Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận, những quy định của phápluật liên quan đến chứng minh trong tố tụng hình sự cùng với sự tổng kết thực trạnghoạt độn
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG THỊ MINH SƠN
HÀ NỘI - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Trúc Thiện
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7
1.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 7
1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 10
1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án 20
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINHTRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 25
2.1 Cơ sở phương pháp luận của chứng minh trong tố tụng hình sự. 26
2.2 Khái niệm, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa chứng minh trong tố tụng hình sự 30
2.3 Đối tượng chứng minh và giới hạn chứng minh trong tố tụng hình sự 44
2.4 Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự 55
2.5 Chứng minh trong các mô hình tố tụng và một số nước trên thế giới 66
Chương 3: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH ĐỒNG NAI 76
3.1 Quy định của pháp luật về chứng minh trong tố tụng hình sự 76
3.2 Thực tiễn chứng minh trong tố tụng hình sự tại tỉnh Đồng Nai 95
Chương 4: YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 119
4.1 Yêu cầu và các giải pháp nâng cao chất lượng chứng minh trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai……… 119
4.2 Các giải pháp bảo đảm thực hiện quy định của pháp luật hiện hành về chứng minh trong tố tụng hình sự 124
4.3 Tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật về chứng minh trong tố tụng hình sự 139
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4Cơ quan tiến hành tố tụng Hội đồng xét xử
Tiến hành tố tụng
Tố tụng hình sự
hình sự
Trang 5MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Chứng minh trong tố tụng hình sự là một trong những vấn đề lý luận quantrọng, cơ bản của tố tụng hình sự Mặc dù đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau vềchứng minh trong tố tụng hình sự nhưng phần lớn là nghiên cứu về đối tượng chứngminh trong tố tụng hình sự, quá trình chứng minh trong vụ án hình sự, nghĩa vụchứng minh trong tố tụng hình sự, quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự… Tuy nhiên, để giải quyết vụ án hình sự các cơ quan tiến hành tố tụng,người tiến hành tố tụng phải chứng minh làm rõ được sự thật của vụ án Vì khôngthể làm sáng tỏ tất cả mọi khía cạnh của vụ án hình sự mà chỉ có thể và chỉ cần làm
rõ những tình tiết có ý nghĩa pháp lý, những vấn đề cần thiết mà Bộ luật tố tụnghình sự quy định Muốn làm sáng tỏ những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ ánhình sự thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định được những chứng cứ cầnthiết theo đúng quy định của pháp luật
Xét về trình tự tố tụng chứng minh là phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá
và sử dụng chứng cứ trên cơ sở đó mới xác định được sự thật của vụ án Do vậy, cầnnhận thức đúng, đầy đủ và sâu sắc về nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, trên cơ
sở đó cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có cách nhìn và thái độ làm việckhách quan, toàn diện trong việc tìm kiếm, đánh giá chứng cứ Nhận thức đúng đắn
lý luận về chứng cứ bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng căn
cứ vào điều kiện cụ thể của vụ án để có quyết định chính xác trong những tìnhhuống giữa có tội và không có tội, áp dụng trách nhiệm hình sự hay miễn tráchnhiệm hình sự Để bảo đảm pháp chế và công lý, đòi hỏi người áp dụng pháp luậtphải có kiến thức pháp luật và hiểu biết đầy đủ, khách quan, toàn diện về các tìnhtiết của vụ án, nhân thân người phạm tội, đảm bảo cho việc chứng minh tội phạmđược khách quan, toàn diện, chính xác, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm,không làm oan người vô tội
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định chứng minh và chứng cứ thànhmột chương riêng, theo đó được quy định tại chương VI của Bộ luật Tuy nhiên,trong thực tiễn hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt trong giai đoạnhiện nay tình hình tội phạm rất phức tạp, phương thức và thủ đoạn gây án rất tinh vi,quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan có thẩm quyền tiếnhành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng giải quyết chưa triệt để, làmcho việc xác định sự thật khách quan vụ án còn có nhiều sai sót, dẫn đến việc
Trang 6điều tra, truy tố, xét xử không đúng người, đúng tội dẫn đếnnhiều trường hợp làmoan người vô tôi, bỏ lọt tội phạm.
Như vậy, xét từ góc độ quy định pháp luật, việc nghiên cứu chứng minhtrong tố tụng hình sự có ý nghĩa rất quan trọng là bảo đảm tốt hơn về quyền conngười, bảo vệ bên bị yếu thế và góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung và cải cách tư pháp nói riêng
Xét từ góc độ thực tiễn, việc thực hiện chứng minh trong tố tụng hình sự còn cónhững bất cập xuất phát từ việc chưa quy định cụ thể, rõ ràng giữa các chức năng buộctội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử dẫn đến tình trạng chồng chéo nhau, làmcho các chủ thể thực hiện chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, có sự đùn đẩy, né tránhtrách nhiệm Ngoài ra một nhân tố cũng không kém phần quan trọng đó là trình độchuyên môn của các chủ thể thực hiện các hoạt động chứng minh ngày càng được nângcao, nhưng thực tiễn trong những năm gần đây chất lượng giải quyết các vụ án hình sựvẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này bao gồm cảnguyên nhân chủ quan từ phía các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người cóthẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện chứng minh trong tố tụng hình sự và nguyênnhân khách quan từ chính các quy định của pháp luật hình sự
Đồng Nai là một trong những tỉnh có số lượng án nhiều chỉ đứng sau Tp HồChí Minh và Tp.Hà Nội vì tập trung nhiều khu công nghiệp, số lượng dân di cư lớn,tình hình an ninh trật tự cũng có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là tội phạm hình
sự xảy ra với tính chất, mức độ nguy hiểm cho cho xã hội ngày càng gia tăng.Việctiếp tục nghiên cứu chứng minh trong tố tụng hình sự là một nội dung hết sức quantrọng, có ý nghĩa to lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần bảo vệ quyền conngười, nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay Chính vìvậy, tác giả đã chọn đề tài “Chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễntỉnh Đồng Nai” làm luận án tiến sĩ luật học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận, những quy định của phápluật liên quan đến chứng minh trong tố tụng hình sự cùng với sự tổng kết thực trạnghoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng tạitỉnh Đồng Nai, luận án đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của phápluật tố tụng hình sự và các giải pháp khác nhằm bảo đảm và nâng cao hơn nữa chấtlượng chứng minh trong vụ án hình sự
Trang 72.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu như trên, nhiệm vụ đặt ra đối với luận án như sau:
những vấn đề liên quan đến chứng minh trong tố tụng hình sự, chỉ ra những điểm đãthống nhất, những điểm còn tranh luận chưa được giải quyết thấu đáo và nhữngđiểm luận án tập trung giải quyết
- Phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận về chứng minh trong tố tụng hình sự như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nội dung của chứng minh trong tố tụng hình sự
- Phân tích và làm rõ quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quacác thời kỳ, chỉ ra những bất cập và thiếu sót trong quy định của pháp luật tố tụnghình sự hiện hành của Việt Nam
nước trên thế giới về chứng minh trong tố tụng hình sự, chỉ ra sự tương đồng, khácbiệt và kinh nghiệm đối với Việt Nam
hình sự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhâncủa những vướng mắc trong thực tiễn chứng minh vụ án hình sự
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận về chứng minhtrong tố tụng hình sự, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam vềchứng minh trong tố tụng hình sự, có tham khảo luật tố tụng hình sự của nước ngoài
và thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về chứngminh trong tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian và thời gian, Luận án tập trung nghiên cứu thực tiễn chứng minhtrong các giai giai đoạn tố tụng do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án tiến hànhtrên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian từ năm 2008 đến năm tháng 6 năm 2019
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án nghiên cứu chứng minh trong tố tụng hình sự theo phương pháp liênngành khoa học xã hội và đa ngành, liên ngành luật học Trong luận án, tác giả chútrọng sử dụng phương pháp luận nghiên cứu sau:
Trang 8- Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử củachủ nghĩa Mác – Lênin cũng như các quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng
Hồ Chí Minh trong đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ quyền con người,quyền công dân trong tố tụng hình sự
-Luận án được hoàn thành dựa trên cơ sở lý luận nhận thức của Chủ nghĩaduy vật biện chứng để luận giải quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự, từ việcthu thập, kiểm tra cho đến đánh giá chứng cứ Với triết lý nhận thức là một quá trìnhvận động và phát triển không ngừng từ không biết cho đến biết, từ ít đến nhiều, từthấp đến cao, từ nông đến sâu để nắm được quy luật của sự vật và hiện tượng Vấn
đề này hoàn toàn phù hợp với việc chứng minh trong tố tụng hình sự
- Luận án sử dụng phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu lý luận luậthình sự, luật tố tụng hình sự làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá luật thực định vềhoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự
- Với lý luận về dấu vết trong khoa học điều tra tội phạm, đây là cơ chế hìnhthành chứng cứ trong vụ án hình sự mà các chủ thể có thẩm quyền cần phải nghiêncứu để có thể thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ một cách khách quan, toàndiện và đầy đủ nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khái quát, tổng hợp được sử dụng trong phần tổng quan tìnhhình nghiên cứu liên quan đến hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự nhằm hệthống hóa các công trình khoa học đã được công bố và phân loại theo nhóm côngtrình liên quan đến nội dung luận án
- Phương pháp phân tích được sử dụng trong hầu hết các nội dung đượcnghiên cứu trong luận án nhằm luận giải làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, làm rõquy định của pháp luật và từ đó đưa ra nhận xét, đánh gía mang tính kết luận đối vớitừng vấn đề hoặc từng nhóm vấn đề
- Phương pháp lịch sử được sử dụng trong việc nghiên cứuquá trình pháttriển của những quy định về hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự với sự thểhiện gắn kết và nối tiếp về thời gian nhằm đưa ra những minh chứng cho giá trị của
nó và việc kế thừa những quy định về hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự
- Phương pháp so sánh được sử dụng để tìm ra đặc điểm của hoạt độngchứng minh trong tố tụng hình sự so với tố tụng phi hình sự, tìm ra sự tương đồng
và khác biệt trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam với một số nướctrên thế giới và tiếp thu kinh nghiệm đối với Việt Nam
Trang 9- Phương pháp thống kê được sử dụng để đánh giá thực tiễn thực hiện quyđịnh của pháp luật về chứng minh trong tố tụng hình sự làm cơ sở cho việc chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của nó.
