Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự VAHS, các cơ quan kiểm sát và tòa án luôn phải chứng minh: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN MINH NGỌC
QU¸ TR×NH CHøNG MINH TRONG Tè TôNG H×NH Sù
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN MINH NGỌC
QU¸ TR×NH CHøNG MINH TRONG Tè TôNG H×NH Sù
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Minh Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUÁ TRÌNH CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 7
1.1 Khái niệm quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự 7
1.2 Vị trí, ý nghĩa của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự 12
1.3 Các bước trong quá trình chứng minh 13
1.3.1 Phát hiện thu thập chứng cứ 13
1.3.2 Kiểm tra, đánh giá chứng cứ 21
1.4 Quá trình chứng minh trong luâ ̣t tố tu ̣ng hình sự mô ̣t số nước 32
Chương 2: QUY ĐI ̣NH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN HOA ̣T ĐỘNG CHỨNG MINH Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 41
2.1 Quy định của pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam về quá trình chứng minh 41
2.2 Thực tiễn hoạt động chứng minh 45
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH CH ỨNG MINH 62
3.1 Cơ sở của viê ̣c hoàn thiê ̣n pháp luâ ̣t và các giải pháp nâng cao hoạt động trong quá trình chứng minh 62
3.2 Hoàn thiện pháp luật về quá trình chứng minh 64
3.3 Các giải pháp nâng cao hoạt động trong quá trình chứng minh 74
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự TAND: Tòa án nhân dân TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao TNHS: Trách nhiệm hình sự
TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh TTHS: Tố tụng hình sự
VAHS: Vụ án hình sự VKSND: Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự (VAHS), các cơ quan kiểm sát và tòa án luôn phải chứng minh: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại
do hành vi phạm tội gây ra nhằm xác định chân lý khách quan của vụ án Việc nhận thức chân lý khách quan của VAHS là một quá trình hết sức phức tạp được tạo bởi các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá các chứng cứ do các chủ thể tiến hành tố tụng thực hiện phù hợp với các qui định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam Vì vậy, quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự phải được thực hiện một cách khoa học để nhằm xác định đúng người đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan sai người vô tội bởi không giống như vụ án khác (vụ án dân sự hoặc vụ án hành chính), vụ án hình sự (VAHS) có ảnh hưởng rất lớn tới quyền công dân, tới sinh mạng chính trị và những quyền về nhân thân, tài sản khác của con người
Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự là một vấn đề phức tạp, vừa mang tính lý luận, tính thực tiễn đồng thời có tính quyết định trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự Việc nhận thức đúng và đầy
đủ lý luận về chứng cứ nói chung trong đó có quá trình chứng minh trong VAHS sẽ bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử được khánh quan chính xác, không để lọt tội phạm, không làm oan, sai đối với người vô tội BLTTHS Việt Nam và pháp
Trang 7Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận để áp dụng qui định của pháp luật vào quá trình chứng minh VAHS của cơ quan tiến hành tố tụng rất ít được quan tâm nghiên cứu Bên cạnh đó, Bộ luật TTHS năm 2003 qui định về vấn đề này ở một chừng mực nào đó còn chưa cụ thể và chặt chẽ Mặt khác, trong khoa học luật TTHS không ít vấn đề về quá trình chứng minh và các chế định liên quan đến nó còn chưa thống nhất về cách hiểu, thậm chí có những quan điểm trái ngược nhau Trong thực tiễn hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm đang diễn ra hết sức phức tạp, thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm của kẻ phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn
Nhiều vụ trọng án mà dư luận cả nước quan tâm đã được các cơ quan tiến hành tố tụng xử lý kịp thời, đảm bảo công minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần giữ vững ổn định tình hình kinh tế, chính trị và trật
tự an toàn xã hội của nước ta Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vụ án mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án giải quyết chưa được triệt để Quá trình chứng minh xác định sự thật vụ án còn có nhiều sai sót, dẫn đến việc điều tra, truy
tố, xét xử không đúng người, đúng tội và quyết định hình phạt chưa đúng pháp luật, nhiều trường hợp bị oan, sai hoặc lọt tội phạm Do đó Nhà nước đã
phải có biện pháp cụ thể "để khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị
oan trong hoạt động tố tụng hình sự; nâng cao trách nhiệm của người có thẩm quyền trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự" [49, tr.15] Từ đó cho thấy, việc nhận thức và áp dụng pháp luật về
Trang 83
quá trình chứng minh trong VAHS của một số chủ thể TTHS chưa được triệt
đó việc nghiên cứu quá trình chứng minh trong VAHS ở nước ta là một nội dung hết sức quan trọng có ý nghĩa to lớn cả về mặt khoa học và thực tiễn, làm cho hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm hình sự đạt hiệu quả cao, giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng làm rõ sự thật khách quan của vụ án một cách nhanh chóng, chính xác, đáp ứng được yêu cầu
của Đảng và Nhà nước ta Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài "Quá trình
chứng minh trong tố tụng hình sự” làm đề tài nghiên cứu luận án thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu
Quá trình chứng minh trong VAHS là một đề tài khó, phức tạp, còn tồn tại nhiều cả về lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu làm rõ, nhưng cho đến nay số tài liệu nghiên cứu về vấn đề này còn rất ít, hơn nữa các tác giả chỉ nghiên cứu, đề cập ở một khía cạnh phạm vi quá trình chứng minh, hay quá trình chứng minh của một cơ quan tiến hành tố tụng cụ thể như:
* Luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ: “Quá trình chứng minh trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự” của thạc sĩ Nguyễn Thanh Hòe năm 1997; luận
án tiến sĩ luật học: “Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra vụ
án hình sự ở Việt Nam hiện nay” của tiến sĩ Nguyễn Văn Đương năm 2000
* Sách giáo khoa, sách tham khảo, giáo trình, tạp chí: “Giáo trình luật
tố tụng hình sự Việt Nam” (chương VI, mục 6), PGS.TS Võ Khánh Vinh chủ
biên Trường Đại học Huế năm 2002; “Tài liệu tập huấn chuyên sâu về Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2003” của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật Bộ Công an, Hà Nội tháng 6-2004; “Một số vấn đề về
chứng minh trong tố tụng hình sự” của tác giả Trần Quang Tiệp, tạp chí
Kiểm sát số 9, 2003;
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu và các bài viết trên chỉ thể hiện ở một phần, ở một khía cạnh trong mỗi giai đoạn của quá trình giải quyết
Trang 94
VAHS mà chưa có một công trình nghiên cứu nào đảm bảo được tính logic,
hệ thống, sâu sắc, toàn diện về quá trình chứng minh trong VAHS
Từ thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các VAHS và nghiên cứu về mặt lý luận, thực tiễn quá trình chứng minh, đặt ra yêu cầu đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình chứng minh trong VAHS ở nước ta Đây là vấn đề hết sức cần thiết, nhằm không ngừng hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam, trên cơ sở đó tạo nền tảng cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án khắc phục thiếu sót nhằm áp dông pháp luật chính xác, xử lý công minh đảm bảo công bằng, đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay
và tương lai
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự ở nước ta nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án Muốn đạt được mục đích này điều quan trọng trước tiên là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải xác định được những vấn
đề cần chứng minh trong tố tụng hình sự Các tình tiết của những vấn đề cần phải chứng minh trong tố tụng hình sự là hết sức đa dạng và phong phú, nhưng vấn đề chủ yếu cần xác định là các cơ quan tiến hành tố tụng bằng các biện pháp khoa học mà luật TTHS qui định để xác định chân lý khách quan của vụ án, muốn vậy phải chứng minh được đầy đủ các tình tiết có liên quan đến vụ án Vì vậy, luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ một cách toàn diện
