1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự việt nam

213 40 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 213
Dung lượng 18,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thực tiễn giải quyết các vụ, việc dàn sự những năm gần đây nhìn chung Tòa án nhân dân các cấp đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của hoạt động chứng minh, trách nhiệm xác minh ngh

Trang 2

NGUYỄN MINH HANG

c n íí BỊNII CHỨNG MINII TllONG TỐ TỤNG DÂN s ự VIỆT NAM• • •

C H U Y Ê N N G À N H LUẬT D Â N s ự

M Ã SỐ 62.38.30.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 PGS.TS PHAN HỮU THƯ

2 TS NGUYỄN NGỌC KHÁNH

T H J V I Ẹ N TRƯỜNG -)/ iiC '1 ■

I PHONG

HÀ NỘI - 2007

Trang 3

T ô i x in cam đoan đây là công trìn h n g h iên cứu của riêng tỏi

C ác sô liệu n êu tro n g lu ậ n án là tru n g thực N h ữ n g k ế t luận

k h o a học của luận án chư a từ n g được ai cô n g b ố tro n g bất

k ỳ cô n g trìn h nào kh á c.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

NGUYỄN MINH HẰNG

Trang 4

Trang pbiỊ bìa

Lời cam coan

Mục lục

Danh mụ: các chữ viết tắt

Vlở ĐẦU 1 :hương 1: VHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN c ơ BẢN VỂ CHẾ ĐỊNH CHÚNG

VIINH TRONG PHÁP LUẬT T ố TỤNG DÂN s ự VIỆT NAM 7

1.1 Chế iịnh chứng minh và cơ sở, phương pháp luận của chế định chứng minh

trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam 71.2 Đối ượng chứng minh trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt N am 131.3 Chủ ihể chứng minh và các quy định về quyền - nghĩa vụ chứng minh của các

chủ thể chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam 191.4 Chứng cứ - Vấn đề mấu chốt của hoạt động chứng minh trong Tố tụng dân sự

Việt Nam 40

thương 2: VỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG CHÚNG MINH TRONG TRONG

PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN s ự VIỆT NAM HIỆN HÀNH 71

2.1 Sự hhh thành và phát triển các quy định điều chỉnh về hoạt động chứng minh

trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam 712.2 Hoạt động cung cấp chứng cứ trong Tố tụng dân sự Việt Nam.! 862.3 Hoạt động thu thập chứng cứ trong Tố tụng dân sự Việt Nam 942.4 Hoạt động nghiên cứu chứng cứ - điểm tựa cơ bản cho việc giải quyết các vụ,

3.1 Thực tiễn áp dụng chế định chứng minh trong việc giải quyết các tranh chấp dân

sự, hcn nhân và gia đình tại các Tòa án Việt Nam 1343.2 Phươig hướng hoàn thiện chế định chứng minh trong Tố tụng dân sự Việt Nam 169

ÌKẾTLUẬN 196

Ị d a n h m ụ c c ô n g t r ì n h l i ê n q u a n đ ế n l u ậ n á n đ ã c ô n g b ố

IrÀI LIỆU THAM KHẢO

|pHỤ LỤC

Trang 5

Bộ luật Tố tụng dân sự

Hội đồng xét xử

H ôn nhân và gia đình

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động

Tòa án nhân dân

Tòa án nhân dân Tối cao

TA N D

TA N D TCTTDSUBND

VK S

X H CN

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, là công cụ thực hiện quyền lực của nhân dân Công cuộc đổi mới ngày càng được mở rộng, càng đòi hỏi bức bách phải xây đựng, kiện toàn bộ máy nhà nước vững mạnh, trong sạch, quản lý có hiệu lực và hiệu quả trong điều kiện mới, bảo đảm cho bộ máy nhà nước ta giữ vững bản chất cách mạng, thực sự là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Để thực hiện quyền làm chủ của nhân đân, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của người dân, bảo đảm kỷ cương xã hội, một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng được Đảng và Nhà nước đặt ra là phải từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hoàn thiện Pháp luật tố tụng dân sự nói riêng nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trên tất cả các lĩnh vực

Trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự, các chủ thể tham gia tố tụng phải căn cứ vào các chứng cứ để tranh tụng Các phán quyết của Tòa án phải dựa trên việc nghiên cứu phân tích và đánh giá chứng cứ một cách khách quan, đầy

đủ, toàn diện, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, nhằm mục đích giải quyết

vụ, việc dân sự một cách nhanh chóng và đúng pháp luật Trong thực tiễn giải quyết các vụ, việc dàn sự những năm gần đây nhìn chung Tòa án nhân dân các cấp đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của hoạt động chứng minh, trách nhiệm xác minh nghiên cứu, đánh giá chứng cứ từ đó làm tốt nhiệm vụ của mình, đồng thời đảm bảo cho các chủ thể tham gia tố tụng thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của họ nhằm mục đích giải quyết đúng đắn vụ, việc dân sự