Tuy nhiên, tùy thuộc vào nội dung nghiên cứu trong từng chương mục của đềtài, luận án chú trọng lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp Vì vậy, để đạtđược mục đích nghiên cứu, tác giả kết hợp chặt chẽ các phương pháp trong quátrình nghiên cứu của toàn bộ nội dung luận án, đồng thời cũng xác định phươngpháp chủ đạo trong việc nghiên cứu từng nội dung trong từng chương, mục của luận
án nhằm làm rõ những vấn đề lý luận chung, những quy định của pháp luật tố tụnghình sự Việt Nam hiện hành và thực trạng chứng minh trong tố tụng hình sự
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Đề tài là một công trình nghiên cứu có tính hệ thống, toàn diện về chứngminh trong tố tụng hình sự Việt Nam mà cụ thể trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và gắnvới thời gian cụ thể từ năm 2008 đến tháng 6 năm 2019 Điểm mới của luận án đượcthể hiện chủ yếu ở các điểm sau:
- Về phương pháp tiếp cận:Bằng việc sử dụng phương pháp nghiên cứu đa
ngành, liên ngành luật học, đặc biệt là các phương pháp triết học pháp luật, phươngpháp duy vật biện chứng, luận án đã phân tích rõ khái niệm chứng minh, tráchnhiệm chứng minh, chủ thể chứng minh và đối tượng chứng minh trong pháp luật tốtụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai từ năm 2008 đến tháng 6 năm
2019 và tổng kết những kinh nghiệm chứng minh của các cơ quan tư pháp hình sựtại tỉnh Đồng Nai, đồng thời chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế từ việc áp dụngcác quy định pháp luật Tố tụng hình sự, đặc biệt là các quy định mới của BLTTHSnăm 2015 vào thực tiễn chứng minh của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử tại tỉnhĐồng Nai Qua đó làm cơ sở cho việc đưa ra các kiến nghị giải pháp nâng cao hiệuquả chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnhĐồng Nai nói riêng
- Về quan điểm tiếp cận:Với quan điểm tiếp cận tổng thể, toàn diện và đa
chiều về chứng minh trong tố tụng hình sự giữa quy định của pháp luật hiện hành vàthực tiễn chứng minh trong tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, nghiên cứutrách nhiệm chứng minh và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trongchứng minh tội phạm Luận án làm sáng tỏ quy định trách nhiệm chứng minh cũngnhư đối tượng chứng minh và nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự, đảm bảotốt hơn quyền con người, quyền công dân, tránh oan sai
Trang 10- Về tính tổng quát của luận án:Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu
về chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam, trên cơ sở phương pháp nghiên cứu
và cách tiếp cận, đặc biệt là trên cơ sở quy định của pháp luật tố tụng hình sự và quanghiên cứu thực tiễn để làm sáng tỏ, sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về chứng minh trong
tố tụng hình sự, qua đó phát hiện ra những nguyên nhân hạn chế, bất cập trong thựctiễn áp dụng Điều này có ý nghĩa to lớn trong việc xây dựng và hoàn thiện về mặt
lý luận mà trước hết là lý luận về chứng minh trong tố tụng hình sự
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lý luận: Luận án nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống
về chứng minh trong tố tụng hình sự ở nước ta Kết quả nghiên cứu của luận án gópphần xây dựng và phát triển hoàn thiện hơn lý luận về chứng minh trong trong tốtụng hình sự ở nước ta Luận án đưa ra được các luận cứ khoa học về nội dung, cácbước và các giải pháp về chứng minh trong tố tụng hình sự
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận án có thể được sử dụng trong công tác nghiên cứu của
các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật, các cơ quan bảo vệ pháp luật và có ý nghĩa lýluận và thực tiễn đối với chính các cơ quan tiến hành tố tụng và cũng là tài liệu thamkhảo trong quá trình xây dựng và sửa đổi Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự vàcác văn bản dưới luật góp phần làm phong phú và hoàn thiện hơn lý luận chứngminh trong tố tụng hình sự Việt Nam, nâng cao hiệu quả trong công cuộc cải cách tưpháp, đặc biệt là hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn tỉnh ĐồngNai trong thời gian tới
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận án được chia thành bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận về chứng minh trong tố tụng hình sự.Chương 3: Quy định của pháp luật về chứng minh trong tố tụng hình sự và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Đồng Nai
Chương 4: Yêu cầu và các giải pháp nâng cao chất lượng chứng minh trong tố tụng hình sự
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Khoa học luật tố tụng hình sự của pháp luật hình sự quốc tế và Luật tố tụnghình sự của nước ngoài luôn đảm bảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng và các chủthể tố tụng giải quyết vụ án một cách đúng đắn, tránh bỏ lọt tội, tránh oan sai Cụthể, có thể kể đến các công trình sau:
A Ia vu-sin-xky (1950), Teopия судебныx доказательств b советскомправе Nhà xuất bản Matxcơva, Lý luận về chứng cứ tư pháp trong pháp luật XôViết, (Bản dịch của Phòng tuyên truyền Tập san Tòa án nhân dân tối cao (1967).Trong cuốn sách này tác giả đã đưa ra khái niêm chứng cứ hình thức, nội dung và ýnghĩa lịch sử của chứng cứ hình thức; Những đặc điểm của hệ thống chứng cứ nướcAnh, chủ nghĩa hình thức của hệ thống chứng cứ hình thức nước Anh, những quytắc cơ bản của hệ thống chứng cứ nước Anh Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng: Thẩmphán phải được tự do đánh giá chứng cứ và không bị ràng buộc bởi những quy tắchình thức hoặc những điều kiện hình thức Chỉ có hệ thống chứng cứ nào lấynguyên tắc ấy làm điểm xuất phát thì mới có thể được coi là một hệ thống xứngđáng với sự nghiệp vĩ đại của việc thực hiện chức năng xét xử Luật chứng cứ XôViết dựa trên nguyên tắc ấy Nó tuân theo những yêu cầu của pháp chế XHCN vàchức năng xét xử XHCN [120, tr 204] Phương pháp biện chứng Mác – Xít trongluật chứng cứ Xô Viết là sự nghiên cứu toàn bộ tình hình cụ thể của sự biến và sựphát triển của sự biến [120,tr.343] Pháp luật Xô Viết bác bỏ phương pháp pháp lýhình thức là một phương pháp không khoa học và có hại, là một phương pháp làmtrở ngại hoặc hoàn toàn mất khả năng xác định sự thật trong tố tụng, sự thật ấy làmục đích cơ bản của toàn bộ trình tự tố tụng [120, tr351] Sẽ là sai lầm, nếu quy quátrình chứng minh về tố tụng thành quá trình tư duy logic hình thức thông thường.Ngoài ra, tác giả còn phân tích trách nhiệm chứng minh trong tố tụng hình sự cũngnhư phân loại chứng cứ và nguồn chứng cứ
Báo cáo nghiên cứu của PhápJean-Philippe Rivaud (2011), Hệ thống tư pháphình sự của Pháp, Paris Trong bài viết của mình, tác giả có bàn về vấn đề thu thậpchứng cứ Theo đó, trước khi mở phiên tòa, chứng cứ cần thiết phải được Thẩm phánđiều tra (người có trách nhiệm chỉ đạo và hướng dẫn cảnh sát) hoặc do Công tố
Trang 12viên chỉ đạo lực lượng cảnh sát thu thập đầy đủ.Người bị hại cũng có quyền thu thậpchứng cứ và đề nghị Thẩm phán điều tra hoặc Công tố viên truy tố vụ án Trong quátrình điều tra, bị can và nguyên đơn có quyền đề nghị Thẩm phán điều tra nhữngđiểm mà họ thấy cần thiết, Thẩm phán phải đáp ứng đề nghị đó, nếu Thẩm phán từchối bị can hoặc nguyên đơn có quyền khiếu nại tới bộ phận phụ trách phúc thẩmcủa các Thẩm phán điều tra.Cũng cần phải khẳng định tầm quan trọng của cácchứng cứ khoa học hình sự do các chuyên gia đã được cơ quan công tố hoặc Thẩmphán điều tra, Tòa án mời giám định.
Trong tố tụng hình sự Pháp, trách nhiệm chứng minh sự thật hoàn toàn thuộc
về cơ quan công tố Nguyên tắc suy đoán vô tội được áp dụng, bị cáo không bị coi
là có tội cho đến khi Tòa có đủ chứng cứ để tuyên người đó có tội
Theo quy định tại Điều 427 của Bộ luật tố tụng hình sự, mọi hình thức chứng cứđều được Tòa án chấp nhận, trong đó những hình thức chứng cứ được pháp luật côngnhận bao gồm: Các tài liệu (biên bản ghi lời khai, văn bản có công chứng, tài liệu côngkhai…); Chứng cứ bằng lời nói của nhân chứng hoặc lời khai của bị can, bị cáo; Nhữngchứng cứ có thực: các đồ vật được mang ra trước phiên tòa; Các chứng cứ mang tínhkhoa học do cơ quan khoa học hình sự hoặc chuyên gia giám định xác nhận
Trong tố tụng hình sự Pháp không có sự phân loại chứng cứ rõ ràng Tố tụnghình sự Pháp không bám chặt vào khái niệm “chứng cứ cuối cùng” Tòa phải xemxét mọi chứng cứ bao gồm các chứng cứ mang tính tình huống để có thể có cơ sởvững chắc khi đưa ra phán quyết của mình
Giai đoạn tiền xét xử kết thúc khi hồ sơ vụ án đã hoàn thiện và có đủ chứng
cứ để truy tố vụ án ra tòa Nếu không vụ án sẽ bị hủy bởi Công tố viên hoặc Thẩmphán điều tra (“ordonnancedenon-lieu”)
Sách “Criminal proceduce-law and practice” của tác giả Rolando V.delcarmen Trường Đại học bang Sam Houston, được in tại Printed in the United states
of American Sách có 15 chương, nội dung chủ yếu quy định các quyền của người
bị buộc tội, các nguyên tắc cơ bản theo pháp luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ, tổng quan
về quá trình tư pháp hình sự và quy định các quyền cơ bản của bị cáo [126]
Sách: ‘‘Luật chứng cứ hình sự năm 1989 của Anh’’, bị cáo là nhân chứng củabên bào chữa, theo lý luận chứng cứ Anh có ý đồ chỉ giải đáp những vấn đề sau:Những sự việc như thế nào có thể chứng minh được (thema probanda, what factsmay anh what may not be proved in such cases) Những chứng cứ nào có thể dùng
Trang 13để chứng minh (what sort of evindence must be given of a fact which may beproved) Ai phải đề xuất chứng cứ hoặc ai phải chịu trách nhiệm chứng minh (bywhom anh in what manner the evidence must be produced, by which any fact í to beproved) [127].
Luật hình sự Anh có một nguyên tắc rất nổi tiếng là bị cáo được giả thuyết là
vô tội và bên công tố có trách nhiệm xóa hết mọi nghi ngờ để chứng minh bị cáo cótội, cơ quan công tố phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh tội của bị cáo Trong suốttrang sử của pháp luật hình sự Anh có một sợi chỉ vàng xuyên suốt đó là tráchnhiệm chứng minh có tội thuộc về cơ quan công tố, trừ trường hợp bị cáo trong tìnhtrạng tâm thần hoặc pháp luật có quy định khác
Tài liệu lịch sử Luật hình sự của Anh của Fitzjame Stephen đã lập luận: ‘‘xãhội ….là mạnh hơn cá nhân rất nhiều và có khả năng gây cho cá nhân nhiều thiệthại hơn là cá nhân có thể gây ra cho xã hội, vì vậy cần có sự khoan dung đối với cánhân’’[128,tr.354], thông qua việc giảm thiểu nguy cơ kết tội nhầm, trách nhiệmchứng minh của cơ quan công tố sẽ củng cố tính hợp pháp của hệ thống tư pháphình sự; nếu tính đến sự bất cân bằng về nguồn lực và kinh phí giữa một bên là nhànước và một bên là cá nhân thì bất cứ ai có chút đạo lý công bằng nào cũng thấyrằng cần phải cân đối lại cán cân này để mỗi cá thể khỏi thiệt thòi Trách nhiệmchứng minh còn thể hiện tính nghiêm túc của các bản án hình sự, do đó tăng thêmtính đạo đức, thậm chí là tăng cường hiệu lực răn đe
Tài liệu nghiên cứu về mô hình tố tụng hình sự của Hoa Kỳ của Richard S.Shine và Ở Mỹ có thủ tục cảnh báo Miranda: Người bị buộc tội không có tráchnhiệm chứng minh sự vô tội của mình Trách nhiệm chứng minh phải thuộc về vàchỉ thuộc về cơ quan buộc tội, người buộc tội Bản án phải dựa trên các chứng cứ đãđược xem xét tại phiên tòa, không một chứng cứ nào có giá trị tiên quyết, khôngđược dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng và những người thamgia tố tụng khác nêu ra nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó Chính
vì vậy, mô hình tố tụng hình sự Hoa Kỳ ưu tiên kiểm soát tội phạm đồng thời duy trìmột quy trình thủ tục công bằng [131]
Tài liệu nghiên cứu mô hình tố tụng hình sự của Nhật Bản của Giáo sưByung-Sun Cho: Theo mô hình tố tụng hình sự Nhật Bản thì quyền thu thập và đưa
ra chứng cứ thì nếu có điều kiện cần phải chứng minh, Tòa án phải chủ động thuthập chứng cứ nếu cần thiết Toàn bộ việc xét xử vụ án dựa vào câu hỏi trách nhiệm
Trang 14đưa ra chứng cứ thuộc về ai (Beweislast), khi vẫn còn nghi vấn thì phải tha bổngcho bị cáo đó là ý nghĩa của câu cách ngôn pháp lý ‘‘in dubio proreo’’, người bị tìnhnghi phạm tội phải được hưởng các cơ hội giống hệt với các cơ quan điều tra, đâygọi là nguyên tắc đối tụng công bằng (equality of arms) [132].