và có hệ thống dưới góc độ lý luận và thực tiễn quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự ở nước ta có sự tham khảo luật TTHS của một số nước trên thế giới nhằm làm rõ khái niệm, mục đích và ý nghĩa của quá trình chứng minh trong tố tu ̣ng hình sự ; Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự; phương tiện chứng minh và nội hàm của quá trình chứng minh; đánh giá được thực
Trang 105
trạng tình hình quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự; đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề liên quan đến chứng minh trong tố tụng hình sự
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là: quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chứng minh vụ án hình sự, đánh giá thực trạng tình hình quá trình chứng minh và các giải pháp nâng cao hiệu quả quá tình chứng minh trong tố tụng hình sự
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và đấu tranh phòng, chống tội phạm
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê xã hội học, điều tra… để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn này
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu có nhiều tính mới trong khoa học pháp lý nước ta nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về quá trình chứng minh trong hoạt động tố tụng hình sự ở nước ta Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần phát triển lý luận về quá trình chứng minh trong VAHS
Về mặt lý luận: Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự như: Khái niệm, mục đích và ý nghĩa của quá trình chứng minh trong tố tu ̣ng hình sự; đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự; phương tiện chứng minh; nội hàm của quá trình chứng minh
Trang 116
Về mặt thực tiễn: đánh giá thực trạng quá trình chứng minh và các giải pháp nâng cao hiệu quả việc chứng minh trong tố tụng hình sự như: tình hình quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự; những kết quả đạt được trong quá trình chứng minh; các giải pháp nâng cao hiệu quả quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự
7 Kết cấu của luận văn
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về quá trình chứng minh trong TTHS Chương 2 Qui định của pháp luật và thực tiễn hoạt động chứng minh
ở việt Nam những năm gần đây
Chương 3 Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hoạt động
trong quá trình chứng minh
Trang 127
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUÁ TRÌNH CHƢ́NG MINH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SƢ̣
1.1 Khái niệm quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự
Xuất phát từ những quy định của Hiến pháp và pháp luật liên quan đến kết tội, buộc tội một người phải có căn cứ Điều 72 Hiến pháp 1992 quy định:
Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Thừa kế quy định của Hiến pháp 1992, Điều
31 Hiến pháp 2013 quy định: Người bị buộc tội được coi là không có tội cho
đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật Như vậy, một người bị buộc tội thì tội của họ
phải được chứng minh theo trình tự luật định
Căn cứ Điều 2 Bộ luật hình sự quy định cơ sở trách nhiệm hình sự: Chỉ
người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự, Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự do Bộ luật này quy định Như vậy, để truy cứu trách nhiệm hình sự cũng như để đưa ra xét
xử đối với một người thì cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội Điều này làm xuất hiện quá trình chứng minh về tội phạm và người phạm tội bằng những chứng cứ đã thu thập được trên cơ sở đã được kiểm tra, đánh giá chứng cứ Cho nên, quá trình chứng minh thực chất là quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ theo đối tượng chứng minh bằng việc so sánh,
Trang 138
đối chiếu những chứng cứ đã thu thập được với những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự Trên cơ sở đó, các cơ quan tiến hành tố tụng mới sử dụng chứng cứ để khởi tố, để tiếp tục các bước điều tra, để truy tố và để xét
xử vụ án hình sự
Quá trình chứng minh VAHS bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau như: hoạt động điều tra, hoạt động truy tố và hoạt động xét xử Mỗi hoạt động đó đều hàm chứa các hành vi tố tụng khác nhau Cụ thể: hoạt động điều tra với tính chất là một giai đoạn tố tụng do Cơ quan điều tra tiến hành và bao gồm các hành vi tố tụng đặc trưng như: khởi tố VAHS, khởi tố bị can, bắt tạm giam bị can, khám xét, hỏi cung bị can, ghi lời khai người làm chứng, người
bị hại, tiến hành đối chất, nhận dạng v.v nhằm làm rõ đối tượng chứng minh trong giai đoạn điều tra Hoạt động truy tố do Viện kiểm sát tiến hành thể hiện quyền giám sát hoạt động của Cơ quan điều tra và thực hành quyền công tố tại phiên tòa, đặc trưng bởi các hành vi tố tụng như: nghiên cứu hồ sơ, nghiên cứu bản kết luận điều tra, kiểm sát việc giam giữ bị can, bị cáo, viết bản cáo trạng và truy tố bị can trước Tòa án Hoạt động xét xử do Tòa án tiến hành là hoạt động mang tính quyết định cuối cùng nhằm xác định tội phạm, người phạm tội và
áp dụng các hình phạt tương ứng theo qui định của pháp luật Hoạt động xét
xử bao gồm các hành vi tố tụng cụ thể như: xét hỏi bị cáo, hỏi người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và những người tham gia tố tụng khác, xem xét vật chứng, tranh luận tại phiên tòa, nghị án, tuyên án… Tất cả các hành vi
tố tụng cụ thể đó nhằm đến một mục đích cuối cùng và cao nhất đó là chứng minh sự thật khách quan của VAHS
Do VAHS xảy ra trước các hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng nên khi xuất hiện sự việc phạm tội có những dấu hiệu của tội phạm thì hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng mới bắt đầu, hay
Trang 149
nói cách khác, quá trình chứng minh tội phạm và người phạm tội được bắt đầu từ khi phát hiện có sự việc phạm tội xảy ra Trên cơ sở những qui định của pháp luật TTHS Việt Nam và các văn bản pháp luật khác về điều tra, truy tố, xét
xử, quá trình chứng minh trong vụ án hình sự là quá trình mà các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện hoạt động nhận thức sự thật về VAHS Việc nhận thức về VAHS là việc phản ánh một cách khách quan toàn
bộ diễn biến của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự, hay nói cách khác
là tái dựng lại được một bức tranh toàn cảnh, chính xác về VAHS đã xảy ra Để đạt được điều này, các chủ thể tiến hành tố tụng phải thực hiện các biện pháp
do pháp luật TTHS quy định, làm sáng tỏ tất cả mọi vấn đề có trong VAHS Việc nghiên cứu các sự kiện, tình tiết của vụ án được tiến hành dựa trên cơ sở
"chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự do bộ luật này quy định, mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ xác định
có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án" [15, tr.10] Chỉ có
dựa vào chứng cứ thì mới làm sáng tỏ được tội phạm, chỉ rõ được người thực hiện hành vi phạm tội; chỉ có dựa vào chứng cứ thì người tiến hành tố tụng mới có căn cứ để đưa ra kết luận của mình về tội phạm, về tính có lỗi của bị can, bị cáo, tính phải chịu hình phạt của bị cáo và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án hình sự
Khi tội phạm hình sự xảy ra với tính chất "là hành vi nguy hiểm cho xã
hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt" [4, tr.25] thì việc áp
dụng các biện pháp để tìm ra người thực hiện tội phạm và buộc họ phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước là điều cần thiết Ở đây, Nhà nước đã giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ thực hiện Yêu cầu không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội đều được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án hết sức quan tâm chú ý Trong khi đó tội phạm là
Trang 1510
một hiện tượng xã hội phức tạp, hành vi phạm tội là một hành vi xảy ra trong quá khứ Tội phạm xuất phát từ rất nhiều động cơ khác nhau, có mục đích khác nhau, thủ đoạn khác nhau và ngày càng tinh vi, luôn tìm cách che giấu hành vi phạm tội của mình để nhằm trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật Các chủ thể tiến hành tố tụng bao gồm: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm là những người không chứng kiến toàn bộ diễn biến ngay từ đầu mọi hành vi phạm tội, lượng thông tin ban đầu mà những chủ thể này có được khi được giao giải quyết vụ án tương đối hạn chế Muốn dựng lại bức tranh đầy đủ, chính xác về tội phạm đã xảy ra để giải quyết VAHS thì các chủ thể tiến hành
tố tụng phải tiến hành chứng minh nhằm thu thập các thông tin, các sự kiện tồn tại trong thế giới khách quan nhằm phản ánh chân lý khách quan của vụ án
