1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Bài thảo luận nhóm b1 KTQT (216) 2

28 192 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 507,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung lí thuyết lợi thế so sánh Nội dung quy luật lợi thế so sánh: “ Khi mỗi quốc gia thực hiện chuyên mônhóa sản xuất và trao đổi mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh với các quốc gia

Trang 1

MỤC LỤC

1 Khái quát về lợi thế so sánh và thị trường cà phê thế giới 2

1.1 Lý thuyết về lợi thế so sánh 2

1.1.1 Lợi thế so sánh của Ricardo 2

1.1.2 Lợi thế so sánh của Heckscher – Ohlin 7

1.2 Khái quát về thị trường cà phê thế giới 10

1.2.1 Lịch sử phát triển của ngành ca phê thế giới 10

1.2.2 Những đặc điểm chính của thị trường cà phê toàn cầu 10

2 Lợi thế so sánh trong hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam 13

2.1 Những cơ sở chủ yếu của lợi thế so sánh trong hoạt động xuất khẩu cà phê Việt Nam 13

2.2 Tình hình xuất khẩu cà phê Việt Nam 16

2.2.1 Những đặc điểm chính của thị trường cà phê Việt Nam 16

2.2.2 Tình hình xuất khẩu cà phê Việt Nam 18

3 Những biện pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát huy lợi thế so sánh để đẩy mạnh xuất khẩu cà phê Việt Nam 21

3.1 Thuận lợi và khó khăn đối với hoạt động xuất khẩu cà phê Việt Nam 21

3.2 Những biện pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát huy lợi thế so sánh để đẩy mạnh xuất khẩu cà phê Việt Nam 24

3.2.1 Những giải pháp nhằm phát triển sản xuất và chế biến cà phê xuất khẩu 24

3.2.2 Các biện pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu cà phê Việt Nam 26

Trang 2

Đề tài thảo luận:

Lợi thế so sánh trong hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam

1 Khái quát về lợi thế so sánh và thị trường cà phê thế giới

1.1 Lý thuyết về lợi thế so sánh

1.1.1 Lợi thế so sánh của Ricardo

1.1.1.1 Giới thiệu về Ricardo (1772 - 1823)

David Ricardo là con thứ 3 trong số 17 người con, trong gia đình rất thành đạt.Cha ông là người làm ngân hàng giàu có Lúc đầu ở Hà-Lan, sau chuyển tới London.David học không nhiều và đi làm cho cha khi 14 tuổi Khi 21, ông cưới vợ trái ý giađình và bị tước thừa kế, ông lập công ty môi giới chứng khoán Ricardo thành côngnhư một hiện tượng và ông về hưu tuổi 42, tập trung viết lách và chính trị; đóng gópnhiều cho lý thuyết kinh tế; là bạn của nhiều nhà kinh tế học cổ điển Thomas Malthus

và Jean-Baptiste Say Cùng với Malthus ông mang quan điểm bi quan về tương lai lâudài của xã hội Tuy vậy, phần lớn tư tưởng học thuyết Ricardo ngày nay vẫn còn giátrị lớn và được giảng dạy rộng rãi Các ấn phẩm của Ricardo đương thời không bánchạy lắm, nhưng qua thời gian loài người đã nhận thức đúng giá trị to lớn của chúng.Phần lớn các lý thuyết của ông tập trung vào lĩnh vực thị trường tiền tệ, và chứngkhoán, bao gồm:

- Giá vàng cao, một bằng chứng xuống giá của giấy nợ ngân hàng (1810)

- Trả lời các quan sát của Bosanquet về báo cáo của Bullion Committee (1811)

- Đề xuất về đồng tiền an toàn và tiết kiệm (1816)

Tác phẩm quan trọng về kinh tế học thị trường:

- Luận văn về ảnh hưởng của giá ngô thấp và lợi nhuận của cổ phiếu (1815)

- Các nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khoá (1817)

1.1.1.2 Nội dung lí thuyết lợi thế so sánh

Nội dung quy luật lợi thế so sánh: “ Khi mỗi quốc gia thực hiện chuyên mônhóa sản xuất và trao đổi mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh với các quốc gia khác thìmức sản lượng và tiêu dùng của toàn thế giới sẽ tăng lên, và tất cả các quốc gia đềutrở nên sung túc hơn”

Lý thuyết này được phát triển dựa trên quan điểm lợi thế tuyệt đối của AdamSmith Theo đó, Ricardo đã nhấn mạnh: Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toànhơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản

Trang 3

và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuấtmột số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác.Bằng việc chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế sosánh, mức sản lượng và tiêu dùng trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều cólợi ích từ thương mại Như vậy lợi thế so sánh là cơ sở để các nước buôn bán với nhau

và là cơ sở để thực hiện phân công lao động quốc tế

Lý thuyết của Ricardo được xây dựng trên một số giả thiết:

- Mọi nước có lợi về một loại tài nguyên và tất cả các tài nguyên đã được xácđịnh

- Các yếu tố sản xuất dịch chuyển trong phạm vi 1 quốc gia

- Các yếu tố sản xuất không được dịch chuyển ra bên ngoài

- Mô hình của Ricardo dựa trên học thuyết về giá trị lao động

- Công nghệ của hai quốc gia như nhau

- Chi phí sản xuất là cố định

- Sử dụng hết lao động (lao động được thuê mướn toàn bộ)

- Nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo

- Chính phủ không can thiệp vào nền kinh tế

- Chi phí vận chuyển bằng không

- Phân tích mô hình thương mại có hai quốc gia và hai hàng hoá

1.1.1.3 Phân tích của Ricardo về lợi thế so sánh

Năm 1817, nhà kinh tế học người Anh David Ricardo đã nghiên cứu và chỉ rarằng chuyên môn hóa quốc tế sẽ có lợi cho tất cả các quốc gia và gọi kết quả này làquy luật lợi thế so sánh Ông đã phân tích như sau:

Bảng 1 – chi phí về lao động sản xuất

(giờ công)

Trong ví dụ này Bồ Đào Nha có lợi thế tuyệt đối so với Anh trong sản xuất cảlúa mỳ lẫn rượu vang: năng suất lao động của Bồ Đào Nha gấp hai lần Anh trong sảnxuất rượu vang và gấp 1,5 lần trong sản xuất lúa mỳ Theo suy nghĩ thông thường,trong trường hợp này Bồ Đào Nha sẽ không nên nhập khẩu mặt hàng nào từ Anh cả.Thế nhưng phân tích của Ricardo đã dẫn đến kết luận hoàn toàn khác:

Trang 4

1 đơn vị rượu vang tại Anh sản xuất phải tốn chi phí tương đương với chi phí

để sản xuất 2 đơn vị lúa mỳ (hay nói một cách khác, chi phí cơ hội để sản xuất 1 đơn

vị rượu vang là 2 đơn vị lúa mỳ); trong khi đó, tại Bồ Đào Nha, để sản xuất 1 đơn vịrượu vang chỉ mất chi phí tương đương với chi phí để sản xuất 1,5 đơn vị lúa mỳ (haychi phí cơ hội để sản xuất 1 đơn vị rượu vang là 1,5 đơn vị lúa mỳ) Vì thế ở Bồ ĐàoNha sản suất rượu vang rẻ hơn tương đối so với ở Anh

Tương tự như vậy, ở Anh, sản xuất lúa mỳ rẻ hơn tương đối so với Bồ Đào Nha(vì chi phí cơ hội chỉ có 0,5 đơn vị rượu vang trong khi ở Bồ Đào Nha phải mất 2/3đơn vị rượu vang) Hay nói một cách khác, Bồ Đào Nha có lợi thế so sánh về sản xuấtrượu vang còn Anh có lợi thế so sánh về sản xuất lúa mỳ Để thấy được cả hai nước sẽcùng có lợi nếu chỉ tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh: BồĐào Nha chỉ sản xuất rượu vang còn Anh chỉ sản xuất lúa mỳ rồi trao đổi thương mạivới nhau, Ricardo đã làm như sau:

Ông giả định nguồn lực lao động của Anh là 270 giờ công lao động, còn của

Bồ Đào Nha là 180 giờ công lao động

Nếu không có thương mại, cả hai nước sẽ sản xuất cả hai hàng hoá và theo chiphí tại Bảng 1 thì kết quả là số lượng sản phẩm được sản xuất ra như sau:

Bảng 2 - Trước khi có thương mại

Bảng 3 - Sau khi có thương mại

Trang 5

1.1.1.4 Mở rộng phân tích lợi thế so sánh cho nhiều hàng hóa và nhiều quốc gia

Trường hợp có nhiều hàng hoá với chi phí không đổi và có hai quốc gia thì lợithế so sánh của từng hàng hoá sẽ được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên từ hàng hoá có lợithế so sánh cao nhất đến hàng hoá có lợi thế so sánh thấp nhất và mỗi nước sẽ tậptrung vào sản xuất những mặt hàng có lợi thế so sánh từ cao nhất đến cao ở mức cânbằng Ranh giới mặt hàng nào là có lợi thế so sánh cao ở mức cân bằng sẽ do cung cầutrên thị trường quốc tế quyết định

Trường hợp có nhiều nước thì có thể gộp chung tất cả các nước khác thành mộtnước gọi là phần còn lại của thế giới và những phân tích trên vẫn giữ nguyên tínhđúng đắn của nó Lợi thế so sánh không những áp dụng trong trường hợp thương mạiquốc tế mà còn có thể áp dụng cho các vùng trong một quốc gia một cách hoàn toàntương tự