Tài liệu dự thảo báo cáo Nghiên cứu về Mô hình tố tụng hình sự ITALIA củatác giả Marco Fabria ngày 10/8/2011 đã đề cập đến địa vị tố tụng của người bị tìnhnghi, bị can, bị cáo và người bào chữa trong tố tụng hình sự Theo đó người bị tìnhnghi có quyền được suy đoán vô tôi cho đến khi chính thức kết án [140]
Tài liệu báo cáo nghiên cứu về mô hình tố tụng hình sự Hàn Quốc của Giáo
sư Byung-Sun Cho: Phương pháp tìm kiếm sự thật thì kết quả việc thu thập và trìnhbày chứng cứ về cơ bản là thuộc trách nhiệm của các bên
Các công trình nghiên cứu nêu trên là nguồn tham khảo hữu ích giúp chonghiên cứu sinh đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chứng minh trong tốtụng hình sựViệt Nam từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai
1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Chứng minh trong tố tụng hình sự đã được đề cập nhiều trong những năm gầnđây vànhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp thì chứng minh trong tố tụng hình sựđược xem như là một nhiệm vụ trọng tâm, luôn nhận được sự quan tâm của nhiềuchuyên gia, các nhà khoa học trên nhiều phương diện khác nhau về mặt lý luận cũngnhư thực tiễn Chứng minh trong tố tụng hình sự là một đề tài phức tạp cả về mặt lýluận và thực tiễn cần được nghiên cứu làm rõ, nhưng cho đến nay tài liệu nghiên cứu vềvấn đề này còn rất ít, các tác giả khi nghiên cứu chỉ đề cập ở một khía cạnh phạmvichứng minh hay quá trình chứng minh của một cơ quan tiến hành tố tụng
1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam
GS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2011) quyền con người, NXB khoa học xãhội, Hà Nội Về nguyên tắc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự là bảo vệquyền con người của tất cả những người tham gia tố tụng Tuy nhiên, tố tụng hình
sự trước hết phải hướng vào bảo đảm và bảo vệ công dân khỏi việc truy cứu tráchnhiệm hình sự không có cơ sở pháp luật, bảo đảm loại và mức hình phạt áp dụng đốivới họ là hợp lý, hợp pháp, phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hộicủa hành vi phạm tội và các điều kiện khác mà pháp luật quy định Nói cách khácbảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự là bảo vệ quyền con người của
Trang 15người bị buộc tội(người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) Đồng thời, tố tụng hình sự cònphải hướng vào bảo vệ quyền con người của người bị hại.[96.tr 215]
GS.TS Đỗ Ngọc Quang ‘‘Chứng minh và chứng cứ’’ sách những nội dungmới trong BLTTHS năm 2015 –NXB chính trị quốc gia-sự thật Hà Nội -2016.Chứng minh, chứng cứ trong tố tụng hình sự là một trong những chế định quantrọng xuyên suốt toàn bộ quá trình tố tụng kể từ khi khởi tố, điều tra đến truy tố, xét
xử vụ án hình sự Đối với bất kỳ vụ án hình sự nào, vấn đề đầu tiên đặt ra cho cácchủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác định được những vấn đề cần phảichứng minh trong vụ án hình sự để từ đó có hướng thu thập chứng cứ.[45]
GS.TSKH Đào Trí Úc ‘‘Hệ thống những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sựViệt Nam theo BLTTHS năm 2015, sách những nội dung mới trong BLTTHS năm
2015 – NXB chính trị quốc gia-sự thật Hà Nội -2016 Tác giả đã nêu lên vị trí, vaitrò của các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, phân tích những điểm mới, nộidung và ý nghĩa các nguyên tắc cơ bản trong BLTTHS năm 2015 .[92]
Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, Viện Thông tin khoa học xã hội (1981),Những vấn đề lý luận về luật Hình sự, Tố tụng hình sự và tội phạm học, Hà Nội.Ngoài việc nghiên cứu lý luận về chứng cứ trong tố tụng hình sự Xô Viết, một số tácgiả còn đề cập đến cơ sở phương pháp luận của quá trình chứng minh trong tố tụnghình sự, đối tượng chứng minh, giới hạn chứng minh cũng như một số phương phápphân tích và đánh giá chứng cứ.[93]
Trần Quang Tiệp (2011), Chế định chứng cứ trong tố tụng hình sự Việt Nam,Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Ngoài việc đưa ra khái niệm chứng cứ và
sự phân loại chứng cứ trong TTHS, tác giả cũng phân tích quá trình chứng minhtrong tố tụng hình sự Theo đó, quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự phải trảiqua những bước nhất định Đó là, phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ.Các bước của quá trình chứng minh có mối liên hệ biện chứng với nhau, bước nàytạo điều kiện cho việc thực hiện bước sau được thuận lợi và ngược lại, việc thựchiện không tốt thì dù chỉ một bước sẽ ảnh hưởng xấu tới các bước còn lại và toàn bộquá trình chứng minh.[66]
Quá trình chứng minh có các đặc điểm chung của quá trình nhận thức, nhưng
do phải chịu sự điều chỉnh của LTTHS, nên nó có những đặc điểm riêng như bị hạnchế về thời gian do pháp luật TTHS quy định Trong quá trình chứng minh cácCQTHTT phải ra những quyết định tố tụng nhất định để tạo điều kiện cho phát hiện,
Trang 16thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ Trong quá trình chứng minh cácCQTHTT chỉ được tiến hành các biện pháp do pháp luật TTHS quy định, quá trìnhchứng minh trong vụ án hình sự do người có thẩm quyền được pháp luật TTHS quyđịnh thực hiện.
Nguyễn Văn Cừ (2005), Chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nhàxuất bản Tư pháp, Hà Nội Nội dung đề cập đến một số vấn đề về chứng cứ tronglịch sử phát triển của LTTHS, cơ sở khoa học của chứng cứ trong TTHS Việt Nam,khái niệm về chứng cứ và các loại nguồn chứng cứ trong TTHS Việt Nam cũng nhưquá trình chứng minh trong tố tụng hình sự Theo tác giả, các cơ quan tiến hành tốtụng không trực tiếp quan sát được diễn biến của vụ án hình sự đã xảy ra Chứngminh sự thật của vụ án hoàn toán không có khả năng bằng cách tiến hành nhữngbiện pháp quan sát trực tiếp, bởi vì những vụ án đó đã xảy ra trong quá khứ so vớithời điểm tiến hành hoạt động điều tra Do đó, muốn ra quyết định giải quyết vụ ánthì CQTHTT phải xác định chứng cứ để qua đó biết những tình tiết của vụ án.Chứng minh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự là việc sử dụng các chứng cứ
để làm sáng tổ sự thật của vụ án hình sự Quá trình chứng minhlà quá trình nhậnthức các sự kiện, tình tiết của vụ án thông qua các chứng cứ, quá trình này phải tuântheo một trật tự theo quy định của luật tố tụng hình sự Việc tuân theo trật tự nàybảo đảm cho quá trình chứng minh được khách quan Xét về bản chất, hoạt độngchứng minh là cách thức dựng lại bức tranh thực tế của một hiện tượng đã xảy ratrong quá khứ, giải thích bản chấtvà soạn thảo những quyết định cần thiết đối vớihiện tượng đó [16, tr.165]
Đỗ Văn Đương (2006), Chứng cứ và chứng minh trong vụ án hình sự, Nhàxuất bản Tư pháp, Hà Nội Tác giả đã nghiên cứu các phạm trù chứng minh trong vụ
án hình sự là đối tượng chứng minh, phạm vi chứng minh, giới hạn chứng minh vànghĩa vụ chứng minh, cơ sở khoa học, cơ sở phương pháp luận và cơ sở pháp lý củathu thập, đánh giá chứng cứ trong vụ án hình sự Theo tác giả, quy luật về sự lặp lạicủa quá trình hình thành thông tin về tội phạm nói lên rằng, trong điều kiện và hoàncảnh giống nhau thì cùng một hành vi phạm tội sẽ hình thành nên những thông tingiống nhau [26, tr.30] Việc quán triệt đầy đủ các nguyên tắc biện chứng Mác – xíttrong hoạt động chứng minh không chỉ tạo điều kiện cho Điều tra viên, Kiểm sátviên, Thẩm phán có phương pháp, biện pháp đúng để nhận thức sự thật khách quancủa vụ án mà còn là tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng và hoàn thiện
Trang 17quy định của pháp luật về chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự nói chung[25 tr 67] Khoa học luật TTHS xem xét hoạt động chứng minh vụ án hình sự là mộtdạng nhận thức, cùng với việc tuân theo những quy luật nhận thức chung còn phảituân theo những quy luật nhận thức đặc thù, đó là hoạt động nhận thức sự thật vụ ándiễn ra trong sự ràng buộc, chế ước bởi các quy định của pháp luật, mà trước hết làquy phạm của luật TTHS điều chỉnh việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ[25 tr 69] Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ là những hoạt động chứng minhđược diễn ra trong suốt quá trình tố tụng.