Chứng minh là nhận thức về VAHS được các chủ thể tiến hành tố tụng thực hiện nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, tức là xác định sự phù hợp đầy đủ, chính xác của sự kiện phạm tội và các tình tiết khác của vụ án để làm rõ mức độ trách nhiệm của người đã thực hiện hành vi phạm tội, hoặc khẳng định ngược lại là tội phạm không được thực hiện trong thực tế, người
bị truy cứu trách nhiệm hình sự không có lỗi Việc nhận thức chân lý khách quan của VAHS là một quá trình hết sức phức tạp được tạo bởi các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá các chứng cứ do các chủ thể tiến hành tố tụng thực hiện phù hợp với các qui định của BLTTHS Việt Nam; quá trình này được thừa nhận là một quá trình nhận thức Vì vậy quá trình chứng minh tội phạm cũng phải tuân thủ những qui luật chung của quá trình nhận thức hiện
thực khách quan mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chỉ ra: "Từ trực
quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn -
đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan" [6, tr.39]
Như vậy, xuất phát từ sự thừa nhận khả năng nhận thức của con người,
Trang 16Nhận thức về quá trình chứng minh trong VAHS là công việc tư duy của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đối với tài liệu, chứng
cứ đã thu thập được, đồng thời chính là tổng thể các hoạt động được những người này tiến hành hướng tới việc thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ Như vậy, quá trình chứng minh là quá trình nhận thức các sự kiện, các tình tiết của vụ án hình sự Quá trình nhận thức này phải đảm bảo sử dụng các biện pháp khoa học vì từ đó sẽ rút ra những kết luận, quyết định có liên quan tới những giá trị rất lớn như: quyền và lợi ích của Nhà nước, tự do, danh dự, nhân phẩm của con người Quá trình chứng minh trong VAHS phải đảm bảo tính khoa học chặt chẽ của phương pháp phán đoán, suy luận được ứng dụng
Trang 1712
đặc biệt cần thiết và sâu sắc, đồng thời phải đảm bảo chặt chẽ hơn so với hoạt động nghiên cứu, tư duy, suy luận trong công tác nghiên cứu khoa học
Như vậy, Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự là toàn bộ các
hành vi tố tụng hình sự do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện theo trình tự được Bộ luật tố tụng hình sự quy định để làm rõ đối tượng chính minh bằng các phương tiện chứng minh giúp cho việc giải quyết
vụ án hình sự
1.2 Vị trí, ý nghĩa của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự
Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự chiếm một vị trí rất quan trọng trong việc chứng minh vụ án hình sự Đây là quá trình xây dựng hồ sơ
vụ án, tái diễn lại hành vi phạm tội của tội phạm đã thực hiện trước đó , nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án Để từ đó các cơ quan tiến hành tố tụng có một cách nhìn khách quan , toàn diện nhằm xử lý công minh, không
để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, qua đó áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, bảo đảm tính cưỡng chế và thể hiện tính giáo dục của Nhà nước Trong đó, trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án là phải áp dụng mọi biện pháp mà pháp luật đã quy định để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án một cách khách quan, toàn diện, làm sáng tỏ các yếu tố buộc tội cũng như gỡ tội, các tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, đảm bảo nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam Muốn thực hiện được điều đó thì Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm phải tiếp cận với hiện thực khách quan của vụ án, để làm sáng tỏ chân lý của vụ án trong quá trình chứng minh VAHS Thực hiện được quy định đó cho phép Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án giải quyết đúng đắn vụ án, và sẽ tác động đến kẻ phạm tội và những người khác về sự công minh của pháp luật
Mă ̣t khác, quá trình chứng minh mang mô ̣t ý nghĩa hết sức to lớn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự , góp phần vào việc đấu tranh phòng, chống
Trang 1813
tội phạm, thực hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta Và ý nghĩa của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự là để phát hiện tội phạm, người phạm tội nhằm trừng trị, cải tạo giáo dục người phạm tội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của các tổ chức và mọi công dân, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Vì vậy, của các cơ quan tiến hành tố tụng phải đảm bảo công bằng xã hội, chống oan, sai, chống để lọt tội phạm, cho nên pháp luật TTHS đã qui định chặt chẽ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, mọi hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đều phải dựa trên những quy định của pháp luật
1.3 Các bước trong qua ́ trình chứng minh
1.3.1 Phát hiện thu thập chứng cứ
Như chúng ta đều biết, quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự là quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ Trong đó, phát hiê ̣n thu thập chứng cứ là giai đoạn đầu tiên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và không thể thiếu của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự
Phát hiện chứng cứ là tìm ra những sự vật, hiện tượng, dấu vết, tài liệu, đang tồn tại trong thế giới vật chất, lưu giữ những thông tin về vụ án Hay nói một cách khác, phát hiện chứng cứ là tìm ra nguồn chứng cứ, do giữa các chứng cứ và nguồn chứng cứ có nhiều đặc điểm khác nhau ở hình thức phản ánh, không gian tồn tại, kích thước, trọng lượng, khối lượng, chất lượng nên các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải lựa chọn áp dụng biện pháp này hay biện pháp khác sao cho phù hợp với pháp luật và đạt được hiệu quả cao Các chứng cứ tồn tại dưới hai hình thức phản ánh: trong môi trường vật chất và trong ý thức của con người Vì vậy, muốn phát hiện những nơi cụ thể có thể lưu giữ các chứng cứ đó (hiện trường, vật chứng, con người cụ thể), cần sử dụng các phương tiện, biện pháp và phương pháp cho phù hợp với quy luật hình thành chứng cứ, loại chứng cứ cần phát hiện
Trang 1914
Nếu không có thu thập chứng cứ, thì cũng không có kiểm tra, đánh giá
và sử dụng chứng cứ Điều đó lý giải tại sao vấn đề chứng cứ nói chung và vấn đề thu thập chứng cứ nói riêng luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà lập pháp mỗi nước khi xây dựng Bộ luật Tố tụng hình
sự (BLTTHS)
Phát hiện, thu thập chứng cứ là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm tìm ra và thu giữ những sự kiện chứng minh hoặc những nguồn chứng cứ theo đúng trình tự, thủ tục luật định, để từ đó khai thác những sự kiện chứng minh Xét trên góc độ thông tin, thì phát hiện, thu thập chứng cứ là quá trình thu thập thông tin để làm căn cứ xác định sự thật của vụ án Phát hiện, thu thập chứng cứ vừa là hoạt động mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý nên quá trình phát hiện, thu thập chứng cứ vừa phải quán triệt những nguyên tắc, quy luật của nhận thức, vừa phải bảo đảm tính pháp lý, hay nói cách khác
là phải khách quan và phải tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục của BLTTHS Trong đó quy định rõ những người có thẩm quyền thu thập chứng
cứ, thủ tục thu thập chứng cứ, cũng như quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự trong việc thu thập chứng cứ
Về thẩm quyền thu thập chứng cứ
Theo quy định của BLTTHS năm 2003, thì những người sau đây có thẩm quyền áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ:
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát (VKS) các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Tòa
án các cấp Theo BLTTHS năm 2003, thì đây là những người có thẩm quyền
ra lệnh áp dụng các biện pháp như: Ra lệnh khám xét, phê chuẩn lệnh khám xét, ra quyết định trưng cầu giám định, quyết định khai quật tử thi, triệu tập người tham gia tố tụng để hỏi cung, lấy lời khai, đối chất,
Người trực tiếp thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ là Điều tra
Trang 2015
viên,Kiểm sát viên (KSV), Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa, cán bộ giám định, người được mời tham gia khám nghiệm Ngoài những người trên, những người trong các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra như những người trong cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát giao thông, Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy,… cũng được quyền thực hiện một số biện pháp thu thập chứng cứ Người tiếp nhận các đối tượng bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang truy
nã Điều 82 BLTTHS quy định người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã được giải đến Cơ quan Công an, VKS hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất, các cơ quan này phải lập biên bản Biên bản do những
