Để đạt được mục tiêu trên, việc nghiên cứu đề tài có các nhiệm vụ cơ bản sau: - Nghiên cứu một số vấn đề chung về chứng cứ, cung cấp chứng cứ và chứng minh như khái niệm, đặc điểm của ch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Nhƣ Quỳnh
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự HĐXX : Hội đồng xét xử
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VADS : Vụ án dân sự
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 7
1.1 Một số vấn đề chung về cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự 7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm chứng cứ trong tố tụng dân sự 7
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự 13
1.2 Một số vấn đề chung về chứng minh trong tố tụng dân sự 14
1.2.1 Khái niệm chứng minh trong tố tụng dân sự 14
1.2.2 Quá trình chứng minh 17
1.2.3 Chủ thể của hoạt động chứng minh 18
1.2.4 Đối tượng chứng minh trong tố tụng dân sự 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22
CHƯƠNG 2 : CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH 23
2.1 Những quy định của pháp luật hiện hành về cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự 23
2.1.1 Chủ thể cung cấp chứng cứ 23
2.1.2 Thời gian, thủ tục cung cấp chứng cứ 27
2.2 Những quy định của pháp luật hiện hành về chứng minh trong tố tụng dân sự 31
Trang 62.2.1 Thu thập, cung cấp chứng cứ 31
2.2.2 Nghiên cứu, đánh giá chứng cứ 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56
CHƯƠNG 3 : THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ 58
3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật hiện hành về cung
cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự 58
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về cung cấp chứng cứ và
chứng minh trong tố tụng dân sự 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 77
PHẦN KẾT LUẬN 78
Trang 7MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kì họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2016, là văn bản có tính pháp lý cao nhất quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa
án Kế thừa Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự số 65/2011/QH12, Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự trong giai đoạn hiện nay, trong đó có những sửa đổi, bổ sung khá quan trọng trong phần quy định về cung cấp chứng cứ và chứng minh
Chứng cứ và chứng minh là một nội dung quan trọng của Bộ luật Tố tụng dân sự Quá trình tố tụng kéo dài từ khi tòa án thụ lý vụ việc dân sự cho đến khi có phán quyết giải quyết hoặc chấm dứt tranh chấp Trong đó, hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh là những hoạt động cơ bản, trước tiên
và quan trọng nhất mà các chủ thể tiến hành và tham gia hướng tới Hoạt động này là cơ sở để đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng như là căn cứ để Tòa án đưa ra các phán quyết của mình Có thể nói mục đích của hoạt động tố tụng là chứng minh và bản án, quyết định của tòa án chính là kết quả cuối cùng của quá trình chứng minh đó
Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện nay đang được chuyển từ mô hình tố tụng xét hỏi sang kết hợp giữa xét hỏi và tranh tụng, ngày càng đề cao vai trò chứng minh của đương sự BLTTDS năm 2015 ra đời đã có những quy định mới, cụ thể hơn, góp phần mở rộng quyền chủ động của đương sự để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, cũng như quyền chủ động của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Tuy nhiên, các quy định này
Trang 8vẫn đang trong quá trình hoàn thiện trên cơ sở kiểm nghiệm thông qua thực tiễn áp dụng Do vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện về hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh về cả phương diện lý luận, lập pháp và thực tiễn,
từ đó đề xuất những giải pháp cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật là cần thiết
Xuất phát từ những lý do đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Cung cấp chứng
cứ và vấn đề chứng minh trong tố tụng dân sự” làm luận văn cao học luật
của mình
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Cung cấp chứng cứ và chứng minh là một trong những vấn đề cơ bản của Luật TTDS Vì vậy, từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề này, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau đây:
Về đề tài khoa học, có “Thu thập và đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án dân sự thực trạng và giải pháp”, đề tài cấp cơ sở của Viện khoa học xét xử của Tòa án nhân dân tối cao, năm 2002; “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về tư pháp dân sự ở Việt Nam hiện nay”, đề tài cấp
Bộ của Viện Nhà nước và pháp luật thực hiện năm 2010; “Những vấn đề lý luận về chứng minh và chứng cứ trong TTDS”, đề tài cấp cơ sở Trường Đại
học Luật Hà Nội, năm 2012; Về luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, có luận
văn thạc sỹ Hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ trong Tố tụng dân sự Việt Nam” bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2002; luận văn tiến sĩ
“Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn
Minh Hằng bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2007; luận văn thạc
sĩ của Tăng Hoàng My “Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong
tố tụng dân sự” bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2012; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Vĩnh Thành “Các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa
án trong tố tụng dân sự” bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2013; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Liên “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa
Trang 9án từ thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án cấp huyện thành phố Hải Phòng” bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2014; luận văn thạc
sĩ của Quàng Hồng Nết “Cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sư - Thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La” bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2015; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Kim Lượng “Thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ trong tố tụng dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm” bảo vệ tại
Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015, Về các bài viết
trên các tạp chí khoa học pháp lý, có bài “Một số bất cập và vướng mắc của
Bộ luật Tố tụng dân sự chưa được hướng dẫn thi hành” của tác giả Trần Văn Trung đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 04/2011; bài“Thời điểm cung cấp chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” của Nguyễn Minh Hằng, Bùi Xuân Trường đăng trên Tạp chí Nghề luật số 02/2016; bài “Bàn về nghĩa vụ chứng minh được quy định tại Điều 79 Bộ luật Tố tụng dân sự” của Trần Phương Thảo đăng trên Tạp chí Luật học số 03/2014,
Ở những khía cạnh khác nhau, những công trình nghiên cứu nêu trên đã
đề cập đến một số vấn đề về cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh của các chủ thể trong tố tụng dân sự theo BLTTDS năm 2015
Ngoài ra phần lớn các công trình này đều được thực hiện trước khi BLTTDS năm 2015 ra đời, một số nội dung chưa được ghi nhận trong pháp luật thực định, do đó, đề tài nghiên cứu của tôi bên cạnh việc kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đó thì đã có những điểm mới và khác biệt so với các
đề tài trước cùng về nội dung này
3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành về cung cấp chứng cứ và chứng minh của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng
Trang 10* Phạm vi nghiên cứu:
Đây là một đề tài có phạm vi khá rộng Trong luận văn của mình, tác giả sẽ đi sâu tìm hiểu, phân tích chủ yếu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh, trong đó tập trung nghiên cứu về hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự trong vụ án dân sự
4 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ được những vấn đề lý luận cũng như nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh, bình luận và đánh giá các quy định mới của pháp luật, từ đó chỉ ra những điểm còn thiếu sót hoặc chưa hợp lý trong các quy định hiện hành về hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự Ngoài ra việc nghiên cứu cũng nhằm chỉ ra những vướng mắc, khó khăn trên thực tế khi các chủ thể thực hiện hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tổng hợp, luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đối với hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh trên thực tế
Để đạt được mục tiêu trên, việc nghiên cứu đề tài có các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề chung về chứng cứ, cung cấp chứng cứ và chứng minh như khái niệm, đặc điểm của chứng cứ, cách phân loại chứng cứ; khái niệm, đặc điểm của cung cấp chứng cứ; khái niệm chứng minh, quá trình chứng minh, đối tượng chứng minh, các chủ thể chứng minh;
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS;
- Khảo sát thực tiễn việc thực hiện quy định của pháp luật Việt Nam về cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS;
Trang 11- Nhận diện những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật Việt Nam về cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS và thực tiễn thực hiện và đề xuất các giải pháp để khắc phục
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành đề tài này, việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ
sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật và cải cách tư pháp
Đồng thời, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh, phương pháp thống
kê, phương pháp lịch sử để làm sáng tỏ những nội dung nghiên cứu của đề tài
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống về hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam Những đóng góp của luận văn thể hiện trên một số phương diện sau:
- Làm rõ bản chất và đặc điểm cơ bản của hoạt động cung cấp chứng cứ
và chứng minh trong tố tụng dân sự
- Đánh giá về các quy định hiện hành về hoạt động cung cấp chứng cứ
và chứng minh và thực tiễn thực hiện trên thực tế Từ đó, luận văn chỉ ra những hạn chế của pháp luật và bất cập trong thực tiễn thực hiện các quy định của BLTTDS về hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
- Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, nâng cao hiệu quả hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh trên thực tế
Trang 127 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về cung cấp chứng cứ và chứng minh
trong tố tụng dân sự Việt Nam
Chương 2: Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện
hành về cung cấp chứng cứ và chứng minh
Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam hiện hành về cung cấp chứng cứ và chứng minh và kiến nghị
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CUNG CẤP CHỨNG CỨ
VÀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 1.1 Một số vấn đề chung về cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm chứng cứ trong tố tụng dân sự
Chứng cứ là vấn đề trung tâm và quan trọng của tố tụng dân sự Có thể nói, mọi hoạt động trong quá trình chứng minh chủ yếu xoay quanh vấn đề chứng cứ, mọi giai đoạn của tố tụng dân sự mở ra, kết thúc và kết quả đều phụ thuộc phần lớn vào chứng cứ Dựa vào chứng cứ mà các đương sự có cơ sở xác đáng chứng minh bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, các cơ quan tiến hành tố tụng có đủ hay không đủ điều kiện để xác định tình tiết của vụ việc dân sự đúng, đủ, chính xác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho công dân và bảo vệ pháp luật
Theo Đại từ điển tiếng Việt, “Chứng cứ là cái được dẫn ra để dựa vào
đó mà xác định một điều là đúng hay sai, thật hay giả”1
Còn theo Từ điển Luật học, chứng cứ là phương tiện để xác minh sự thật về vụ án Pháp luật có một số yêu cầu đối với chứng cứ nhằm đảm bảo tính xác thực cũng như kiểm tra và đánh giá đúng đắn chứng cứ: chứng cứ phải chứa đựng những tài liệu thực tế có liên quan đến vụ án cụ thể; chứng cứ phải được rút ra từ những nguồn do luật quy định Những tình tiết có liên quan đến vụ án được ghi trong các tài liệu do cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân cung cấp có thể được coi là chứng cứ2
Đặt trong pháp luật tố tụng quốc tế, chứng cứ là một yếu tố quan trọng nên khái niệm chứng cứ được luật tố tụng dân sự của nhiều nước đề cập đến
Trang 14Cá biệt còn có một số nước xây dựng luật về chứng cứ để thể hiện sự quan trọng của vấn đề này
Luật tố tụng dân sự Nhật Bản định nghĩa:“Chứng cứ là một tư liệu thông qua đó một tình tiết được Tòa án công nhận và là một tư liệu, cơ sở thông qua đó Tòa án được thuyết phục là một tình tiết nhất định có tồn tại hay không”
Theo quy định tại Điều 401 Luật chứng cứ liên bang Mỹ: “Chứng cứ là những gì mà hàm chứa trong nó sự tồn tại của bất cứ một sự thực nào mà bản thân sự hàm chứa đó có ảnh hưởng tới việc xác định được một hành động hơn hoặc kém hơn”
Theo Luật chứng cứ của Úc, khái nệm chứng cứ được hiểu là những gì được dùng để chứng minh sự tồn tại của một tình tiết thực tế nào đó trong các
vụ án dân sự Các sự kiện, tình tiết được sử dụng làm chứng cứ phải được thu
thập, kiểm tra, đánh giá theo trình tự, thủ tục và những nguyên tắc nhất định theo quy định của Luật chứng cứ
Có thể thấy nhìn chung nội hàm của khái niệm một số nước trên tựu chung khẳng định: Chứng cứ là sự thật khách quan
Trong khoa học Luật tố tụng dân sự Việt Nam, chứng cứ được định
nghĩa: “Chứng cứ là cái có thật, theo một trình tự do luật định được Tòa án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự”3
Định nghĩa về chứng cứ cũng được quy định tại Điều 93 BLTTDS 2015:
“Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình
tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn
cứ và hợp pháp” Theo quy định này, thì trước hết chứng cứ là những gì có
3 Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
2017
Trang 15thật, chỉ những thứ có thật mới có thể là chứng cứ Khía cạnh này đã phản ánh được yêu cầu về tính khách quan của chứng cứ Những gì có thật trong thế giới vật chất rất đa dạng, có thể là những thông tin, dấu vết, sự kiện, tài liệu, Mặt khác, cũng theo quy định này thì chứng cứ phải được giao nộp cho Tòa
án hoặc do Tòa án thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTDS quy định Đây là một yêu cầu về hình thức buộc phải có đối với “những gì” muốn được sử dụng với tư cách là chứng cứ Nếu không thỏa mãn yêu cầu này thì chúng cũng không được thừa nhận để làm cơ sở xác định các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự Quy định này phản ánh tính hợp pháp của chứng cứ
Về cơ bản, quy định này đã phản ánh được tương đối bản chất của chứng cứ Tuy vậy, có một số điểm trong định nghĩa này vẫn chưa thật hoàn thiện Nếu định nghĩa chứng cứ là “những gì có thật” thì khái quát nhưng không rõ ràng cụ thể và chưa mang tính khẳng định Mặt khác, nếu định nghĩa như vậy sẽ dẫn đến việc hiểu lầm chỉ có Tòa án mới tham gia vào hoạt động nghiên cứu và đánh giá chứng cứ Trong tố tụng dân sự, không chỉ có các đương sự mà còn có các chủ thể tố tụng khác như Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, do vậy nếu coi chứng cứ chỉ làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không thì cũng chưa đủ Các thông tin,