Nguyễn Văn Du (2006), Đặc điểm của hoạt động chứng minh trong giai đoạnxét xử vụ án hình sự, Tập chí Nhà nước và Pháp luật số 8, Hà Nội Trên cơ sở kháiquát về hoạt động chứng minh trong TTHS, tác giả viết: Đặc điểm đặc trưng củaTTHS thể hiện ở chỗ các cơ quan và những người tiến hành tố tụng (Điều tra viên,Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm) đều là những người không được chứngkiến tội phạm xảy ra Họ cũng là những người không có lợi ích tác nhân liên quanđến vụ án đang giải quyết nhưng có trách nhiệm chứng minh tội phạm, tức là phảidựng lại toàn bộ bức tranh của tội phạm một cách toàn diện, khách quan và trungthực thông qua việc đánh giá toàn bộ chứng cứ, tài liệu về vụ án đã được thu thậptrong quá trình điều tra, truy tố và xét xử Tham gia vào quá trình này ngoài các chủthể THTT còn có các chủ thể khác là người tham gia tố tụng (bị can, bị cáo, ngườibào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự ) Toàn bộ hoạt động củacác chủ thể nêu trên nhằm dựng lại toàn bộ bức tranh về tội phạm được gọi là quátrình chứng minh Quá trình này chính là tổng hợp các hoạt động nhận thức (tư duy)của các chủ thể nhằm xác định đầy đủ giá trị chứng minh của các tài liệu, chứng cứ
về vụ án làm căn cứ cho việc giải quyết các vấn đề về vụ án Chứng minh trong tốtụng hình sự bao gồm hoạt động thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ.[18]
Hoạt động chứng minh trong giai đoạn xét xử có một số đặc điểm khác sovới các giai đoạn tố tụng trước đó là: Các chứng cứ về vụ án chủ yếu được cơ quanđiều tra và viện kiểm sát thu thập ở giai đoạn điều tra, truy tố Vì vậy, ở giai đoạnxét xử nói chung và tại phiên tòa nói riêng, hoạt động thu thập chứng cứ về vụ ánchỉ mang tính chất bổ sung theo yêu cầu của Tòa án hoặc theo đề nghị của các bên
Bùi Kiên Điện, Đánh giá chứng cứ trong tố tụng hình sự, Tạp chí Luậthọc.Trong bài viết, tác giả cho rằng, đánh giá chứng cứ không chỉ là nhiệm vụ củagiai đoạn xét xử mà còn là nhiệm vụ đòi hỏi phải được giải quyết ở các giai đoạn
Trang 18khác của quá trình tố tụng Khi đánh giá chứng cứ phải dựa trên các nguyên tắc nhấtđịnh Đó là, đánh giá chứng cứ phải dựa trên cơ sở của pháp luật, ý thức pháp luật
và niềm tin nội tâm Mục đích của việc đánh giá chứng cứ là rút ra các kết luận phùhợp về vụ án nói chung và các tình tiết cụ thể của nó phục vụ cho việc xử lý vụ ánđược khách quan, đúng pháp luật Sau khi đánh giá các tình tiết thu được từ góc độkhách quan, liên quan, hợp pháp của chúng, các chủ thể tiến hành tố tụng có thể xácđịnh được những tình tiết nào là chứng cứ của vụ án, những tình tiết nào không liênquan đến vụ án, trên cơ sở đó loại bỏ những tình tiết không có ý nghĩa đối với việcgiải quyết vụ án và tiến hành đánh giá về giá trị xác thực của từng chứng cứ cũngnhư tổng thể của nó.[20]
1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam
PGS.TS Nguyễn Hòa Bình ‘‘Bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tưtưởng xuyên suốt trong BLTTHS năm 2015’’ sách những nội dung mới trong BLTTHSnăm 2015 –NXB chính trị quốc gia-sự thật Hà Nội -2016 Bổ sung đầy đủ quyền củanhững người tham gia tố tụng, đề cao trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụngtrong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân Kiểm soát nghiêm ngặt việc ápdụng các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân, bảo đảm nguyên tắc suyđoán vô tội Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội [7]
PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn ‘‘Người tham gia tố tụng’’ sách những nộidung mới trong BLTTHS năm 2015 –NXB chính trị quốc gia-sự thật Hà Nội -2016.Tác giả đã phân tích về việc quy định bổ sung diện nhưng người tham gia tố tụng,
bổ sung quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng gồm nhóm người bịbuộc tội, nhóm người bị tội phạm xâm hại và những người có quyền, lợi ích liênquan đến vụ án Nhóm những người tham gia tố tụng khác(người làm chứng, ngườigiám định, người phiên dịch, người dịch thuật) Người bào chữa, người bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự….[58]
TS Phan Trung Hoài ‘‘ Bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bịhại, đương sự’’ sách những nội dung mới trong BLTTHS năm 2015 –NXB chính trịquốc gia-sự thật Hà Nội -2016 Tác giả đã phân tích một số nội dung mới liên quanđến chế định bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự trongBLTTHS năm 2015 [17]
Trang 19Nguyễn Kiều Vân (2014), Nghĩa vụ chứng minh tội phạm theo pháp luật tố tụnghình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Chiêm hóa, tỉnh Tuyên Quang, Luận văn thạc sĩ.[94].Nghĩa vụ chứng minh tội phạm thực chất là hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giáchứng cứ của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhằm giải quyết vụ án đúng đắn,khách quan, bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tộiphạm, không làm oan người vô tội Hoạt động này được tiến hành từ giai đoạn khởi tố
vụ án, điều tra, truy tố đến giai xét xử vụ án Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn khác nhau,nghĩa vụ chứng minh tội phạm được thực hiện bởi các chủ thể khác nhau Việc phâncông nhiệm vụ, quyền hạn giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án giúp tránh việcthực hiện nhiệm vụ quyền hạn chồng chéo nhằm giải quyết vụ án một cách khách quan,toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật.BLTTHS 2003 là căn cứ để các chủ thể có tráchnhiệm chứng minh tội phạm tiến hành các hoạt động chứng minh một cách hợp pháp vàđạt hiệu quả cao Tuy nhiên trong thực tế, việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh tội phạmcủa các chủ thể này còn bộc lộ nhiều thiếu sót, khuyết điểm, hoạt động chứng minhchưa được thực hiện đầy đủ dẫn đến việc ảnh hưởng tới chất lượng giải quyết vụ án Vìvậy, yêu cầu đặt ra là phải nâng cao hiệu quả thực hiện nghĩa vụ chứng minh trong tốtụng hình sự Để nâng cao hiệu quả của hoạt động này cần áp dụng đồng bộ nhiều giảipháp khác nhau nhằm hạn chế, khắc phục những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng trực tiếpđến hoạt động của các chủ thể, đồng thời phát huy các yếu tố tích cực đối với hoạt độngnày Đây là một nhu cầu cấp thiết và là tất yếu khách quan của quá trình phát triển xãhội ở nước ta góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạnhiện nay
Nguyễn Minh Ngọc (2014), Quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự,Luận văn thạc sĩ, Hà Nội [40] Ngoài việc đưa ra khái niệm, mục đích, ý nghĩa củaquá trình chứng minh, luận văn cũng đã nêu được thực trạng tình hình chứng minhtrong TTHS nói chung và một số giải pháp nâng cao hiệu quả chứng minh trong tốtụng hình sự Từ thực tiễn tố tụng và qua quá trình tổng kết, luận văn cũng chỉ ramột số nguyên nhân chủ quan và khách quan cơ bản của những thiếu sót, tồn tạitrong thực tiễn chứng minh vụ án hình sự, đó là: Trình độ chuyên môn của Điều traviên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm các cấp còn hạn chế; không nắm vữngcác quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chứng cứ và chứng minh cũng nhưcác quy định của BLHS ở phần chung và phần các quy định các tội phạm cụ thể;
Trang 20Không cập nhật các văn bản pháp luật kịp thời; kỹ năng nghiệp vụ còn hạn chế, yếukém; tinh thần trách nhiệm chưa cao, tác phong làm việc không khoa học.
Nguyễn Nhật Lệ (2014), Nguồn chứng cứ trong Pháp luật tố tụng hình sựViệt Nam, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội [34] Luận văn đã chỉ ra kết quả sử dụngnguồn chứng cứ trong các vụ án hình sự là: Các CQTHTT đã chủ động, tích cựctrong việc tìm kiếm chứng cứ, xác định sự thật khách quan của vụ án, kiểm soát vàkiềm chế sự gia tăng của tình hình tội phạm, bảo đảm giữ vững trật tự an toàn xãhội, bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân; tình hình thụ lý, xét xử các vụ ánhình sự có nhiều chuyển biến tích cực Đại đa số bản án tuyên đúng người, đúng tội,đúng pháp luật; phần lớn các vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng thì bị cáo đều nhậntội tại phiên tòa
Quách Trọng Sơn (2015), Đánh giá chứng cứ trong luật tố tụng hình sự ViệtNam, Luận văn thạc sĩ [59] Luận văn đã phân tích các quy định của BLTTHS năm
2003 về đánh giá chứng cứ và thực tiễn áp dụng Theo đó, kể từ khi BLTTHS năm
2003 có hiệu lực đến nay, việc áp dụng những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam
về chứng cứ để giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng đều đảm bảoxác định đủ và đúng các đối tượng cần chứng minh trong vụ án hình sự, xác định nguồnchứng cứ, các thuộc tính của chứng cứ và tuân thủ đúng các nguyên tắc, trình tự củaBLTTHS về thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, qua đó góp phần phát hiện tội phạm,xác định đúng người phạm tội, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tộiphạm, đem lại công lý, côn bằng xã hội, cũng như minh oan cho người vô tội
Nguyễn Thị Thu Phương (2015), Đánh giá chứng cứ trong Luật tố tụng hình
sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ [43] Luận văn tích chế định đánh giá chứng cứtrong LTTHS Việt Nam qua các thời kỳ Theo đó, trong buổi đầu sơ khai của phápluật TTHS, mặc dù đánh giá chứng cứ chưa được đề cập một cách cụ thể, rõ ràngnhưng thông qua các quy định của pháp luật, có thể thấy các nhà lập pháp đã rất coitrọng hoạt động đánh giá chứng cứ trong việc giải quyết vụ án hình sự
1.2.3 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp nâng cao chất lượng chứng minh trong tố tụng hình sự:
PGS.TS Trần Văn Hòa ‘‘Vấn đề chứng cứ điện tử’’ sách những nội dung mớitrong BLTTHS năm 2015 –NXB chính trị quốc gia-sự thật Hà Nội -2016 [32] Tácgiả đã phân tích điều kiện để dữ liệu điện tử có thể sử dụng làm chứng cứ, nguyêntắc, trình tự thủ tục thu giữ phương tiện điện tử, thu thập, giám định, phục
Trang 21hồi dữ liệu điện tử Những vấn đề phải chứng minh về giá trị chứng minh của dữliệu điện tử trước tòa Phân tích sự khó khăn trong việc thu thập, bảo quản, phụchồi, phân tích, giám định dữ liệu điện tử khó khăn trong việc điều tra, truy tố và xét
xử tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông
PGS.TS Trần Đình Nhã ‘‘Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt’’ sách những nộidung mới trong BLTTHS năm 2015 –NXB chính trị quốc gia-sự thật Hà Nội - 2016.[41] Tác giả nêu và phân tích các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt trong BLTTHSnăm 2015 về trường hợp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt Thẩm quyền,trách nhiệm quyết định việc áp dụng, thời hạn áp dụng Sử dụng thông tin, tài liệuthu thập được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, hủy bỏ việc áp dụng biệnpháp điều tra tố tụng đặc biệt
Khúc Thị Hoàng Hạnh (2010), Hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụnghình sự về thu thập chứng cứ Luận Văn thạc sĩ [28]Trên cơ sở phân tích chủ thể,nguyên tắc, mục đích, biện pháp và quá trình thu thập chứng cứ, tác giả đưa ra kháiniệm về thu thập chứng cứ theo quan điểm cá nhân của mình, theo đó: Thu thậpchứng cứ là quá trình phát hiện, ghi nhận, thu giữ, bảo quản chứng cứ do các chủthể có quyền và nghĩa vụ thực hiện trên cơ sở những nguyên tắc và bằng những biệnpháp được pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hình
sự Luận văn đã phân tích những đặc điểm của việc thu thập chứng cứ và thực tiễn
áp dụng trong các giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự về phạm vi chủ thể, biệnpháp thu thập, phạm vi thu thập và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định củapháp luật tố tụng hình sự về thu thập chứng cứ và một số biện pháp nâng cao hiệuquả thu thập chứng cứ
Nguyễn Đức Thọ, Thu thập chứng cứ trong Tố tụng hình sự Việt Nam - Một
số kinh nghiệm và đề xuất hoàn thiện [62].Vấn đề thu thập chứng cứ có ý nghĩa hếtsức quan trọng trong lý luận trong xây dựng BLTTHS và đóng vai trò đặc biệt quantrọng trong hoạt động điều tra tội phạm Việc xây dựng được bộ khung pháp lý chặtchẽ về thu thập chứng cứ tạo điều kiện cho quá trình thu thập chứng cứ trên thựctiễn được tiến hành thuận lợi, bảo đảm cho quá trình chứng minh tội phạm đượcnhanh chóng, khách quan góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.Bên cạnh đó cán bộ làm công tác thực tiễn hiểu vấn đề này một cách sâu sắc sẽ ápdụng pháp luật vào thực tiễn một cách chính xác, bảo đảm cho quá trình thu thậpchứng cứ để chứng minh tội phạm theo đúng trình tự thủ tục của luật định, bảo đảm
Trang 22giá trị thực tiễn và giá trị pháp lý của chứng cứ thu thập được trong quá trình chứngminh tội phạm Để đạt được mục đích của chứng minh trong TTHS thì cần mở rộngquyền thu thập chứng cứ của Luật sư.
Phan Văn Chánh, Nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử theo quy định của Bộluật Tố tụng hình sự năm 2015
Thứ nhất, trong hoạt động thu thập dữ liệu điện tử, trước hết, cơ quan cóthẩm quyền phải tuân thủ chặt chẽ những quy định tại Điều 88 và Điều 107 Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015 về thu thập chứng cứ nói chung và thu thập dữ liệu điện
tử nói riêng Bên cạnh việc bắt buộc việc tuân thủ các quy định của pháp luật, thìcần phải quán triệt những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn Từ thực tiễn điềutra tội phạm, có thể khái quát và rút ra căn cứ xác định phương hướng cho hoạtđộng thu thập dữ liệu điện tử là: (i) Phải xuất phát từ những thông tin, tài liệu,chứng cứ ban đầu về vụ án đã thu thập được, đây là cơ sở đầu tiên giúp cho cơ quan
có thẩm quyền xác định phương hướng thu thập dữ liệu điện tử; (ii) Xuất phát từquy luật dấu vết điện tử có điểm riêng biệt so với dấu vết hình sự khác, căn cứ vàonguồn gốc hình thành và đặc điểm của vật mang dấu vết điện tử (phương tiện điện
tử, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên đường truyền); (iii) Quy luật hoạtđộng của các đối tượng phạm tội đối với các hệ, loại đối tượng là khác nhau, chẳnghạn như: Quy luật hoạt động của các đối tượng sử dụng công nghệ cao xâm phạm
an ninh quốc gia sẽ có những điểm đặc trưng so với quy luật hoạt động của các đốitượng sử dụng công nghệ thông tin để hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản; (iv)Trình độ, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm của cán bộ điều tra trong điều tra, thuthập dữ liệu điện tử Với phương pháp thu thập dữ liệu điện tử cần sử dụng phối kếthợp cả phương pháp chung và phương pháp đặc thù, phương pháp truyền thống vàphương pháp hiện đại
Thứ hai, trong hoạt động kiểm tra, đánh giá, sử dụng chứng cứ thu được từnguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử phải tuân thủ quy định tại Điều 108 Bộ luật Tốtụng hình sự năm 2015, đảm bảo tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp,đồng thời phải tuân thủ tuyệt đối các nguyên tắc trong hoạt động đánh giá, sử dụngchứng cứ Quá trình đánh giá, sử dụng loại nguồn chứng cứ này không để gây ảnhhưởng xấu về an ninh chính trị, xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân,phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tính tối thượng của phápluật trong xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
Trang 23Thứ ba, dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ mới chính thức được quyđịnh trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan có thẩm quyền cần thốngnhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử bêncạnh nguồn chứng cứ truyền thống để đảm bảo không xảy ra tình trạng oan sai, bỏlọt tội phạm và cần nâng cao nhận thức về loại nguồn chứng cứ mới này.