cơ quan này lập mà có ghi nhận những thông tin ban đầu về tội phạm, thì chúng sẽ trở thành chứng cứ Như vậy xét về góc độ chứng minh tội phạm, thì những người được luật pháp giao trách nhiệm lập biên bản bắt nêu trên là các chủ thể có quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ
Cần phân biệt với chủ thể có trách nhiệm chứng minh và người có quyền xuất trình chứng cứ, chủ thể có trách nhiệm chứng minh trong tố tụng hình sự có quyền áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ Nhưng người có quyền và trách nhiệm thu thập chứng cứ có khi không phải là chủ thể chứng minh trong tố tụng hình sự như những người được luật giao trách nhiệm lập biên bản trong trường hợp bắt người phạm tội quả tang, bắt người truy nã Khác với hai loại chủ thể trên, những người tham gia tố tụng khác như người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan,… cũng được quyền cung cấp tài liệu, xuất trình chứng cứ nhưng không có trách nhiệm phải chứng minh tội phạm, cũng không có trách nhiệm thu thập chứng cứ
Theo quy định tại Điều 58 BLTTHS thì người bào chữa có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ,
Trang 2116
bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức,
cá nhân theo yêu cầu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác; Đưa ra đồ vật, tài liệu, yêu cầu; Tham gia hỏi tại phiên tòa Điều 59 BLTTHS quy định người bảo vệ quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự cũng có quyền đưa ra đồ vật tài liệu, yêu cầu, tham gia hỏi tại phiên tòa, đây cũng được coi là các biện pháp cung cấp, xuất trình chứng cứ
Trình tự, thủ tục và các biện pháp thu thập chứng cứ
Mỗi một biện pháp thu thập chứng cứ có những điểm đặc thù riêng nên trình tự, thủ tục không giống nhau Tuy nhiên thủ tục của tất cả các biện pháp thu thập chứng cứ đều có những nội dung, trình tự đó là: thủ tục ra văn bản áp dụng; thủ tục tiến hành thu thập chứng cứ; thủ tục lập biên bản
Về thủ tục phải tuân theo khi tiến hành áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ đã được luật quy định cụ thể, phù hợp với đặc điểm của từng biện pháp Từ những quy định của BLTTHS có thể rút ra các thủ tục chủ yếu được
áp dụng hầu hết trong các biện pháp là:
+ Thủ tục giải thích quyền và nghĩa vụ cho đối tượng bị áp dụng: Thủ tục này được áp dụng trong các biện pháp hỏi cung; lấy lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ, người làm chứng, người bị hại; khi tiến hành đối chất, nhận dạng, khám người, khám nơi làm việc, khám chỗ ở, địa điểm
+ Thủ tục chứng kiến: Theo quy định của BLTTHS năm 2003 trong một số hoạt động tố tụng hình sự phải có sự chứng kiến của người láng giềng, của đại diện chính quyền cấp cơ sở, đại diện cơ quan, tổ chức Thủ tục này nhằm bảo đảm cho các hoạt động tố tụng được tiến hành đúng luật, khách quan, vô tư; bảo đảm giá trị chứng minh của các tài liệu chứng cứ thu thập được Thành phần người chứng kiến trong các hoạt động tố tụng được quy định không giống nhau cụ thể:
Biện pháp khám người, khám xét dấu vết trên thân thể bị can, bị hại, nhân
Trang 2217
chứng khám nghiệm hiện trường, khám nghiện tử thi, thực nghiệm điều tra, nhận dạng thì người chứng kiến là bất kỳ ai và chỉ cần một người (riêng biện pháp khám người, khám xét dấu vết trên thân thể, thì phải là người cùng giới)
Biện pháp khám chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm đòi hỏi phải có người láng giềng, đại diện chính quyền địa phương (nơi làm việc thì đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc) chứng kiến Trường hợp vắng chủ nhà thì phải có hai người chứng kiến
Biện pháp thu giữ thư tín, điện tín bưu phẩm tại bưu điện thì phải có sự chứng kiến của đại diện cơ quan bưu điện
+ Thủ tục thông báo cho VKS: được áp dụng trong trường hợp khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, theo quy định tại Điều 150, 151 BLTTHS thì trước khi tiến hành phải thông báo cho VKS cùng cấp để VKS cử KSV tham gia kiểm sát các hoạt động này, trong mọi trường hợp đều phải có KSV tham gia Điều 144 BLTTHS quy định trường hợp thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện phải có sự phê chuẩn trước của VKS cùng cấp trước khi thi hành, trong trường hợp khẩn cấp thì không cần phê chuẩn của VKS, nhưng sau khi thu giữ phải thông báo ngay cho VKS cùng cấp
+ Thủ tục lập biên bản: Điều 95 BLTTHS quy định khi tiến hành các hoạt động tố tụng, bắt buộc phải lập biên bản theo mẫu quy định thống nhất Trong trường hợp tạm giữ đồ vật, tài liệu thì ngoài biên bản khám xét phải lập biên bản về việc tạm giữ đồ vật, tài liệu Biên bản này được lập 4 bản một bản được giao cho chủ đồ vật, tài liệu; một bản đưa vào hồ sơ vụ án; một bản được gửi cho VKS cùng cấp và một bản giao cho cơ quan quản lý đồ vật, tài liệu bị tạm giữ
+ Thủ tục ra văn bản áp dụng: Đối với một số biện pháp thu thập chứng
cứ luật đòi hỏi thủ tục ra văn bản áp dụng đối với một số trường hợp như biện pháp khám xét: Khám người, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm (Điều 141, Điều
Trang 2318
142 và Điều 143 BLTTHS), thì khi khám xét phải có lệnh của người có thẩm quyền, khám xét trong thủ tục bình thường thì phải có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp trước khi thi hành, trong trường hợp khẩn cấp thì không cần sự phê chuẩn của VKS, nhưng trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp Đối với trường hợp trưng cầu giám định và trường hợp cần phải khai quật tử thi để khám nghiệm, thì cũng phải ra quyết định bằng văn bản trước khi thi hành Các trường hợp khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi chưa chôn cất, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra pháp luật thực định không quy định phải có quyết định
Ngoài các thủ tục trên còn phải tuân thủ những thủ tục khác như: Không được hỏi cung vào ban đêm (trừ khi không thể trì hoãn); thủ tục tách riêng từng người hỏi cung, lấy lời khai, thủ tục tham dự của người đại diện trong trường hợp người làm chứng dưới 16 tuổi; Thủ tục tham gia tố tụng của người giám hộ trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên…
Củng cố chứng cứ:
Để thu thập chứng cứ một cách hiệu quả, thì trong khi thu thập chứng
cứ phải đồng thời củng cố chứng cứ Củng cố chứng cứ là những phương pháp, cách thức làm cho chứng cứ, tài liệu thu thập được bảo đảm giá trị chứng minh Nói cách khác, củng cố chứng cứ là làm cho chứng cứ, tài liệu bảo đảm ba thuộc tính đó là tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan đến
vụ án Cách thức, phương pháp thu thập và trình tự thu thập chứng cứ có ảnh hưởng trực tiếp tới độ tin cậy và giá trị chứng minh của chứng cứ Thực tiễn hoạt động thu thập chứng cứ cho thấy có ba trường hợp cần đặc biệt chú ý là khi thu giữ vật chứng, dấu vết và khi ghi lại một sự việc
- Thứ nhất: Đối với dấu vết, khi thu thập phải ghi rõ trong biên bản các nội dung: Dấu vết thu thập là dấu vết gì, vị trí của dấu vết, đặc điểm về màu
Trang 24mô tả cụ thể nhưng phải phản ánh được nội dung chủ yếu, cơ bản
+ Về đặc điểm của dấu vết Cần mô tả các nội dung hình dáng, kích thước, màu sắc và các đặc điểm khác của dấu vết Ví dụ trong vụ án tai nạn giao thông, khi Điều tra viên khám nghiệm ghi biên bản phải mô tả đầy đủ các dấu vết trên xe, trên mặt đường, chiều hướng của từng dấu vết, từ trái qua phải hay từ phải qua trái; kích thước của dấu vết, độ dài của dấu vết và vị trí từng dấu vết; để sau này phục vụ tốt cho công tác giám định làm rõ nguyên nhân tai nạn,…
+ Về vị trí của dấu vết, khi mô tả phải xác định các điểm chuẩn xung quanh và trên cơ sở đó mô tả khoảng cách của dấu vết so với các điểm chuẩn theo các hướng và so với các dấu vết khác để từ đó có thể xác định mối liên
hệ giữa các dấu vết
- Thứ hai: Đối với vật chứng
Khi thu thập phải ghi cụ thể trong biên bản các nội dung sau:
+ Vật gì, tên của vật được gọi là gì Ví dụ con dao, khẩu súng, hay công
cụ phương tiện khác, nếu là mô tô xe máy, thì phải ghi rõ biển số, số khung,
số máy,… Trường hợp vật chứng không phải là vật thông dụng, khó đặt tên, thì có thể đặt tên dạng mô tả hình dạng, kích thước, màu sắc,
+ Đặc điểm của vật, tùy từng loại vật mà có cách mô tả cụ thể, nhưng nhìn chung phải thể hiện được các nội dung: Số lượng, chất lượng, trọng lượng, khối lượng, hình dạng kích thước, màu sắc, mùi vị, tính nguyên vẹn và trạng thái mới, cũ của vật (ví dụ thu giữ ba con dao tại hiện trường, kích thước về độ dài, độ rộng, phần cán, phần lưỡi của từng con dao, dấu vết để lại trên từng con dao.)
