1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chứng minh trong tố tụng hình sự

78 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nhiệm vụ: Để đ t đ c mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu luận văn cần giải quyết những vấn đề sau: + Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về chứng minh trong TTHS; + Nghiên cứ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Vũ Văn Anh

Trang 3

VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 4

1.2 Đối t ng chứng minh và gi i h n chứng minh 10

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả chứng minh 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vấn đề cải cách t pháp đang đ c Đảng và Nhà n c ta quan tâm, coi trọng Cải cách t pháp đ c coi là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng nhà n c pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, n c

m nh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Để tiếp tục đẩy m nh công cuộc cải cách

t pháp, ngày 02 tháng 01 năm 2002 Bộ chính trị đã ban hành nghị quyết số NQ/TƯ về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác t pháp trong thời gian t i và nghị quyết số 49-NQ/TƯ ngày 02 tháng 06 năm 2005 về chiến l c cải cách t pháp đến năm 2020 Chính vì vậy chất l ng ho t động t pháp đã đ c nâng lên một b c, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, t o môi tr ờng ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, công tác

08-t pháp còn bộc lộ nhiều h n chế, bấ08-t cập nh : Chính sách pháp luậ08-t nói chung và chính sách pháp luật hình sự nói riêng và pháp luật về tố tụng còn nhiều bất cập, chậm

đ c sửa đổi, bổ sung; Cơ sở vật chất, ph ơng tiện làm việc của cơ quan t pháp còn thiếu thốn, l c hậu; Trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí có một số cán bộ sa sút về phẩm chất, đ o đức và trách nhiệm nghề nghiệp Vì vậy, vẫn còn tình tr ng oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét

xử Các nghị quyết đó đã chỉ rõ nhiều vấn đề cụ thể của tố tụng hình sự cần phải đ c nghiên cứu một cách toàn diện để thể chế hóa vào quy định của Bộ luật tố tụng hình

sự Nh ng cải cách t pháp phải kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc, những thành tựu đã đ t đ c của nền t pháp xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của n c ngoài phù h p v i hoàn cảnh n c ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế; Đáp ứng đ c xu thế phát triển của xã hội trong t ơng lai [2]

Trong quá trình giải quyết VAHS, việc tìm ra chứng cứ và chứng minh đầy đủ không chỉ đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đ c đúng đắn mà còn rút ngắn đ c thời gian, giảm chi phí, góp phần nâng cao hiệu quả của việc đấu tranh phòng chống tội ph m Tuy nhiên, việc chứng minh và làm rõ nội dung diễn biến vấn đề không đơn giản nên vẫn còn tình tr ng Tòa án hoặc Viện kiểm sát phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, điều tra l i hoặc dẫn đến việc giải quyết vụ án sai sót, không phù h p v i quy định của pháp luật, làm oan ng ời vô tội, bỏ lọt tội ph m Mặt khác quy định của pháp luật TTHS về chứng minh nói chung còn có những điểm bất cập, trình độ nhận thức

ch a cao, ý thức chấp hành pháp luật ch a nghiêm của ng ời THTT…nên việc nghiên

Trang 6

cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về chứng minh trong TTHS

là vô cùng quan trọng

Chính vì lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Chứng minh trong tố tụng hình sự”

làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay có một số cuốn sách, luận văn th c sỹ, luận án tiến sỹ và một số t p chí có đề cập đến một số vấn để về chứng minh trong TTHS, nh ng đề cập đến d i góc độ là một vấn đề của quá trình chứng minh nên việc nghiên cứu m i dừng l i ở mức độ nhất định, mang tính khái quát sơ bộ về vấn đề

Trong Giáo trình luật TTHS Việt Nam của Tr ờng Đ i học Luật Hà Nội năm

2011, ở Ch ơng VI - Chứng cứ và chứng minh có đề cập đến khái niệm chứng cứ,

nguồn chứng cứ, đối t ng chứng minh và quá trình chứng minh Trong cuốn “Chứng

minh và chứng cứ trong vụ án hình sự” năm 2006 của tác giả TS Đỗ Văn Đ ơng có

nội dung đề cập đến chứng cứ trong vụ án hình sự, đối t ng và ph m vi chứng minh

trong vụ án hình sự, nghĩa vụ chứng minh trong vụ án hình sự Trong cuốn “Chứng cứ

trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” năm 2005 của tác giả Th.S Nguyễn Văn Cừ và

cuốn “Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” năm 2011 của tác giả

TS Trần Quang Tiệp có nội dung chủ yếu của lý luận chứng cứ trong TTHS Việt Nam

Luận án tiến sỹ về đề tài “Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều

tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay” năm 2000 của tác giả Đỗ Văn Đ ơng có nội

dung nghiên cứu là quá trình chứng minh trong giai đo n điều ta vụ án hình sự; “Quá

trình chứng minh trong vụ án hình sự ở nước ta” năm 2005 của tác giả Nguyễn Văn

Du có nội dung nghiên cứu là quá trình chứng minh vụ án hình sự

Luận văn th c sỹ về đề tài "Đánh giá, sử dụng chứng cứ trong giai đoạn xét xử

vụ án hình sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" năm 2008 của tác giả Nguyễn Thị

Thuý Hà; "Thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự Việt Nam" năm 2011 của tác giả

Ph m Kim Hằng; "Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thu thập

chứng cứ" năm 2010 của tác giả Khúc Thị Hoàng H nh; "Thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ từ lời khai của bị can, bị cáo" năm 2011 của tác giả Ph m Thị Xuân;

"Đối tượng chứng minh trong tố tụng hình sự" năm 2004 của tác giả Tô Hữu Thông

Các luận văn đó đều có nội dung nghiên cứu chủ yếu về quá trình chứng minh vụ án hình sự

Trang 7

Một số t p chí có đề cập đến nội dung nghiên cứu nh “Hoàn thiện các quy định

về thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong tố tụng hình sự” của tác giả TS Hoàng Thị Minh Sơn đăng trên t p chí Luật học số 7/2008; “Đánh giá chứng cứ trong

tố tụng hình sự” của tác giả Bùi Kiên Điện đăng trên t p chí luật học số 6/1997; “Gi i

h n chứng minh trong vụ án hình sự” của tác giả Đỗ Văn Đ ơng đăng trên t p chí Kiểm sát số 10/1996

Các công trình trên ch a nghiên cứu hoặc nghiên cứu ch a kỹ các vấn đề sau:

Về lý luận đã có tác giả đ a ra khái niệm chứng minh trong TTHS nh ng khái niệm

ch a hoàn thiện; Đa số tác giả nghiên cứu luật thực định ch a đặt trong mối liên hệ

d i góc độ chứng minh trong TTHS; Về thực tr ng các tác giả nghiên cứu mang tính chất liệt kê ch a mang tính khái quát; Các tác giả đã đ a ra giải pháp nâng cao hiệu quả chứng minh trong TTHS nh ng ch a đầy đủ

Nh vậy, có thể nói rằng ch a có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện

và sâu sắc về chứng minh trong tố tụng hình sự v i quy mô là một đề tài độc lập, chuyên biệt về vấn đề Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về chứng minh trong tố tụng hình sự là cần thiết để làm rõ hơn nữa vấn đề lý luận và thực tiễn chứng minh trong tố tụng hình sự ở Việt Nam trong những năm gần đây

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ một cách cơ bản và toàn diện những vấn đề

lý luận, phân tích, đánh giá thực tr ng quy định của pháp luật TTHS n c ta về chứng minh, so sánh v i quy định của luật TTHS một số n c trên thế gi i về vấn đề này, đánh giá thực tiễn ho t động của các cơ quan THTT hình sự ở Việt Nam liên quan đến chứng minh, luận văn đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật có liên quan đến chứng minh và nâng cao hiệu quả áp dụng nó trong thực tiễn, từ đó góp phần nâng cao chất l ng giải quyết VAHS

- Nhiệm vụ: Để đ t đ c mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu luận văn cần giải quyết những vấn đề sau:

+ Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về chứng minh trong TTHS;

+ Nghiên cứu và so sánh những quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam và luật TTHS của một số n c trên thế gi i về chứng minh;

+ Đánh giá thực tr ng quy định của pháp luật về chứng minh và ho t động của các cơ quan THTT hình sự ở Việt Nam liên quan đến chứng minh;

+ Xác định những bất cập trong quy định của pháp luật TTHS, h n chế trong thực tiễn

Trang 8

áp dụng và nguyên nhân của nó

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận, quy định của

luật TTHS và thực tr ng ho t động của các Cơ quan THTT hình sự ở Việt Nam liên quan đến chứng minh

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về chứng minh trong TTHS một cách

tổng thể trong ph m vi chung của tất cả các giai đo n tố tụng: Điều tra, truy tố, xét xử VAHS ở Việt Nam từ năm 2008 đến nay, chủ yếu tập trung trong ph m vi khoa học và thực tiễn luật TTHS Ngoài ra ở chừng mực nhất định có liên quan đến khoa học luật hình sự, tội ph m học và khoa học điều tra hình sự Nghiên cứu quy định của BLTTHS Việt Nam, BLTTHS Liên bang Nga, BLTTHS Cộng hoà nhân dân Trung Hoa về chứng minh Đánh giá thực tr ng ho t động của các Cơ quan THTT hình sự Việt Nam liên quan đến chứng minh trong khoảng thời gian 4 năm trở l i đây

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Cơ sở lý luận của luận văn là ph ơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và t

t ởng Hồ Chí Minh về Nhà n c và pháp luật

- Ph ơng pháp nghiên cứu: Kết h p v i một số ph ơng pháp nghiên cứu cụ thể nh

ph ơng pháp: Ph ơng pháp phân tích, ph ơng pháp hệ thống, ph ơng pháp lôgic,

ph ơng pháp tổng h p, ph ơng pháp so sánh, ph ơng pháp lý luận kết h p v i khảo sát thực tế liên quan đến chứng minh trong tố tụng hình sự, từ đó làm sáng tỏ nội dung của luận văn

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Bổ sung và hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận chung về chứng minh trong tố tụng hình sự

- Phát hiện những điểm còn bất cập trong luật TTHS Việt Nam về chứng minh, những thiếu sót, h n chế trong ho t động của các cơ quan THTT hình sự Việt Nam liên quan đến chứng minh, tìm ra những nguyên nhân của những thiếu sót, h n chế

đó Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện những quy định của luật TTHS Việt Nam về chứng minh và nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của luật TTHS về chứng minh

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 ch ơng và 11 mục

Trang 9

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm chứng cứ và chứng minh

1.1.1 Khái niệm chứng cứ

Trong quá trình THTT, CQĐT, VKS và TA muốn làm sáng tỏ và có kết luận chính xác về tội ph m và ng ời thực hiện hành vi ph m tội thì phải dựa vào chứng cứ Chứng cứ là ph ơng tiện để chứng minh tội ph m, ng ời thực hiện hành vi ph m tội Lịch sử pháp luật tố tụng hình sự tồn t i các quan điểm khác nhau về chứng cứ trong TTHS

Quan điểm về chứng cứ của trình tự tố tụng kiểu tố cáo rất đơn giản, kiểu tố tụng này coi lời thú tội của bị cáo chứng cứ tốt nhất và là “Vua của các chứng cứ” Kết quả của án kiện phụ thuộc vào những chứng cứ nh quyết đấu, lời thề hoặc xét xử theo

ý trời Trong đó quyết đấu và xét xử theo ý trời là chứng cứ đáng tin cậy hơn cả Việc quyết đấu tr c tòa án và việc thử thách bằng lửa hoặc n c sẽ quyết định số phận của

bị cáo Kẻ nào tay bị chói chặt nhúng xuống n c mà không bị chìm, kẻ nào khi nhúng tay vào n c sôi mà tay không bị th ơng thì sẽ là kẻ chiến thắng, kẻ nào thắng trong cuộc quyết đấu thì kẻ đó không có tội và đ c coi là phải [59] Vì vậy, quan điểm về chứng cứ của hình thức tố tụng này thể hiện sự tàn b o và mang tính chất mê tín, việc thu thập chứng cứ theo hình thức này không đảm bảo tính khách quan trong việc chứng minh vụ án hình sự

Quan điểm về chứng cứ theo kiểu tố tụng thẩm vấn là quan điểm hình thức về chứng cứ Chứng cứ hình thức có nghĩa là hiệu lực của chứng cứ tố tụng đ c luật quy định tr c.Trong quan điểm chứng cứ kiểu tố tụng này TP và ĐTV không suy luận, không phân tích các sự việc, không đánh giá chứng cứ trên cơ sở chất l ng, bản chất, tính khách quan và sức thuyết phục của chúng Nhiệm vụ duy nhất của TP hoặc ĐTV

là xác định số l ng chính xác mỗi lo i chứng đ c quy định trong luật để chứng minh tội ph m và ng ời thực hiện hành vi ph m tội, họ không cần phải tìm thêm chứng cứ nào khác Ng c l i khi không tìm đủ số l ng chứng cứ mà luật đã quy định thì không có căn cứ kết luận tội ph m và ng ời thực hiện hành vi ph m tội Quan điểm này tuy h n chế đ c sự tuỳ tiện của các cơ quan tố tụng trong việc giải quyết VAHS, nh ng nó cũng bộc lộ nhiều h n chế là không bảo đảm tính khách quan của chứng cứ Quan điểm hình thức về chứng cứ phát triển và ảnh h ởng đến hầu hết các

n c châu Âu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII Ngày nay, luật chứng cứ Anh – Mỹ