Thứ tư, đầu tư phát triển đội ngũ chuyên gia phục vụ cho hoạt động thu thập
và giám định dữ liệu điện tử Nâng cao năng lực chuyên môn và trình độ khoa học
kỹ thuật của cán bộ điều tra chuyên trách ở các đơn vị và địa phương
Thứ năm, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động tìm kiếm,thu thập, sao lưu, phục hồi, giãi mã dữ liệu điện tử Với sự đầu tư của Nhà nước vềphương tiện kỹ thuật trong đấu tranh với tội phạm công nghệ cao và cũng đã cónhiều tiến bộ trong thu thập chứng cứ điện tử phục vụ điều tra hình sự, nhưng sựphát triển và thay đổi nhanh chóng của các loại phương tiện điện tử, thiết bị số đangđặt ra thách thức ngày càng lớn đối với kỹ thuật hình sự hiện nay
Thứ sáu, mối quan hệ phối hợp giữa các đơn vị, lực lượng có liên quan trong thuthập nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử Cơ quan điều tra là cơ quan chuyên trách, tuynhiên dữ liệu điện tử có thể được lưu giữ ở rất nhiều cơ quan khác nhau của bộ máynhà nước hoặc tư nhân… Khi có thông tin về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền cầnphối kết hợp kịp thời với các cơ quan có liên quan và các chuyên gia trong việc thuthập, phục hồi dữ liệu điện tử trong thời gian nhanh nhất, hiệu quả nhất để tránh các đốitượng phạm tội có thể xóa, sửa đổi hoặc các thủ đoạn khác che giấu dữ liệu điện tử
Thứ bảy, dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ phi truyền thống, tồn tại trên khônggian mạng, sự tồn tại đó có thể vượt ra khỏi phạm vi của một quốc gia và loại tội phạm
để lại dấu vết này cũng thường mang tính chất xuyên quốc gia Do vậy, cơ quan cóthẩm quyền cần tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh với loại tội phạm này,chẳng hạn như phối hợp với tổ chức cảnh sát hình sự quốc tế Interpol và cơ quan điềutra của các quốc khác khác nâng cao hiệu quả hợp tác, đào tạo, chia sẻ kinh nghiệmquốc tế trong thu thập, đánh giá, sử dụng nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử [14]
Nguyễn Xuân Thao (2015), Kiến nghị hoàn thiện quy định về đối tượng chứngminh trong Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi), Tạp chí Nghiên cứu pháp luật số 14 [61].Tác giả đã nêu lên những vấn đề lý luận về đối tượng chứng minh, chứng minh nhómtình tiết, sự kiện xác định tội phạm, chứng minh nhóm tình tiết, sự kiện để xử lý ngườiphạm tội, chứng minh nhóm tình tiết, sự kiện để giải quyết toàn bộ vụ án hình sự khách
Trang 24quan, công bằng, đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm, kiến nghị hoàn thiện cácquy định về những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự.
1.2.4 Nhóm các công trình nghiên cứu khác có liên quan
Ngoài những công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp tới nội dung luận
án Theo tác giả được biết thì còn một số các công trình khác không liên quan trựctiếp đến nội dung luận án nhưng có liên quan ở một mức độ nhất định mà tác giả sẽ
sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình hoàn thành luận án của mình Cụ thểlà:Luận văn Thạc sĩ luật học với đề tài: Chứng minh trong tố tụng hình sự của tácgiả Vũ Văn Anh, Hà Nội năm 2013; Luận văn thạc sĩ: Quá trình chứng minh tronggiai đoạn điều tra vụ án hình sự của Nguyễn Thanh Hòe năm 1997; Luận văn thạc sĩcủa tác giả Tô Hữu Thông bảo vệ năm 2004 với đề tài: Đối tượng chứng minh trong
tố tụng hình sự;Luận văn thạc sĩ với đề tài: Chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự’’ của tác giả Vũ Ngọc Hà, năm 2013; Đề tài nghiên cứu khoa học cấptrường với đề tài: Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự” của Trường Đạihọc luật Hà Nội năm 2013 đề tài có nhiều bài viết của các tác giả gồm: Chứng cứ vànhững vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự củaCộng hòa liên bang Nga của tác giả Hoàng Văn Hạnh; bài viết: “Chứng cứ và quátrình chứng minh trong luật tố tụng hình sự Anh và Mỹ’’ của đồng tác giá HoàngXuân Châu và Vũ Hữu Công, bài viết: Chứng cứ và vấn đề chứng minh trong luật tốtụng hình sự Cộng hòa Pháp của tác giả Phạm Như Hưng, bài viết Quá trình chứngminh trong tố tụng hình sự của TS Hoàng Thị Minh Sơn ; Giáo trình Luật tố tụnghình sự Việt Nam của các cơ sở đào tạo luật như của GS.TS Võ Khánh Vinh (Chủbiên) (2002), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, HàNội; Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh,Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Đại học mở, Học Viện Tư pháp
1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước cóliên quan đến đề tài luận án ‘‘Chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam từ thựctiễn tỉnh Đồng Nai’’ tác giả luận ánđưa ra đánh giá, nhận xét của mình như sau:
1.3.1.Những vấn đề đã thống nhất mà luận án sẽ kế thừa và tiếp tục phát triển
Các công trình nghiên cứu nước ngoài đã cung cấp cho tác giả sự nhận thức vàcách nhìn tổng quát về chứng minh tội phạm ở một số nước và châu lục trên thế giới,đồng thời nhận thấy các giải pháp mà các quốc gia này áp dụng khi chứng minh tội
Trang 25phạm Tuy mỗi quốc gia có những đặc điểm về truyền thống, dân tộc, kinh tế xã hội vàchế độ chính trị khác nhau nhưng tổng quan các tài liệu này cho phép tác giả có cơ sởkhái quát về chứng minh tội phạm một cách đa chiều có tính so sánh, đối chiếu.
Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng đối với luận
án, các công trình đã tổng hợp, phân tích đầy đủ về thực trạng chứng minh trong tốtụng hình sự Việt Nam Quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về chứng minh,các công trình nghiên cứu của các tác giả trước đã giúp cho tác giả nhận thức đầy
đủ, sâu sắc hơn về chứng minh trong tố tụng hình sự và qua đó phát hiện những hạnchế bất cập ở các giai đoạn lịch sử khác nhau trong việc xây dựng pháp luật tố tụng,
từ đó giúp tác giả xem xét kế thừa các giải pháp đó trong sự phát triển
Chứng minh trong tố tụng hình sự là quá trình nhận thức về vụ án hình sựđược các chủ thể của các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhằm xác định sự thậtkhách quan của vụ án Đó là việc làm rõ các sự kiện pháp lý do hành vi vi phạmpháp luật, các tình tiết khác liên quan đến vụ án để làm rõ tính chất, mức độ qua đóxác định trách nhiệm của người đã thực hiện hành vi phạm tội hoặc thông qua đókhẳng định tội phạm không được thực hiện trong thực tế, người bị truy cứu tráchnhiệm hình sự không có lỗi Điều đó cho thấy hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giácác chứng cứ do các chủ thể tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của BLTTHSViệt Nam là rất quan trọng và hoạt động đó được xem là một quá trình nhận thứcnhằm tìm ra sự thật khách quan của vụ án hình sự
Các công trình nghiên cứu nói trên đã nghiên cứu và đề cập chứng minhtrong tố tụng hình sự dưới các góc độ khác nhau về lý luận và đều cho rằng, quátrình chứng minh trong tố tụng hình sự phải trải qua những bước nhất định Đó là,thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ
Quá trình này chính là tổng hợp các hoạt động nhận thức (tư duy) của cácchủ thể có thẩm quyền nhằm xác định đầy đủ giá trị chứng minh của các tài liệu,chứng cứ về vụ án làm căn cứ cho việc giải quyết các vấn đề về vụ án
Hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử có đặc điểmkhác nhau Hoạt động chứng minh trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự được tiếnhành công khai tại phiên tòa với sự tham gia đầy đủ nhất của các chủ thể tiến hành
và tham gia tố tụng hình sự
Trang 26Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về chứng minh trong TTHS nóichung chưa đầy đủ và còn bất cập Thực tiễn áp dụng còn nhiều hạn chế, vướng mắccần được khắc phục Cần có giải pháp hữu hiệu để nâng cao hơn nữa hoạt độngchứng minh trong tố tụng hình sự.
1.3.2 Những vấn đề chưa thống nhất còn tranh luận
Cũng với năm vấn đề đã thống nhất như tác giả đã nêu trong tiểu mục 2.3.1,tác giả thấy rằng còn một số điểm chưa được thống nhất trong các công trình nghiêncứu mà tác giả tham khảo Tuy nhiên, theo tác giả, sự khác nhau về quan điểm cũngnhư về cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu là vấn đề không thể tránh khỏi và đó cũng
là chuyên bình thường trong nghiên cứu khoa học
Qua nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả luận án nhận thấymột số vấn đề chưa thống nhất mà nghiên cứu sinh cần phải tiếp tục nghiên cứu vàlàm rõ trong luận án của mình Đó là những vấn đề sau :Trong giai đoạn khởi tố vụ
án hình sự có tiến hành các hoạt động chứng minh hay không Vấn đề này chưađược thể hiện rõ trong các công trình nghiên nói trên Tất cả các chủ thể có thẩmquyền tiến hành tố tụng đều là chủ thể chứng minh hay chỉ một số chủ thể nhấtđịnh; người tham gia tố tụng có là chủ thể chứng minh vụ án hình sự không.Chứngminh trong tố tụng hình sự chỉ bảo gồm các hoạt động thu thập, kiểm tra và đánh giáchứng cứ hay cả hoạt động sử dụng chứng cứ Đối tượng chứng minh trong các giaiđoạn khác nhau của tố tụng hình sự là giống nhau hay khác nhau
1.3.3 Những vấn đề luận án tập trung giải quyết
Trên cơ sở xác định đề tài luận án thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụnghình sự; kết quả đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong đó có những điểm đãđược thống nhất, những điểm còn đang tranh luận của các công trình đã được công bố;căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án, nghiêncứu sinh xin được tiếp thu, kế thừa những ưu điểm của các công trình đã được công bố,đồng thời tiếp tục làm rõ những vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc đã được nghiên cứu
có liên quan đến luận án nhưng chưa thấu đáo Cụ thể là:
Thứ nhất, trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp, tiếp thu những vấn đề lý luận về
chứng minh trong tụng hình sự nói chung cũng như trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự nói riêng, nghiên cứu sinh sẽ xây dựng những vấn đề lý luận về chứng minhtrong tố tụng hình sự như: Khái niệm chứng minh trong tố tụng hình sự; đặc điểm của
Trang 27hoạt động chứng minh trong các giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự và mối tươngquan giữa các giai đoạn; nội dung của hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự.