Trang 2520
+ Những dấu vết của tội phạm để lại trên vật chứng
Trường hợp trên vật chứng có dấu vết thì phải mô tả dấu vết theo nội dung củng cố dấu vết đã nêu trên Phải mô tả từng dấu vết, kích thước của dấu vết, màu sắc của dấu vết, chiều hướng của dấu vết,…
+ Nơi tìm thấy vật: Nơi tìm thấy vật và cách thức giấu vật liên quan chặt chẽ tới giá trị chứng minh của chứng cứ, giá trị pháp lý của chứng cứ, làm nảy sinh căn cứ pháp lý để tiến hành các hoạt động tố tụng khác Ví dụ: thu giữ dấu vết vật chứng trên người hoặc nơi ở của đối tượng, thì có thể tiến hành bắt khẩn cấp đối tượng được (Điểm c Khoản 1 Điều 81 BLTTHS), còn thu giữ ở nơi khác, thì căn cứ vào việc thu giữ vật chứng không bắt khẩn cấp đối tượng được
- Thứ ba: Đối với sự việc, khi cần ghi lại trong biên bản một sự việc cụ thể nào đó, cần phải ghi đầy đủ các nội dung sau:
+ Tên sự việc là gì, vụ chết người, tai nạn giao thông hay vụ cháy, nổ Việc đặt tên cần phải ngắn gọn, khái quát và phản ánh được nội dung chủ yếu,
cơ bản của việc đó
+ Thời gian xảy ra: Thời gian xảy ra ở đây là thời điểm bắt đầu xảy ra
sự việc Việc ghi nhận thời gian càng chính xác càng tốt Nếu không biết chính xác, thì cách ghi không được viết theo kiểu khẳng định
+ Địa điểm xảy ra sự việc: Việc ghi địa điểm xảy ra vụ việc phải cụ thể,
vì nếu không ghi sẽ không xác định được thẩm quyền giải quyết vụ việc theo lãnh thổ, bên cạnh đó việc ghi rõ địa điểm sẽ giúp cho quá trình nghiên cứu dễ hình dung quá trình diễn biến của sự việc
+ Diễn biến của sự việc: Cần phải mô tả đầy đủ và khái quát quá trình diễn biến của sự việc Đây là vấn đề rất quan trọng nhưng không dễ thực hiện, đòi hỏi người thu thập chứng cứ phải có đầu óc phân tích, tổng hợp đến ghi diễn biến vụ việc theo thời gian, hay diễn biến vụ việc theo sự kiện, hoặc diễn biến vụ việc theo chủ thể thực hiện,…
Trang 2621
+ Hậu quả thiệt hại: Nếu đã xảy ra hậu quả phải ghi rõ thiệt hại về cái
gì số lượng, chủng loại, tính chất, mức độ thiệt hại Hậu quả ở đây không hoàn toàn cùng nghĩa với hậu quả trong cấu thành tội phạm, thông thường đây
là những thiệt hại đã xảy ra có thể nhận biết bằng giác quan Ví dụ: hậu quả là một người chết, ba người bị thương, chứ không xác định được ba người bị thương, mỗi người bao nhiêu phần trăm, việc xác định phần trăm thương tích phải do cơ quan giám định kết luận
+ Nguyên nhân xảy ra sự việc: Trong thu thập chứng cứ chỉ ghi nguyên nhân trực tiếp, cụ thể đã được xác định chắc chắn, không được nêu ra những nguyên nhân gián tiếp hoặc trừu tượng Trong trường hợp chưa xác định được thì phải ghi chưa kết luận được nguyên nhân hoặc chưa rõ nguyên nhân
+ Người biết việc: Trong biên bản chỉ cần ghi lời khai vài ba người biết việc, không nhất thiết phải ghi lời khai của tất cả những người biết việc, nhưng cần thiết phải ghi lại họ tên, địa chỉ của tất cả những người biết việc để
có thể tiếp tục củng cố chứng cứ nếu có phát sinh mâu thuẫn trong quá trình thu thập ban đầu Khi ghi lời khai của nhân chứng phải ghi rõ lý do họ biết được việc đó và cũng cần chọn lọc ghi lời khai của những nhân chứng trực tiếp chứng kiến vụ việc, nếu không có nhân chứng trực tiếp hoặc có ít nhân chứng trực tiếp thì ghi thêm lời khai của các nhân chứng gián tiếp
1.3.2 Kiểm tra, đa ́ nh giá chứng cứ
Trong quá trình chứng minh, muốn giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, muốn xác định sự thật khách quan, có cơ sở để kết luận đúng về hành vi phạm tội đã xảy ra thì cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải có tài liệu, chứng cứ để chứng minh bản chất của người phạm tội Chứng cứ là phương tiện của việc chứng minh, của việc xác định các sự kiện có ý nghĩa với việc giải quyết vụ án hình sự Thông qua các tài liệu, chứng cứ các sự kiện thực tế được xác định, khẳng định và đồng thời cũng phủ định, loại trừ
Trang 2722
các sự kiện không xảy ra trong thực tế Rõ ràng vai trò, giá trị của chứng cứ là rất quan trọng, là cơ sở duy nhất, là phương tiện duy nhất để chứng minh trong vụ án hình sự Khi giải quyết vụ án hình sự, trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng, cơ quan điều tra, viện kiểm sát và toà án cần xác minh những sự việc có liên quan đến tội phạm đang được tiến hành xem xét, cần phải khẳng định được rằng tội phạm đã xảy ra, xác định được người cụ thể đã thực hiện tội phạm và họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện Tất
cả các sự kiện và tình tiết của vụ án phải phù hợp với hiện thực khách quan
Để làm được điều đó, cơ quan tiến hành tố tụng phải dựa vào chứng cứ Thông qua chứng cứ, kiểm sát viên thực hành quyền công tố trước toà án đưa
ra lời buộc tội đối với bị cáo, còn người bào chữa và thân chủ của họ có thể bác bỏ lời buộc tội hoặc đưa ra những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Việc nghiên cứu, xác định các sự kiện, tình tiết của vụ án được tiến hành trên cơ sở của các chứng cứ và chỉ bằng cách dựa vào các chứng cứ mới làm sáng tỏ được những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự Thông qua việc phát hiện chứng cứ, xem xét và ghi nhận chứng cứ về mặt tố tụng, kiểm tra tính xác thực của chứng cứ, đánh giá chứng cứ, cơ quan tiến hành tố tụng có thể nghiên cứu đầy đủ và toàn diện các tình tiết của vụ án, xác định sự phù hợp của chúng với hiện thực từ đó tìm ra chân lý khách quan Như vậy, quá trình chứng minh thực chất và nói chung là quá trình giải quyết chứng cứ, mọi giai đoạn của tố tụng hình sự đều được mở ra và kết thúc từ vấn đề chứng cứ, xuất phát từ chứng cứ Vì vậy, chứng cứ là một trong những vấn đề có vị trí đặc biệt quan trọng trong lý luận cũng như trong thực tiễn của hoạt động tố tụng hình sự Việc nhận thức đúng vấn đề chứng cứ sẽ là cơ sở lý luận, định hướng đúng đắn cho quá trình thu thập, nghiên cứu, kiểm tra,
đánh giá chứng cứ
Thông thường, một vụ án hình sự xảy ra bao giờ cũng để lại dấu vết và
Trang 2823
những dấu vết đó được thể hiện dưới những hình thức khác nhau, mà những dấu vết này có ý nghĩa quan trọng nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội Các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ căn cứ vào những dấu vết đã thu thập được để khởi tố, truy tố hay xét xử một người đã có hành vi phạm tội, những dấu vết đó được gọi là chứng cứ
Theo quy định tại BLTTHS thì:
Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự do
Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án
Như vậy, xét về bản chất, chứng cứ là những thông tin, tài liệu hay
những gì có thật được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, kiểm tra và đánh giá theo quy định của pháp luật nhằm phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án
hình sự Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì một thông tin, tài liệu
chỉ có thể được coi là chứng cứ của vụ án khi nó có đủ ba thuộc tính sau:
-Tính khách quan: Là những gì có thật và phản ánh trung thực những tình tiết của vụ án hình sự đã xảy ra
- Tính liên quan: Có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với vụ án
Trang 2924
Nhưng cho dù là trực tiếp hay gián tiếp thì đó cũng phải là mối quan hệ nội tại, có tính nhân quả, tức là chứng cứ phải là kết quả của một loại hành vi hoặc hành động hoặc một quan hệ nhất định, ngược lại, hành vi, hành động hoặc quan hệ đó là nguyên nhân dẫn đến việc hình thành các chứng cứ này
- Tính hợp pháp: Tất cả những gì có thật phải được cung cấp, thu thập, nghiên cứu, bảo quản theo một trình tự do luật định Đây là trình tự nhằm bảo đảm giá trị chứng minh của chứng cứ