Trang 10

ng ời ta đặc biệt quan tâm đến tính hình thức và tính h p pháp của chứng cứ nên họ xem luật chứng cứ là: Tổng h p các quy ph m điều chỉnh về tính h p pháp của chứng

cứ [19]

Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin về chân lý và con đ ờng nhận thức chân lý, con ng ời có khả năng nhận thức các quy luật, hiện t ng của thế gi i khách quan và tìm ra chân lý Quá trình nhận thức của con ng ời từ trực quan sinh động đến

t duy trừu t ng, từ ch a biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện t ng đến bản chất Về nguyên tắc, không có sự vật, hiện t ng nào là không thể nhận thức đ c, mà chỉ có sự vật, hiện t ng ch a đ c nhận thức mà thôi Chân lý trong VAHS là mục tiêu mà toàn bộ ho t động điều tra, truy tố và xét xử phải làm sáng tỏ trong quá trình chứng minh vụ án Các luật gia Xô -Viết tr c đây cho rằng muốn làm rõ khái niệm về chứng cứ cần thiết phải xác định đ c những dấu hiệu cơ bản của nó, đó là: Những tài liệu thực tế, những tài liệu này đ c dùng làm ph ơng tiện để xác định các sự kiện và các tình tiết khác; Là tài liệu thực tế xác định các tình tiết có ý nghĩa đối v i việc giải quyết đúng đắn VAHS; Chứng cứ phải đ c thể hiện d i các hình thức TTHS mà luật đã quy định [19] Quan điểm về chứng cứ của các luật gia Xô -Viết tr c đây đã

đề cập đến các đặc điểm của chứng cứ là tính khách quan, tính liên quan và tính h p pháp

Có một số quan điểm khác về khái niệm chứng cứ nh : "Theo nghĩa rộng, chứng cứ là một sự kiện đ c giả định là có thật, sự kiện ấy đ c coi nh một sự kiện

đ ơng nhiên làm lý do để tin t ởng việc có hay không có một sự kiện khác" [10,tr.68], theo quan điểm này thì chứng cứ mang tính chất chủ quan, nó đ c xác định hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của ng ời sử dụng, không phản ánh đúng diễn biến khách quan của tội ph m Hoặc "Tất cả cái gì ở trong thế gi i vật chất, tất cả cái gì mà chúng ta có thể lĩnh hội đ c trong thế gi i tinh thần, đều có thể trở thành chứng cứ tố tụng" [10,tr.68], quan niệm nh vậy về chứng cứ là quá rộng, dễ mất trọng tâm quá trình chứng minh VAHS

Trong các công trình nghiên cứu luật TTHS ở Việt Nam, có một số công trình

đã đ a ra khái niệm về chứng cứ nh : Chứng cứ là những gì có thật, có liên quan đến VAHS, đ c CQĐT, VKS, TA dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi

ph m tội, ng ời thực hiện hành vi ph m tội cũng nh các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn VAHS [53,tr.77] Khái niệm này đã nói đến tính khách quan

và tính liên quan của chứng cứ, nh ng không nói đến tính h p pháp của chứng cứ

Trang 11

Theo TS Nguyễn Văn Du: Chứng cứ trong VAHS là những thông tin có thật phản ánh sự thật khách quan, đ c thu thập theo trình tự, thủ tục do bộ luật này qui định mà CQĐT, VKS và TA dùng làm căn cứ để chứng minh tính chân lý của vụ án [13] Nghiên cứu khái niệm này chúng ta thấy, về mặt ngôn ngữ thông tin có nghĩa là " truyền tin cho nhau " [37,tr.920], nên khái niệm nêu trên không bao hàm đ c sự đa

d ng của chứng cứ, nh vật chứng, tài liệu, đồ vật và vì vậy đã h n chế nguồn của chứng cứ

Có khái niệm khác về chứng cứ thể hiện đ c nguồn của chứng cứ cũng nh tính khách quan, tính liên quan và tính h p pháp của chứng cứ nh ng l i thiếu chủ thể

có thẩm quyền thu thập: Chứng cứ là những gì có thật đ c xác định bằng các nguồn nhất định và đ c thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật TTHS quy định mà CQĐT, VKS và TA dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi ph m tội,

ng ời thực hiện hành vi ph m tội cũng nh các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn VAHS [52,tr.77] Quyền thu thập chứng cứ ở các mô hình tố tụng khác nhau có sự khác nhau nhất định, qua nghiên cứu chúng ta nhận thấy: Ở giai đo n điều tra ở mỗi mô hình tố tụng khác nhau cũng có sự khác nhau nhất định Tuy nhiên ở giai đo n này hầu hết các n c trên thế gi i đều ghi nhận chức năng điều tra thuộc về CQĐT mà trực tiếp là ĐTV Theo truyền thống pháp luật n c ta, chức năng thu thập chứng cứ ở giai đo n này thuộc về CQĐT trực tiếp là ĐTV, VKS trực tiếp là KSV và một số chủ thể khác đ c giao nhiệm vụ tiến hành điều tra trong những tr ờng h p quy định t i Điều 111 BLTTHS Ở các n c theo truyền thống án lệ thì song song v i việc điều tra của ĐTV, Luật s cũng có quyền thu thập chứng cứ tiến hành điều tra thực hiện chức năng gỡ tội cho bị can, bị cáo Nh vậy, ph m vi chủ thể thu thập chứng cứ không chỉ là ĐTV mà còn có cả KSV và Luật s Ở giai đo n này thu thập chứng cứ là để xây dựng, thiết lập hồ sơ vụ án; Ở giai đo n truy tố, việc thu thập chứng cứ mang tính chất bổ sung, có thể là tự KSV điều tra hoặc quyết định trả hồ sơ cho CQĐT điều tra Trong tr ờng h p hồ sơ trả l i cho CQĐT thì do ĐTV thực hiện điều tra trong thời h n luật định mà không phụ thuộc vào thời gian truy tố Vì vậy, chủ thể thu thập chứng cứ trong giai đo n truy tố là KSV; Ở giai đo n xét xử, có thể phân thành giai đo n thụ lý hồ sơ và giai đo n mở phiên tòa Ở giai đo n thụ lý hồ sơ do VKS chuyển sang cùng v i bản cáo tr ng, chủ thể giải quyết vụ án là TP đ c phân công Sau khi nhận hồ sơ TP tiến hành phân tích đánh giá chứng cứ trong hồ sơ, nếu thấy thiếu chứng cứ mà không thể bổ sung t i phiên tòa đ c thì TP quyết định trả hồ

Trang 12

sơ cho VKS để điều tra bổ sung, cả hai tr ờng h p này TP để không tự mình tiến hành thu thập chứng cứ Đây là tr ờng h p pháp luật TTHS quy định nghĩa vụ chứng minh tội ph m và ng ời thực hiện hành vi ph m tội thuộc về cơ quan THTT Ở các n c theo truyền thống án lệ TP giải quyết vụ án có vai trò nh một trọng tài phân xử, TP không đ c nghiên cứu hồ sơ vụ án, chứng cứ do các bên buộc tội (CQĐT, Cơ quan công tố) và bên bào chữa (Luật s ) cung cấp Nh vậy, ở giai đo n tr c khi mở phiên tòa các n c trên thế gi i đều không quy định việc thu thập chứng cứ Còn t i phiên tòa, ở các n c quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan THTT, HĐXX đ c hỏi toàn bộ chứng cứ đã đ c thu thập trong hồ sơ vụ án Trong qua trình xét hỏi HĐXX có thể yêu cầu các bên tham gia cung cấp chứng cứ m i T i phiên tòa, KSV, Luật s và những ng ời tham gia tố tụng cũng có quyền hỏi những ng ời tham gia tố tụng khác về vụ án, nh ng đây không đ c xem là việc thu thập chứng cứ m i mà chỉ

có thể là việc phát hiện chứng cứ m i còn việc kiểm tra, thu giữ ghi nhận và bảo quản

là do HĐXX quyết định Nh vậy, việc thu thập chứng cứ ở giai đo n xét xử thực chất

là thu thập chứng cứ t i phiên tòa đ c thực hiện bởi HĐXX

Qua phân tích chúng ta có thể đ a ra khái niệm chứng cứ trong TTHS nh sau: Chứng cứ là những có thật đ c thu thập theo quy định của Luật tố tụng hình sự

mà cơ quan và ng ời có thẩm quyền dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi ph m tội, ng ời thực hiện hành vi ph m tội cũng nh các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự

1.1.2 Khái niệm chứng minh

Chứng minh là một hình thức tồn t i cơ bản của t duy, đồng thời cũng là thao tác t duy cơ bản, trong đó để chứng minh tính đúng của một luận điểm bất kỳ, ng ời

ta phải dựa vào các luận điểm đúng khác và chúng có mối liên hệ hữu cơ v i luận điểm cần chứng minh Ho t động chứng minh của con ng ời đ c tiến hành trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong mỗi lĩnh vực khác nhau thì ho t động chứng minh có những nét khác nhau Tuy nhiên, ho t động chứng minh có đặc điểm chung là việc chủ thể sử dụng những ph ơng tiện để làm sáng tỏ sự thật khách quan, khẳng định tính đúng đắn của một vấn đề nào đó để tìm ra chân lý

Theo lý luận Mac - Lênin nhận thức là sự phản ánh biện chứng tích cực, sự phản ánh đó là một quá trình vận động và phát triển không ngừng từ không biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện t ng đến bản chất, từ thấp đến cao, từ nông đến sâu để nắm đ c bản chất quy luật của sự việc hiện t ng Con ng ời có khả năng

Trang 13

nhận thức đ c thế gi i, sự nhận thức của con ng ời về thế gi i có sự kế thừa và phát triển, thế hệ sau kế thừa tinh hoa nhận thức thế gi i khách quan của thế hệ tr c để tiếp tục nghiên cứu phát triển Trong khoa học pháp lý cũng vậy, con ng ời hoàn toàn

có thể nhận thức đ c các diễn biến khách quan của vụ án, không có tội ph m nào l i không thể phát hiện, chỉ có điều con ng ời có vận dụng đúng các quy luật khách quan

để chứng minh hay không thôi Trong thực tế có nhiều vụ án xảy ra gây thiệt h i cho

xã hội nh ng không truy tìm đ c kẻ ph m tội, nh ng đây không phải là điều con

ng ời không thể nhận thức đ c mà đây là h n chế nhận thức của từng cá nhân hoặc

do có sự khó khăn chung nhất định

Chứng minh thực chất là một quá trình nhận thức, mà nhận thức phải có chủ thể nhận thức (nghĩa là ai nhận thức?) và khách thể nhận thức (nghĩa là nhận thức cái gì?) Những chủ thể đ c Nhà n c trao cho quyền đ c thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ để giải quyết VAHS, họ không phải là ng ời chứng kiến những gì đã xảy ra nh ng họ l i là ng ời phải có nghĩa vụ nhận thức nó để giải quyết vụ án Vì vậy, trong một VAHS, việc tìm ra sự thật thực chất là khôi phục l i, t o dựng l i những gì đã xảy ra trong quá khứ để chứng minh những tình tiết liên quan đến vụ án Trong thực tế, những chủ thể đó có thể là ng ời chứng kiến những tình tiết liên quan đến vụ án nên về mặt pháp lý thì họ l i bị Nhà n c cấm thực hiện quyền đó, vì nếu để

họ là ng ời giải quyết vụ án thì việc giải quyết không đ c khách quan nữa Trong

tr ờng h p này họ chỉ có thể là ng ời làm chứng

Về khái niệm chứng minh trong TTHS có tác giả cho rằng: Chứng minh trong TTHS là quá trình các cơ quan THTT, ng ời THTT trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật TTHS tiến hành phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và sử dụng các chứng cứ này làm ph ơng tiện, căn cứ để xác định, làm rõ tất cả những vấn

đề liên quan đến VAHS mà những vấn đề này luật quy định các cơ quan THTT cần phải biết khi giải quyết VAHS [44,tr.15] Chúng ta đã biết mục đích của thu thập chứng cứ là để chứng minh VAHS, qua phân tích ở phần trên chủ thể thu thập chứng

cứ không gi i h n chỉ là cơ quan THTT và ng ời THTT mà còn có các chủ thể khác nữa Do vậy, ở khái niệm này đã thiếu về mặt chủ thể

Theo quan điểm của chúng tôi: Chứng minh trong tố tụng hình sự là quá trình các cơ quan và ng ời có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ nhằm xác định và làm rõ đối

t ng chứng minh làm căn cứ giải quyết tất cả các vấn đề liên quan đến vụ án hình sự

Trang 14

1.2 Đối tƣợng chứng minh và giới hạn chứng minh

án Suy cho cùng mục đích của ho t động chứng minh trong TTHS là để phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn VAHS