sự kiện, tình tiết này không chỉ để xác định yêu cầu hay phản đối yêu cầu của đương sự mà còn để xác định các yêu cầu của Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức khởi kiện và những người khác đưa ra trong quá trình giải quyết vụ việc dân
sự để giải quyết đúng vụ việc dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Từ khái niệm chứng cứ nêu trên, có thể thấy chứng cứ có các đặc điểm sau:
Tính khách quan:
Chứng cứ có tính khách quan bởi chứng cứ là cơ sở để nhận thức vụ việc dân sự Theo lý luận về nhận thức thì người ta chỉ nhận thức đúng bản
Trang 16chất của sự vật, sự việc khi nó được phản ánh lại một cách khách quan Những cái có được là do sự tưởng tượng, hư cấu không bao giờ nói lên được bản chất sự vật, sự việc và không thể làm cơ sở của nhận thức
Tính khách quan của chứng cứ thể hiện ở chỗ chứng cứ phải là cái có thật, tồn tại ngoài ý muốn của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng Trong quá trình tố tụng, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng không thể tạo ra chúng theo ý muốn chủ quan của họ mà chỉ có thể thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chúng Xác định được tính khách quan của chứng cứ, trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tòa án loại bỏ được những cái không có thật, không sử dụng để giải quyết vụ việc dân sự bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, đúng đắn
Tuy vậy, nhờ chúng tòa án vẫn có khả năng đưa ra những kết luận nhất định về vụ việc dân sự đang giải quyết Căn cứ vào tính liên quan của chứng
cứ, trong quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án có thể loại bỏ được những cái không liên quan đến vụ việc dân sự Từ đó, không phải xác minh làm rõ chúng, bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng và đúng đắn
Tính hợp pháp:
Trang 17Chứng cứ có tính hợp pháp bởi việc giải quyết vụ việc dân sự không thể tách rời quá trình nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ Quá trình này lại phức tạp vì thế pháp luật phải quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến chúng thì mới có thể làm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng với bản chất của nó
Tính hợp pháp của chứng cứ yêu cầu chứng cứ phải được rút ra từ những nguồn nhất định do pháp luật quy định; quá trình thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các chủ thể chứng minh phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật chứng cứ Đối với những gì không được rút ra từ các nguồn do pháp luật quy định, không được thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng theo đúng quy định của pháp luật thì không được coi là chứng cứ, không được sử dụng giải quyết vụ việc dân sự
Chứng cứ thường được phân thành các loại sau:
- Dựa vào nguồn thu nhận chứng cứ: chứng cứ được phân ra chứng cứ theo người và chứng cứ theo vật
+ Chứng cứ theo người gồm chứng cứ theo lời nói của con người và chứng cứ kết luận giám định (chứng cứ khách quan về mặt chuyên môn) do các chuyên gia có chuyên môn giám định
+ Chứng cứ theo vật chiếm đa phần các loại chứng cứ, ví dụ như con dao, di chúc,
Trang 18+ Chứng cứ trực tiếp là những chứng cứ có ảnh hưởng luôn, không thông qua một nguồn nào khác Ví dụ như giấy vay nợ, hợp đồng mua bán tài sản,
+ Chứng cứ gián tiếp là những chứng cứ cần phải thông qua một trung gian nào đó Ví dụ như giấy đi công tác, hóa đơn chứng từ khi nghỉ, hóa đơn khi đi ăn,
Về nguồn của chứng cứ, BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định tại Điều 82 nguồn chứng cứ bao gồm: Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; các vật chứng; lời khai của đương sự; lời khai của người làm chứng; kết luận giám định; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; tập quán; kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản và các nguồn khác mà pháp luật
là các nguồn chứng cứ
- Dữ liệu điện tử: là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử Giao dịch dân sự bằng dữ liệu điện tử được các bên thực hiện truyền thông tin từ máy tính đến máy tính nhằm góp phần giản tiện về thời gian, chi phí mà vẫn đảm bảo được hiệu quả công việc Hiện nay được sử dụng khá phổ biến và phù hợp với Điều 1 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 Do đó, việc
bổ sung nguồn chứng cứ này là cần thiết nhằm đáp ứng được những yêu cầu thực tế đặt ra
Trang 19- Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập: Không phải mọi văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý đều được xem là nguồn của chứng cứ, mà văn bản đó chỉ có hiệu lực pháp lý khi được lập bởi người có chức năng Điển hình cho loại nguồn chứng cứ này chính là vi bằng
do Thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được sử dụng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác (khoản 3 Điều 2 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/201 sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh)
- Văn bản công chứng, chứng thực: Hiện nay, phần lớn thủ tục, hồ sơ thực hiện các giao dịch dân sự đều sử dụng văn bản công chứng của tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Việc thực hiện công chứng, chứng thực do người của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện nên có giá trị xác thực, giá trị pháp lý và độ tin cậy hơn các loại giấy tờ không
có chứng nhận xác thực hoặc chỉ trình bày bằng miệng Các văn bản công chứng đảm bảo sự an toàn của các giao dịch, tạo nên sự tin tưởng của khách hàng, là cơ sở quan trọng để Tòa án có được quyết định chính xác trong bản
án, quyết định
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự
Được quy định tại Điều 6 BLTTDS năm 2015, cung cấp chứng cứ là quyền và nghĩa vụ của đương sự, giúp họ chứng minh cho yêu cầu của mình
là có căn cứ bằng việc chủ động thu thập và giao nộp chứng cứ cho Tòa án Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà
Nội đưa ra định nghĩa: “Cung cấp chứng cứ là hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng trong việc đưa lại cho Tòa án, Viện kiểm sát các chứng cứ của vụ việc dân sự” Theo định nghĩa này, cung cấp chứng cứ trước hết là một hoạt
động tố tụng trong việc đưa ra, đem lại cho Tòa án, Viện kiểm sát các chứng
cứ Các chủ thể cung cấp chứng cứ ngoài đương sự còn có những chủ thể khác có đưa ra yêu cầu cho Tòa án giải quyết vụ việc dân sự và những chủ thể
Trang 20đang lưu giữ, quản lý chứng cứ được Tòa án, Viện kiểm sát yêu cầu Các chủ thể tiếp nhận việc cung cấp chứng cứ là Tòa án và Viện kiểm sát, trong đó chủ yếu là Tòa án
Định nghĩa này đưa đến một cái nhìn đúng đắn và khái quát về một trong những hoạt động tố tụng cơ bản, chỉ ra được các chủ thể có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, mục đích của việc cung cấp chứng cứ đến chủ thể có nghĩa vụ tiếp nhận chứng cứ
Trong Luận văn thạc sĩ Luật học Cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân
sự (2015), tác giả Quàng Hồng Nết có đưa ra định nghĩa: “Cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự là hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng trong việc đưa lại cho Tòa án, Viện kiểm sát các chứng cứ của vụ việc dân sự theo trình
tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định”
1.2 Một số vấn đề chung về chứng minh trong tố tụng dân sự
1.2.1 Khái niệm chứng minh trong tố tụng dân sự
Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, trang 178:
“Chứng minh là dùng lý lẽ, suy luận, bằng cứ để chỉ rõ điều gì đó đúng hay không đúng.”
Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2003, trang 192 ghi:
“Chứng minh là làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc lý lẽ”
Với cách hiểu này, chứng minh trong tố tụng dân sự là làm rõ các tình tiết, vấn đề, sự kiện của vụ án dân sự là có thật bằng các chứng cứ, lý lẽ và lập luận
Theo Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Nhà xuất bản
Tư pháp, 2006, trang 166, chứng minh trong tố tụng dân sự là:
“hoạt động tố tụng của chủ thể tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng trong việc làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ án dân sự
Chứng minh trong tố tụng dân sự bao gồm các hoạt động tố tụng như cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ, vv Chứng minh được các
Trang 21chủ thể tố tụng thực hiện trong suốt quá trình giải quyết vụ việc dân sự Các chủ thể chứng minh trong tố tụng bao gồm các đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích của người khác Trong đó, các đương sự là chủ thể chứng minh chủ yếu.”
Trong thế giới khách quan luôn tồn tại nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau đòi hỏi con người phải nhận thức và đánh giá Ở mỗi sự vật, hiện tượng lại có nhiều đặc tính khác nhau, có những đặc tính có thể nhận biết một cách nhanh chóng, rõ ràng bằng các giác quan, nhưng thực tiễn cũng tồn tại những đặc tính không thể nhận biết ngay mà phải trải qua một quá trình tư duy, giải thích, móc nối các sự kiện để đi đến được kết luận và việc đầu tiên là phải đưa
ra những giả thiết để định hướng tư duy, sau đó tổng hợp các sự kiện khách quan để có thể đi đến kết luận cuối cùng Quá trình giải quyết giả thiết bằng cách tư duy, logic các sự kiện đó chính là chứng minh Quá trình chứng minh diễn ra liên tục, trong mọi mặt của đời sống xã hội và nó là động lực cho sự
phát triển, khám phá tìm tòi
Trong tố tụng dân sự, chứng minh cũng là một dạng hoạt động, nhưng không phải là hoạt động trong đời thường mà là hoạt động tố tụng, cụ thể là hoạt động sử dụng chứng cứ với mục đích tái hiện lại trước Tòa án vụ việc dân sự đã xảy ra trong quá khứ một cách chính xác và tỉ mỉ nhất có thể có, qua đó, Tòa án có thể khẳng định có hay không các sự kiện, tình tiết khách quan làm cơ sở cho yêu cầu hay phản đối của các bên đương sự trong vụ việc dân sự Tuy nhiên, hoạt động sử dụng chứng cứ trong tố tụng dân sự không thể được tiến hành một cách tùy tiện theo ý chí chủ quan của Tòa án hay của các chủ thể tham gia tố tụng mà phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về sử dụng chứng cứ thông qua các hoạt động tố tụng
cụ thể, bao gồm hoạt động cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ, nghiên cứu chứng cứ và đánh giá chứng cứ Tất cả các hoạt động này là các yếu tố hợp
Trang 22thành chứng minh hay nội dung của hoạt động chứng minh trong tố tụng dân
sự
Như vậy, có thể hiểu Chứng minh trong tố tụng dân sự là tổng thể các hoạt động của Tòa án và các chủ thể tham gia tố tụng trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ dựa trên quy luật của hoạt động nhận thức các quy định của pháp luật nội dung, pháp luật tố tụng, tập quán và các tình tiết, sự kiện cần chứng minh và bằng niềm tin nội tâm của các chủ thể chứng minh trong mỗi một quan hệ pháp luật dân sự cụ thể, nhằm mục đích sử dụng chứng cứ để xác định sự thật khách quan của vụ, việc dân sự
Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự có các đặc điểm cơ bản: Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự là một quá trình nhận thức diễn ra xuyên suốt vụ án dân sự, được bắt đầu khi có quyết định thụ lý đơn khởi kiện cho đến khi tòa án ra phán quyết
Khởi đầu là việc chứng minh của nguyên đơn cho yêu cầu của mình thông qua đơn khởi kiện, tiếp đến là hoạt động chứng minh của bị đơn bác yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có), hoạt động chứng minh của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, của Viện kiểm sát (nếu có) và kết thúc khi tòa án chứng minh cho phán quyết của mình thông qua một bản án có giá trị bắt buộc thi hành
Bản chất của chứng minh chính là việc sử dụng chứng cứ:
Hai yếu tố cấu thành vụ án dân sự là yếu tố chủ quan (đương sự) và yếu
tố khách quan (bao gồm đối tượng - mục đích khởi kiện và nguyên nhân - cách thức bảo vệ quyền của các chủ thể trước tòa án) Hoạt động chứng minh được xếp vào các yếu tố thuộc mặt khách quan của vụ án Điều này có nghĩa
là yếu tố cấu thành vụ án đã vốn có, vốn đã tồn tại, nay chỉ đi tìm lại, diễn đạt lại một cách đầy đủ nhất, đúng đắn nhất Hay nói cách khác, hoạt động chứng minh là hoạt động thông qua việc sử dụng chứng cứ để tái hiện lại sự thật khách quan của vụ án
Trang 231.2.2 Quá trình chứng minh
Quá trình chứng minh không có gì khác ngoài việc sử dụng chứng cứ đúng đắn (thỏa mãn ba yêu cầu về tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp) bao gồm bốn giai đoạn khác nhau là cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ Các giai đoạn này có mối liên hệ mật thiết với nhau, chỉ có giai đoạn trước mới có giai đoạn sau, và giai đoạn sau sẽ là cơ sở để đánh giá tính đúng đắn và triệt để của giai đoạn trước Phải có hoạt động thu thập, cung cấp chứng cứ thì mới phát sinh hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ và kết quả của hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ sẽ phát sinh những nhận thức từ vụ án dân sự, nhận thức này có đúng đắn, khách quan và toàn diện hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc thu thập, cung cấp chứng cứ có đầy đủ và đúng hay không Bốn giai đoạn này kéo dài, nối tiếp và đan xen nhau, không thể tách bạch cơ học từ thời điểm nào đến thời điểm nào là giai đoạn cung cấp, thu thập, nghiên cứu hay đánh giá chứng cứ Nhưng có thể nhận thấy rằng những giai đoạn này kéo dài xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án dân sự, nó chỉ kết thúc khi tòa án ra phán quyết Mặc dù có thể Tòa án cấp dưới đã ra quyết định giải quyết vụ án nhưng bản án này lại được giải quyết tiếp theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì lại phát sinh hoạt động chứng minh mới độc lập với hoạt động chứng minh trước đây
- Cung cấp chứng cứ: là nghĩa vụ chủ yếu do đương sự giao nộp cho Tòa án, đương sự muốn làm rõ được yêu cầu hay phản đối yêu cầu của họ là
có căn cứ hợp pháp thì trách nhiệm của họ là phải cung cấp, giao nộp chứng
cứ cho Tòa án để chứng minh Việc cung cấp chứng cứ còn có thể do cá nhân,
cơ quan, tổ chức cung cấp
- Thu thập chứng cứ: là trách nhiệm của các đương sự, một số trường hợp do Tòa án thu thập Việc thu thập, cung cấp và giao nộp chứng cứ phải đúng hạn, nhanh chóng và kịp thời
- Nghiên cứu và đánh giá là giai đoạn cuối cùng của hoạt động chứng minh Nó là một quá trình logic nhằm xác định giá trị chứng minh và sự phù