Thứ hai, trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, tác giả đánh giá và chỉ ra bức tranhtổng thể trong quy định của pháp luật về chứng minh trong tố tụng hình sự và làm
rõ những giá trị kế thừa của chế định này trong lịch sử lập pháp của nước ta
Thứ ba, trên cơ sở những yếu tố có ảnh hưởng đến chứng minh trong tố tụng
hình sự từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai; các số liệu thống kê về hoạt động chứng minhtrong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian
từ năm 2008 đến tháng 6 năm 2019 cùng với các công trình khoa học mà tác giảtham khảo, luận án làm rõ thực trạng chứng minh, chỉ ra những kết quả đạt được,những hạn chế vướng mắc và nguyên nhân của nó
Thứ tư, từ kết quả nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật
về chứng minh trong tố tụng hình sự và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh ĐồngNai, nghiên cứu sinh đề xuất một số giải pháp bảo đảm thực hiện tốt hơn nữa hoạtđộng chứng minh trong tố tụng hình sự Đó là giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy địnhcủa pháp luật tố tụng hình sự về chứng minh; giải pháp đối với các chủ thể có tráchnhiệm chứng minh; giải pháp đối với các chủ thể tham gia chứng minh và một sốgiải pháp khác
Kết luận chương 1
Chứng minh trong tố tụng hình sự là một trong những nội dung quan trọng đãđược ghi nhận trong Hiến pháp 2013 và đặc biệt là Bộ luật tố tụng hình sự năm2015.Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhất là trong giai đoạn hội nhập
và phát triển kinh tế của đất nước ta thì tình hình tội phạm diễn ra ngày càng đadạng, có tính chất phức tạp, thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội tinh vi, xảo quyệt,thì việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật về chứng minh trong tố tụnghình sự và thực tiễn vận dụng, áp dụng pháp luật trong thực tiễn cuộc sống, để trên
cơ sở đó đúc kết kinh nghiệm về mặt khoa học và thực tiễn, nhằm đưa ra những bảođảm và giải pháp để đảm bảo quyền con người, bảo đảm công bằng và công lý là rấtthiết thực và cần thiết Đặc biệt đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp của Đảng vàNhà nước ta trong giai đoạn hiện nay và bảo đảm hiệu quả trong công cuộc đấutranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.Chứng minh trong tố tụng hình sự
là vấn đề có rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong công cuộc đấu tranh phòng
Trang 28chống tội phạm, vì phải vừa đảm bảo về mặt trừng trị đúng người, đúng tội và đúngvới tính chất, mức độ hành vi phạm tội, giáo dục họ trở thành công dân tốt, vừakhông làm oan người vô tội, bảo đảm quyền công dân Vì vậy, chứng minh trong tốtụng hình sự với mục đích cuối cùng là nhằm giải quyết vụ án hình sự đúng quyđịnh của pháp luật, bảo đảm quyền công dân, quyền con người Việc nhận thức và
áp dụng pháp luật trong quá trình chứng minh có ý nghĩa rất quan trọng cả về mặtkhoa học và thực tiễn
Bởi tầm quan trọng của việc khảo cứu các công trình nghiên cứu liên quan đốivới việc thực hiện các nội dung của luận án, tác giả đã tham khảo các công trìnhnghiên cứu trong nước và ngoài nước để rút ra được những kinh nghiệm và phươngpháp nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận án của mình có hiệu quả
Đối với các công trình nghiên cứu trong nước chỉ có các công trình nghiên cứu
ở các lĩnh vực khác nhau của chứng minh trong tố tụng hình sự, tác giả đã thamkhảo ở các cấp độ khác nhau, từ công trình nghiên cứu sách giáo trình, các bộ luật,các đề tài nghiên cứu khoa học…trong số những công trình nghiên cứu đó có nhữngnội dung liên quan trực tiếp đến đề tài, song có những công trình không liên quantrực tiếp nhưng lại có ý nghĩa ở phương diện cấp lý luận và phương pháp tiếp cậnnghiên cứu vấn đề dưới gốc độ tội phạm học và phòng ngừa tội phạm Chính nhờcác công trình nghiên cứu đó mà tác giả không những có được hiểu biết sâu hơn về
lý luận, về thực tiễn mà còn rút ra được cách tiếp cận nghiên cứu phù hợp để thựchiện các nhiệm vụ và mục đích mà luận án đã đặt ra
Qua tham khảo các công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước đã giúpcho tác giả định hướng được mục đích, nội dung, ý nghĩa và đặc biệt là định hướngnghiên cứu làm rõ chứng minh trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai.Khi nghiên cứu chứng minh trong tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Đồng Naitác giả đã nghiên cứu tìm những nguyên nhân thiếu sót và hạn chế, những biện phápkhắc phục những thiếu sót và hạn chế của các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàntỉnh Đồng Nai, để từ đó rút ra được những kiến nghị, giải pháp bảo đảm cho hoạtđộng chứng minh trong tố tụng hình sự nói chung và chứng minh trong tố tụng hình
sự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nói riêng Để đạt được mục đích như trên tác giả đãnghiên cứu và kết hợp những kiến thức, kinh nghiệm, cách tiếp cận nghiên cứu từcác công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước đã được tác giả tham khảonghiên cứu tại phần tổng quan của luận án
Trang 29Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINH
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 2.1 Cơ sở phương pháp luận của chứng minh trong tố tụng hình sự
Cơ sở, phương pháp luận của chứng minh trong tố tụng hình sự là quan điểmduy vật biện chứng của triết học học Mác - Lênin Nhờ có lý luận nhận thức củatriết học Mác – Lênin mà việc chứng minh trong tố tụng hình sự có được mộtphương pháp biện chứng thông qua việc áp dụng các phạm trù,các quy luật củaphép biện chứng duy vật và quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ Theo
đó, bản chất của thế giới là vật chất, con người có khả năng nhân thức được thế giớikhách quan Vật chất là thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức và được ýthức phản ánh Chứng cứ là một dạng vật chất nên nó cũng vận động và phát triểntheo đúng các quy luật của tự nhiên, quy luật của xã hội và tư duy Nội dung cơ bảncủa phép biện chứng duy vật gồm hai nguyên lý, ba quy luật và sáu cặp phạm trù
Tội phạm là một hiện tượng của thế giới khách quan luôn luôn vận động và biếnđổi không ngừng Những gì xảy ra từ hành vi phạm tội cũng không nằm ngoài quy luật
đó Chẳng hạn trong một vụ án giết người, khi khám nghiệm hiện trường cơ quan điềutra thu được một con dao do người phạm tội để lại có dính máu Nếu cơ quan điều trakhông thu giữ con dao một cách kịp thời và đưa đi giám định thì sẽ gặp khó khăn trongviệc xác định đó là máu của ai, dấu vân tay để lại trên cán dao? Bởi lẽ, vết máu này
sẽ khô dần và biến đổi trong một khoảng thời gian nhất định, dấu vân tay cũng cóthể mất đi do tác động của môi trường Xuất phát từ quy luật vận động của vật chấtnày mà pháp luật cần phải quy định trình tự, thủ tục thu thập, kiểm tra, đánh giáchứng cứ trong chứng minh vụ án hình sự phải được tiến hành trong một thời hạnnhất định để tránh sự biến đổi của vật chất từ dạng này sang dạng khác[59]
Lý luận nhận thức đặt nền tảng cho yêu cầu chứng minh, là nơi khởi nguồncủa phương pháp luận cho quá trình chứng minh trong việc nhìn nhận, xem xét sựthật, chân lý của vụ án hình sự Triết học Mác –Lê nin đã chỉ rõ: Chân lý là kết quảcủa quá trình nhận thức của con người Chân lý là khách quan, tính khách quan củachân lý thể hiện ở chỗ, nội dung phản ánh của chân lý là khách quan, tồn tại không
lệ thuộc vào ý thức của con người
Lý luận chứng minh dựa trên cơ sở phương pháp luận là phép biện chứng đòihỏi toàn bộ hoạt động chứng minh phải được tiến hành theo nguyên tắc khách quan
Trang 30và toàn diện Nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải xem xét sự vật từ bản thân sự vật,phản ánh sự vật một cách trung thực Nguyên tắc toàn diện yêu cầu phải xem xét sựvật trong tất cả các mặt, các mối liên hệ của nó cũng như tìm ra những mối liên hệbản chất để nhận thức đúng đắn sự vật, hiện tượng: ‘‘muốn thật sự hiểu được sự vật,cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và quan
hệ gián tiếp của sự vật đó Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàntoàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng
ta khỏi phạm phải sai lầm và sự cứng nhắc [118, tr.364] Từ những phương diện triếthọc, con người có thể nhận thức được tất cả nhờ sự hiểu biết sâu sắc các hiện tượng,
sự vật của thế giới khách quan Triết học Mác – Lê nin cụ thể là chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là chìa khóa của toàn bộ quá trình áp dụng
lý luận chứng minh trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Để xác định có tội phạm xảy ra hay không các cơ quan tiến hành tố tụng phảichứng minh các tình tiết thỏa mãn các dấu hiệu trong khái niệm tội phạm được quyđịnh trong Bộ luật hình sự, chứng minh họ có thuộc trường hợp được miễn TNHShay không, nếu không thuộc trường hợp được miễn thì phải chứng minh các tình tiết
là căn cứ quyết định hình phạt… do đó có thể khẳng định căn cứ, cơ sở của
chứng minh trong tố tụng hình sự chủ yếu là các khái niệm, các quy định của Bộluật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự Tuy nhiên không phải căn cứ vào tất cả cácquy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự mà chỉ căn cứ vào những quyđịnh nào liên quan đến việc chứng minh trong tố tụng hình sự
Học thuyết nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng được sử dụng như là
cơ sở phương pháp luận của chứng minh trong tố tụng hình sự với những quan điểm
cơ bản sau đây:
Một là, mọi sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan luôn luôn tồn tại
trong mối quan hệ qua lại và chịu sự tác động lẫn nhau Bằng sự tác động qua lại đó,
sự tồn tại của sự vật, hiện tượng này luôn để lại dấu vết ở sự vật, hiện tượng khác.Tội phạm là hành vi cụ thể của con người được thể hiện ra thế giới khách quan.Chính vì sự tồn tại khách quan mà tội phạm cũng để lại các dấu vết nhất định Bằngcách thu thập các dấu vết để lại và thông qua chúng con người có thể xác định được
sự thật khách quan của vụ án Căn cứ vào các đặc điểm hình thành và tồn tại củatừng loại dấu vết mà các nhà làm luật quy định trình tự, thủ tục thu thập, bảo quản,kiểm tra, đánh giá chứng cứ khác nhau để đảm bảo cho việc xác định sự thật
Trang 31khách quan của vụ án Ví dụ: Thủ tục thu thập vật chứng, chứng cứ vật chất (thôngqua thu giữ, khám nghiệm ) khác với thu thập chứng cứ phi vật chất (thông qua lấylời khai, cung cấp tài liệu, báo cáo ); thủ tục kiểm tra chứng cứ vật chất cũng cónhững điểm khác so với thủ tục kiểm tra chứng cứ phi vật chất v.v [88 tr 186];
Hai là, học thuyết về nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng
định, con người có khả năng nhận thức được mọi hiện tượng trong thế giới kháchquan Trên thế giới không có cái gì con người không nhận thức được, chỉ có nhữngcái con người chưa nhận thức được nhưng dần dần sẽ nhận thức được
Như vậy, khi một hành vi phạm tội xảy ra, thì dù người phạm tội có cố gắngdùng những thủ đoạn tinh vi để che dấu tội phạm thì chúng ta cũng có thể điều tra,khám phá và làm rõ được hành vi phạm tội
Ba là, học thuyết về nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng là cơ sở
phương pháp luận đặc biệt quan trọng trong lí luận về chứng cứ trong luật tố tụnghình sự nước ta Tinh thần cơ bản của học thuyết Mác-Lênin về nhận thức là “Từtrực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn -
đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thựckhách quan”[119]Từ nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) thu nhận các thôngtin về tội phạm, từ đó có sự kiểm tra, đánh giá thông qua tư duy của mình, ngườichứng minh có kết luận về các tình tiết nói riêng và về tội phạm nói chung Chứngminh trong tố tụng hình sự chính là nhận thức của con người về tội phạm như lànhận thức về một hiện thực khách quan và vì vậy cũng phải tuân theo quy luật nhậnthức đó của chủ nghĩa Mác-Lênin.[88, tr 187]