Đối t ng chứng minh đ c khoa học luật TTHS của hầu hết các quốc gia trên thế gi i coi là một trong những nội dung cơ bản của pháp luật về chứng cứ Có quốc gia quy định đối t ng chứng minh trong một điều luật cụ thể của BLTTHS (Nh BLTTHS Liên Bang Nga Điều 73) Có quốc gia không có quy ph m độc lập để xác định đối t ng chứng minh mà đối t ng chứng minh đ c thể hiện rải rác ở các điều luật điều chỉnh từng ho t động TTHS (nh Pháp, Nhật Bản ) hoặc có quốc gia chỉ quy định có tính chung nhất về đối t ng chứng minh nh t i Khoản 1 Điều 59 BLTTHS Bungari quy định: “Cần phải chứng minh những tài liệu có ý nghĩa áp dụng Luật hình sự và các quy ph m luật tố tụng hình sự” [10,tr.136]

Do tính chất, mức độ và hoàn cảnh của các tội ph m không giống nhau nên đối t ng chứng minh ở mỗi vụ án có những ph m vi và yêu cầu khác khác nhau Tuy vậy, tội ph m đều có những đặc điểm, quy luật chung giống nhau và đ c khái quát thành những vấn đề chung nhất mà những vấn đề này đ c luật TTHS quy định một cách trực tiếp cụ thể hoặc quy định một cách gián tiếp và th ờng phải chứng minh trong bất kỳ vụ án nào Những dấu hiệu bắt buộc phải có trong tất cả các cấu thành tội

ph m cũng là những vấn đề phải chứng minh trong bất kỳ VAHS:

- Dấu hiệu khách thể của tội ph m

- Dấu hiệu hành vi thuộc yếu tố mặt khách quan của tội ph m

- Dấu hiệu lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội ph m

- Dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi thuộc yếu tố chủ thể của tội ph m Ngoài những dấu hiệu bắt buộc phải có trong tất cả các cấu thành tội ph m nói trên, những dấu hiệu khác tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc của tất cả các cấu thành tội ph m, nh ng có thể là những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội ph m cụ thể, vì

Trang 15

vậy chúng có thể là những vấn đề phải chứng minh trong VAHS Ví dụ: Đối v i tội trộm cắp tài sản, biểu hiện của ng ời ph m tội cần phải chứng minh dứt khoát phải là hành vi lén lút; Trong vụ án mà ng ời ph m tội m i có hành vi chuẩn bị ph m một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng thì bị phát hiện, xử lý Nh vậy, trong vụ án này rõ ràng là hậu quả của tội ph m ch a xảy ra nên không phải chứng minh nó

Luật TTHS Việt Nam quy định phải chứng minh t i Điều 63: Có hành vi ph m tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi ph m tội;

Ai là ng ời thực hiện hành vi ph m tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; Có năng lực TNHS hay không; Mục đích, động cơ ph m tội; Những tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị can, bị cáo; Tính chất và mức độ thiệt h i do hành vi ph m tội gây

ra Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào tính chất, hoàn cảnh của từng vụ án cụ thể mà có thể có những vấn đề không cần phải chứng minh vì nó rõ ràng là đã không xảy ra trong vụ án

đó Mặt khác, trong luật TTHS còn quy định phải chứng minh các tình tiết khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án, mà những tình tiết này có thể chỉ phải chứng minh trong vụ án cụ thể nào đó chứ không phải chứng minh trong bất kỳ vụ án nào Hoặc có những tình tiết, vấn đề chỉ phải chứng minh khi phát sinh những ho t động tố tụng có liên quan

Trong VAHS, những vấn đề phải chứng minh có vị trí, vai trò khác nhau Vì vậy, phân lo i những vấn đề phải chứng minh thành các nhóm khác nhau theo một trật

tự nhất định là để nghiên cứu chúng từ các góc độ khác nhau Có thể hiểu phân lo i những vấn đề phải chứng minh trong vụ án là việc chia các chứng cứ thành các nhóm khác nhau dựa trên cơ sở những căn cứ xác định, nhằm giải quyết những mục đích nhất định Trên cơ sở mối quan hệ đối v i bản chất vụ án, những vấn đề phải chứng minh trong VAHS đ c chia thành ba nhóm: Nhóm những vấn đề phải chứng minh thuộc về bản chất vụ án bao gồm: Khách thể của tội ph m, chủ thể của tội ph m, mặt khách quan của tội ph m và mặt chủ quan của tội ph m; Nhóm những vấn đề phải chứng minh không thuộc bản chất của vụ án, nh ng có ảnh h ởng trực tiếp đến TNHS

và hình ph t bao gồm: Những tình tiết miễn TNHS, miễn hình ph t; Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS, những đặc điểm nhân thân ng ời ph m tội, những đặc điểm nhân thân ng ời bị h i; Những vấn đề phải chứng minh không thuộc các yếu tố cấu thành tội ph m, không ảnh h ởng trực tiếp đến TNHS và hình ph t nh ng có ý

Trang 16

nghĩa nhất định đối v i việc giải quyết đúng đắn vụ án bao gồm: Mối quan hệ giữa

ng ời làm chứng v i bị can, bị cáo, giữa ng ời làm chứng v i ng ời bị h i

Trên cở sở tiêu chí mối quan hệ đối v i sự buộc tội, GS.TS M.X Xtrôgôvich

ng ời Nga phân lo i những vấn đề phải chứng minh thành hai nhóm: Nhóm những vấn

đề phải chứng minh có tính chất buộc tội và nhóm những vấn đề phải chứng minh có tính chất gỡ tội Nhóm những vấn đề phải chứng minh có tính chất buộc tội bao gồm:

Có sự kiện ph m tội hay không? Những dấu hiệu của cấu thành tội ph m; Bị can có thực hiện hành vi ph m tội đó hay không? Hình thức lỗi của bị can? Những tình tiết tăng nặng TNHS, các tình tiết về đặc điểm nhân thân của bị can; Nhóm những vấn đề phải chứng minh có tính chất gỡ tội bao gồm: Có hay không có những tình tiết bác bỏ

sự buộc tội đối v i bị can, bị cáo? Những tình tiết miễn TNHS, miễn hình ph t; Những tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can bị cáo [48] Đây cũng là vấn đề dễ hiểu vì BTTHS Liên Bang Nga chia chủ thể tham gia tố tụng thành hai nhóm chính: - Các chủ thể tham gia tố tụng thuộc bên buộc tội - Các chủ thể tham gia tố tụng thuộc bên bào chữa Ngoài ra còn có các chủ thể khác tham gia tố tụng nh ng ời làm chứng, ng ời giám định, nhà chuyên môn, ng ời phiên dịch, ng ời chứng kiến

Về khái niệm đối t ng chứng minh đã có nhiều tác giả đề cập nh :

Có những tác giả đề cập trong khái niệm cụm từ “ tổng h p những tình tiết ” hoặc “ tất cả những tình tiết ” nh : Đối t ng chứng minh trong vụ án hình sự là tổng h p những tình tiết nói nên bản chất, nội dung vụ án hình sự cần phải xác định bằng chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự và phòng ngừa tội ph m [19, tr19]; Hay đối t ng chứng minh là tất cả những tình tiết phải đ c xác định đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án hình sự [50, tr162]

Theo Đ i từ điển tiếng Việt, tình tiết có nghĩa là “Sự việc nhỏ trong qua trình diễn biến của sự kiện, tâm tr ng” [14, tr963] Nh vậy, theo khái niệm trên thì tổng

h p những tình tiết hoặc tất cả những tình tiết thì khó có thể nói nên những vấn đề phải chứng minh thuộc về bản chất vụ án đ c, nên những tình tiết đó dù có thu thập nhiều nh thế nào nữa thì cũng khó mà giải quyết đúng đắn vụ án hình sự đ c

Có tác giả đ a ra quan điểm: Đối t ng chứng minh là tất cả những vấn đề

ch a biết nh ng cần phải biết để làm sáng tỏ bản chất của vụ án, trên cơ sở đó các cơ quan THTT ra các quyết định phù h p trong quá trình giải quyết VAHS [13, tr165] Thông th ờng, ngoài tr ờng h p ph m tội quả tang thì việc xác định đầy đủ những chứng cứ để giải quyết vụ án là rất đơn giản, còn các tr ờng h p khác thì việc xác định

Trang 17

kẻ ph m tội là hết sức khó khăn Khi đó sẽ có rất nhiều các vấn đề đặt ra đối v i các

cơ quan và ng ời có thẩm quyền điều tra vụ án, để biết đ c ai là ng ời đã thực hiện hành vi ph m tội, họ phải đứng tr c rất nhiều các vấn đề ch a biết Nếu đi tìm tất cả những vấn đề ch a biết, thì rất tốn công sức làm cho thu thập chứng cứ một cách tràn lan nên nhiều khả năng sẽ không giải quyết đ c vụ án Nên theo chúng tôi, ph m vi

về đối t ng chứng minh của khái niệm này là quá rộng

Quan điểm khác cho rằng: Đối t ng chứng minh trong VAHS là tổng h p những sự kiện và tình tiết của vụ án phải đ c xác định bằng chứng cứ để vụ án đ c giải quyết đúng đắn [47, tr83] Về mặt ngôn ngữ, sự kiện có nghĩa là “Sự việc có ý nghĩa ít nhiều quan trọng đã xảy ra” [14, tr846], còn tình tiết có nghĩa là sự việc nhỏ trong qua trình diễn biến của sự kiện, tâm tr ng Do vậy, chúng tôi đồng tình v i quan điểm này, vì khái niệm trên đã bao hàm nội dung cần phải chứng minh thuộc về bản chất vụ án và nội dung cần chứng minh không thuộc bản chất của vụ án

1.2.2 Giới hạn chứng minh trong TTHS

Hiện nay có một số quan điểm đề cập đến gi i h n và ph m vi chứng minh

Có tác giả phân biệt đối t ng, ph m vi và gi i h n chứng minh: Đối t ng chứng minh trong VAHS là tổng h p những vấn đề phải chứng minh do luật định, ph m vi chứng minh điều chỉnh việc xác định những tình tiết cần chứng minh, còn gi i h n chứng minh điều chỉnh việc xác định mức chứng cứ cần và đủ để làm sáng tỏ những tình tiết đã đ c xác định trong ph m vi chứng minh Theo quan điểm này, nếu đối

t ng chứng minh là những tình tiết do luật định nói lên mục đích mà ho t động chứng minh cần nhằm vào, thì ph m vi chứng minh là tổng h p những tình tiết phải đ c làm

rõ để xác định đối t ng chứng minh, còn gi i h n chứng minh là khái niệm chỉ rõ khối l ng chứng cứ cần và đủ để xác định một cách khách quan, toàn diện các tình tiết có ý nghĩa đối v i việc làm sáng tỏ sự thật của vụ án [19, tr29] Nh vậy, ph m vi chứng minh rộng hơn đối t ng chứng minh vì ngoài những vấn đề cần chứng minh thuộc về bản chất của vụ án, các tình tiết liên quan đến việc xác định tính chất, mức độ của tội ph m, ph m vi chứng minh có thể còn bao gồm nhiều vấn đề khác; Có quan điểm phân chia các vấn đề trên thành đối t ng chứng minh và gi i h n chứng minh trong TTHS Theo đó đối t ng chứng minh là các sự kiện, tình tiết liên quan đến VAHS mà các cơ quan THTT cần làm rõ, đối t ng chứng minh xác định mục đích cuối cùng của quá trình chứng minh Còn gi i h n chứng minh xác định ranh gi i,

ph m vi của ho t động chứng minh Xác định gi i h n chứng minh là xác định số

l ng chứng cứ cần và đủ để giải quyết vụ án

Trang 18

Các quan điểm nêu trên đều chung quan điểm về gi i h n chứng minh là xác định ở mức độ cần và đủ số l ng chứng cứ để giải quyết VAHS Nh vậy, xác định

gi i h n chứng minh trong VAHS chính là xác định ranh gi i của việc thu thập chứng

cứ và nghiên cứu chúng ở mức độ đủ để giải quyết đúng đắn vụ án Nói đến tính cần

và đủ của chứng cứ để chứng minh VAHS có nghĩa là các chủ thể có thẩm quyền giải quyết vụ án phải đáp ứng các yêu cầu sau: " Đã nghiên cứu, đánh giá tất cả các chứng

cứ, các tình tiết thuộc ph m vi đối t ng chứng minh, cũng nh những tình tiết cần thiết cho việc giải quyết những khâu tố tụng trung gian; Đã xác định đ c mức độ tin cậy của tất cả các chứng cứ dùng làm cơ sở cho kết luận đối v i toàn bộ vụ án hay đối

v i từng việc cụ thể trong vụ án; Đã khẳng định đ c sự đúng đắn trong kết luận của mình, phủ nhận những giả thuyết nêu lên tr c đây trái v i kết luận đó, đã làm sáng tỏ của sự mâu thuẫn của giả thuyết sai và kết luận giữa các chứng cứ v i nhau " [59, tr117]