Trang 24hợp của các chứng cứ - sự phù hợp của chứng cứ ở đây là sự phù hợp giữa những tình tiết, sự kiện đã thu thập được với thực tế khách quan Thông qua nghiên cứu và đánh giá chứng cứ, Tòa án xác định đối tượng chứng minh và sắp xếp các sự kiện theo một trình tự nhất định Việc suy đoán chứng cứ có thể được sử dụng trong quá trình đánh giá chứng cứ, nhưng việc suy đoán này phải dựa trên các chứng cứ khác hoặc trên tổng thể các chứng cứ có trong hồ
sơ chứ không được theo nhận thức chủ quan của người đánh giá
1.2.3 Chủ thể của hoạt động chứng minh
Chủ thể của hoạt động chứng minh rất đa dạng Chứng minh là làm cho
rõ là đúng, là có thật Trong một vụ án cụ thể có rất nhiều ý kiến cần phải được chứng minh là đúng, là có thật đồng nghĩa với việc chủ thể thực hiện hoạt động chứng minh là đa dạng Nguyên đơn chứng minh cho yêu cầu của mình; bị đơn chứng minh cho việc bác yêu cầu, yêu cầu phản tố (nếu có); tòa
án chứng minh cho phán quyết của mình; Viện kiểm sát chứng minh cho kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của mình Ngoài ra, khi đương sự không đủ khả năng tham gia tố tụng hoặc không hiểu biết về pháp luật, không có kinh nghiệm tố tụng họ có thể nhờ người khác thay mình tham gia tố tụng từ đó phát sinh ra các chủ thể khác tham gia tố tụng như người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Họ có quyền và nghĩa vụ không giống nhau xuất phát từ vị trí tố tụng cũng như thỏa thuận giữa họ và đương sự nhưng đây cũng là những chủ thể của hoạt động chứng minh
Theo quy định của BLTTDS, việc cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình trước hết thuộc về đương sự Đây là một trong những nguyên tắc xuất phát từ quyền tự định đoạt của đương sự đối với việc khởi kiện Đương sự có yêu cầu có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ để chứng minh yêu cầu đó là hợp pháp Ngược lại, nếu đương sự phản đối yêu cầu của người khác thì phải đưa ra chứng cứ để phản đối Đồng thời, trong quá trình giải quyết phải bảo đảm cho người yếu thế không thể cung cấp được tài liệu,
Trang 25chứng cứ vẫn có điều kiện thực hiện việc tranh tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên có một số trường hợp cụ thể nghĩa vụ chứng minh phải thuộc về người bị yêu cầu (bị đơn) Vì vậy, BLTTDS 2015 tại Điều 91 đã quy định rất cụ thể về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự:
Thứ nhất, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ
để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các trường hợp sau đây thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người bị yêu cầu:
- Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động
có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án
- Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý
kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động
- Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh
Thứ hai, đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải
thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó
Thứ ba, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng,
lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng
Trang 26cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Thứ tư, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà
không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc
Với tư cách là người tiến hành tố tụng, Tòa án và Viện kiểm sát cũng
có trách nhiệm chứng minh Trong đó, Tòa án là chủ thể có nhiệm vụ giải quyết vụ án dân sự, Viện kiểm sát là chủ thể thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự Để giải quyết đúng vụ án dân sự thì Tòa án vẫn phải xác định xem trong vụ, việc dân sự phải chứng minh, làm
rõ là những tình tiết, sự kiện nào? Việc chứng minh của các chủ thể khác có đúng, có phù hợp, có cần thiết cho việc giải quyết vụ án dân sự hay không?
1.2.4 Đối tượng chứng minh trong tố tụng dân sự
Trong Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, trang 274 ghi: Đối tượng, được hiểu: 1- Cái người ta nhắm tới để tìm hiểu, hành động
Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2003, trang 328 ghi: Đối tượng là người, vật, hiện tượng mà con người nhằm vào trong suy nghĩ và hành động
Trong tố tụng dân sự, đối tượng chứng minh là một vấn đề hết sức quan trọng, do đó khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án phải xác định được tất cả các tình tiết, sự kiện liên quan, những tình tiết này là đối tượng chứng minh trong vụ việc dân sự
Đối tượng chứng minh là tổng hợp những tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự, dùng nó làm cơ sở giải quyết vụ việc dân sự
Trang 27Các quan hệ cần giải quyết trong các vụ việc dân sự rất đa dạng nên các tình tiết, sự kiện cần phải xác định trong các vụ việc dân sự cụ thể rất phong phú Do vậy, trong quá trình giải quyết, Tòa án phải xác định những tình tiết,
sự kiện nào cần phải chứng minh Để xác định được đối tượng chứng minh của mỗi vụ việc dân sự, Tòa án phải dựa vào yêu cầu hay phản đối của đương
sự Đương sự dựa vào tình tiết, sự kiện nào để có yêu cầu, hay phản đối yêu cầu Nói tóm lại, đối tượng chứng minh bao gồm những tình tiết, sự kiện phải chứng minh để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc dân sự, trừ các trường hợp không cần phải chứng minh:
- Các tình tiết, sự kiện phải chứng minh để làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc dân sự: là các tình tiết có mối quan hệ trực tiếp tới vụ việc dân sự Theo quy định tại Điều 91 BLTTDS 2015 thì đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
- Các trường hợp không cần phải chứng minh bao gồm:
+ Các trường hợp chủ thể có quyền và nghĩa vụ chứng minh không cần phải chứng minh theo quy định của BLTTDS 2015: Người tiêu dùng khởi kiện theo quy định của Luật bảo vệ người tiêu dùng; Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà tài liệu, chứng cứ đang do người sử dụng lao động quản lý Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sửu dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động; + Các trường hợp có tình tiết sự kiện không phải chứng minh:
Trang 28• Các tình tiết, sự kiện đã rõ ràng, hoặc được ghi nhận trong một văn bản pháp lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: những tình tiết, sự kiện
đã được xác định trong các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã
có hiệu lực pháp luật; hoặc những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp Các tình tiết, sự kiện này được ghi nhận tại khoản 1 Điều 92 BLTTDS 2015
• Các tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn do một bên đương sự đưa ra được bên đương sự còn lại thừa nhận hoặc không phản đối BLTTDS 2015 đã bổ sung thêm một số đối tượng không phải chứng minh: tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn như:
biên bản giám định, dịch thuật, vi bằng, định giá