Trong tố tụng hình sự, phải nói rằng tội phạm là một hiện tượng xã hội có muônhình, muôn vẻ Tuy nhiên, các yếu tố có ý nghĩa pháp lí hình sự của một tội phạm lạiđược xác định rất cụ thể Căn cứ vào ý nghĩa pháp lí hình sự của tội phạm mà ngườilàm luật quy định đối tượng chứng minh, giới hạn các vấn đề chứng minh ở một phạm
vi nhất định Đó là sự việc phạm tội (bao gồm thời gian, địa điểm, hành vi), người thựchiện tội phạm, lỗi và động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹtrách nhiệm hình sự, các đặc điểm về nhân thân người phạm tội, thiệt hại do tội phạmgây ra, nguyên nhân và điều kiện phạm tội Như vậy, nhiệm vụ chứng minh trong tốtụng hình sự là rất cụ thể và được giới hạn trong phạm vi nhất định Vì vậy, từ góc độnhiệm vụ tố tụng đặt ra, có thể nói việc chứng minh trong tố tụng hình sự là xác định sựthật khách quan của vụ án Luật tố tụng hình sự nước ta quy định trong bất kì giai đoạn
Trang 32tố tụng hình sự nào, cơ quan có thẩm quyền cũng không thể quyết định giải quyếtthực chất vụ án nếu chưa xác định đầy đủ sự thật khách quan Trong các trường hợpnày, vụ án phải được điều tra bổ sung hoặc điều tra lại;[88, tr.188]Khi giải quyết vụ
án hình sự đòi hỏi chủ thể có thẩm quyền phải trên cơ sở xác định sự thật kháchquan của vụ án Chân lý được xác định trong chứng minh vụ án hình sự là chân lýkhách quan chứ không phải là chân lý tuyệt đối hay tương đối
Bốn là, theo học thuyết về nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì,
“nhận thức là sự phản ánh biện chứng, tích cực, sự phản ánh đó là một quá trình vậnđộng và phát triển không ngừng từ không biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từhiện tượng đến bản chất, từ thấp đến cao, từ nông đến sâu để nắm được bản chất củaquy luật, của sự vật và hiện tượng” Quy luật này cũng hoàn toàn phù hợp với chứngminh trong tố tụng hình sự Khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghịkhởi tố, cơ quan có thẩm quyền bước đầu mới chỉ biết được sự việc phạm tội xảy ranhưng bằng việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ trong quá trình tố tụng, cóthể biết được bản chất của vụ án đã xảy ra trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đềthuộc đối tượng chứng minh
Năm là, phương pháp biện chứng đặt nền móng cho việc áp dụng các quy
luật của phép biện chứng duy vật vào quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng
cứ Các nội dung quan trọng của phép biện chứng trong nhận thức như nguyên tắctoàn diện, đầy đủ, cụ thể, hệ thống đóng vai trò quan trọng trong quá trình chứngminh Phương pháp biện chứng của triết học Mác-Lênin được thể hiện tương đốiđầy đủ tại khoản 2 Điều 108 BLTTHS năm 2015: “Người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy
đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án”[88, tr 189]
Vì vậy, có thể khẳng định lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác –Lê nin là cơ
sở phương pháp luận của chứng minh trong tố tụng hình sự, cụ thể là lý luận nhậnthức của chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng, thông qua việc áp dụng cáccặp phạm trù cơ bản và các quy luật của phép biện chứng duy vật vào việc chứngminh trong tố tụng hình sự là điều kiện tiên quyết bảo đảm việc điều tra, truy tố vàxét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật
2.2 Khái niệm, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa chứng minh trong tố tụng hình sự
2.2.1 Khái niệm chứng minh trong tố tụng hình sự
Chứng cứ và chứng minh là một trong những vấn đề quan trọng, mang tính lý
Trang 33luận phức tạp nhất trong tố tụng hình sự, nhưng hiện nay vấn đề này chưa đượcquan tâm, nghiên cứu nhiều và cũng chưa được giải đáp một cách thỏa đáng Vì vậy,trong lý luận cũng như trong thực tiễn còn nhiều tranh luận về vấn đề này.
Khái niệm chứng cứ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học khácnhau Trong TTHS, để xác định được tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tộicũng như những vấn đề khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, các chủ thể cóthẩm quyền có thể sử dụng những tình tiết đã biết trong mối liên hệ với tình tiết chưabiết nào đó Từ các tình tiết đã biết, các chủ thể chứng minh có thể kết luận về sự tồntại của tình tiết cần biết nhưng chưa biết Khi những sự kiện (thông tin, dấu vết) riêng
lẻ như vậy nằm trong mối liên hệ qua lại với nhau, thì sự kiện này là chứng cứ của sựkiện kia, tức là nó chứng minh cho sự tồn tại của sự kiện kia[ 88, tr 216]
Do không trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội nên cơ quan có thẩm quyền tiếnhành tố tụng chỉ dựa vào các thông tin liên quan đến đối tượng chứng minh đượcthu thập theo trình tự, thủ tục luật định để kết luận về các tình tiết nhằm giải quyếtđúng đắn vụ án[88, tr 216].Hay nói cách khác là phải dựa vào các chứng cứ đã thuthập được theo quy định của pháp luật để rút ra kết luận nhằm giải quyết vụ án.Theo nghĩa rộng, chứng cứ là một sự kiện được giả định là có thật, sự kiện ấyđược coi như một sự kiện đương nhiên làm lý do để tin tưởng để có hay không cómột sự kiện khác [123, tr 8] Theo quan điểm này chứng cứ là cái được xác địnhmột cách chủ quan, phụ thuộc vào ý chí của những người sử dụng chúng mà khôngquan tâm xác định tính khách quan của sự kiện dùng làm căn cứ để xác định sự kiện
có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án
Quan điểm khác lại cho rằng: Tất cả cái gì ở trong thế giới vật chất, tất cả cái
gì mà chứng ta có thể lĩnh hội được trong thế giới tinh thần, đều có thể trở thànhchứng cứ tố tụng [123] Quan điểm này không làm rõ được những đặc điểm bảnchất của chứng cứ
Hoặc, chứng cứ là cái để chứng minh sự tồn tại hay không tồn tại của một sựviệc liên quan đến vụ án Chứng cứ bao gồm: Lời khai người làm chứng, các tàiliệu, vật chứng…[125, tr.151] Quan điểm này đặc biệt nhấn mạnh đến tính hợppháp của chứng cứ
Trong TTHS Việt Nam, phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng là
cơ sở để xây dựng hệ thống lý luận về chứng Khái niệm về chứng cứ đã được chú ýđầy đủ đến các thuộc tính khách quan, tínhliên quan và tínhhợp pháp
Trang 34Tính khách quan của chứng cứ: Chứng cứ phải là những gì có thật, tồn tạibên ngoài, không phụ thuộc vào ý thức của con người V.I Lê nin: Người Mác xítchỉ có thể sử dụng để làm căn cứ cho chính sách của mình, những sự thật đượcchứng minh rõ rệt và không thể chối cải.
Tính liên quan của chứng cứ: Chứng cứ phải liên quan đến vụ án và để chứngminh những vấn đề cần phải làm sáng tỏ trong vụ án Vì nếu chứng cứ đó không có liênquan đến vụ án thì chứng cứ đó không có ý nghĩa cho việc chứng minh
Tính hợp pháp của chứng cứ: Chứng cứ phải là những gì có thật và có liên quan đến
vụ án, nhưng phải bảo đảm về mặt pháp lý Bảo đảm từ việc thu thập phải đúng trình tự thủtục, nguyên tắc đánh giá chứng cứ và bảo quản chứng cứ… tức là chứng cứ phải được thuthập, đánh giá đúng theo quy định của pháp luật thì mới có giá trị pháp lý
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng thì mọi tội phạm xảy ra trên thực tế, conngười đều có thể phát hiện, chứng minh được… Mọi sự vật đều có thuộc tính phảnánh, vì vậy hoạt động của con người, trong đó có các hành vi phạm tội đều để lạidấu vết trong thế giới khách quan Nếu thu thập đầy đủ, có hệ thống, đúng kỹ thuật,khoa học các dấu vết này, con người có thể nhận thức được diễn biến của hành viphạm tội đã xảy ra
Chứng cứ là phương tiện để xác định chân lý của vụ án hình sự Do vậy,trong quá trình chứng minh, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đúng đắn, xác địnhđược sự thật khách quan, để từ đó có cơ sở kết luận chính xác về hành vi phạm tội
đã xảy ra thì cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải có tài liệu,chứng cứ để chứng minh bản chất của người phạm tội Thông qua các tài liệu,chứng cứ các sự kiện thực tế được xác định, khẳng định và đồng thời cũng phủ định,loại trừ các sự kiện không xảy ra trong thực tế Vì vậy, chứng cứ có ý nghĩa rất quantrọng, là cơ sở, phương tiện duy nhất để chứng minh trong tố tụng hình sự
Bản chất của chứng cứ là thông tin xác thực về sự kiện thực tế có liên quanđến vụ án Do vậy, nội hàm của khái niệm về chứng cứ được xác định như sau:Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật tốtụng hình sự quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành viphạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác có ýnghĩa cho việc giải quyết vụ án Để làm sáng tỏ thêm nội hàm của khái niệm chứng
cứ từ đó có thể xác định được ngoại diên của khái niệm chứng cứ tức là những gìchứng cứ trong thực tế giải quyết các vụ án hình sự
Trang 35Khái niệm chứng cứ được thể hiện rõ nét nhất trong quy định tại Điều 86 củaBLTTHS năm 2015 Theo đó, chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự,thủ tục do pháp luật quy định được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành
vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trongviệc giải quyết vụ án Theo quy định này thì chứng cứ là phương tiện để chứng minhtội phạm, là phương tiện để xác định sự thật khách quan của vụ án
Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng muốn làm rõ được tộiphạm và người phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyếtđúng đắn vụ án thì phải dựa vào chứng cứ Quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giáchứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự chính là quá trình chứng minh trong
tố tụng hình sự
Chứng minh trong tố tụng hình sự là một vấn đề phức tạp, vừa mang tính lýluận, tính thực tiễn, đồng thời có tính quyết định trong việc xác định sự thật khách quancủa vụ án hình sự Việc nhận thức đúng và đầy đủ lý luận về chứng cứ nói chung trong
đó có chứng minh trong vụ án hình sự, sẽ bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tiếnhành tố tụng trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử được khách quan chính xác,không để lọt tội phạm, không làm oan, sai đối với người vô tội [129].Theo từ điển tiếngviệt, cụm từ ‘‘chứng minh’’ dùng để chỉ dạng hoạt động phổ biến của con người trongđời thường, ví dụ như chứng minh khi tranh luận trong các cuộc hội thảo, chứng minhkhi phát biểu bảo vệ quan điểm trên các diễn đàn… nhằm làm cho thấy rõ là có thật, làđúng bằng sự vật hoặc bằng lý lẽ [39, tr.192]
Chứng minh trong tố tụng hình sự cũng là một dạng hoạt động nhưng là hoạtđộng của những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, đó là hoạt độngmang tính pháp lý được điều chỉnh bằng luật tố tụng hình sự do chủ thể có thẩmquyền thực hiện thông qua hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ để làm
rõ những vấn đề thuộc đối tượng chứng minh của vụ án hìnhsự Chứng minh là việcxác định trên cơ sở của chứng cứ, tất cả những sự kiện, tình tiết có ý nghĩa đối vớiviệc giải quyết vụ án hình sự, việc thực hiện hoặc không thực hiện tội phạm, tính cólỗi hoặc tính không có lỗi của người này hay người khác trong việc thực hiện tộiphạm và tất cả những tình tiết khác xác định trách nhiệm của người thực hiện tộiphạm Nói cách khác, chứng minh là việc sử dụng các chứng cứ để làm sáng tỏ cáctình tiết của vụ án hình sự
Trang 36Do đó, để xác định một hành vi nào đó được thực hiện có phải là hành vinguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực tráchnhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền,thống nhất toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế,nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp phápcủa tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, cácquyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật
tự pháp luật xã hội chủ nghĩa hay không thì phải chứng minh
Là quá trình xác định sự thật của vụ án, chứng minh trong tố tụng hình sựthực chất là xác minh những sự việc có liên quan đến tội phạm đang được tiến hànhxem xét, khẳng định được rằng tội phạm đã xảy ra, xác định được người cụ thể đãthực hiện hành vi tội phạm và họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện Tất