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy tỷ lệ án bị hủy, bị sửa và qua nhiều cấp xét xử vẫn chiếm tỷ lệ khá cao Nguyên nhân của tình trạng này một phần cơ bản xuất phát từ việc chưa có sự nhận thức thống nhất, đúng đắn về vấn đề chứng cứ, chứng minh; chưa xác định đúng nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể chứng minh; hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu chứng cứ của các chủ thể chứng minh chưa đầy đủ, đánh giá chứng cứ chưa chính xác Những thiếu sót này được đề cập đến khá nhiều trong hầu hết các báo cáo công tác ngành Tòa án từ nhiều năm qua đặc biệt liên quan đến vấn đề thu thập và đánh giá chứng cứ Đây cũng là một

Trang 7

vấn đề gây nhiều trăn irở không chỉ đối với các nhà Lập pháp, nhà Nghiên cứu mà còn đối với các nhà Hoạt động thực tiễn nhằm tìm ra những giải pháp khắc phục.

Nhìn từ góc độ lịch sử, có thể nói vấn đề chứng cứ, chứng minh nói chung và hoạt tíộng chứng minh trong tố tụng dân sự nói riêng cho đến thời điểm trước khi ban hình Bộ luật tố tụng dân sự còn quy định rất đơn giản và có nhiều bất cập Đặc biệt, những vấn đề liên quan đến khái niệm chứng cứ, xác định chứng cứ, quyền - nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể chứng minh, cũng như trình tự thủ tục cung cấp, tiu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ hầu như chưa được pháp điển hoá trong các quy định của pháp luật Vì vậy, thực tiễn áp dụng Pháp luật tố tụng dân sự vào vệc giải quyết các vụ việc cụ thể gặp không ít khó khăn Bên cạnh đó, cùng với

sự phít triển của khoa học công nghệ, các giao dịch thương mại điện tử ngày càng trở nén phổ biến trên mạng internet, cũng giống như các giao dịch truyền thống, các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại điện tử mà các Tòa án sẽ phải giải quyết trong tương lai không xa là điều khó có thể tránh khỏi Điều này liên quan đến việc )ác định chứng cứ, chứng minh có sự tồn tại của các sự kiện, tình tiết làm cơ sở cho yìu cầu của đương sự và một loạt vấn đề khác cần phải được dự liệu và nghiên cứu C1 thể

Với Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 15/6/’004, chế định chứng minh đã được pháp điển hoá khá cụ thể trong luật và bắt đầu đ vào cuộc sống kể từ ngày 1/1/2005 Với hơn 2 năm, khoảng thời gian vẫn còn quá í để các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thực sự in được vào ý thức của các

cơ qian tiến hành tố tụng dân sự và người tiến hành tố tụng dân sự, đặc biệt là để có

sự th:y đổi trong nhận thức truyền thống về chứng minh nhằm loại bỏ trách nhiệm chứn; minh xưa nay Tòa án vẫn “gánh thay” nghĩa vụ chứng minh cho đương sự Bên íạnh đó, vì nhiều lý do khác nhau chế định chứng minh trong BLTTDS vẫn khôn; khỏi bộc lộ khá nhiều bất cập, chưa thực sự phù hợp với tình hình mới, bối cảnh mới - bối cảnh chủ động hội nhập kinh tế, quốc tế và việc Việt Nam đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO Thực tiễn áp dụng BLTTDS trong hơn 2 năm [Ua cũng cho thấy nhiều quy định chưa phát huy được hiệu quả trong thực tiễn xét Xf, nhiều trường hợp việc giải quyết vụ, việc dân sự của Tòa án bị bế tắc chỉ vì

Trang 8

các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề chứng minh còn chưa được đầy đủ, thiếu chặt chẽ, rõ ràng.