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chứng cứ là vấn đề trung tâm và quan trọng nhất của tố tụng dân sự Có thể nói, mọi hoạt động trong quá trình chứng minh chủ yếu xoay quanh vấn đề chứng cứ, mọi giai đoạn của tố tụng dân sự mở ra, kết thúc và kết quả đều xoay quanh vấn đề chứng cứ Dựa vào chứng cứ mà các đương sự có cơ sở xác đáng chứng minh bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, các cơ quan tiến hành tố tụng có đủ hay không đủ điều kiện để xác định tình tiết của vụ việc dân sự đúng, đủ, chính xác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho công dân và bảo vệ pháp luật
Trang 29
CHƯƠNG 2 : CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VỀ CUNG CẤP CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH 2.1 Những quy định của pháp luật hiện hành về cung cấp chứng cứ trong
tố tụng dân sự
2.1.1 Chủ thể cung cấp chứng cứ
2.1.1.1 Đương sự - chủ thể cung cấp chứng cứ chủ yếu và quan trọng nhất
Nếu như trong BLTTDS 2004 ghi nhận “Đương sự có quyền và nghĩa
vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án” (Điều 6) thì đến BLTTDS 2015 có điểm
tiến bộ cơ bản là xác định lại quyền và nghĩa vụ của đương sự, theo đó
“Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án” (Điều 6)
Đương sự là chủ thể đầu tiên và quan trọng nhất của hoạt động cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự Đương sự chính là người phát động và giới hạn hoạt động chứng minh Pháp luật tố tụng dân sự đặt ra nghĩa vụ chứng minh cho đương sự là vì, quan hệ dân sự là quan hệ riêng tư của các bên, do các bên tự quyết định, tự giải quyết là chủ yếu và chỉ khi các bên không tự giải quyết được thì họ cũng tự quyết định có yêu cầu nhà nước can thiệp, hỗ trợ hay không Mặt khác, các bên đương sự là những người hiểu
rõ vụ việc của mình nhất, biết rõ tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc của mình có những gì và đang ở đâu Do đó, khi các bên đã đưa việc tranh chấp của họ ra Toà án thì Toà án chỉ là trọng tài, giúp các bên giải quyết tranh chấp một cách khách quan và đúng pháp luật, chứ không thể làm thay, chứng minh thay cho đương sự
Quy định rõ về nghĩa vụ chứng minh đối với các đương sự là một trong những nội dung quan trọng trong tố tụng dân sự của BLTTDS 2015 là nhằm làm cơ sở cho các đương sự xác định những nghĩa vụ của mình khi đưa ra yêu
Trang 30cầu, thực hiện tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự Nếu đương
sự không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và Tòa án không thể thu thập chứng cứ có được thì có khả năng đương sự sẽ bị Tòa án tuyên bác yêu cầu Đồng thời trong quá trình giải quyết phải bảo đảm cho người yếu thế không thể cung cấp được tài liệu, chứng cứ vẫn có điều kiện thực hiện việc tranh tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cho nên có một số trường hợp cụ thể nghĩa vụ chứng minh phải thuộc về người bị yêu cầu (bị đơn) Vì vậy, BLTTDS 2015 (Điều 91) đã quy định rất cụ thể về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự:
Thứ nhất, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ
để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các trường hợp sau đây thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người bị yêu cầu:
- Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
- Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động
có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án
- Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý
kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động
- Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh
Trang 31Thứ hai, đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải
thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó
Thứ ba, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng,
lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng
cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Thứ tư, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà
không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ
việc
Trước đây, BLTTDS 2004 quy định tại Khoản 3 Điều 165: “Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp ” Theo đó, điều kiện đặt ra đối
với tài liệu, chứng cứ được cung cấp gồm hai yếu tố chính là “có căn cứ” và
“hợp pháp” Nhưng lại không có quy định cụ thể để xác định tài liệu, chứng
cứ “có căn cứ” và “hợp pháp” là gì Trên thực tế quy định này đã dẫn tới tình trạng khó cung cấp được tài liệu, chứng cứ theo quy định pháp luật Nhiều trường hợp trong các quan hệ dân sự, do tin tưởng, sơ sót, sai lầm nên giữa các bên không làm giấy tờ, văn bản giao dịch hoặc làm nhưng không rõ ràng Điều này đã dẫn tới tình trạng người khởi kiện không đủ khả năng cung cấp tài liệu, chứng cứ theo đúng quy định Để giải quyết vấn đề đó, khoản 5 Điều 189 BLTTDS 2015 quy định: “Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm ” Như vậy, BLTTDS 2015 đã sử dụng từ ngữ dễ hiểu hơn để quy
định về tài liệu, chứng cứ được cung cấp phải “chứng minh quyền, lợi ích hợp
Trang 32pháp của người khởi kiện bị xâm phạm” mà không làm thay đổi bản chất vốn
có của hoạt động cung cấp chứng cứ kèm đơn khởi kiện
2.1.1.2 Trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc cung cấp chứng
cứ
Trong các nguồn chứa đựng chứng cứ thì các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được chiếm một tỉ lệ tương đối lớn Nhưng trong nhiều trường hợp, đương sự lại không có các chứng cứ đó, mà do cá nhân, cơ quan, tổ chức khác lưu giữ, quản lý Việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ là biện pháp thu thập chứng cứ bảo đảm cho Tòa án có đủ chứng cứ giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự
Theo Điều 7 BLTTDS quy định về nguyên tắc trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thì cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát biết và nêu rõ lý
do của việc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
Trên cơ sở nguyên tắc trên, nhà lập pháp Việt Nam đã cụ thể hóa nguyên tắc này tại Điều 106 BLTTDS về biện pháp yêu cầu cá nhân, cơ quan,
tổ chức cung cấp chứng cứ, tài liệu Theo đó, trong trường hợp đương sự đã
áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không tự mình thu thập được thì có thể yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn
Đương sự yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập; lý do vì sao tự mình không thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản
lý, lưu giữ chứng cứ cần thu thập đó Tòa án có thể trực tiếp hoặc bằng văn
Trang 33bản yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ cung cấp cho mình chứng cứ Cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu Trường hợp không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do, nếu không tùy theo mức độ vi phạm có thể
bị xử lý theo quy định của pháp luật