Thực tiễn cho thấy, những sai sót, lệch l c trong điều tra, truy tố, xét xử vụ án

th ờng bắt nguồn từ việc không xác định đ c gi i h n chứng minh Một là xác định

gi i h n chứng minh quá hẹp, điều này dẫn đến những chứng cứ đ a ra ch a đủ chứng minh vụ án, vì những tình tiết cần phải chứng minh ch a đ c làm rõ Nếu mở rộng

gi i h n chứng minh, tức là tăng l ng chứng cứ lên một cách không cấn thiết sẽ dẫn đến tình tr ng lãng phí thời gian, gây tốn kém tiền b c và việc giải quyết vụ án sẽ bị chậm trễ, kéo dài

Trong BLTTHS Việt Nam năm 2003 ch a có quy định về gi i h n chứng minh mà chỉ nêu nguyên tắc chung là CQĐT, VKS và TA phải áp dụng mọi biện pháp

h p pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm

rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can, bị cáo Luật TTHS một số n c trên thế gi i quy định về gi i h n chứng minh t ơng đối cụ thể nh Điều 234 BLTTHS Liên Bang Nga quy định: Gi i h n chứng minh không đ c v t quá khuôn khổ luật định đối v i việc tìm ra chân lý Điều này đặt ra đối v i những ng ời THTT không đ c thu hẹp hoặc mở rộng gi i h n chứng minh một cách tùy tiện mà chỉ đ c thu thập số l ng cần và đủ để giải quyết vụ án

Có thể hình dung đối t ng chứng minh xác định bố cục bắt buộc mà một bức tranh cần phải có còn gi i h n chứng minh xác định những đ ờng nét cần thiết để làm

rõ những phần trong bố cục của bức tranh đó và mọi sự thừa hoặc thiếu những đ ờng

Trang 19

nét này đều ảnh h ởng đến chất l ng của bức tranh đó, làm cho nó không đảm bảo đúng yêu cầu đề ra [17]

Nh vậy, gi i h n chứng minh trong vụ án hình sự là tổng h p những chứng

cứ cần và đủ cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự

1.3 Chủ thể chứng minh và nghĩa vụ chứng minh

ho t động chủ yếu, trọng tâm của phiên tòa V i vai trò là trọng tài, TP và bồi thẩm đoàn không đ c nghiên cứu tr c hồ sơ vụ án Chứng cứ để chứng minh quan điểm của bên buộc tội và bên gỡ tội do các bên tự thu thập theo quyền luật định của họ Để tránh thái độ phiến diện về các tình tiết của vụ án, qua việc tranh tụng t i phiên tòa của các bên, TP và bồi thẩm đoàn có thể chấp nhận hay không chấp nhận chứng cứ và lý lẽ các bên đ a ra và cuối cùng bằng niềm tin nội tâm của mình đ a ra phán quyết dựa trên chứng cứ và lý lẽ t i phiên tòa T i phiên tòa, các bên còn có quyền yêu cầu triệu tập thêm ng ời làm chứng, thu thập chứng cứ m i để chứng minh những vấn đề m i phát sinh t i tòa Theo TS Vũ Gia Lâm: " Ng ời chi phối quá trình tranh tụng là Công

tố viên và Luật s bào chữa, các bên tham gia tranh tụng thực chất không đi chứng minh sự thật của vụ án mà chỉ chứng minh có tính đúng đắn của quan điểm buộc tội hay gỡ tội mà thôi" [32] Mô hình tố tụng này đảm bảo tính công bằng cao, đặc biệt là

t i phiên tòa xét xử thể hiện vị trí ngang bằng và vai trò bình đẳng giữa bên buộc tội và Luật s Tuy nhiên, mô hình tố tụng này có nh c điểm là phiên tòa th ờng kéo dài, tốn kém Nh vậy, theo mô hình tố tụng tranh tụng chủ thể chứng minh chủ yếu là

Công tố viên là bên buộc tội, Luật s là bên gỡ tội

Trong mô hình tố tụng xét hỏi, các cơ quan THTT có nhiều thuận l i để xác định sự thật của vụ án vì ho t động chứng minh tội ph m, ng ời ph m tội thuộc trách

Trang 20

nhiệm của cơ quan THTT Pháp luật hầu nh đặt hết trách nhiệm chứng minh bị cáo

có tội hay không có tội lên vai HĐXX, còn bên buộc tội hay bên gỡ tội chỉ tham gia vào quá trình chứng minh ở mức độ h n chế làm cho quá trình tranh tụng t i phiên tòa mất đi ý nghĩa đích thực của nó Việc xét xử t i phiên tòa cũng là một giai đo n tiếp tục của quá trình điều tra tìm ra sự thật của vụ án TA có vai trò tích cực và chủ động trong việc tìm ra sự thật bằng việc có thể tự tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ [43] Luật s có quyền nh ng không có nghĩa vụ trình bày chứng cứ, họ có vai trò bổ sung trong công cuộc đi tìm sự thật của TA và để đảm bảo rằng các ho t động tố tụng đã diễn ra đùng đắn, các quyền của bị can, bị cáo đ c tôn trọng và bảo vệ Hệ thống xét hỏi th ờng đ c sử dụng trong các n c theo hệ thống luật Châu Âu lục địa Mục đích chính của hệ thống tố tụng này là cố gắng xác định sự thật khách quan của vụ án để từ

đó đ a ra phán quyết Vì vậy, quá trình tố tụng đ c thực hiện bằng văn bản và bằng

sự xét hỏi (biên bản lấy lời khai của ng ời bị tình nghi, biên bản hỏi cung bị can )

Mô hình tố tụng này có những u điểm nh : Có nhiều thuận l i để xác định sự thật của

vụ án vì ho t động chứng minh tội ph m, ng ời ph m tội là trách nhiệm của Nhà

n c; Thủ tục tố tụng không thiên về bên buộc tội hay bên gỡ tội nh trong tố tụng tranh tụng, nên tránh đ c xu h ng các bên buộc tội hay bên gỡ tội che dấu sự thật để

đ t mục đích riêng của mình; Phiên tòa diễn ra nhanh gọn nên ít tốn kém Nh ng mô hình tố tụng xét hỏi cũng chứa đựng những h n chế nhất định nh : Th ờng thiên về

h ng sử dụng quyền lực Nhà n c để tìm ra sự thật của vụ án nên khó tránh đ c những nghi ngờ về tính khách quan, vô t của những ng ời thực thi công lý

Mô hình tố tụng pha trộn là hình thức tố tụng hỗn h p giữa tố tụng thẩm vấn trong giai đo n tr c khi xét xử và tố tụng tranh tụng t i phiên tòa Nhìn từ góc độ mục đích tố tụng cũng nh cách thức đ t đ c mục đích tố tụng, thì mỗi hệ thống tố tụng đều có mặt tích cực và mặt h n chế nhất định Hệ thống tố tụng pha trộn đã phát huy những u điểm và h n chế những khuyết điểm giữa hai hệ thống tố tụng nói trên

Hệ thống tố tụng của n c ta thể hiện sự kết h p giữa hệ thống tố tụng tranh tụng và

hệ thống tố tụng xét hỏi, nh ng vẫn thiên về xét hỏi [18]

Theo Luật TTHS Việt Nam chủ thể chứng minh gồm cơ quan THTT và ng ời tiến hành tố tụng nh : CQĐT, VKS, TA; Thủ tr ởng, Phó Thủ tr ởng CQĐT, ĐTV, Viện tr ởng, Phó viện tr ởng VKS, KSV, Chánh án, Phó Chánh án TA, TP, Hội thẩm

và các cơ quan thuộc đơn vị bộ đội biên phòng, cơ quan hải quan, kiểm lâm, lực l ng cảnh sát biển, các cơ quan khác của công an nhân dân, quân đội nhân dân đ c giao

Trang 21

nhiệm vụ tiến hành một số các ho t động điều tra theo quy định t i Điều 111 BLTTHS Tuy nhiên, do chức năng, nhiệm vụ của từng chủ thể có sự khác nhau nên giai đo n tham gia chứng minh cũng nh ph m vi, mức độ chứng minh của họ cũng có

sự khác nhau nhất định

Ng ời bị t m giữ, bị can, bị cáo cũng là những chủ thể có quyền chứng minh

Họ có quyền đ a ra các tài liệu, đồ vật, yêu cầu để bảo vệ quyền l i cho mình Ng ời

bị h i, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ng ời có quyền l i và nghĩa vụ liên quan cũng là những chủ thể có quyền chứng minh Họ có quyền đ a ra các tài liệu , đồ vật, yêu cầu để bảo vệ quyền l i cho mình Ng ời bào chữa, ng ời bảo vệ quyền l i của

đ ơng sự tham gia chứng minh những tình tiết liên quan đến việc bào chữa cho bị can,

bị cáo hoặc liên quan đến việc bảo vệ quyền l i cho đ ơng sự tức là chứng minh những tình tiết có l i cho bị can, bị cáo hoặc đ ơng sự

Ngoài ra, trong TTHS còn có sự tham gia của ng ời làm chứng, ng ời phiên dịch và đôi khi còn có sự tham gia của các cơ quan, tổ chức xã hội, cá nhân khác Sự tham gia của những ng ời này nhằm cung cấp những tài liệu, chứng cứ phục vụ cho quá trình chứng minh Những ng ời này không phải chủ thể chứng minh bởi vì họ không có mục đích trực tiếp nhằm chứng minh nội dung vụ án và các tình tiết liên quan đến vụ án Họ cũng chỉ tham gia tố tụng khi đ c các cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu

Khác v i các n c, BLTTHS của n c ta căn cứ vào vai trò của các chủ thể đối v i ho t động tố tụng để phân các chủ thể thanh hai nhóm: - Chủ thể tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra (ĐTV), Viện kiểm sát (KSV), Tòa án (TP, hội thẩm và th ký tòa án) - Chủ thể tham gia tố tụng: Ng ời bị t m giữ, bị can, bị cáo, ng ời bào chữa,

ng ời bị h i, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ng ời có quyền l i và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ng ời làm chứng, ng ời bảo vệ quyền l i cho đ ơng sự, ng ời giám định, ng ời phiên dịch

Theo TS Nguyễn Đức Mai việc phân lo i các chủ thể trong BLTTHS sự của

n c ta không chỉ mâu thuẫn v i nguyên tắc tranh tụng, gây sự nhầm lẫn trong việc xác định t cách tố tụng t i phiên tòa, trách nhiệm chứng minh tội ph m giữa các chủ thể thuộc bên buộc tội, bên bào chữa và HĐXX cũng nh quy định về trình tự xét hỏi, tranh luận t i phiên tòa sơ thẩm ch a h p lý [33] Trên cơ sở phân tích đó TS Nguyễn Đức Mai đ a ra kiến nghị về quy định Ch ơng III và Ch ơng IV BLTTHS cần sửa đổi

bổ sung theo h ng phân tích chủ thể tham gia tiến hành tố tụng theo các chức năng

Trang 22

cơ bản mà họ thực hiện thành bốn nhóm sau: - Tòa án bao gồm chánh án, phó chánh

án, thẩm phán, hội thẩm và th ký tòa án thực hiện chức năng xét xử - Bên buộc tội bao gồm thủ tr ởng cơ quan điều tra (ĐTV), viện công tố (Công tố viên), ng ời bị h i,

t tố viên, nguyên đơn dân sự, ng ời đ i diện của ng ời bị h i Các chủ thể này thực hiện chức năng buộc tội - Bên bào chữa gồm ng ời bị tình nghi, bị can, bị cáo, ng ời

đ i diện h p pháp của bị can, bị cáo ch a thành niên, ng ời bào chữa, bị đơn dân sự,

ng ời đ i diện của bị đơn dân sự Các chủ thể này thực hiện chức năng bào chữa - Các chủ thể khác gồm ng ời làm chứng, ng ời giám định, nhà chuyên môn, ng ời phiên dịch và ng ời chứng kiến Các chủ thể này tham gia tố tụng để giúp cho các bên và Tòa án xác định sự thật khách quan về vụ án

Việc phân chia chủ thể tham gia TTHS thành bốn nhóm nói trên theo các chức năng cơ bản mà họ thực hiện là có căn cứ Vì phân chia nh vậy không làm mất

đi sự hiện diện của các chủ thể tham gia TTHS trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời cũng không làm mất đi các quyền và nghĩa vụ luật định của họ Mặt khác, nhìn vào cách phân chia nh vậy chúng ta thấy ngay đ c chức năng của mỗi nhóm: Nhóm thuộc bên buộc tội là chủ thể thực hiện chức năng chứng minh tội ph m, ng ời ph m tội; Nhóm thuộc bên bào chữa là chủ thể thực hiện chức năng chứng minh gỡ tội cho chính bản thân họ hoặc cho ng ời đ c họ bảo vệ Trong tr ờng h p này Tòa án giữ vai trò trọng tài nh mô hình tố tụng tranh tụng

Tuy nhiên, theo chúng tôi việc phân chia nh vậy cũng không thực sự cần thiết, bởi lẽ: Thứ nhất, thực tế trong quá trình xét xử vụ án, TA chỉ dựa vào chứng cứ

do CQĐT cung cấp có trong hồ sơ vụ án, vì dù xét xử sơ thẩm hay phúc thẩm các HĐXX phần l n và chủ yếu vẫn phải dựa vào những tài liệu do CQĐT thu thập, xây dựng, tập h p trong hồ sơ vụ án chất l ng xét xử phụ thuộc rất l n vào kết quả xây dựng hồ sơ của CQĐT [36] Mặc dù TA không trực tiếp thu thập chứng cứ về mặt thực

tế, nh ng TA là chủ thể đánh giá và sử dụng chứng cứ để giải quyết vụ án, họ có thể