1.1.1.5 Hạn chế của nguyên tắc lợi thế so sánh

Hạn chế của nguyên tắc lợi thế so sánh nằm trong các giả định của nó, ví dụ giảđịnh rằng các nhân tố sản xuất có thể dịch chuyển hoàn hảo sẽ nảy sinh hạn chế nếutrên thực tế không được như vậy Những người sản xuất rượu vang của Anh có thểkhông dễ dàng tìm được việc làm (chuyển sang sản xuất lúa mỳ) khi nước Anh khôngsản xuất rượu vang nữa và sẽ thất nghiệp Nền kinh tế sẽ không toàn dụng nhân cônglàm cho sản lượng giảm sút Chính vì thế mặc dù nguyên tắc lợi thế so sánh có thểđược tổng quát hoá cho bất kỳ quốc gia nào, với nhiều loại hàng hoá, nhiều loại đầuvào, tỷ lệ các nhân tố sản xuất thay đổi, lợi suất giảm dần khi quy mô tăng và là nềntảng của thương mại tự do nhưng những hạn chế như ví dụ vừa nêu lại là lập luận đểbảo vệ thuế quan cũng như các rào cản thương mại

1.1.1.6 Lợi thế so sánh về giá yếu tố đầu vào

Toàn bộ phân tích của Ricardo về lợi thế so sánh thực chất dựa trên sự khácnhau giữa các nước trong công nghệ sản xuất dẫn đến năng suất vật chất và đòi hỏi laođộng đơn vị khác nhau Xét trên góc độ giá yếu tố đầu vào cũng dẫn đến lợi thế sosánh với nền tảng công nghệ như nhau:

Các nước phát triển có cung yếu tố đầu vào về tư bản nhiều hơn các nước đangphát triển dẫn đến số lượng tư bản trên mỗi nhân công lớn hơn Ngược lại số nhâncông trên một đơn vị tư bản của các nước đang phát triển lại lớn hơn các nước pháttriển Như vậy giá thuê tư bản ở các nước phát triển rẻ hơn tương đối so với giá thuênhân công; ngược lại ở các nước đang phát triển giá thuê nhân công lại rẻ hơn tươngđối so với giá thuê tư bản Nói một cách khác, các nước phát triển có lợi thế so sánh

Trang 6

về giá thuê tư bản còn các nước đang phát triển có lợi thế so sánh về giá thuê nhâncông.

Quốc gia nào sản xuất hàng hóa có hàm lượng nhân tố đầu vào mà mình có lợithế so sánh cao một cách tương đối thì sẽ sản xuất được hàng hóa rẻ hơn tương đối và

sẽ có lợi thế so sánh về những hàng hóa này

Điều này lý giải vì sao Việt Nam lại xuất khẩu nhiều sản phẩm thô (dầu thô,than đá ) hoặc hàng hóa có hàm lượng nhân công cao như dệt may, giày dép cònnhập khẩu máy móc, thiết bị từ các nước phát triển

1.1.1.7 Liên hệ thực tiễn Việt Nam

Từ việc nghiên cứu lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo, Việt Nam đã xác địnhđược lợi thế của mình là trong sản xuất nông nghiệp và sản xuất những mặt hàng sửdụng nhiều lao động Việt Nam chủ yếu tâp trung xuất khẩu những mặt hàng nông sảnnhư gạo, cà phê, cao su, những mặt hàng thô sơ chưa qua sơ chế (dầu thô, than đá ) vàsau này là những mặt hàng sử dụng nhiều lao động như dệt may, giầy dép… Xuất phát

từ những lợi thế rất rõ mà Việt Nam đang có là vị trí địa lý thuận lợi cho sản xuấtnông nghiệp với trên 9 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó có hai vùng đồng bằng phìnhiêu là vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, là những vùng trồnglúa được xếp vào loại tốt nhất của thế giới; có vùng đất đồi núi bao la có thể phát triểncây công nghiệp và rừng; có bờ biển dài tới 3.200 km, cùng với diện tích mặt nước lớnkhác có thể phát triển thuỷ sản Lợi thế về tài nguyên thiên nhiên phong phú bao gồmtài nguyên đất, nước, biển, rừng, sinh vật, khoáng sản và du lịch Lợi thế về nguồn laođộng dồi dào

Nhưng với chiến lược đổi mới phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay,Việt Nam sẽ cần có một bước chuyển rất căn bản: mở rộng lợi thế so sánh ra nhiềumặt hàng, nhóm hàng có giá trị cao Muốn vậy phải kết hợp đồng thời nhiều yếu tố: vịtrí địa lý thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên sẵn có và nguồn nhân lực phong phú, trong

