cần được chú ý.
CHUYÊN ĐỀ BÊ TÔNG TỰ LÈN SVTH: NHÓM 1
Để xác định quy trình trộn chính xác cho sản xuất, cần tiến hành thử nghiệm trước Có nhiều quy trình trộn khác nhau, và việc lựa chọn quy trình phù hợp là rất quan trọng.
3.1.5 Kiểm soát sản xuất a Thành phần kiểm soát