Trong thực tế, tính hợp pháp của chứng cứ được xác định thông qua hoạt động chứng minh được toà án và tất cả người tham gia tố tụng thực hiện
và tuân thủ
Trong quá trình chứng minh, trong các giai đoạn tố tụng, hoạt động sử dụng chứng cứ gắn liên với hoạt động đánh giá chứng cứ, đánh giá chứng cứ
và sử dụng chứng cứ có mối quan hệ chặt chẽ không tách rời Đánh giá chứng
cứ là tiền đề, là điều kiện cho sử dụng chứng cứ Sử dụng chứng cứ là sự kiểm nghiệm, xác định lại kết quả của hoạt động đánh giá chứng cứ Đánh giá chứng cứ không đúng, tất yếu dẫn đến kết quả sai lầm, không đúng đắn của việc sử dụng Ngược lại, việc sử dụng chứng cứ sai mục đích, không phù hợp giữa nội dung, giá trị chứng minh của chứng cứ với đối tượng cần phải chứng minh là làm hạn chế kết quả của hoạt động đánh giá chứng cứ
Để đảm bảo việc sử dụng chứng cứ trong quá trình chứng minh vụ án hình sự một cách hiệu quả, cần nắm rõ được mục đích của việc sử dụng chứng cứ đó là:
* Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, chứng cứ đã thu thập được trọng
vụ án được sử dụng để phát hiện, thu thập chứng cứ mới Việc hoàn thiện nhận thức chân lý khách quan được hình thành dần trong các giai đoạn tố tụng, qua việc nhận thức chứng cứ của vụ án Tuy nhiên, trong các giai đoạn
tố tụng không phải tất cả các vụ án đều đã có đầy đủ các chứng cứ, nhất là
Trang 3025
trong giai đoạn điều tra vụ án Vì vậy, việc phát hiện và thu thập thêm chứng
cứ mới là hoạt động được tiến hành liên tục cho đến khi các cơ quan tiến hành
tố tụng có đủ chứng cứ chứng minh sự thật vụ án Một trong những cách thức được sử dụng để thu thập thêm những chứng cứ mới là sử dụng chứng cứ đã
có, đã thu thập được từ trước Từ lời khai của người bị hại, với những nội dung xác thực đã buộc bị can phải thay đổi thái độ khai báo, thừa nhận những lời cung trước đó là gian dối, không đúng sự thật, bị can đã phải nhận tội, khai
ra những kẻ đồng phạm khác, cũng như những tài sản mà chúng đã chiếm đoạt, khai báo ra nới cất giấu, tiêu thụ tài sản đó
* Chứng cứ đã thu thập được trong vụ án dùng để nghiên cứu, kiểm tra
và đánh giá tài liệu, chứng cứ mới và ngược lại Trong cùng một vụ án, các chứng cứ có thể được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, song chúng đều có quan hệ với nhau bởi những mối liên hệ logic, biện chứng Để các định giá trị từng chứng cứ không thể không xem xét đến toàn bộ hệ thống chứng cứ, không thể không so sánh giá trị giữa các chứng cứ với nhau và tất yếu không thể không kiểm tra giá trị của chúng Việc kiểm tra được tiến hành theo chiều thuận, từ chứng cứ đã có kiểm tra chứng cứ mới, hoặc ngược lại từ chứng cứ mới thu thập dùng để kiểm tra chứng cứ đã thu thập từ trước Chẳng hạn sử dụng dầu vân tay của kẻ phạm tội để lại ở hiện trường, cùng lời khai của người làm chứng để phủ định, bác bỏ lời khai về việc không có mặt ở hiện trường của kẻ phạm tội…
* Trong quá trình chứng minh ở các giai đoạn tố tụng, cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải sử dụng chứng cứ để ra quyết định
tố tụng Căn cứ vào các nguồn theo Điều 100 và 105 Bộ luật TTHS, các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án
Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành
vi phạm tội thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can…;
Trang 3126
1 Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra phải làm bản kết luận điều tra 2 Việc điều tra kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra…[39, Điều 161, 162]
Trong hoạt động kiểm sát điều tra, quyết định việc truy tố, Viện kiểm sát, kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố, bảo đảm việc điều tra được khách quan toàn diện và đầy đủ Khi ra các quyết định tố tụng, đồi hỏi Viện kiểm sát phải tiến hành nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá toàn bộ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, các quyết định cuối cùng phải dựa trên cơ sở việc sử dụng đầy đủ, đúng đắn các chứng cứ Tại Bộ luật TTHS đã quy định:
Nội dung bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng nặng
và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự được
áp dụng [39, Điều 167, Khoản 1]
Hoặc khi quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung, nếu như qua nghiên cứu hồ
sơ vụ án phát hiện thấy: “1 Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà
Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được;……… ” [39, Điều 168, Khoản 1]
Trong giai đoạn xét xử, mọi kết luận, quyết định cuối cùng Tòa án nhân dân cũng hoàn toàn dựa trên cơ sở việc sử dụng chứng cứ Chẳng hạn khi ra bản
án, bản án của Tòa án phải dựa trên cơ sở chứng cứ đã thu thập, được kiểm tra chứng minh công khai tại phiên tòa:
Trong bản án phải trình bày việc phạm tội của bị cáo, phân tích những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định không có
Trang 3227
tội, xác định bị cáo có phạm tội hay không và nếu bị cáo phạm tội thì phạm tội gì, theo điều, khoản nào của Bộ luật hình sự, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cần phải xử lý như thế nào Nếu bị cáo không phạm tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và phải giải quyết việc khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ Phần cuối cùng của bản án ghi những quyết định của Toà án và quyền kháng cáo đối với bản án [39, Điều 224, Khoản 3]
Trong trường hợp hồ sơ vụ án không có chứng cứ, chứng cứ chưa đầy đủ thì Tòa án không thể tiến hành xét xử, Thẩm phán có quyền ra
quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung: “a) Khi cần xem xét thêm những
chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;…” [39, Điều 179, khoản 1, điểm a]
Để việc sử dụng chứng cứ đạt được mục đích, dựa trên cơ sở, yêu cầu của pháp luật và thực tiễn tiến hành hoạt động chứng minh, chủ thể tiến hành
tố tụng cần phải quán triệt và thực hiện một số vấn đề mang tính nguyên tắc trong sử dụng, kiểm tra, đánh giá chứng cứ đó là:
Chấp hành nguyên tắc khách quan toàn diện và đầy đủ trong tố tụng hình sự
Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chỉ được sử dụng những chứng cứ đã được phát hiện, thu thập theo đúng qui định của pháp luật
tố tụng hình sự Các tài liệu, chứng cứ thu thập được qua biện pháp điều tra, trinh sát, phải được chuyển hóa thành chứng cứ hợp pháp mới được sử dụng Những tài liệu, chứng cứ phải được kiểm tra, xác minh đầy đủ, phải đảm bảo đầy đủ ba thuộc tính của chứng cứ, phải phù hợp với thực tế khách quan, đảm bảo sự tin cậy vững chắc và có đủ căn cứ mới sử dụng được Tuyệt đối không
sử dụng chứng cứ chưa qua nghiên cứu, kiểm tra, xác minh làm căn cứ, cơ sở
Trang 3328
để đưa ra những quyết định pháp lý, hoặc sử dụng vào việc kiểm tra, đánh giá các chứng cứ khác Khi sử dụng chứng cứ không được định kiến, chủ quan, thiên lệch, coi trọng chứng cứ này mà bỏ qua chứng cứ kia, chỉ coi trọng sử dụng chứng cứ gốc, chứng cứ trực tiếp mà bỏ qua, coi nhẹ chứng cứ sao chép, chứng cứ thuật lại, chứng cứ gián tiếp, không chỉ sử dụng chứng cứ buộc tội
mà sử dụng cả chứng cứ gỡ tội và ngược lại Khi ra một quyết định tố tụng kết luận về bất cứ vấn đề nào đó hay toàn bộ mọi vấn đề trong vụ án, người tiến hành tố tụng phải sử dụng tổng hợp mọi chứng cứ trong vụ án
Khi kiểm tra , đa ́ nh giá , sử dụng chứng cứ phải tuân theo đúng những qui định của pháp luật