đó nguồn nhân lực là một yếu tố rất quan trọng cho việc thực hiện công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh phát triển hiện nay, bởi nó tạo ra bước nhảy vọt

về năng suất Hiện tại lợi thế so sánh cấp thấp (sản xuất ra sản phẩm sử dụng nhiềuyếu tố lao động, giá trị gia tăng thấp) đang là một nhân tố quan trọng hấp dẫn các nhàđầu tư nước ngoài vào Việt Nam Nhưng nếu chỉ đơn thuần dựa vào lợi thế này thìViệt Nam khó có khả năng thay đổi và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu công nghiệp

ở mức độ cao hơn Mặt khác, điều kiện tự do của AFTA, cùng với sự phát triển nhiềuloại hình công nghệ mới, sẽ hướng các công ty xuyên quốc gia đầu tư vào những nước

Trang 7

công nghệ cao, nhân công trình độ cao, cơ sở hạ tầng hiện đại…) Hơn nữa, giá cảcủa các loại hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra chủ yếu dựa trên lợi thế về điềukiện sản xuất cấp thấp luôn rẻ hơn so với các mặt hàng chế biến dựa trên lợi thế về cácđiều kiện sản xuất cấp cao hơn Vì vậy Việt Nam nên hướng tới sử dụng công nghệhiện đại, lao động có trình độ chuyên môn cao để sản xuất hàng xuất khẩu tránh phảichịu thiệt thòi về giá hàng xuất khẩu (giá trị gia tăng thấp).

1.1.2 Lợi thế so sánh của Heckscher – Ohlin

1.1.2.1 Cơ sở hình thành

Mô hình Heckscher – Ohlin (mô hình H –O), là mô hình toán cân bằng tổng thểtrong lý thuyết thương mại quốc tế và phân công lao động quốc tế dùng để dự báo xequốc gia nào sẽ sản xuất mặt hàng nào trên cơ sở những yếu tố sản xuất sẵn có củaquốc gia Heckscher và Ohlin (Thụy Điển) là hai người đầu tiên xây dựng mô hìnhnày Mô hình dựa trên lý luận về lợi thế so sánh của David Ricardo

Lý thuyết của Ricardo còn những hạn chế như không tính đến cơ cấu về nhucầu tieu dùng của mỗi nước, không đề cập tới chi phí vận tải, bảo hiểm hàng hóa vàhàng rào bảo hộ mậu dịch, không giải thích được nguồn gốc phát sinh thuận lợi củamột nước đối với một loại sản phẩm nào đó Để khắc phục những hạn chế này,Hecksher và Ohlin trong tác phẩm “Thương mại liên khu vực và quốc tế” xuất bảnnăm 1933 đã cố gắng giải thích nguyên nhân làm nên lợi thế so sánh trong mối quan

hệ thương mại quốc tế

1.1.2.2 Các giả thiết cơ bản của lý thuyết H – O

- Thế giới bao gồm 2 quốc gia, 2 yếu tố sản xuất (vốn, lao động) và 2 mặt hàng.Mức độ trang bị các yếu tố ở mỗi quốc gia là cố định và khác nhau

- Công nghệ sản xuất là giống nhau giữa 2 quốc gia

- Các mặt hàng khác nhau sẽ có hàm lượng các yếu tố sản xuất khác nhau,không có sự hoán vị về hàm lượng các yếu tố sản xuất tại bất kì mức giá cả yếu tốtương quan nào

- Cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên cả thị trường hàng hóa lẫn thị trường yếu tốsản xuất

- Chuyên môn hóa là không hoàn toàn

- Các yếu tố sản xuất có thể di chuyển tự do trong mỗi quốc gia, nhưng không

di chuyển được giữa các quốc gia

- Sở thích là giống nhau giữa 2 quốc gia

- Thương mại được thực hiện tự do, chi phí vận chuyển bằng 0

Trang 8

1.1.2.3 Hàm lượng các yếu tố sản xuất và mức độ dồi dào của các yếu tố sản xuất

Lý thuyết H – O được xây dựng trên 2 khái niệm cơ bản là hàm lượng các yếu

tố và mức độ dồi dào của các yếu tố

- Một mặt hàng được coi là có hàm lượng lao động cao nếu tỷ lệ lao động/vốn

sử dụng để sản xuất ra một đơn vị mặt hàng đó lơn hơn tỷ lệ tương ứng đối với mặthàng thứ 2:

Sự khác biệt về tổ hợp tương đối các nguồn lực là nguyên nhân dẫn đến lợi thế

so sánh của các quốc gia trong việc sản xuất các mặt hàng khác nhau, từ đó giúp giảithích được nguyên nhân, cơ cấu, cũng như luồng thương mại giữa các quốc gia