Điều 495 BLTTDS 2015 đã quy định về chế tài xử lý hành vi khi không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân lưu giữ chứng cứ trong việc tạo điều kiện cho việc thu thập chứng cứ của Tòa án, hạn chế hành
vi cố tình gây khó khăn cho việc thu thập chứng cứ Tuy nhiên, điều luật này mới chỉ quy định chung chung, chưa có quy định về điều kiện áp dụng, mức
độ và biện pháp xử lý vi phạm, hơn nữa, điều luật chỉ quy định chế tài đối với hành vi cố ý không cung cấp chứng cứ cho Tòa án, còn với các chủ thể có quyền yêu cầu cung cấp khác là đương sự và Viện kiểm sát thì chưa có chế tài
xử lý
Một điểm mới trong BLTTDS 2015 là trong trường hợp xét thấy cần thiết, Tòa án có thể tự mình ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ phải cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án Quy định mới này đã đảm bảo tính chủ động của Tòa án cũng như Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, đáp ứng nhu cầu thực tiễn
2.1.2 Thời gian, thủ tục cung cấp chứng cứ
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ Nếu đương
sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng
Trang 34cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại Điều 97 BLTTDS 2015 để giải quyết vụ việc dân sự Quy định về giao nộp tài liệu, chứng cứ được cụ thể hóa trong BLTTDS 2015 đã có những thay đổi so với BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) nhằm làm sáng tỏ quyền và nghĩa
vụ thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự, đồng thời mở rộng phạm vi nghĩa vụ cũng như hậu quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa
vụ Cụ thể:
của đương sự” (Điều 5 BLTTDS 2015), quyền và nghĩa vụ “Cung cấp chứng
cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự” (Điều 6 BLTTDS 2015), Điều 95 BLTTDS
2015 quy định về “Giao nộp tài liệu, chứng cứ” với mục đích giúp Tòa án thu thập đầy đủ các tài liệu chứng cứ của các đương sự để xem xét và giải quyết đúng đắn vụ án Dựa trên sự phù hợp với khái niệm chung về chứng cứ tại Điều
93, Đều 94 BLTTDS 2015 thì Điều 96 đã sửa lại tên gọi của Điều luật từ
“Giao nộp chứng cứ” thành “Giao nộp tài liệu, chứng cứ”, ngoài ra bổ sung khoản 4 và khoản 5
Thứ hai, đương sự thực hiện nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, “chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp
bổ sung tài liệu, chứng cứ” Quy định này giúp đương sự có cơ hội giao nộp
bổ sung chứng cứ sau khi Tòa án đã kiểm tra nhưng phát hiện chứng cứ giao nộp chưa đầy đủ và với chứng cứ mà đương sự cung cấp chưa đủ cơ sở để đưa
ra kết luận và giải quyết vụ việc Điều này giúp cho đương sự có thể biết được nghĩa vụ và quyền giao nộp chứng cứ
đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa
án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu
Trang 35thập theo quy định tại Điều 97 của Bộ luật này để giải quyết vụ việc dân sự”,
đây là một bổ sung có ý nghĩa rất lớn, bởi trong nhiều trường hợp đương sự không thể giao nộp được chứng cứ cho Tòa án do không nắm giữ chứng cứ, trong trường hợp này đương sự có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ và yêu cầu Tòa án thu thập theo các quy định của Điều
106 BLTTDS 2015
Nghĩa vụ chứng minh của đương sự có ý nghĩa quyết định trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Trường hợp đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ “Hậu quả” ở đây được hiểu là kết quả giải quyết vụ việc dân sự bất lợi cho đương sự không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ
hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp, cách thức giao nộp chứng cứ phải được tuân thủ theo đúng quy định của BLTTDS 2015 để đảm bảo tính chính xác, trung thực, khách quan, bảo vệ chứng cứ So với BLTDS 2004, quy định về cách thức giao nộp tài liệu không có gì khác Tuy nhiên có những trường hợp việc giao nộp chứng cứ được thực hiện dưới hình thức gián tiếp (ví dụ gửi qua đường bưu điện), mặc dù điều luật không quy định nhưng cách thức giao nộp vẫn tuân thủ quy trình trên và được chấp nhận là giao nộp chứng cứ hợp pháp Khi đó, Tòa án phải ghi vào sổ nhận đơn, đối chiếu tài liệu, chứng cứ theo bảng danh mục tài liệu, chứng cứ mà đương sự gửi kèm theo Trong trường hợp tài liệu, chứng cứ nào thiếu theo danh mục thì cán bộ nhận đơn ghi sổ phải báo ngay cho người phụ trách trực tiếp hoặc Chánh án biết để xác nhận tình trạng thiếu tài liệu, chứng cứ liệt kê trong danh mục Đồng thời, Tòa án phải báo ngay cho người gửi tài liệu, chứng cứ được biết về thông tin đó để nộp bổ sung
Trang 36Trong trường hợp đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo văn bản dịch sang tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp Lưu ý là trong một số trường hợp, đương sự là người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài thì tài liệu, chứng cứ phải được công cứng của nước nơi đương sự cư trú hoặc pháp nhân có trụ sở
và phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định
Thứ năm, thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ và trách nhiệm của
đương sự phải sao gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác khi giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án được quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 96 BLTTDS 2015 là hai khoản mới Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự theo quy định của BLTTDS 2015 Nếu sau khi quyết định đưa vụ án ra xét xử cấp sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết vụ việc dân sự, đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án yêu cầu giao nộp trước đó mà đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm nộp tài liệu, chứng
cứ, chọn thời điểm có lợi cho mình mới giao nộp chứng cứ, dẫn đến thời gian giải quyết vụ án dân sự bị kéo dài, tăng chi phí tố tụng, không bảo đảm điều kiện để các đương sự thực hiện tranh tụng công khai tại phiên tòa
Khắc phục hạn chế của BLTTDS năm 2004, khoản 4 Điều 96 BLTTDS
2015 quy định: “Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn
Trang 37chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này” Việc quy định thời hạn giao nộp chứng cứ do
Thẩm phán xác định là phù hợp với thông lệ của nhiều nước trên thế giới và thông thường sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, đương sự không có quyền cung cấp chứng cứ mới Việc giới hạn thời hạn cung cấp chứng cứ của đương sự sẽ buộc đương sự phải có trách nhiệm hơn nữa trong việc thu thập, cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình; đồng thời, tránh trường hợp đương sự lợi dụng quy định có quyền cung cấp chứng
cứ ở bất kì giai đoạn nào của quá trình tố tụng để kéo dài vụ kiện, Tòa án cấp
sơ thẩm phải hoãn phiên tòa để thu thập chứng cứ, Tòa án cấp trên hủy án của Tòa án cấp dưới do đương sự xuất trình chứng cứ mới