đ a ra các quyết định nh : Đ a vụ án ra xét xử; Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Đình chỉ hoặc t m đình chỉ vụ án Mặt khác, trong tr ờng h p xét xử vụ án t i phiên tòa nếu phát sinh những tình tiết m i (Có thể là những thông tin, tài liệu chứng cứ m i do các bên tham gia tố tụng cung cấp) HĐXX vừa thu thập đ c và đ c thảo luận đánh giá

sẽ ra một trong các quyết định nh trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc t m đình chỉ vụ án Thứ hai, cách phân chia chủ thể tham gia TTHS thành chủ thể tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng thể hiện đ c nguyên tắc chủ thể chứng minh

Trang 23

chủ yếu và bắt buộc là chủ thể THTT gồm Cơ quan THTT và ng ời THTT Vì vậy, theo chúng tôi việc đề nghị sửa đổi ch ơng III và ch ơng IV BLTTHS theo h ng nói trên là không cần thiết

Tóm l i chủ thể chứng minh trong TTHS bao gồm cơ quan THTT, ng ời THTT và một số chủ thể khác đ c giao nhiệm vụ tiến hành một số ho t động điều tra trong những tr ờng h p do luật định Đây là những chủ thể chủ yếu, việc chứng minh tội ph m và ng ời thực hiện hành vi ph m tội là trách nhiệm của họ

Những chủ thể tham gia TTHS nh ng ời bị t m giữ, bị can, bị cáo, ng ời bị

h i, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ng ời có quyền l i và nghĩa vụ liên quan,

ng ời bào chữa, ng ời bảo vệ quyền l i của đ ơng sự là những chủ thể có quyền tham gia chứng minh nh ng không phải là vụ án nào cũng có tất cả đều tham gia mà tuỳ theo từng vụ án cụ thể có thể chỉ có một số ng ời tham gia, cũng có thể có vụ án không có ng ời nào trong số những ng ời này tham gia chứng minh vì đó là quyền của họ Mặt khác sự chứng minh của họ đôi khi vì những lý do cá nhân mà không thể hiện tính khách quan cao Theo luật tố tụng hình sự th ờng thì kết quả chứng minh của những ng ời này ch a có giá trị pháp lý chính thức mà vẫn phải thông qua sự đánh giá, kết luận của các cơ quan tiến hành tố tụng

1.3.2 Nghĩa vụ chứng minh

Có rất nhiều chủ thể chứng minh TTHS, nh ng trong số những chủ thể đó, có những chủ thể tham gia chứng minh là quyền của họ nên họ có thể thực hiện quyền đó hoặc không thực hiện quyền đó Ng c l i có những chủ thể Luật TTHS quy định họ

có nghĩa vụ phải chứng minh, tức là họ bắt buộc phải tham gia vào ho t động chứng minh Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào từng giai đo n lịch sử, tuỳ thuộc vào trình tự tố tụng

đ c tiến hành theo các kiểu khác nhau hoặc cơ sở, ph ơng pháp luận dựa trên các học thuyết khác nhau nên luật tố tụng hình sự ở các n c khác nhau, ở các giai đo n lịch sử khác nhau quy định về chủ thể có nghĩa vụ chứng minh có sự khác nhau Nghĩa

vụ chứng minh VAHS đã đ c đề cập từ lâu trong lịch sử luật TTHS của các n c trên thế gi i

Ngay từ thế kỷ thứ III tr c công nguyên v i hình thức tố tụng kiểu tố cáo, Luật La Mã quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về ng ời tố cáo Ngoài việc tố cáo,

ng ời tố cáo còn đ a ra những chứng cứ liên quan đến việc tố cáo ấy, vì vậy lời tố cáo của một ng ời nào đó về tội ph m vừa là căn cứ xuất hiện trình tự để giải quyết vụ án,

Trang 24

vừa là căn cứ buộc tội đối v i ng ời bị tố cáo Theo nguyên tắc ấy thì "Không có nguyên cáo thì không có quan tòa" [19]

Khi hình thức tố tụng kiểu thấm vấn ra đời thay thế hình thức tố tụng kiểu tố cáo thì Biện lý xuất hiện Biện lý là ng ời đ i diện cho quyền lực nhà Vua có trách nhiệm điều tra, thu thập chứng cứ và duy trì sự buộc tội tr c Toà án Hình thức tố tụng kiểu thẩm vấn phát triển m nh ở Pháp vào thế kỷ XIV, ở Đức thế kỷ XVI Khoảng đầu thế kỷ XVIII ở n c Nga xuất hiện Cơ quan công tố, cơ quan này chịu trách nhiệm chứng minh hầu hết các VAHS, chỉ trừ một ph m vi rất nhỏ những vụ án

t tố mà ở đó ng ời bị h i có nghĩa vụ chứng minh tính có căn cứ của sự việc mà họ tố cáo

Ngày nay, trong luật TTHS của các n c t bản, chủ thể có nghĩa vụ chứng minh là do CQĐT, Cơ quan công tố thực hiện, có n c còn do TP thực hiện nh ở Italia Nhiệm vụ của cảnh sát là thu thập tài liệu, chứng cứ và lập hồ sơ về vụ án xảy ra

d i sự chỉ đ o trực tiếp của công tố viên (Cộng hòa Pháp), hoặc độc lập không chịu ràng buộc của công tố viên (v ơng quốc Anh) [19] Tuy nhiên, ở các n c t bản Luật

s cũng có quyền thu thập chứng cứ, trách nhiệm của Luật s là tìm kiếm, thu thập những bằng chứng ngo i ph m, những chứng cứ giảm nhẹ TNHS cho bị can, bị cáo và chuẩn bị thẩm tra nhân chứng tr c toà Một số n c theo tr ờng phái án lệ, luật pháp quy định bị can không có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, trong khi hỏi cung bị can có quyền trả lời hoặc im lặng

Trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, nghĩa vụ chứng minh trong giai

đo n điều tra VAHS còn có hai quan điểm khác nhau: - Quan điểm thứ nhất cho rằng: Trách nhiệm này là trách nhiệm buộc tội nên chủ thể là VKS v i t cách là cơ quan thực hành quyền công tố - Quan điểm thứ hai cho rằng: Nghĩa vụ chứng minh là nghĩa

vụ bảo vệ quan điểm do mình đ a ra, nghĩa vụ t o điều kiện cho việc xác định chân lý

vụ án nên nghĩa vụ không chỉ thuộc về CQĐT, VKS mà còn cả những ng ời tham gia

tố tụng nữa

Quan hệ tố tụng trong việc truy cứu TNHS thực chất là quan hệ giữa một bên

là Nhà n c và một bên là công dân Khi tội ph m đ c thực hiện, Nhà n c có quyền truy cứu TNHS đối v i ng ời ph m tội và ng ời ph m tội phải chịu TNHS Vì vậy, để

ng ời ph m tội phải chịu hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi ph m tội của mình thì Nhà n c phải có trách nhiệm chứng minh rằng ng ời đó đã có hành vi ph m tội

Trang 25

Để làm sáng tỏ VAHS, ngoài nghĩa vụ chứng minh của các cơ quan THTT, đòi hỏi có sự tham gia tích cực của những ng ời tham gia tố tụng và các chủ thể khác Tuy nhiên, sự tham gia của các chủ thể này không phải là họ có trách nhiệm chứng minh vụ án mà là họ có trách nhiệm cung cấp những tài liệu, thông tin liên quan đến

vụ án và cơ quan THTT có thể sử dụng những tài liệu, thông tin này làm chứng cứ chứng minh trong VAHS T i Điều 10 BLTTHS Việt Nam quy định trách nhiệm chứng minh tội ph m thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bị can, bị cáo có quyền

nh ng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Quy định này của pháp luật nhằm bảo đảm nguyên tắc tôn trọng quyền tự do dân chủ của công dân trong TTHS Bị can,

bị cáo có quyền đ a ra chứng cứ chứng minh tính không có lỗi hoặc tình tiết giảm nhẹ TNHS của mình, nh ng đó là quyền chứ không phải nghĩa vụ

Nh vậy, nghĩa vụ chứng minh trong TTHS là trách nhiệm của các cơ quan THTT, ng ời THTT và một số chủ thể khác đ c giao nhiệm vụ tiến hành một số ho t động điều tra trong những tr ờng h p do luật định đ c nhà n c trao thẩm quyền thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ để chứng minh hành vi ph m tội và

ng ời ph m tội tr c pháp luật Những chủ thể khác nh ng ời bị t m giữ, bị can, bị cáo, ng ời bị h i, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ng ời có quyền l i và nghĩa vụ liên quan, ng ời bào chữa, ng ời bảo vệ quyền l i của đ ơng sự có quyền đ a ra những tài liệu, đồ vật, yêu cầu để bảo vệ quyền l i cho mình hoặc bảo vệ cho ng ời họ

đ i diện nh ng họ không buộc phải có nghĩa vụ chứng minh

1.4 Q a trình chứng minh

Có nhiều cách phân chia quá trình chứng minh thành các giai đo n khác nhau Có

quan điểm xác định quá trình chứng minh đ c chia làm ba giai đo n: “Thu thập chứng

cứ, kiểm tra chứng cứ, đánh giá chứng cứ” [53] Có ý kiến khác cho rằng quá trình

chứng minh vụ án hình sự đ c chia thành ba khâu: “Phát hiện, thu thập, củng cố và

bảo vệ chứng cứ; kiểm tra, xác minh chứng cứ; đánh giá chứng cứ” [46]

Quá trình chứng minh VAHS xét về bản chất là quá trình nhận thức về VAHS thông qua các chứng cứ đ c diễn ra liên tục, kế tiếp, xen kẽ trong các ho t động TTHS Vì vậy, việc phân chia các quá trình chứng minh thành các giai đo n chỉ mang tính t ơng đối

Có thể chia quá trình chứng minh VAHS thành các b c sau: Thu thập, kiểm tra, đánh giá

và sử dụng chứng cứ

1.4.1 Thu thập chứng cứ

Trang 26

Thu thập chứng cứ là ho t động đầu tiên của quá trình chứng minh trong VAHS Ho t động này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối v i toàn bộ quá trình chứng minh Chính vì vậy, kết quả của ho t động thu thập chứng cứ có ảnh h ởng rất l n đến toàn bộ quá trình giải quyết vụ án Số l ng, chất l ng các chứng cứ thu thập đ c sẽ

t o điều kiện thuận l i hoặc ng c l i gây khó khăn cho các cơ quan THTT chứng minh đối v i vụ án Vì vậy, các cơ quan và ng ời có thẩm quyền cần đặc biệt quan tâm đến ho t động này

Thu thập chứng cứ là việc cơ quan THTT áp dụng các ph ơng tiện, biện pháp và

ph ơng pháp theo qui định của BLTTHS để xác định, tìm ra, thu giữ, bảo quản những chứng cứ và nguồn chứng cứ nhằm giải quyết chính xác đối v i vụ án Xét về bản chất

ho t động thu thập chứng cứ bao gồm tổng h p các ho t động, các hành vi phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ

Phát hiện chứng cứ là tìm ra những sự vật, hiện t ng, dấu vết, tài liệu, đang tồn t i trong thế gi i vật chất, l u giữ những thông tin về vụ án Các chứng cứ tồn t i

d i hai hình thức phản ánh: Trong môi tr ờng vật chất và trong ý thức của con ng ời

Vì vậy, muốn phát hiện những nơi cụ thể có thể l u giữ các chứng cứ đó, cần sử dụng các ph ơng tiện, biện pháp và ph ơng pháp cho phù h p v i quy luật hình thành chứng cứ, lo i chứng cứ cần phát hiện Phát hiện chứng cứ đ c coi là khâu cơ bản, quan trọng, là tiền đề cho các ho t động tiếp theo Phát hiện chứng cứ đầy đủ và đảm bảo chất l ng thì sẽ là yếu tố thành công của quá trình chứng minh VAHS Để phát hiện mọi chứng cứ trong VAHS đòi hỏi cơ quan THTT và ng ời THTT phải nắm

đ c qui luật hình thành chứng cứ

Ghi nhận chứng cứ là công việc tiếp theo, đây là quá trình mô tả, chuyển tải những thông tin về các chứng cứ đ c phát hiện vào những văn bản tố tụng phù h p theo đúng quy định t i Điều 95 BLTTHS Nếu đối t ng phản ánh về vụ án là vật thì

mô tả các đặc điểm, dấu hiệu, dấu vết có liên quan đến diễn biến của vụ án hình sự Nếu đối t ng phản ánh là ng ời thì ho t động ghi nhận đ c tiến hành bằng cách yêu cầu họ trình bày những tình tiết mà họ biết về vụ án nh biên bản lấy lời khai của

ng ời làm chứng, lấy lời khai của ng ời bị h i [10] Ngoài các hình thức ghi nhận trên, chứng cứ có thể đ c ghi nhận bằng hình thức khác nh ghi âm, chụp ảnh, vẽ sơ