1.1.2.5 Các mệnh đề khác của lý thuyết H - O

- Định lý cân bằng giá cả yếu tố sản xuất: Thương mại tự do không chỉ làm cânbằng giá cả hàng hóa, mà còn làm cân bằng giá cả tương đối của các yếu tố sản xuấtgiữa hai quốc gia, và nếu hai quốc gia tiếp tục sản xuất cả hai mặt hàng khi có thươngmại (tức thực hiện chuyên môn hóa không hoàn toàn), thì thương mại sẽ cân bừng giá

cả tuyệt đối của các yếu tố sản xuất

- Định lý Stolper - Samuelson: Nếu giá tương đối của một mặt hàng nào đótăng lên, thì giá tương đối của yếu tố được sử dụng nhiều tương đối để sản xuất ra mặthàng đó sẽ tăng lên, còn giá tương đối của yếu tố còn lại sẽ giảm xuống

- Định lý Rybczynski: Nếu giá hàng hóa tương đối không đổi, thì sự gia tăngmức cung của một yếu tố sẽ làm tăng sản lượng mặt hàng sử dụng nhiều yếu tố đó, vàlàm giảm sản lượng của mặt hàng kia

Trang 9

1.1.2.6 Đánh giá lý thuyết H – O

* Những điểm mạnh của lý thuyết H – O

- Lý thuyết này đưa ra được cách giải thích khoa học, chặt chẽ và có tính logiccao về nguồn gốc lợi thế so sánh và thương mại giữa các quốc gia

- Lý thuyết H – O là công cụ nghiên cứu hết sức hữu ịch đối với các nhà kinh tếhọc quốc tế; chỉ với những giả thiết đơn giản và dựa trên khái niệm về mức dộ dồi dàocủa các yếu tố sản xuất, lý thuyết này không chỉ cho phép đưa ra dự đoán về cơ cấusản xuất và thương mại của các quốc gia, mà còn giúp cho việc nghiên cứu một loạtcác vấn liên quan đến giá cả các yếu tố sản xuất, tác động của sự tăng trưởng các yếu

tố sản xuất đến quy mô sản xuất và thương mại, ảnh hưởng của thương mại đến quátrình phân phối thu nhập của mỗi quốc gia

- So với lý thuyết của Ricardo, có tính khái quát cao hơn, được bổ sung kháiniệm vốn con người

- Kết quả của các công trình kiểm chứng thực tế lý thuyết H – O thường bị bópméo bởi các yếu tố không hoàn hảo trên thị trường

- Là một bộ phận cấu thành của lý thuyết kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất hiệnnay, góp phần quan trọng trong việc giải thích cơ chế vận hành của kinh tế thị trường

* Những thách thức đối với lý thuyết H – O

- Nghịch lý Leontief: Leontief đã sử dụng số liệu của những ngành cạnh tranhvới hàng hóa nhập khẩu của Mỹ năm 1947, tính toán lỷ lệ (K/L) của hàng hóa nhậpkhẩu và xuất khẩu có giá trị 1tr USD Ông đã phát hiện ra tỷ lệ K/L trong sản xuấtthay thế hàng nhập khẩu của Mỹ lớn hơn 30% so với tỷ lệ tương ứng trong sản xuấthàng xuất khẩu Như vậy, mặc dù Mỹ có nguồn vốn dồi dào hơn các quốc gia khác,nhưng đa số hàng hóa xuất khẩu lại là những mặt hàng có tỷ lệ lao động nhiều hơnvốn Điều này hoàn toàn trái ngược với kết luận của lý thuyết H – O

- Thương mại giữa các nước công nghiệp phát triển: Các quốc gia công nghiệpphát triển hiện nay có mức độ trang thiết bị các yếu tố sản xuất tương đối giống nhau,mâu thuẫn với dự đoán của lý thuyết H – O

- Thương mại nôi ngành: Một tỷ trọng lớn và ngày càng gia tăng của thươngmại thế giới, bao gồm những sản phẩm rất giống nhau Hiện tượng này không phù hợpvới kết luận của lý thuyết H – O

- Ảnh hưởng của quá trình tự do hóa thương mại: Thương mại quốc tế được tự

do hóa, làm gia tăng nhanh chóng về quy mô Quá trình phân bổ lại nguồn lực diễn ra

Trang 10

hạn chế, thương mại làm tăng năng suất của tất cả các yếu tố sản xuất, cũng như phúclợi của tất cả các tầng lớp khác nhau trong xã hội.