Pháp luật tố tụng hình sự đã qui định thế nào là chứng cứ, chứng cứ được xác định ở những nguồn cụ thể Việc sử dụng những chứng cứ ở nguồn luật định phải chấp hành nghiêm chỉnh theo những qui định của pháp luật tố tụng Đặc biệt với những chứng cứ là lời khai của những người tham gia tố tụng, do đặc điểm của những chứng cứ này thường bị xen lẫn yếu tố chủ quan, dễ bị sai lệch, vì vậy khi sử dụng các lời khai của người tham gia tố tụng ở các tư cách khác nhau phải tuân theo đúng những qui phạm trong Bộ luật tố tụng hình sự Chẳng hạn, khi sử dụng lời khai của bị can, bị cáo làm
chứng cứ thì phải hết sức thận trọng vì “… Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ
có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội” [39, Điều 72, Khoản 2] Đối với bị can, bị cáo là vị thành niên, hoặc
người làm chứng dưới 16 tuổi thì chỉ được sử dụng lời cung của bị can, bị cáo, lời khai của người làm chứng (là vị thành niên) để làm chứng cứ của vụ
án khi việc hỏi cung được tiến hành theo đúng qui định của pháp luật;
…Trong trường hợp người bị tạm giữ, bị can là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc là người chưa thành niên có nhược điểm
Trang 3429
về tâm thần hoặc thể chất hoặc trong những trường hợp cần thiết khác, thì việc lấy lời khai, hỏi cung những người này phải có mặt đại diện của gia đình, trừ trường hợp đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng Tại phiên toà xét xử bị cáo là người chưa thành niên phải có mặt đại diện của gia đình bị cáo, trừ trường hợp đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà không có lý do chính đáng, đại diện của nhà trường, tổ chức… [39 Điều 306, khoản 2,3]; …Khi lấy lời khai của người làm chứng dưới 16 tuổi phải mời cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp khác hoặc thầy giáo, cô giáo của người đó tham dự [39 Điều 135, Khoản 5]
Đối với lời khai của người bị hại, của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự
và lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, thì không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do những người trên trình bày, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó (các Điều 68, 69,70 BLTTHS) Khi sử dụng lời khai của người làm chứng cần lưu ý:
1 Người làm chứng trình bày những gì mà họ biết về vụ án, nhân thân của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người
bị hại, quan hệ giữa họ với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng khác và trả lời những câu hỏi đặt ra 2 Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó [39, Điều 67]
Kiểm tra, đánh giá để sử dụng chứng cứ phải đảm bảo tính kịp thời
Sau khi phát hiện, thu thập chứng cứ, cơ quan tiến hành tố tụng cần tiến hành nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá ngay để sử dụng nhằm đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời của các hoạt động tiếp theo, vừa đảm bảo thời gian đã được quy định đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vừa đảm bảo yêu cầu
Trang 3530
của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn tội phạm có thể xảy
ra, hạn chế những thiệt hại cho xã hội, bắt giữ ngay kẻ phạm tội không để chúng có thời gian lẩn trốn, tiêu hủy tài sản, chứng cứ tang vật, xóa hết dấu vết hoặc tiếp tục gây án Mặt khác, các chứng cứ sau khi kiểm tra đánh giá, đã xác định được giá trị chứng minh của chứng cứ thì chỉ được sử dụng đúng với giá trị của nó, giá trị chứng minh của từng chứng cứ đều có những giới hạn, phạm vi nhất định, việc sử dụng cần căn cứ vào giới hạn, giá trị chứng minh của từng chứng cứ, không được phép phán đoán chủ quan, sử dụng gượng ép, ngoài khả năng chứng minh của từng chứng cứ Sử dụng đúng giá trị chứng minh của chứng cứ cho phép người tiến hành tố tụng xác định đúng sự thật khách quan, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt kẻ phạm tội Ví dụ: Tại nhà riêng của Trần Văn T, cơ quan tiến hành tố tụng xác định phát hiện thấy
có 1 chiếc xe máy, là tài sản đã bị chiếm đoạt trong một vụ trộm cắp xảy ra trước đó Cơ quan tiến hành tố tụng không thể chỉ căn cứ vào chiếc xe máy có tại nhà riêng của Trần Văn T để ra quyết định khởi tố T hoặc quyết định bắt giữ T, bởi vì chưa có chứng cứ xác định mối quan hệ nhân quả giữa những hành vi mà T thực hiện để có chiếc xe máy đó, chưa có chứng cứ xác định mối quan hệ sở hữu giữa T và chiếc xe máy là hợp pháp hay bất hợp pháp… Chiếc xe máy có tại nhà riêng của T có thể do kẻ phạm tội có mối quan hệ thân quen với T sau khi trộm cắp được xe máy đã gửi ở đó, T không biết là tài sản trộm cắp nên đã cho gửi, hoặc cũng có thể do T không biết đó là tài sản phạm pháp nên đã mua nhầm… Trong trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng phải đặt các giả thiết khác nhau, tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh làm rõ mối quan hệ của T với chiếc xe máy, vì sao chiếc xe đó lại có ở tại nhà riêng của T? có đúng đó là chiếc xe bị trộm cắp không? Quan hệ của T với chủ xe như thế nào? Chỉ khi nào có đủ chứng cứ chứng minh T đã phạm tội trộm cắp tài sản là chiếc xe máy thì mới quyết định bắt giữ T
Trang 3631
Một ví dụ nữa: Nguyễn Tuấn N là cán bộ hải quan đang làm nhiệm vụ
ở cửa khẩu, N phát hiện Hoàng Văn H chở thuốc lá lậu quan biên giới, H đã đưa một khoản tiền cho N để N bỏ quan và cho H chuyển thuốc lá lậu qua biên giới Sự việc bị phát giác, cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào chứng cứ đã có để khởi tố vụ án, khởi tố Nguyễn Tuấn N hai tội: Tội nhận hối
lộ và tội buôn lậu qua biên giới với vai trò là đồng phạm Nếu không khởi tố
N về tội buôn lậu quan biên giới, chỉ căn cứ vào hành vi nhận tiền của N và khởi tố một tội nhận hối lộ là bỏ lọt tội phạm, là không sử dụng hết giá trị chứng minh của chứng cứ
Vật chứng là chứng cứ phải đảm bảo sử dụng nhiều lần
Không được xử lý vật chứng trước khi có quyết định của người có thẩm quyền, xử lý vật phải theo đúng qui định của pháp luật tố tụng hình sự, không được làm mất mát, hư hỏng, thất lạc chứng cứ vì trong một vụ án, vật chứng là chứng cứ không thể thay thế được, vật chứng được phát hiện, thu thập ngay từ giai đoạn điều tra, có nhiều vật chứng việc bảo quản rất phức tạp, khó khăn, tuy nhiên để đảm bảo sử dụng chứng cứ bằng vật chứng vào việc chứng minh vụ án đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải tuân thủ nghiêm chỉnh những qui định của Bộ luật TTHS Trong mọi trường hợp, khi vụ án chưa giải quyết xong, chưa có quyết định
xử vật chứng theo qui định của pháp luật thì vật chứng phải được bảo quản, gìn giữ nguyên vẹn giá trị chứng minh và cả giá trị kinh tế của vật chứng, phải đảm bảo cho vật chứng có giá trị chứng minh được sử dụng nhiều lần cho đến khi kết thúc vụ án Đặc biệt phải thận trọng khi sử dụng vật chứng
là công cụ, hung khí, là vũ khí, chất nổ, những vật mang vết, dễ vỡ, dễ bị xóa dấu vết, những tài liệu chỉ có một bản là chứng cứ gốc chứng minh hành
vi phạm tội của bị can, bị cáo… Khi sử dụng để đấu tranh với bị can, bị cáo tuyệt đối không được đưa cho bị can, bị cáo trực tiếp cầm, nắm vật chứng,
Trang 3732
đề phòng bị can, bị cáo sử dụng ngay hung khí, vũ khí đó để khống chế, hành hung người tiến hành tố tụng hoặc chúng có thể tiêu hủy, xóa dấu vết làm mất giá trị chứng minh của chứng cứ
1.4 Quá trình chứng minh trong luật tố tụng hình sự một số nước