đồ, bản kết luận giám định [41]

Thu giữ chứng cứ là ho t động đ c tiến hành sau khi đã phát hiện đ c chứng cứ và nguồn chứng cứ để phục vụ cho việc chứng minh tội ph m hoặc giải

Trang 27

quyết những vấn đề khác liên quan đến vụ án Khi tiến hành khám xét, ĐTV đ c t m giữ đồ vật là vật chứng và các tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án Đối v i đồ vật cấm tàng trữ, l u hành thì phải thu giữ và chuyển ngay cho cơ quan quản lý có thầm quyền theo quy định t i Điều 145 BLTTHS Các ph ơng tiện và ph ơng pháp thu giữ chứng

cứ và nguồn chứng cứ cần đ c xác định dựa trên những đặc điểm riêng của chính đối

t ng cần thu giữ Ho t động thu giữ chứng cứ, vật chứng là tiền đề vật chất, trực tiếp cho công tác giải quyết VAHS Thu giữ không đúng ph ơng pháp khoa học, không tuân theo thủ tục mà pháp luật TTHS qui định thì có thể sẽ làm chứng cứ, vật chứng bị hủy ho i và không có giá trị chứng minh Nh vậy, thu giữ chứng cứ đ c áp dụng khi chứng cứ thể hiện d i d ng là vật Việc thu giữ chứng cứ th ờng đ c tiến hành khi cần phải thu giữ thì m i đảm bảo tính nguyên vẹn của thông tin nhằm đảm bảo cho việc đánh giá và sử dụng chứng cứ đ c chính xác [41]

Bảo quản chứng cứ là áp dụng các biện pháp phù h p để bảo vệ, giữ gìn tính nguyên vẹn của vật chứng, chứng cứ, không để mất mát, lẫn lộn, h hỏng, đánh tráo dấu vết, vật chứng hoặc làm thay đổi các đặc điểm, thuộc tính, những thông tin có giá trị chứng minh của vật chứng, chứng cứ để các chứng cứ đã thu thập đ c có giá trị chứng minh, phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án Việc bảo quản chứng cứ phải đ c tiến hành ngay từ khi phát hiện, thu giữ nó ở hiện tr ờng cho đến khi có quyết định của cơ quan Nhà n c có thẩm quyền quyết định xử lý Bảo quản vật chứng phải có ph ơng pháp, cách thức bảo quản phù h p v i từng lo i vật chứng Để đảm bảo tính h p pháp của dấu vết, vật chứng thì đối v i mọi vật chứng, dấu vết đều phải đóng dấu, dán tem, niêm phong cẩn thận, ghi chú rõ ràng từng dấu vết, ngày, tháng, năm phát hiện, thu giữ, bảo quản dấu vết, vật chứng, ghi rõ họ, tên, chức vụ, cấp bậc, ký tên ng ời thu giữ, bảo quản Mỗi một chứng cứ cần đ c ĐTV, KSV, TP, Hội thẩm xem xét một cách cụ thể, chi tiết và phải đ c ghi nhận d i những hình thức phù h p v i các đòi hỏi của luật TTHS

Vậy, thu thập chứng cứ trong quá trình chứng minh vụ án hình sự là quá trình phát hiện thu giữ, ghi nhận và bảo quản chứng cứ do cơ quan và ng ời có thẩm quyền thực hiện bằng các ph ơng pháp phù h p v i quy định của luật tố tụng hình sự

1.4.2 Kiểm tra chứng cứ

Kiểm tra chứng cứ là giai đo n tiếp theo của quá trình chứng minh VAHS Việc kiểm tra chứng cứ chính là sự kiểm tra các đặc điểm của chứng cứ đó là việc xem xét để xác định tính xác thực, tính khách quan, tính liên quan và tính h p pháp của

Trang 28

chứng cứ Chỉ những tài liệu đã đ c kiểm tra và có các đặc điểm của chứng cứ thì

m i đ c coi là chứng cứ để sử dụng chứng minh vụ án Việc tiến hành kiểm tra chứng cứ đ c tiến hành bằng các biện pháp nh : Phân tích từng thuộc tính của chứng

cứ xem các thuộc tính đó có phù h p v i thực tế khách quan hay không, có bảo đảm giá trị chứng minh hay không; So sánh giữa các chứng cứ đã thu thập đ c v i nhau xem có phù h p không, nếu có mâu thuẫn thì do đâu, từ đó tìm các chứng cứ m i để làm sáng tỏ những chứng cứ đã thu thập đ c Tuy nhiên, không nên quan niệm máy móc rằng thu thập chứng cứ, kiểm tra chứng cứ là hai b c độc lập tách rời mà phải coi đây là hai b c có quan hệ hữu cơ v i nhau, thu thập chứng cứ t o tiền đề vật chất cho việc kiểm tra chứng cứ, việc kiểm tra chứng cứ thu thập đ c sẽ đánh giá đ c giá trị của chứng cứ Trong khoa học Luật TTHS có hai quan điểm khác nhau về kiểm tra chứng cứ: - Quan điểm thứ nhất: Quan điểm này cho rằng nghiên cứu chứng cứ và kiểm tra chứng cứ là hai khái niệm đồng nhất - Quan điểm thứ hai: Quan điểm này cho rằng kiểm tra chứng cứ không phải là một b c độc lập của quá trình chứng minh, mà một b c cấu thành của việc đánh giá chứng cứ [47]

TS.Trần Quang Tiệp có quan điểm không đồng tình v i hai quan điểm nêu trên, bởi lẽ: Quan điểm thứ nhất không h p lý vì nội hàm của khái niệm nghiên cứu rộng hơn nội hàm của khái niệm kiểm tra, bất kỳ nghiêm cứu khoa học nào cũng phải qua khâu kiểm tra và việc nghiên cứu sẽ bị coi là vô nghĩa nếu không qua khâu kiểm tra tính đúng đắn của nó; Quan điểm thứ hai cũng không h p lý vì kiểm tra chứng cứ không có mục đích tự thân nó, mà kiểm tra chứng cứ là để phục vụ cho việc đánh giá

và sử dụng chứng cứ, nh ng nếu cho rằng kiểm tra chứng cứ là một bộ phận cấu thành của đánh giá chứng cứ thì đó l i là sai lầm, vì biện pháp thực hiện và mục đích là hai khái niệm không đồng nhất Chúng tôi đồng tình v i quan điểm này

Trong quá trình kiểm tra chứng cứ, những ng ời kiểm tra phải thực hiện theo nguyên tắc trực tiếp Có nghĩa là họ phải trực tiếp làm sáng tỏ bản chất, nội dung của chứng cứ, trực tiếp xác định tính chính xác của chứng cứ và trực tiếp so sánh, đối chiếu chứng cứ đang đ c nghiên cứu v i những chứng cứ khác trong vụ án

Nh vậy, kiểm tra chứng cứ là ho t động của Cơ quan THTT, ng ời THTT và một số chủ thể khác đ c giao nhiệm vụ tiến hành một số ho t động điều tra trong những tr ờng h p do luật định xem xét xác định tính khách quan, tính liên quan và tính h p pháp của chứng cứ để phục vụ cho việc giải quyết VAHS

1.4.3 Đánh giá chứng cứ

Trang 29

Quá trình đánh giá chứng cứ là một quá trình xác định sự thật khách quan trong một vụ án hình sự Quá trình đánh giá chứng cứ là một quá trình nhận thức cái

ch a biết, đi từ cái ch a biết đến biết, là một quá trình tuân theo các quy luật của phép

duy vật biện chứng Đánh giá chứng cứ là ho t động nhận thức, đây là một giai đo n

phức t p của quá trình chứng minh, đ c các cơ quan THTT và ng ời THTT tiến hành liên tục, xuyên suốt trong quá trình chứng minh VAHS, nhằm sử dụng kết quả đánh

giá vào từng giai đo n khác nhau trong quá trình nhận thức khách quan

Đánh giá chứng cứ là b c vô cùng quan trọng, giải quyết vụ án đ c chính xác hay không chính là b c tiếp theo của quá trình đánh giá chứng cứ Chất l ng giải quyết vụ án phụ thuộc nhiều vào việc ng ời đánh giá chứng cứ Có thể nói nếu các diễn biến khách quan của vụ án đ c phản ánh đúng, đồng thời đ c ng ời giải quyết đánh giá đúng thì vụ án m i đ c giải quyết một cách đúng đắn đ c

Chứng cứ trong VAHS không bao giờ cô lập, mà nó luôn nằm trong mối quan

hệ mật thiết và lôgíc v i nhau Xác định đ c mối quan hệ đó là điều kiện cần thiết để xác định sự thật khách quan trong vụ án Việc phát hiện, thu thập tài liệu, chứng cứ về

số l ng, chất l ng có sự khác nhau dẫn t i việc đánh giá những tài liệu, chứng cứ cũng có sự khác nhau Tuy vậy, việc đánh giá tài liệu chứng cứ ở các giai đo n tố tụng

có mối quan hệ v i nhau và có cùng một mục đích Việc đánh giá ở giai đo n tr c là tiền đề, điều kiện của giai đo n sau Giai đo n tr c cung cấp chứng cứ cho giai đo n sau để dần hoàn thiện nhận thức chân lý khách quan của vụ án Đánh giá chứng cứ là quá trình nhận thức lôgic về chứng cứ và sự phù h p của các chứng cứ trong toàn bộ

h p hệ thống các chứng cứ trong vụ án hay không Đồng thời phải xem chứng cứ đó

có mối liên hệ v i các chứng cứ khác nh thế nào, liên hệ trực tiếp hay gián tiếp, chúng có bổ sung hỗ tr gì cho nhau không Xét về mặt nhận thức lý luận, có thể nói

Trang 30

rằng chứng cứ bao giờ cũng có mối liên hệ mật thiết và lôgíc v i nhau Chính vì vậy, xác định mối quan hệ giữa chứng cứ là một nhiệm vụ quan trọng của những ng ời tiến hành tố tụng Nó là điều kiện cần thiết và bảo đảm để xác định chân lý khách quan trong vụ án

Đánh giá chứng cứ là giai đo n cuối cùng của quá trình chứng minh nhằm rút

ra kết luận về vụ án trên cơ sở những thông tin, đồ vật, tài liệu đã thu thập đ c trong quá trình tố tụng Việc đánh giá chứng cứ có ảnh h ởng đến chất l ng sử dụng chứng

cứ làm cơ sở cho việc nhận định và đ a ra quyết định trong việc giải quyết vụ án Sự khác nhau của việc ra quyết định trong việc giải quyết VAHS không đ c hiểu là cơ

sở pháp lí của nó mà chính là kết quả pháp lí của quá trình nghiên cứu đánh giá và sử dụng chứng cứ Những ng ời THTT cần quán triệt đúng đắn tinh thần đó trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử VAHS Nếu không nhận thức đúng về vấn đề này có thể

sẽ dẫn đến việc thừa nhận sự tồn t i các lo i chân lí khác nhau ở các giai đo n tố tụng [17]

Hiện nay có một số tác giả bàn về khái niệm đánh giá chứng cứ, nh ng trong khái niệm đều thiếu chủ thể đánh giá nh : Đánh giá chứng cứ là ho t động t duy của

ng ời THTT nhằm xác định độ tin cậy của chứng cứ nhằm t o điều kiện cho việc sử dụng chứng cứ vào mục đích chứng minh [19,tr171], hoặc Đánh giá chứng cứ là ho t động t duy của ĐTV, KSV, TP và hội thẩm đ c tiến hành d i d ng logic biện chứng trên cơ sở của pháp luật hình sự, TTHS, ý thức pháp luật và niềm tin nội tâm nhằm nghiên cứu, đánh giá độ tin cậy của từng chứng cứ riêng biệt, cũng nh tổng h p chứng cứ của VAHS [59,tr118]

Theo chúng tôi, đánh giá chứng cứ là ho t động t duy của các chủ thể mà

tr c hết là Cơ quan THTT, ng ời THTT và một số chủ thể khác đ c giao nhiệm vụ tiến hành một số ho t động điều tra nhằm xác định độ tin cậy của chứng cứ t o cơ sở cho việc sử dụng chứng cứ để chứng minh vụ án hình sự

1.4.4 Sử dụng chứng cứ

Trong quá trình chứng minh VAHS, ho t động sử dụng chứng cứ gắn liền v i

ho t động đánh giá chứng cứ Đánh giá chứng cứ và sử dụng chứng cứ có quan hệ chặt chẽ không thể tách rời Đánh giá chứng cứ là tiền đề, là điều kiện cho việc sử dụng chứng cứ Sử dụng chứng cứ là sự kiểm nghiệm, xác định l i kết quả của ho t động đánh giá chứng cứ Đánh giá chứng cứ không đúng tất yếu sẽ sử dụng chứng cứ sai

Trang 31

lầm Trong quá trình chứng minh VAHS, cơ quan THTT, ng ời THTT phải sử dụng chứng cứ để ra quyết định tố tụng

Trong giai đo n khởi tố VAHS, các chủ thể sử dụng chứng cứ trong giai đo n này nhằm xác định dấu hiệu của tội ph m để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố VAHS, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố VAHS