1.2 Khái quát về thị trường cà phê thế giới

1.2.1 Lịch sử phát triển của ngành cà phê thế giới

Người ta biết rằng, Kaffa (Ethiopia ngày nay) chính là vùng đất khởi nguyêncủa cây cà phê, từ thế kỷ thứ IX đã có những ghi nhận ở đây, đến thế kỷ XIV nhữngngười buôn nô lệ đã mang cà phê từ Ethiopia sang xứ Ả Rập Nhưng tới tận thế kỷ

XV người ta mới biết rang cà phê lên và sử dụng làm đồ uống Cà phê đã trở thànhmột thức uống truyền thống của người Ả Rập và là nơi trồng cà phê độc quyền vớitrung tâm giao dịch cà phê là thành phố cảng Mocha, hay còn được gọi là Mokka, tức

là thành phố Al Mukha thuộc Yemen ngày nay Người Ả Rập rất tự hào về phát minh

ra loại thức uống này và giữ bí mật để bảo tồn độc quyền về một loại sản phẩm Họđưa ra những chế tài rất chặt chẽ trong việc sản xuất và xuất khẩu cà phê như: Chỉmang hạt ra khỏi xứ sau khi đã rang chín,người ngoại quốc cũng bị cấm không chobén mảng đến các đồn điền cà phê Thế nhưng dù nghiêm ngặt đến mức nào thì cũng

có người vượt qua được, những khách hành hương được thưởng thức nước cà phê đãlén lút mang hạt giống về trồng, chẳng bao lâu khắp khu vực Trung Đông đều có trồng

và truyền đi mỗi lúc một xa hơn

* Sự xuất hiện tại bán đảo Ả Rập:

Người Ả Rập là những người đầu tiên không chỉ gieo trồng cà phê mà còn biến

cà phê hạt thành hàng hóa thương mại Đến thế kỷ thứ 15, cà phê được trồng nhiềunhất tại Yemen ở Ả Rập và chỉ ngay sau đó một thế kỉ, nó đã phủ rộng ra cả Ba Tư, AiCập, Syria và Thổ Nhĩ Kỳ

Cà phê khi đó không chỉ là một thức uống tại nhà mà còn phổ biến tại nhữngquán xá vùng Cận Đông, nó có mặt hầu hết trong các hoạt động xã hội Không chỉdùng cà phê để uống khi trò chuyện, khi thưởng thức nghệ thuật, chơi cờ tướng màcòn là thứ đồ uống quan trọng trong các cuộc họp chính trị

Với hàng ngàn khách hành hương thăm thánh địa Mecca mỗi năm từ tất cả cácnơi trên thế giới, tên tuổi của thứ đồ uống có tác dụng làm tinh thần sảng khoái, minhmẫn ngày một lan rộng ra Cà phê nổi tiếng tới mức họ gọi nó là “thứ rượu vang của ẢRập” và Ả Rập đã rất nỗ lực để duy trì độc quyền kinh doanh cà phê bằng việc kiểmsoát chặt chẽ sản lượng tiêu thụ hàng năm của nước này

*Sự xuất hiện tại châu Âu:

Trang 11

Du khách châu Âu sau khi đến vùng Cận Đông đã mang theo cà phê và câuchuyện về thứ đồ uống “đen tối khác thường” Vào thế kỷ thứ 17, cà phê đã phổ biếntoàn châu Âu và gây ra những cuộc tranh luận lớn Những người phản đối đã quá thậntrọng, kêu gọi mọi người tẩy chay “thức uống độc hại cay đắng của quỷ Satan” này.Tại Venice năm 1615, các giáo sĩ địa phương đã lên án việc sản xuất cà phê, cuộctranh cãi lớn tới mức Giáo Hoàng Clement VIII đã được yêu cầu can thiệp GiáoHoàng Clenment VIII đã tự mình thử nghiệm thứ đồ uống này và nó đã khiến ôngthấy thỏa mãn chứ không độc hại như lời truyền, ngay sau đó Giáo Hoàng đã chấpthuận cho cà phê được lưu thông trên thị trường.

Những quán cà phê mọc lên như nấm sau đó tại Anh, Áo, Pháp, Đức và Hà Lan

và nhanh chóng trở thành trung tâm của các hoạt động xã hội và truyền thông Vàogiữa thế kỷ 17, đã có hơn 300 quán cà phê tại London và thu hút rất nhiều khách hàng,

đa dạng tầng lớp ngành nghề trong xã hội như thương gia, chủ buôn, môi giới, nghệ sĩ,

… Từ đó cũng nhiều doanh nghiệp đã phát triển chuyên biệt về cà phê tồn tại cho tớinay

*Sự xuất hiện tại Mỹ:

Giữa những năm 1600, cà phê được đưa đến New Amsterdam – thành phố NewYork nổi tiếng sau này Tại đây, mặc dù cà phê cũng nhanh chóng được sử dụng và sựxuất hiện của các cửa hàng cà phê cũng mở rộng dần nhưng trà vẫn là một thức uống

ưa chuộng hơn cả cho tới tận năm 1773, sau khi xảy ra cuộc đấu tranh chống lại việc