cận tất cả các tài liệu, chứng cứ do các bên và những người tham gia tố tụng khác nhau cung cấp, BLTTDS 2015 quy định, khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác; đối với tài liệu, chứng
cứ có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục dân tộc, bí mật gia đình, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân hoặc tài liệu, chứng cứ không thể sao gửi được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương
sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác “Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ
đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác; đối với tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này hoặc tài liệu, chứng cứ không thể sao gửi được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác” (Khoản 5
Điều 96 BLTTDS 2015)
2.2 Những quy định của pháp luật hiện hành về chứng minh trong tố tụng dân sự
2.2.1 Thu thập, cung cấp chứng cứ
Trang 38Những quy định về cung cấp chứng cứ trong tố tụng dân sự đã được phân tích, làm rõ trong phần trên Trong phần này, tác giả sẽ đi sâu tìm hiểu
các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thu thập chứng cứ
Chủ thể của hoạt động thu thập chứng cứ là những người bằng hành vi của mình tham gia vào quá trình tìm kiếm, thu thập các nguồn chứng cứ chứa đựng các sự kiện, tình tiết khách quan có thể là chứng cứ, làm cơ sở cho việc chứng minh yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của các bên trong việc giải quyết
vụ án Trước khi BLTTDS năm 2004 ra đời, Tòa án đứng trên vai trò vừa là người điều tra, xác minh sự thật, vừa là người “cầm cân nảy mực”, do đó chủ thể của hoạt động thu thập chứng cứ trong giai đoạn này chỉ có Tòa án Tuy nhiên sau khi BLTTDS năm 2004 ra đời, kế tiếp là BLTTDS năm 2011 (sửa đổi, bổ sung) đã đẩy mạnh vai trò chứng minh của đương sự, dù qua mỗi lần sửa đổi khác nhau, vai trò tham gia vào hoạt động của chủ thể cũng thay đổi khác nhau, nhưng đến nay chủ thể của hoạt đông thu thập chứng cứ không chỉ
có Tòa án hay chỉ các đương sự mà còn nhiều người khác như Tòa án (Thẩm phán và Thẩm tra viên), đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích của người khác, lợi ích công cộng, Viện kiểm sát Xuất phát từ vị trí, vai trò của những chủ thể này khi tham gia vào quá trình tố tụng là khác nhau nên vai trò của họ trong hoạt động thu thập chứng cứ cũng khác nhau Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng
dù trực tiếp hay gián tiếp thì hoạt động thu thập chứng cứ của các chủ thể này cũng phát sinh từ yêu cầu của đương sự
Thứ nhất, thu thập chứng cứ của đương sự và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
Đương sự là người có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập chứng cứ Điều này hình thành dựa trên quy định của nguyên tắc cơ bản trong tố tụng
dân sự: “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng
cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”
(Điều 6 BLTTDS 2015) áp dụng chung cho cả các cơ quan, tổ chức khởi kiện
Trang 39bảo vệ quyền lợi cho người khác Đương sự là người thu thập, cung cấp chứng cứ chủ yếu, Tòa án chỉ tham gia thu thập trong một số ít trường hợp Hoạt động xét xử các vụ án dân sự là hoạt động phát sinh trên cơ sở có sự tranh chấp quan hệ pháp luật nội dung gữa các bên có lợi ích tư đối lập nhau nhưng bình đẳng về địa vị pháp lý Do đó, khi bất kì một bên đương sự nào đề
ra một luận điểm cần phải đưa ra chứng cứ để chứng minh Hơn nữa, đương
sự là người hiểu hơn ai hết vấn đề mâu thuẫn của họ, họ cũng là người rõ ràng nhất tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ việc dân sự của mình là gì, có bao nhiêu và ở đâu
Việc thu thập chứng cứ là trách nhiệm của đương sự đối với yêu cầu của mình, họ có sự chủ động trong các hoạt động thu thập Tuy nhiên không thể nói là việc thu thập không có sự can thiệp của nhà nước bởi nếu không can thiệp sẽ gây ra tình trạng lộn xộn và đôi khi chứng cứ thu thập được không có giá trị pháp lý BLTTDS năm 2015 đã quy định đầy đủ các biện pháp và điều kiện để đương sự thực hiện quyền năng này Khi vi phạm các điều kiện do luật định thì chứng cứ do đương sự thu thập được cũng sẽ không được chấp nhận, tạo ra tính công bằng giữa các bên
Thu thập chứng cứ, giao nộp chứng cứ vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của đương sự, cũng như mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác nhằm chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Tuy nhiên, khi thực hiện hoạt động thu thập và giao nộp chứng cứ không thể tách bạch được đâu là quyền, đâu là nghĩa vụ, vì sẽ có nhiều trường hợp đương sự ỷ lại vào trách nhiệm của Tòa
án mà không hợp tác trong việc thu thập và giao nộp chứng cứ, hay cố ý giấu diếm những chưng cứ quan trọng có ảnh hưởng đến nội dung vụ án hoặc cũng
có thể hoàn toàn không biết được mình phải thu thập và giao nộp những chứng cứ gì, trên cơ sở đó khiến tòa án không thể tuyên bản án, quyết định đúng pháp luật và phù hợp với thực tế khách quan, phù hợp với lẽ công bằng
Vì vậy, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung các quy định về biện pháp thu thập
Trang 40chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức Đây là điểm mới của BLTTDS năm
2015 so với BLTTDS năm 2011 (sửa đổi, bổ sung) Việc BLTTDS năm 2015 xác định chủ thể trong điều luật này là cá nhân, cơ quan, tổ chức chứ không phải đương sự nhằm khẳng định các biện pháp thu thập chứng cứ quy định trong điều này được áp dụng ngay cả trước khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện và được tòa án ra thông báo thụ lý, trừ những trường hợp bộ luật có quy định cụ thể Các biện pháp thu thập chứng cứ được quy định tại khoản 1 Điều
sự, do đó khi thu thập chứng cứ là vật chứng thì phải thu thập những hiện vật gốc có liên quan đến vụ việc dân sự đó Khi thu thập các vật chứng, đương sự phải lập biên bản hoặc mô tả chi tiết hình thức và các tính chất lý hóa của vật, đặc biệt là các dấu vết thể hiện trên vật chứng đó
- Xác nhận người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng: Người làm chứng là những người biết được những thông tin liên quan đến vụ kiện nhưng lại không có quyền lợi, nghĩa vụ trong đó, vì thế lời khai của người làm chứng thường thể hiện được yếu tố khách quan hơn Trong quá trình tranh chấp và giải quyết các tranh chấp dân sự thì đương sự là người hiểu rõ nhất bản chất của vụ việc cũng như biết được những người chứng kiến
và làm chứng cho vụ việc, do đó hoạt động thu thập chứng cứ của đương sự cũng bao gồm cả việc xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng Xác nhận của người làm chứng có thể được ghi bằng văn bản, ghi
âm, ghi hình kèm theo văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu theo đúng quy định của pháp luật Trong trường hợp người làm chứng tự khai bằng văn bản thì cần xác nhận chữ ký để đảm bảo xác định chính xác chủ thể viết bản tự