Trong giai đo n điều tra do thông tin thu thập đ c về vụ án còn ít nên ch a cho phép hiểu rõ đ c bản chất vụ án Dựa trên những tài liệu thu thập đ c CQĐT mà trực tiếp là ĐTV phải xây dựng các ph ơng án điều tra, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ để thực hiện các ph ơng án đó Điều đó giúp CQĐT phát hiện thu thập đ c những chứng

cứ m i

Ví dụ: " Lúc 8 giờ ngày 20-11, một nhóm trẻ em chơi đùa bên dòng suối Cây

Da, thuộc thôn Phụng Cang, xã Ninh H ng, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, một em nhỏ bị rơi xuống suối Khi tìm thi thể em nhỏ, nhiều ng ời đã thấy xác một ng ời phụ

nữ d i dòng n c Qua khám nghiệm tử thi, cơ quan chức năng đã kết luận: N n

nhân chết tr c khi bị đ a xuống n c, thời điểm khoảng vào đêm hôm tr c, nguyên nhân do một lực gọng kìm tác động vào vùng cổ dẫn đến ng t thở, trên ng ời n n nhân không có tài sản gì Theo nhận định thì đây có khả năng là một vụ án m ng, n n nhân không phải là ng ời ở xã Ninh H ng Tiến hành khám nghiệm một số dấu vết t i nhà

bà Thi, điều tra viên đã đi đến nhận định: Hiện tr ờng gây án là t i nhà bà Thi Sau khi hung thủ ra tay sát h i ng ời phụ nữ độc thân này đã lấy một số tài sản có giá trị trong nhà rồi đ a xác đi phi tang t i khu vực suối Cây Da, cách hiện tr ờng gây án khoảng 6

ng ời ở xã Ninh H ng Vì vậy, đây cũng chỉ là những giả thuyết ban đầu, giúp CQĐT

có định h ng truy tìm các chứng cứ m i bằng các công tác nghiệp vụ của mình, nh xác định nhân thân n n nhân, xác minh các mối quan hệ của n n nhân, mối quan hệ

Trang 32

giữa nơi phát hiện tử thi và hiện tr ờng thực sự của vụ án, các biểu hiện bất th ờng

tr c đó của n n nhân Từ đó sẽ đ a ra giả thuyết về đặc điểm kẻ ph m tội, khoanh vùng đối t ng, sàng lọc đối t ng và cuối cùng là tìm ra kẻ gây án Khi có đủ chứng

cứ xác định có tội ph m xảy ra và ng ời thực hiện hành vi ph m tội thì ra quyết định khởi

tố vụ án, khởi tố bị can, thông qua quá trình chứng minh nếu xác định rõ bị can thì CQĐT

làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố

Trong giai đo n truy tố VKS sử dụng chứng cứ để ra quyết định tố tụng nh : Quyết định truy tố bị can bằng bản cáo tr ng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn; Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung; Quyết định đình chỉ, t m đình chỉ giải quyết vụ án; Quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Trong qua trình kiểm sát điều tra, quyết định truy tố, duy trì công tố t i phiên tòa KSV phải dựa trên cơ sở sử dụng đầy đủ đúng đắn các chứng cứ

Trong giai đo n xét xử, mọi quyết định, kết luận cuối cùng của TA cũng hoàn toàn dựa trên cơ sở việc sử dụng chứng cứ Ví dụ: Khi ra bản án Tòa án phải dựa trên cơ

sở các chứng cứ đã đ c thu thập, kiểm tra chứng minh công khai t i phiên tòa Khi sử dụng chứng cứ các cơ quan THTT phải chấp hành nguyên tắc của việc sử dụng chứng

cứ nh : Chấp hành nguyên tắc khách quan, toàn diện và đầy đủ của chứng cứ, chỉ

đ c sử dụng chứng cứ đã đ c phát hiện thu thập theo đúng trình tự mà pháp luật tố tụng qui định Khi sử dụng chứng cứ phải tuân theo các qui định của pháp luật TTHS Sau khi phát hiện, thu thập, cần nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá ngay để sử dụng nhằm đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời của các ho t động tố tụng tiếp theo Các chứng cứ sau khi kiểm tra, đánh giá, đã xác định đ c giá trị chứng minh của chứng cứ thì chỉ

đ c sử dụng đúng v i giá trị của nó Giá trị chứng minh của mỗi chứng cứ đều có những ph m vi nhất định, việc sử dụng chứng cứ cần căn cứ vào ph m vi, giá trị chứng minh của từng chứng cứ Sử dụng đúng giá trị chứng minh của từng chứng cứ cho phép ng ời THTT xác định đúng sự thật khách quan của vụ án

Trong quá trình chứng minh VAHS, HĐXX sử dụng chứng cứ để định tội danh nhằm quyết định hình ph t, áp dụng các biện pháp t pháp nh : Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội ph m, trả l i tài sản, sửa chữa hoặc bồi th ờng thiệt h i, buộc công khai xin lỗi Quá trình sử dụng chứng cứ là một d ng ho t động nhận thức,

ho t động áp dụng pháp luật hình sự, nhằm đi t i chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi ph m tội đ c thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy ph m pháp luật hình sự, quy ph m pháp luật dân sự, quy định

Trang 33

cấu thành tội ph m t ơng ứng và mối liên hệ t ơng đồng giữa các dấu hiệu của cấu thành tội ph m, v i các tình tiết cụ thể của hành vi ph m tội, bằng các ph ơng pháp và thông qua các giai đo n nhất định

Nh vậy, quá trình chứng minh vụ án hình sự là tổng h p các hành vi tố tụng hình sự do Cơ quan THTT, ng ời THTT và một số chủ thể khác trong những tr ờng

h p do luật định tiến hành theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự để thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ nhằm làm rõ sự thật khách quan và giải quyết đúng đắn vụ án hình sự

Kết uận chương 1

Nh vậy, quá trình chứng minh là một quá trình nhận thức khách quan, đ c thực hiện bằng các ho t động trong giai đo n điều tra, truy tố, xét xử Thực chất và mục đích của quá trình chứng minh VAHS của các cơ quan tiến hành tố tụng là thu thập,

sử dụng chứng cứ làm ph ơng tiện để xác định rõ có dấu hiệu tội ph m hay không, ai là

ng ời thực hiện tội ph m, trách nhiệm hình sự, dân sự của ng ời đó tr c pháp luật

Ho t động chứng minh trong VAHS chủ yếu thể hiện trong các giai đo n điều tra, truy tố và xét xử VAHS, trong đó các cơ quan THTT áp dụng mọi biện pháp h p pháp để thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ nhằm xác định sự thật của vụ

án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ

Chứng cứ thu thập ở mỗi giai đo n tố tụng phải theo trình tự, thủ tục mà pháp luật TTHS quy định, nghĩa là chứng cứ đ c thu thập phải đảm bảo tính h p pháp thì

m i có giá trị chứng minh Những chứng cứ thu thập một không đúng quy định thì không có giá trị chứng minh

Chỉ những chủ thể đ c pháp luật tố tụng hình sự quy định có quyền áp dụng các ph ơng pháp, cách thức thu thập chứng cứ do pháp luật TTHS quy định thì những chứng cứ đó m i đ c coi là h p pháp và đ c sử dụng vào việc chứng minh trong VAHS

Chứng cứ là ph ơng tiện duy nhất để các cơ quan THTT sử dụng trong quá trình chứng minh VAHS, tuy nhiên ho t động thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ ở mỗi giai đo n đều có đặc điểm riêng khác nhau, khi nghiên cứu về quá trình chứng minh trong VAHS thì cần phải làm rõ quá trình chứng minh của giai đo n điều tra, giai đo n truy tố và xét xử là vấn đề hết sức cần thiết để giúp cho chúng ta hiểu rõ đ c quá trình chứng minh của từng giai đo n, từ đó đề ra những biện pháp và

kế ho ch cụ thể để thu thập chứng cứ một cách phù h p và hiệu quả

Trang 34

Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

2.1 Quy định về chủ thể chứng minh

Theo quy định t i Điều 10 BLTTHS " CQĐT, VKS và TA phải áp dụng mọi biện pháp h p pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can, bị cáo; Trách nhiệm chứng minh tội ph m thuộc về các cơ quan THTT Bị can, bị cáo có quyền nh ng không buộc phải chứng minh là mình vô tội."

Điều 63 " Những vấn đề phải chứng minh trong VAHS

Khi điều tra, truy tố và xét xử VAHS, CQĐT, VKS và TA phải chứng minh: "

Chủ thể có quyền thu thập, đánh giá chứng cứ là cơ quan THTT Thông th ờng thì chủ thể chứng minh trong TTHS chủ yếu là các cơ quan THTT và ng ời THTT Nhóm chủ thể này giữ vai trò chính trong ho t động chứng minh toàn bộ nội dung của

vụ án và kết quả chứng minh của họ mang tính pháp lý cao Tuy nhiên, do chức năng, nhiệm vụ của từng chủ thể có sự khác nhau nên giai đo n tham gia chứng minh cũng

nh ph m vi, mức độ chứng minh của họ cũng có sự khác nhau nhất định

Theo quy định t i Điều 111 BLTTHS thì các cơ quan thuộc đơn vị bộ đội biên phòng, cơ quan hải quan, kiểm lâm, lực l ng cảnh sát biển, các cơ quan khác của công an nhân dân, quân đội nhân dân đ c giao nhiệm vụ tiến hành một số các ho t động điều tra cũng là chủ thể chứng minh, nh ng ph m vi tham gia cũng nh mức độ tham gia chứng minh của các cơ quan này chỉ ở một gi i h n và chừng mực nhất định

mà không giống nh các cơ quan THTT

Ng ời bị t m giữ, bị can, bị cáo cũng là những chủ thể chứng minh Họ có quyền đ a ra các tài liệu, đồ vật, yêu cầu để bảo vệ quyền l i cho mình Ph m vi chứng minh của họ chủ yếu là chứng minh có tội hay không có tội, các tình tiết giảm nhẹ TNHS, giảm nhẹ mức độ bồi th ờng thiệt h i do hành vi ph m tội của họ gây ra

Ng ời bị h i, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ng ời có quyền l i và nghĩa

vụ liên quan là những chủ thể chứng minh Họ có quyền đ a ra các tài liệu, đồ vật, yêu cầu để bảo vệ quyền l i cho mình Ph m vi chứng minh của những chủ thể này chủ yếu là chứng minh yêu cầu mức độ bồi th ờng thiệt h i do hành vi ph m tội gây ra

Trang 35

Ng ời bào chữa, ng ời bảo vệ quyền l i của đ ơng sự tham gia chứng minh những tình tiết có l i đến việc bào chữa cho ng ời bị t m giữ, bị can, bị cáo hoặc đến việc bảo vệ quyền l i cho đ ơng sự

Những chủ thể này có quyền tham gia chứng minh nh ng thực tế họ có mặt trong từng vụ án cụ thể chứ không phải là vụ án nào cũng có tất cả những ng ời tham gia, cũng có thể có vụ án không có ng ời nào trong số những ng ời này tham gia chứng minh vì đó là quyền của họ Mặt khác sự chứng minh của họ đôi khi vì những lý

do cá nhân mà không thể hiện tính khách quan cao Kết quả chứng minh của những

ng ời này ch a có giá trị pháp lý chính thức mà vẫn phải thông qua sự đánh giá, kết luận của các cơ quan THTT

So v i BLTTHS Trung Quốc chúng ta nhận thấy t i Điều 43 BLTTHS Trung Quốc quy định "TP, KSV, ĐTV phải theo trình tự thủ tục đ c quy định trong luật, phải thu thập các lo i chứng cứ khác nhau để có thể chứng minh sự có tội hay vô tội của nghi can, bị cáo và mức độ nghiêm trọng của tội ph m Nghiêm cấm việc bức cung, dùng nhục hình và thu thập chứng cứ bằng các biện pháp nh đe do , dụ dỗ, lừa

g t và các biện pháp bất h p pháp khác Phải đ c đảm bảo điều kiện để cho mọi công dân có liên quan đến vụ án hoặc ng ời có thông tin về các tình tiết của vụ án cung cấp chứng cứ một cách khách quan và đầy đủ, trừ những tr ờng h p đặc biệt, họ có thể

đ c mời t i để hỗ tr điều tra vụ án.", nh vậy chủ thể chứng minh gồm TP, KSV, ĐTV Chủ thể đó gồm cả những cơ quan TAND, VKSND và cơ quan công an đ c quy định t i Điều 45 "TAND, VKSND và cơ quan công an có quyền thu thập chứng

cứ t i các đơn vị và cá nhân liên quan Các đơn vị và cá nhân liên quan phải cung cấp

các chứng cứ một cách chính xác." Hoặc HĐXX đ c quy định t i Điều 158 " Trong

quá trình xét xử t i toà, nếu HĐXX có nghi ngờ về chứng cứ thì có thể tuyên bố hoãn

để tiến hành điều tra để kiểm tra chứng cứ "