áp đặt khoản thuê quá nặng lên trà bởi King George Lúc này, cà phê dần trở thànhthức uống ưa thích nhất tại Mỹ

*Sự lan rộng ra toàn thế giới:

Sự cạnh tranh về cà phê ngày càng căng thẳng khi nhu cầu về thức uống nàytăng cao, người Ả Rập đã không thể duy trì vị thế độc quyền của mình và để nhữngnước khác có được cây giống Nhà truyền giáo, du khách, thương nhân và người dẫnthuộc địa tiếp tục mang các loại hạt cà phê đi khắp thế giới, chúng được gieo trồngkhắp nơi Kết quả là chỉ trong vòng 100 năm xuất hiện rất nhiều loại cà phê khác nhau

và cà phê là loại hàng hóa phổ biến nhất trên thế giới Thế kỷ 18, cà phê đã trở thànhmột trong những cây trồng xuất khẩu mang lại lợi nhuận cao nhất trên thế giới

1.2.2 Những đặc điểm chính của thị trường cà phê toàn cầu

Thị trường cà phê năm 2016: Chênh lệch giá robusta và arabica ngày càng thuhẹp Thị trường cà phê năm 2016 chịu tác động bởi hai yếu tố chính là, tình hìnhnguồn cung cà phê robusta và diễn biến tỷ giá USD/BRL

Trang 12

Kể từ sau khi đạt đỉnh vào cuối năm 2014 - đầu năm 2015, thị trường cà phêthế giới liên tục trượt giá, nhưng cho đến quý II/2016 giá mặt hàng này bắt đầu phụchồi mạnh mẽ và lấy lại đỉnh giá của năm 2015 vào tháng 10.

Cụ thể, lo ngại thiếu hụt nguồn cung hạt cà phê robusta cùng với sự phục hồicủa tỷ giá BRL/USD đã đẩy giá cà phê thế giới tăng mạnh trong tháng 10/2016, vớigiá cà phê trung bình của Hiệp hội Cà phê Quốc tế (ICO) lên cao nhất 21 tháng

Trong đó xét cả năm 2016, giá cà phê robusta tăng mạnh tới 45% trong khi giá

cà phê arabica chất lượng chỉ tăng 8,2% bởi nguồn cung arabica tại các nước sản xuấtlớn vẫn rất khả quan Kết quả là, chênh lệch giá giữa robusta và arabica ngày càng thuhẹp, thậm chí có những dự đoán hai loại hạt cà phê này sẽ sớm ngang giá

Nguồn cung robusta thiếu hụt trầm trọng trong khi chênh lệch giá arabica robusta ngày càng thu hẹp dẫn tới tình trạng các doanh nghiệp sử dụng arabica thaythế cho robusta trong quá trình chế biến thành phẩm

-Diễn biến giá cà phê trung bình kể từ đầu năm 2015 đến cuối năm 2016 Nguồn: ICO

Liệu thị trường cà phê, đặc biệt là robusta, có duy trì được đà tăng mạnh trong năm 2017?

Trong báo cáo tháng 12/2016, ICO ước tính sản lượng cà phê toàn cầu trong niên vụ 2016 - 2017 chỉ tăng rất nhẹ 0,1% so với niên vụ trước lên 151,6 triệu bao

Trong đó, sản lượng arabica ước tăng 4,4% lên kỷ lục 93,5 triệu bao nhờ vụ mùa bội thu ở Brazil, Colombia và Honduras Ngược lại, triển vọng nguồn cung robusta lại kém khả quan hơn khi các vựa trồng loại cà phê này phải hứng chịu đợt

Trang 13

hạn hán khắc nghiệt hoặc mưa bất thường, gây ảnh hưởng đến quá trình ra hoa và phơikhô cà phê Sản lượng robusta theo đó ước giảm 6% xuống còn 3,7 triệu bao.

2 Lợi thế so sánh trong hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam

2.1 Những cơ sở chủ yếu của lợi thế so sánh trong hoạt động xuất khẩu cà phê Việt Nam

2.1.1 Lợi thế so sánh trong sản xuất cà phê.

2.1.1.1 Lợi thế về điều kiện tự nhiên.

- Nước Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, trải dài theophương kinh tuyến từ 8⁰ 30’ đến 23⁰ 30’ vĩ độ bắc Điều kiện khí hậu, địa lý và đất đaithích hợp cho việc phát triển cà phê đã đem lại cho cà phê Việt Nam một hương vị rấtriêng, độc đáo

- Về khí hậu:

Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới, hàng năm khí hậu nắng lắm mưanhiều Lượng mưa phân bố đều giữa các tháng trong năm nhất là những tháng cà phêsinh trưởng Khí hậu Việt Nam chia thành hai miền rõ rệt: miền khí hậu phía Namthuộc khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thích hợp với cà phê Robusta; miền khí hậu phía Bắc

có mùa đông lạnh và có mưa phùn thích hợp với cà phê Arabica

- Về đất đai:

Việt Nam có đất đỏ bazan thích hợp với cây cà phê được phân bổ khắp lãnh thổtrong đó tập trung ở hai vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, với diện tích hàng triệuha

Như vậy, cây cà phê cần hai yếu tố cơ bản là nước và đất thì cả hai yếu tố nàyđều có ở Việt Nam Điều này tạo cho Việt Nam lợi thế mà các nước khác không cóđược

2.1.1.2 Lợi thê về nhân công

Việt Nam với dân số 92,7 triệu người; trong đó, 58,7% là trong độ tuổi laođộng từ 15 tuổi trở lên Đây là đội ngũ lao động khá dồi dào, cung cấp cho mọi hoạtđộng trong nền kinh tế quốc dân Sản xuất cà phê xuất khẩu là một quá trình bao gồmnhiều công đoạn, bắt đầu từ khâu nghiên cứu chọn giống, gieo trồng, khâu chăm sóc,thu mua, chế biến, bảo quản, bao gói, xuất khẩu Quá trình này đòi hỏi một đội ngũlao động khá lớn Đặc biệt ở Việt Nam thì việc ứng dụng máy móc vào việc sản xuất,chế biến cà phê chưa nhiều vì thế lợi thế về nhân công có thể giúp nước ta giảm rấtnhiều chi phí cho sản xuất cà phê xuất khẩu từ đó có thể hạ giá thành giúp cho ViệtNam có thể cạnh tranh được về giá so với các nước trên thế giới

Trang 14

Theo dự tính thì việc sản xuất cà phê xuất khẩu thu hút khá nhiều lao động: 1

ha cà phê thu hút từ 120.000- 200.000 lao động Riêng ở nước ta hiện nay có khoảng700.000 – 800.000 lao động sản xuất cà phê, đặc biệt vào thời điểm chăm sóc, thuhoạch con số này lên đến hơn 1 triệu người Như vậy, với nguồn lao động dồi dào nhưnước ta hiện nay có thể cung cấp một lượng lao động khá đông đảo cho ngành cà phê

2.1.1.3 Năng suất cà phê

Cà phê Việt Nam có năng suất khá cao: nếu như năng suất cà phê trung bìnhtrên thế giới là 0.55 tấn/ha, Châu Á là 0.77 tấn/ha thì ở Việt Nam con số này đạt tới1.2 – 1.3 tấn/ ha Năm 2015- 2016 năng suất trung bình của Việt Nam là 2.66 tấn/ ha.Năng suất cao này là do Việt Nam có nguồn giống tốt, có các yếu tố thuận lợi về đấtđai, khí hậu, đặc biệt người Việt Nam có kinh nghiệm lâu đời trong việc gieo trồng càphê

2.1.1.4 Lợi thế về con người

Người dân Việt Nam có đức tính chịu khó cần cù, có tinh thần học hỏi tiếp thukhoa học công nghệ để áp dụng vào trồng và chế biến cà phê xuất khẩu Điều nàycũng là lợi thế trong việc tạo ra một nguồn hàng cho cà phê xuất khẩu

2.1.1.5 Lợi thế về hương vị

Cà phê Việt Nam có hương vị tự nhiên ngon Cà phê Việt Nam được trồng trênvùng cao nguyên, núi cao có khí hậu, đất đai phù hợp Điều kiện này tao cho cà phêViệt Nam có hương vị riêng, đặc biệt mà các quốc gia khác không có được Điều này

là một lợi thế lớn của Việt Nam vì cà phê là thứ đồ uống dùng để thưởng thức, đôi khicòn thể hiện đẳng cấp của con người trong xã hội vì vậy hương vị cà phê luôn là mộtyếu tố lôi cuốn khách hàng, đặc biệt là khách hàng khó tính

2.1.2 Lợi thế so sánh trong xuất khẩu cà phê

2.1.2.1 Lợi thế về chiến lược và quy hoạch của Nhà nước

- Về chiến lược của Nhà Nước:

Trong những năm 2003- 2010 nhà nước đã xây dựng hoàn thiện các chiến lượcmặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong đó cà phê được xem xét làmặt hàng chủ lực số 1 Vị trí đó được xuất phát từ lợi thế đất đai, khí hậu, kinh nghiệmsản xuất của nông dân Lợi thế này kết hợp với chế độ chính trị, xã hội ổn định, cơ chếchính sách thời kỳ đổi mới đã được khẳng định trong đường lối kinh tế do Đại Hội IXcủa Đảng đề ra đã và đang trở thành sức mạnh để Việt Nam hội nhập vào nền kinh tếthế giới và khu vực

Ngày đăng: 31/03/2018, 17:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w