cả các sự kiện và tình tiết của vụ án phải phù hợp với hiện thực khách quan Để làmđược điều đó, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải dựa vàochứng cứ Thông qua chứng cứ, kiểm sát viên thực hành quyền công tố trước Toà ánđưa ra lời buộc tội đối với bị cáo, còn người bào chữa và thân chủ của họ có thể bác
bỏ lời buộc tội hoặc đưa ra những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo
Trong tố tụng hình sự việc nghiên cứu, xác định các sự kiện, tình tiết của vụ
án được tiến hành trên cơ sở của các chứng cứ và chỉ bằng cách dựa vào các chứng
cứ mới làm sáng tỏ được những vấn đề cần chứng minh Thông qua việc phát hiệnchứng cứ, xem xét và ghi nhận chứng cứ về mặt tố tụng, kiểm tra tính xác thực củachứng cứ, đánh giá chứng cứ, cơ quan tiến hành tố tụng có thể nghiên cứu đầy đủ vàtoàn diện các tình tiết của vụ án, xác định sự phù hợp của chúng với hiện thực từ đótìm ra chân lý khách quan Như vậy, CMTTTHS thực chất là quá trình xác định sựthật khách quan của vụ án dựa vào những chứng cứ đã được thu thập, kiểm tra, đánhgiá theo quy định của pháp luật Có thể nói hầu hết mọi giai đoạn của tố tụng hình
sự đều được mở ra và kết thúc từ vấn đề chứng cứ Vì vậy, chứng cứ là một trongnhững vấn đề có vị trí đặc biệt quan trọng trong lý luận cũng như trong thực tiễn củahoạt động tố tụng hình sự Việc nhận thức đúng vấn đề chứng cứ sẽ là cơ sở lý luận,định hướng đúng đắn cho quá trình thu thập, nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá, sửdụng, chứng cứ
Chứng minh trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự là việc xác định trên cơ sởtất cả những sự việc, tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án hình sự Việc
Trang 37thực hiện (hoặc không thực hiện) tội phạm, tính có lỗi (hoặc tính không có lỗi) của
bị cáo trong việc thực hiện tội phạm cũng như tất cả những tình tiết khác xác địnhtrách nhiệm của người thực hiện tội phạm để áp dụng hình phạt và giải quyết cácvấn đề khác có liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự [29]
Khái niệm trên đây đã chỉ rõ được mục đích của việc chứng minh trong giaiđoạn xét xử là để áp dụng hình phạt và giải quyết các vấn đề khác có liên quan đếnviệc giải quyết vụ án hình sự.Những vấn đề cần phải chứng minh là việc thực hiện(hoặc không thực hiện) tội phạm, tính có lỗi (hoặc tính không có lỗi) của bị cáotrong việc thực hiện tội phạm cũng như tất cả những tình tiết khác xác định tráchnhiệm của người thực hiện tội phạm nhưng chưa chỉ rõ được chủ thể có trách nhiệmchứng minh, hoạt động chứng minh
Quá trình chứng minh vụ án hình sự là hệ thống các hành vi tố tụng hình sự
do các chủ thể tiến hành theo trình tự được Bộ luật tố tụng hình sự quy định nhằmthu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, qua đó làm rõ sự thật khách quan của vụ ánhình sự, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa.[40]
Quan điểm này đã khẳng định chứng minh là một quá trình và quá trình này
là tổng hợp các hành vi của chủ thể có thẩm quyền thực hiện theo quy định củaBLTTHS nhằm thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, qua đó làm rõ sự thật kháchquan của vụ án hình sự Tuy nhiên, quan điểm này chưa thể hiện cụ thể mục đíchcủa chứng minh là nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hình sự
Quá trình chứng minh là quá trình tư duy logic và thực tiễn của cơ quan vàngười có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụnghình sự để thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ nhằm giải quyết vụ án vụ án[88]
So với hai quan điểm trên thì quan điểm này thể hiện đầy đủ hơn nội hàm củakhái niệm chứng minh không chỉ dưới góc độ pháp luật, thực tiễn mà còn dưới góc
độ tâm lý học và logic học
Theo nghĩa chung nhất, chứng minh là một hình thức suy luận để khẳng địnhtính chân lý của một luận điểm nào đó, bằng cách dựa vào những luận điểm mà tínhchân lý đã được thực tiễn xác nhận.[151]Chứng minh là “xác định có căn cứ đúnghay sai, có hay không, dùng suy luận logic vạch rõ điều gì đó là đúng” [152].Chứngminh gồm có ba phần liên quan chặt chẽ với nhau: luận đề, luận cứ và luận chứng.Luận đề là phán đoán mà tính chân thực của nó phải chứng minh, là thànhphần chủ yếu của chứng minh và trả lời cho câu hỏi: Chứng minh cái gì? Luận đề
Trang 38có thể là một luận điểm khoa học, có thể là một phán đoán về thuộc tính, về quan
hệ, về nguyên nhân của một sự việc, hiện tượng của thế giới khách quan
Luận cứ là những phán đoán được dùng làm căn cứ để chứng minh cho luận đề.Luận cứ chính là tiền đề logic của chứng minh và trả lời cho câu hỏi: Dùng cái gì đểchứng minh? Luận cứ có thể là những luận điểm, những tư liệu đã được thực tiễn xácnhận, có thể là những tiền đề, định lý, những luận điểm khoa học đã được chứng minh.Luận chứng là cách thức tổ chức sắp xếp các luận cứ theo những quy tắc và quyluật logic nhằm xác lập mối liên hệ tất yếu giữa luận cứ và luận đề Luận chứng là cáchthức chứng minh, nhằm vạch ra tính đúng đắn của luận đề dựa vào những luận cứ đúngđắn, chân thực Luận chứng trả lời cho câu hỏi: Chứng minh như thể nào?[151]
Như vậy, trong tố tụng hình sự, việc xác định luận đề, luận cứ, luận chứng vàtrả lời cho câu hỏi: Chứng minh cái gì? Dùng cái gì để chứng minh? Chứng minhnhư thể nào? có vai trò quan trọng trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án
để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự
Từ sự phân tích trên có thể thấy, trong tố tụng hình sự, đối tượng chứng minhchính là nội dung cần được chứng minh Chứng cứ là phương tiện để làm rõ nhữngvấn đề thuộc đối tượng chứng minh Chứng minh trong TTHS là một quá trình tuânthủ quy định của BLTTHS về thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ
Hoạt động tố tụng của các chủ thể tố tụng tiến hành theo quy định của phápluật nhằm tìm ra sự thật khách quan, tìm ra chân lý của vụ án hình sự được gọi làchứng minh
Chủ thể có nghĩa vụ chứng minh: Chứng minh là hoạt động nhận thức chân
lý khách quan của con người nên ở phương diện chung nhất con người là chủ thểcủa hoạt động chứng minh Nhưng hoạt động chứng minh được tiến hành trongnhiều lĩnh vực của đời sống xã hội mà ở trong mỗi lĩnh vực chứng minh khác nhau
có một phạm vi những cá nhân con người cụ thể nhất định tham gia vào hoạt độngchứng minh đó, tức là hoạt động chứng minh trong mỗi lĩnh vực khác nhau thì cónhững chủ thể cụ thể khác nhau tiến hành hoạt động chứng minh
Việc xác định sự thật của vụ án là một nguyên tắc rất quan trọng của tố tụnghình sự, bảo đảm việc xử lý vụ án được công minh, không để lọt tội phạm đồng thờikhông làm oan người vô tội Để xác định sự thật của vụ án cơ quan có thẩm quyềntiến hành tố tụng phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp, tức là những biện phápđược Bộ luật tố tụng hình sự cho phép sử dụng như lấy lời khai, hỏi cung bị can,
Trang 39thực nghiệm điều tra… và không được dùng những biện pháp trái pháp luật để điềutra như bức cung, móm cung, dùng nhục hình ….Theo pháp luật tố tụng hình sựViệt Nam quy định chủ thể có nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự là cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong đó bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơquan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Theo đó, các chủ thểnói trên phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án mộtcách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội vànhững chứng cứ vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ tráchnhiệm hình sự của bị can, bị cáo Điều này được thể hiện rõ hơn trong quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 là: Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơquan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng khôngbuộc phải chứng minh là mình vô tội Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn củamình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợppháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm
rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tìnhtiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội
Chủ thể có quyền chứng minh: Những chủ thể tham gia vào hoạt động tố
tụng như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơndân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người bảo vệquyền lợi cho đương sự Đây không phải là chủ thể có nghĩa vụ chứng minh bởi họ
có thể là chủ thể có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải chứng minh hoặc chỉ thamgia chứng minh những tình tiết liên quan đến việc bào chữa cho bị can, bị cáo hoặcbảo vệ quyền và lợi ích cho đương sự, một số không có mục đích trực tiếp nhằmchứng minh các tình tiết liên quan đến vụ án mà chỉ tham gia tố tụng khi được cơquan tiến hành tố tụng yêu cầu Do đó, bị can, bị cáo, người bào chữa, bị hại,nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ngườibảo vệ quyền lợi cho đương sự có quyền đưa ra những chứng cứ để chứng minhnhững tình tiết của vụ án, đưa ra những yêu cầu và tranh luận tại phiên tòa Xét vềbản chất thì những người tham gia tố tụng này thông qua việc thực hiện các hành vi
đó để chứng minh vụ án Tuy nhiên, việc họ chứng minh được hiểu là quyền chứkhông phải là nghĩa vụ, vì vậy ngay cả khi những người này từ chối không thựchiện những quyền đó của mình thì các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải có nghĩa
vụ chứng minh Thực tiễn việc thực hiện quyền chứng minh của các chủ thể này lại
Trang 40không hề đơn giản vì chỉ mới là có quy định về mặt pháp luật nhưng chưa có được
sự hướng dẫn cụ thể do vậy rất khó khăn trong việc thực hiện quyền chứng minh, cụthể tại điểm i khoản 2 Điều 60 BLTTHS năm 2015 quy định cho bị can, bị cáo đượcquyền ‘‘đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan ….khi cóyêu cầu’’ hoặc quy định luật sư được quyền ‘‘thu thập đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồvật, yêu cầu’’ điểm h khoản 1 Điều 73 BLTTHS năm 2015…vấn đề đặt ra là đối với
bị cáo thì việc thực hiện quyền chứng minh của mình trong thực tiễn được thực hiệnnhư thế nào thì chưa được hướng dẫn cụ thể, bên cạnh đó quyền của người bào chữathì việc thu thập chứng cứ có được thực hiện ngang quyền giống như các chủ thểtiến hành tố tụng khác như điều tra viên và kiểm sát viên hay không thì thực tế việcthu thập chứng cứ của người bào chữa gặp không ít khó khăn và thu thập như thếnào được cho là hợp pháp hoặc khi thu thập không được các cơ quan liên quan cungcấp thì cũng chưa có chế tài quy định
Theo Điều 62 BLTTHS năm 2015 thì bị hại không chỉ là cá nhân mà còn là
cơ quan tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại
về vật chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín
do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra Do vậy, trong quá trình chứng minh bị hại cóquyền trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu đồ vật liên quan và yêu cầu người cóthẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá, quyền đề nghị giám định, định giátài sản, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người tham gia phiên tòa, tranh luậntại phiên tòa…Tôn trọng bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân đượcthể hiện rõ nét trong Hiến pháp năm 2013 Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp khẳng địnhnguyên tắc : Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người,quyền công dân ‘‘Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quyđịnh của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật
tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng’’ Nguyên tắc này đã thểhiện tư tưởng pháp quyền, đề cao trách nhiệm của Nhà nước trước nhân dân, đồngthời là cơ sở pháp lý cao nhất để mọi người và công dân bảo vệ và thực hiện quyềncon người, quyền công dân của mình
Như vậy, qua việc phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm chứng minh trong
tố tụng hình sự như sau:
Chứng minh trong tố tụng hình sự là hoạt động tư duy logic và thực tiễn của chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật được tiến hành bằng việc thu thập,