T i Điều 48 BLTTHS Trung Quốc quy định: "Tất cả những ai có thông tin về

vụ án đều phải có trách nhiệm khai báo Những ng ời có nh c điểm về thể chất hoặc tâm thần, ng ời ch a thành niên không phân biệt đ c đúng, sai hoặc không có khả năng diễn đ t, trình bày chính xác thì không đ c làm chứng." Quy định này không nói rõ những ng ời thuộc tr ờng h p trên có những ai là chủ thể có quyền chứng minh Hoặc quyền đặt câu hỏi t i Điều 155 quy định " Ng ời bị h i, nguyên đơn dân

sự, bị đơn dân sự và ng ời đ i diện đ c uỷ quyền có thể, v i sự cho phép của thẩm

Trang 36

phán chủ tọa, đặt câu hỏi đối v i bị cáo.", quyền tự bào chữa Điều 32 " Ngoài quyền tự bào chữa, nghị can hoặc bị cáo có thể chọn một hoặc hai ng ời khác làm ng ời bào chữa Những ng ời sau đây có thể đ c chọn là ng ời bào chữa "

Đối chiếu những nội dung đã phân tích ở trên chúng ta có thể nhận thấy chủ thể chứng minh trong TTHS Việt Nam và Trung Quốc t ơng đồng Chủ thể chủ yếu và bắt buộc là các cơ quan TAND, VKSND và CQĐT và những ng ời thuộc các cơ quan

đó nh TP, hội thẩm, KSV, ĐTV Các chủ thể khác có quyền chứng minh để bảo vệ quyền l i cho mình hoặc cho ng ời đ c họ bảo vệ nh ng không phải là nghĩa vụ của

họ

BLTTHS Liên Bang Nga chia chủ thể tham gia tố tụng chia thành hai nhóm chính: - Các chủ thể tham gia tố tụng thuộc bên buộc tội bao gồm KSV, dự thẩm viên, thủ tr ởng CQĐT, CQĐT ban đầu, nhân viên điều tra ban đầu, ng ời bị h i, t tố viên, nguyên đơn dân sự, ng ời đ i diện của ng ời bị h i, nguyên đơn dân sự và t tố viên - Các chủ thể tham gia tố tụng thuộc bên bào chữa gồm ng ời bị tình nghi, bị can, ng ời

đ i diện h p pháp của ng ời bị tình nghi và của bị can là ng ời ch a thành niên, ng ời bào chữa, bị đơn dân sự, ng ời đ i diện của bị đơn dân sự

Điều 14 Khoản 2 BLTTHS Liên Bang Nga quy định " Ng ời bị tình nghi hoặc bị can không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình Vấn đề chứng minh tội

ph m và bác bỏ những chứng cứ nhằm bảo vệ cho ng ời bị tình nghi hoặc bị can thuộc trách nhiệm của bên buộc tội " Nh vậy, chủ thể tham gia tố tụng thuộc bên buộc tội

là các chủ thể chứng minh, nghĩa vụ của họ là phải sử dụng chứng cứ để chứng để chứng minh tội ph m Những ng ời tham gia tố tụng thuộc bên bào chữa là những chủ thể có quyền tham gia chứng minh, họ có quyền đ a ra những chứng cứ để chứng minh và bảo về quyền l i cho họ hoặc bảo vệ quyền l i cho ng ời họ đ i diện Những

ng ời tham gia tố tụng khác không phải là chủ thể chứng minh, họ chỉ tham gia tố tụng khi đ c yêu cầu

Đối chiếu những nội dung đã phân tích ở trên chúng ta có thể nhận thấy chủ thể chứng minh trong TTHS Việt Nam và Liên Bang Nga có sự khác biệt nhất định Theo BLTTHS Liên Bang Nga chủ thể chứng minh là các chủ thể tham gia tố tụng thuộc bên buộc tội Các chủ thể thuộc bên bào chữa là chủ thể chứng minh họ có quyền đ a ra những chứng cứ để bảo về quyền l i cho họ hoặc bảo vệ quyền l i cho

ng ời họ đ i diện Tòa án (Thẩm phán) không phải là chủ thể chứng minh Có sự khác

Trang 37

biệt này chính là sự sắp xếp các chủ thể tham gia tố tụng theo chức năng (Buộc tội, bào chữa) đối v i BLTTHS Liên Bang Nga, còn BLTTHS Việt Nam sắp xếp theo địa

vị tố tụng của chủ thể gồm Cơ quan THTT, ng ời THTT, ng ời tham gia tố tụng Mặt khác theo Luật TTHS Liên bang Nga tòa án giữ vai trò trọng tài (Bồi thẩm đoàn tuyên

bị cáo có tội thì thẩm phán sẽ căn cứ vào luật để tuyên mức hình ph t đối v i bị cáo) nên tòa án không có nghĩa vụ chứng minh và vì vậy cũng không phải là chủ thể chứng minh

2.2 Quy định về nghĩa vụ chứng minh

Điều 10 BLTTHS Việt Nam quy định: “ Trách nhiệm chứng minh tội ph m thuộc về các cơ quan THTT Bị can, bị cáo có quyền nh ng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” hoặc t i Điều 63 quy định " Khi điều tra, truy tố và xét xử VAHS, CQĐT, VKS và TA phải chứng minh "

Để có chứng cứ chứng minh hành vi của ng ời nào đó là tội ph m, nhà n c thành lập ra các cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ chứng minh tội ph m Ở n c ta, các cơ quan đó là: CQĐT, VKS, TA Ng ời bị t m giữ, bị can, bị cáo có quyền đ a ra những chứng cứ chứng minh mình vô tội hoặc có quyền đ a ra các tình tiết giảm nhẹ TNHS đối v i họ, nh ng đây không phải là nghĩa vụ của họ

Để làm sáng tỏ VAHS, ngoài nghĩa vụ chứng minh của các cơ quan THTT, thì đòi hỏi có sự tham gia tích cực của những ng ời tham gia tố tụng và các chủ thể khác Tuy nhiên, sự tham gia của các chủ thể này không phải là họ có nghĩa vụ chứng minh

vụ án mà họ có trách nhiệm cung cấp những tài liệu, thông tin liên quan đến vụ án và

cơ quan THTT có thể sử dụng những tài liệu, thông tin này làm chứng cứ chứng minh VAHS Quy định này của pháp luật nhằm bảo đảm nguyên tắc tôn trọng quyền tự do dân chủ của công dân trong TTHS Bị can, bị cáo có quyền đ a ra chứng cứ chứng minh tính không có lỗi hoặc đ a ra các tình tiết giảm nhẹ TNHS của hành vi của họ,

nh ng đó là quyền chứ không phải nghĩa vụ

Khoản 4 Điều 51 quy định " 4 Ng ời bị h i phải có mặt theo giấy triệu tập của CQĐT, VKS, TA; nếu từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu TNHS theo Điều 308 của BLHS"; Khoản 4 Điểm b Điều 55 quy định "

Ng ời làm chứng từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng, thì phải chịu TNHS theo Điều 308 của BLHS; khai báo gian dối thì phải chịu TNHS theo Điều 307 của BLHS."; Điều 60 Khoản 3 quy định " Ng ời giám định từ chối

Trang 38

kết luận giám định mà không có lý do chính đáng thì phải chịu TNHS theo Điều 308 của BLHS Ng ời giám định kết luận gian dối thì phải chịu TNHS theo Điều 307 của BLHS "; Điều 61 Khoản 2 quy định " Ng ời phiên dịch phải có mặt theo giấy triệu tập của CQĐT, VKS, TA và phải dịch trung thực; không đ c tiết lộ bí mật điều tra; nếu dịch gian dối thì ng ời phiên dịch phải chịu TNHS theo Điều 307 của BLHS " Những quy định trên cho thấy không chỉ những ng ời THTT phải có thực hiện nghĩa

vụ chứng minh tội ph m tr c pháp luật mà còn đòi hỏi có sự tham gia tích cực của những ng ời tham gia tố tụng Ng ời làm chứng, ng ời bị h i, ng ời giám định nếu những ng ời này không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ luật định thì họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đó

Về vấn đề này BLTTHS Trung Quốc quy định t i Điều 89: Sau khi VAHS đã

đ c khởi tố, cơ quan công an phải tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ chứng minh

sự có tội hay vô tội của nghi can hoặc chứng minh tội ph m là nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng Những tội ph m nguy hiểm hoặc nghi can chính phải bị giam giữ ngay theo luật, và nghi can có đủ điều kiện bắt phải bị bắt theo luật; và Điều 90: Sau khi điều tra, cơ quan công an phải bắt đầu thẩm tra sơ bộ vụ án v i những chứng cứ có

đ c chứng minh các tình tiết của tội ph m, để kiểm tra chứng cứ đã đ c thu thập

Nh vậy, theo Điều 89 và Điều 90 thì chủ thể có nghĩa vụ chứng minh sự có tội hay không có tội của nghi can hoặc chứng minh tội nghiêm trong hay ít nghiêm trọng

thuộc về cơ quan công an

Điều 137 BLTTHS Trung Quốc quy định nghĩa vụ chứng minh sự các tình tiết của vụ án thuộc về VKSND: Khi thẩm tra các vụ án, VKSND phải làm rõ những điểm sau Tình tiết, sự việc ph m tội có rõ ràng hay không, chứng cứ có đáng tin cậy và đầy

đủ hay không, việc buộc tội và tính chất của tội ph m có đ c xác định đúng hay không; Có bỏ lọt hành vi ph m tội và ng ời phải truy cứu TNHS nào không; Liệu vụ

án có thuộc tr ờng h p không đến mức cần thiết phải truy cứu TNHS hay không liệu

vụ án có liên quan đến vụ kiện dân sự hay không và liệu ho t động điều tra vụ án có

đ c tiến hành h p pháp không Điều 158 quy định TAND có thể tiến hành thẩm tra, kiểm tra, bắt giữ, giám định, cũng nh điều tra và phong toả tài sản, hoặc trong quá trình xét xử nếu thấy cần thiết HĐXX có thể hoãn phiên tòa để điều tra chứng cứ

Nh vậy chủ thể phải có nghĩa vụ chứng minh các tình tiết của vụ án là các cơ quan Công an, VKSND và TAND

Trang 39

Đối chiếu v i quy định của BLTTHS Trung Quốc về nghĩa vụ chứng minh chúng ta nhận thấy rằng quy định này giữa hai n c là t ơng đồng, mặc dù BLTTHS Việt Nam có quy định rõ ràng t i Điều 10 là trách nhiệm chứng minh tội ph m thuộc

về các cơ quan THTT; bị can, bị cáo có quyền nh ng không buộc phải chứng minh là mình vô tội Còn BLTTHS Trung Quốc không có điều luật quy định cụ thể Tuy nhiên, nghĩa vụ chứng minh thuộc về các cơ quan THTT mà chủ yếu và trực tiếp là ĐTV (Công an), KSV, TP Những ng ời tham gia tố tụng có quyền nh ng không buộc phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh

Bên c nh đó BLTTHS Liên bang Nga quy định nghĩa vụ chứng minh tội ph m

và bác bỏ những chứng cứ nhằm bảo vệ cho ng ời bị tình nghi hoặc bị can thuộc trách nhiệm của bên buộc tội, ng ời bị tình nghi hoặc bị can không có nghĩa vụ chứng minh

sự vô tội của mình (Điều 14 Khoản 2) Nh vậy, chủ thể có nghĩa vụ chứng minh gồm KSV, dự thẩm viên, thủ tr ởng CQĐT, CQĐT ban đầu, nhân viên điều tra ban đầu,

ng ời bị h i, t tố viên, nguyên đơn dân sự, ng ời đ i diện của ng ời bị h i, nguyên đơn dân sự và t tố viên

Đối chiếu những nội dung đã phân tích ở trên chúng ta có thể nhận thấy chủ thể

có nghĩa vụ chứng minh trong TTHS Việt Nam và Liên bang Nga có sự khác biệt nhất định

Theo BLTTHS Liên Bang Nga chủ thể có nghĩa vụ chứng minh ngoài KSV, dự thẩm viên, thủ tr ởng CQĐT, CQĐT ban đầu, nhân viên điều tra ban đầu là những

ng ời thuộc cơ quan Nhà n c còn các chủ thể khác là ng ời bị h i, t tố viên, nguyên đơn dân sự, ng ời đ i diện của ng ời bị h i, nguyên đơn dân sự và t tố viên, tòa án không có nghĩa vụ chứng minh

Theo luật TTHS Việt Nam chủ thể có nghĩa vụ chứng minh là các cơ quan TAND, VKSND và CQĐT mà trực tiếp là những ng ời thuộc các cơ quan đó (TP, hội thẩm, KSV, ĐTV) Các chủ thể khác nh ng ời bị h i, nguyên đơn dân sự, ng ời đ i diện của ng ời bị h i, nguyên đơn dân sự có quyền chứng minh nh ng không phải nghĩa vụ của họ

2.3 Quy định về đối tƣợng chứng minh

- Những vấn đề phải chứng minh đƣợc quy định tại Điều 63 BLTTHS

Điều 63 BLTTHS Việt Nam quy định những vấn đề phải chứng minh trong VAHS: " Khi điều tra, truy tố và xét xử VAHS, CQĐT, VKS và TA phải chứng minh:

Ngày đăng: 30/03/2018, 21:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w