Trong luật tố tụng hình sự của bất kỳ quốc gia nào, những quy định về chứng cứ đều xuyên suốt quá trình chứng minh Có nước xây dựng một đạo luật riêng về chứng cứ như Mỹ, Úc; hoặc trong đạo luật tố tụng hình sự có khái niệm chứng cứ như Nga, Trung Quốc; hay chỉ quy định những quy phạm xác minh chứng cứ như Nhật bản Tuy nhiên, phụ thuộc vào hình thức tố tụng khác nhau (thẩm vấn hay tranh tụng) mà chứng cứ được sử dụng là nguồn chứng minh cho sự tố cáo của cơ quan tố cáo (tố tụng thẩm vấn), hoặc là chứng minh trước toà là mình đúng (tố tụng tranh tụng) Tại Úc, chứng cứ được hiểu là những gì dùng để chứng minh sự tồn tại của một tình tiết thực tế nào đó trong vụ án hình sự Các sự kiện, tài liệu được sử dụng làm chứng cứ phải được thu thập, kiểm tra, đánh giá theo trình tự, thủ tục và những nguyên tắc nhất định theo quy định của Luật chứng cứ [77] Tại Điều 141 Luật chứng
cứ liên bang Hoa Kỳ (Federal Rules of Evidence) có nêu “chứng cứ liên quan
là chứng cứ hàm chứa trong nó sự tồn tại của bất cứ một sự kiện nào là nguyên nhân dẫn đến việc xác định rõ hơn hoặc ít rõ hơn một hành động đã xảy ra so với trường hợp không có chứng cứ” Như vậy, tuỳ thuộc vào đặc
điểm truyền thống pháp luật của mỗi quốc gia mà chứng cứ được coi là phương tiện chứng minh để giải quyết vụ án hình sự, mặc dù mỗi nước có cách diễn đạt chứng cứ khác nhau trong pháp luật tố tụng hình sự [11]
Cụ thể về mô hình tố tụng hình sự của liên bang Hoa Kỳ
Hoa Kỳ có 50 tiểu bang và chính quyền liên bang; do đó có đến 51 mô hình tố tụng hình sự riêng biệt và độc lập Trong đó, mô hình tố tụng hình sự (TTHS) của liên bang Hoa Kỳ là mô hình tố tụng tranh tụng Không có
Trang 3833
BLTTHS riêng, nhưng pháp luật của liên bang Hoa Kỳ điều chỉnh về TTHS bằng nhiều văn bản: Quy tắc TTHS Liên bang, Quy tắc tố tụng phúc thẩm liên bang, Quy tắc của tòa án tối cao, Quy tắc về bằng chứng của liên bang, hàng loạt các đạo luật của liên bang và các quyết định hợp hiến của Tòa tối cao, Quy tắc nội bộ của cơ quan điều tra (Quy tắc Miranda) Cơ quan điều tra của liên bang Hoa Kỳ gồm: Cục điều tra liên bang (FBI); cơ quan bài trừ ma túy; Cục quản lý rượu, thuốc lá, vũ khí và chất nổ; Cục Thi hành án; Cục thực thi luật nhập cư và hải quan; Sở thuế vụ; Các văn phòng của Tổng thanh tra với trên 37.000 điều tra viên hình sự Công tố viên không có vai trò giám sát đối với FBI nhưng lại có thẩm quyền điều tra rất lớn, là người lập cáo trạng hình sự (chứ không phải điều tra viên) Các cơ quan này và cả cơ quan công
tố không có quyền bắt giữ nghi can trong giai đoạn điều tra Việc bắt giữ này chỉ được thực hiện khi có lệnh phê chuẩn của Tòa án
Đặc điểm của mô hình TTHS Hoa Kỳ là ưu tiên cho việc kiểm soát tội phạm và đảm bảo quá trình tố tụng được thực hiện công bằng Trong giai đoạn điều tra, Tòa án phê chuẩn các lệnh khám xét, bắt giữ và kiểm soát bằng thiết bị điện tử hợp pháp Tòa án lựa chọn các bồi thẩm viên trong đại bồi thẩm đoàn; thực thi trát hầu tòa; ban hành lệnh yêu cầu nhân chứng ra khai nhận; ra lệnh tạm giam những nhân chứng cố tình không chịu ra khai nhận và chấp nhận miễn trừ truy tố cho bị cáo để đổi lại việc người này đứng ra khai nhận với tư cách là nhân chứng Ngoài ra, Tòa sẽ chỉ định luật sư đại diện cho những nhân chứng có hoàn cảnh khó khăn; đặt ra các quy tắc để luật sư của các nhân chứng/người bị tình nghi phạm tội có thể thực hiện phản đối đối với các quy trình thủ tục của đại bồi thẩm đoàn
Trước khi xét xử, Tòa án sẽ tổ chức Phiên họp (Phiên điều trần sơ bộ (áp dụng đối với tội đại hình để nghe lời khai của các nhân chứng mà công tố viên triệu tập); Phiên tuyên bố tội danh (để bị cáo ký kết lời khai không nhận
Trang 3934
tội) và Phiên xem xét các đơn kiến nghị trước khi xét xử) Tại Phiên xem xét các đơn kiến nghị trước khi xét xử, Tòa án có thể hủy bỏ cáo trạng vì các sai sót trong bản cáo trạng hoặc sai sót về thủ tục tố tụng; bác bỏ những chứng cứ được thu thập trái phép và yêu cầu các nhân chứng phải trình diện
Trong quá trình xét xử, Tòa án đóng vai trò trung lập, vừa bảo vệ quyền được xét xử công bằng của bị cáo, vừa bảo đảm cho Phiên tòa được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục luật định Họ đứng giữa một bên là công tố viên, một bên là bị cáo, luật sư bào chữa của bị cáo để nghe, xem xét các chứng cứ
và quyết định luật áp dụng Họ có quyền đối chất và quyền kiểm tra chéo; hủy
bỏ các chứng cứ được thu thập trái phép; hủy bỏ các cáo trạng không đủ cơ sở pháp lý nhưng không thể cân nhắc hoặc lệnh cho bồi thẩm đoàn cân nhắc một tội danh nặng hơn tội danh đã nêu trong cáo trạng của công tố viên và đại bồi thẩm đoàn Bồi thẩm đoàn, chứ không phải Thẩm phán là người quyết định cuối cùng dựa trên tình tiết và chứng cứ khách quan của vụ án Thẩm phán không có thẩm quyền yêu cầu điều tra tiếp hoặc trả lại vụ án cho cơ quan điều tra hoặc cho đại bồi thẩm đoàn
- Quyền của người bị tình nghi, bị can, bị cáo
Quyền của người bị tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo tại Hoa Kỳ được bảo đảm theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1982, Công ước chống tra tấn và pháp luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ
Người bị tình nghi phạm tội không có quyền được thông báo về việc điều tra hoặc tham gia điều tra; không bị bắt hoặc bị giam giữ; có quyền từ chối đến văn phòng điều tra viên và từ chối chấp nhận cho điều tra viên vào nhà hoặc vào văn phòng nếu không có lệnh của tòa; từ chối trả lời các câu hỏi của điều tra viên và có thể được triệu tập ra trình diện trước đại bồi thẩm đoàn
Khi bị bắt giữ, bị can phải được thông báo ngay lập tức, không chậm trễ về lý do bị bắt giữ và tội trạng bị cáo buộc Họ được điều tra viên dẫn giải
Trang 4035
"không chậm trễ" tới một vị Thẩm phán để được xét xử trong một thời gian hợp lý hoặc được thả tự do Việc "không chậm trễ" được hiểu là trong vòng chưa đến 6 tiếng kể từ khi bị bắt, bị can được chuyển sang tòa án giam giữ Những người bị bắt giữ hay giam giữ đều có quyền yêu cầu Tòa án thụ lý đơn yêu cầu xem xét tính hợp pháp của việc giam giữ và yêu cầu được thả tự do nếu việc giam giữ trái pháp luật Nạn nhân của việc bắt giữ, giam giữ trái pháp luật có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
Pháp luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ quy định: Một cá nhân chỉ bị bắt giữ khi: Có lệnh bắt giữ do Thẩm phán ban hành khi xét thấy có đủ chứng cứ chính đáng để kết luận người đó phạm tội; và Cảnh sát có cơ sở chính đáng để cho rằng người đó đang phạm tội hoặc đã phạm tội Trong quá trình bị tạm giữ, bất kỳ phát ngôn nào của bị can được đưa ra như là kết quả của sự tra tấn
sẽ không được sử dụng làm bằng chứng trong bất kỳ quy trình tố tụng nào Nếu thẩm vấn bị can đang bị giam giữ, cảnh sát phải thông báo cho bị can biết
họ có 03 quyền quan trọng: quyền được giữ im lặng; quyền được tiếp cận luật
sư (trường hợp bị can không đủ khả năng mời luật sư, người đó sẽ được chỉ định luật sư miễn phí) và bất kỳ điều gì bị can nói ra đều có thể được sử dụng làm bằng chứng chống lại bị can tại phiên tòa
Tại phiên trình diện đầu tiên, bị cáo được dẫn giải ra trước Thẩm phán; được thông báo về tội danh bị cáo buộc; được thông báo quyền được chỉ định luật sư công; có thể nhận tội hoặc không nhận tội; được quyền im lặng; được tại ngoại và phóng thích trong quá trình chờ xét xử nếu Tòa án xét thấy họ không có khả năng trốn chạy hoặc không gây nguy hiểm cho cộng đồng nếu được thả Bị cáo được cung cấp một bản sao bản cáo buộc trước khi kêu gọi nhận tội Tại phiên này, thẩm phán phải đảm bảo tất cả thông tin đã được công bố và yêu cầu giữ kín chứng cứ
Người bị tình nghi, bị can, bị cáo cũng có quyền khiếu kiện đối với các