Chính từ thực trạng này đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc

và đầy đủ về chế định chứng minh nhằm hoàn thiện chế định chứng minh trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp cũng như những đòi hỏi cấp thiết của đời sống kinh tế, xã hội, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam

Với những lý do đó, việc nghiên cứu “C h ế đ ịn h chứng m inh trong T ố tụng dân sự Việt N am ” có ý nghĩa khoa học và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chế định chứng minh là một chế định khó và phức tạp Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến chế định chứng này ở những khía cạnh

khác nhau như: “Mộ? s ố vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật T ố tụng dân s ự ’ (Đề tài khoa học cấp Bộ, mã số 95-98-046/ĐT của Toà án nhân dân tối cao), luận văn của ThS Vũ Trọng Hiếu về “Chứng cứ và hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam” năm 1998, một số bài viết trên các tạp chí khoa học pháp lý như “Đánh giá chứng cứ trong một vụ kiện đòi nợ" (Tạ Ngọc Hải, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/1990), “Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chúTig minh trong tố tụng dân s ứ ' (Phan Hữu Thư, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 9/1998), “Đánh giá toàn bộ chứng cứ mới tìm ra bản chất sự việc” (Duy Kiên, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 1/2000), “Xác định địa vị tố tụng của đương sự và đánh giá chứng cứ trong vụ án dân sụ” (LS Nguyễn Thế Giai, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 9/2000), “Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự ' (TS Hoàng Ngọc

Thinh, Tạp chí Luật học, số đặc san góp ý dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự, tháng

4/2004), “Chứng cứ và chứng minh - Sự thay đổi nhận thức trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam ” (Tưởng Duy Lượng, Đặc san Nghề luật, số 10 tháng 01/2005)

ở những khía cạnh khác nhau, việc nghiên cứu lý luận về chế định chứng miah trong Pháp luật tố tụng dân sự đã được một số tác giả đề cập đến, tuy nhiên mci chỉ dừng lại ở từng mảng vấn đề cụ thể, tiếp cận dưới một vài góc độ của chế địrh chứng minh và chủ yếu khai thác nghiên cứu theo các quy định của Pháp lệnh

Trang 9

thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện, đầy đủ và đảm bảo được tính logíc, hệ thống về chế định chứng minh trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài

M ục đích của việc nghiên cứu đê tài là trên cơ sở việc nghiên cứu các quy

định của Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về chế định chứng minh cũng như thực tiễn áp dụng để làm sáng tỏ bản chất của hoạt động chứng minh trong quá trình giải quyết các vụ, việc dân sự; luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định chứng minh để hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam hiện nay

Đ ể đạt được m ục đích đó, Luận án đặt ra 3 nhiệm vụ cơ bản sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản, ý nghĩa phương pháp luận của chế định chứng minh trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam;

Nghiên cứu những quy định của Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về chế

định chứng minh {đặc biệt là các quy định về chứng minh trong BLTTDS Việt Nam)

để làm rõ và có nhận thức đúng đắn về vấn đề chứng minh, chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh; hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ trong quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết các vụ việc dân sự; phân tích thực trạng hoạt động chứng minh vụ kiện dân sự từ thực tiễn xét xử, nghiên cứu dưới góc độ so sánh với quy định của một số nước trên thế giới về vấn đề này và chỉ ra được phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về chế định chứng minh

- Nghiên cứu về thực trạng chứng minh và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện chế định chứng minh trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, cũng như những giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động chứng minh vụ, việc dân sự tại các Tòa án Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đôi tượng nghiên cứ u:

Các quy định của Pháp luật tố tụng dân sự về chế định chứng minh và việc áp dụng các quy định này tại các Tòa án Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu:

- Luận án nghiên cứu chế định chứng minh các vụ, việc dân sự theo quy định

Trang 10

của Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và trên cơ sở áp dụng chế định này trong thực iễn giải quyết các vụ kiện dân sự, hôn nhân gia đình Luận án không có tham vọng đi sâu phân tích việc áp dụng chế định trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp kinh ioanh, thương mại, lao động và việc giải quyết các việc dân sự, kinh doanh thươrg mại, lao động tại các Tòa án nhân dân.

- Luận án cũng có đề cập đến một số quy định về chứng minh trong Pháp luật

tố tụr.g dân sự của một số nước trên thế giới nhưng chỉ để đối chiếu, so sánh khi cần thiết nà không đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực này

5 Phương pháp nghiên cứu

- Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin

và tưtưcng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quản lý nhà nước, quản lý xã hội;

- Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu ìhu: Phân tích, tổng hợp, lôgíc, lịch sử, qui nạp, đối chiếu, so sánh, khảo sát thărr dè lấy ý kiến trong phạm vi những người làm công tác thực tiễn, sử dụng kết quả hống kê để làm sáng tỏ chế định chứng minh trong Pháp luật tố tụng dân sựViệtNam

6 Điểm mới và ý nghĩa của luận án

- Luận án là một công trình nghiên cứu đầu tiên, toàn diện, hệ thống và đảm bảo lưọc tính lôgíc các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng chế định chứng minl trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam;

- Làm rõ được vấn đề lý luận, cơ sở khoa học, cán cứ pháp lý của chế định chứig n in h trong Pháp luật tô tụng dân sự Xây dựng một hệ thống các khái niệm, quai điểm có tính khoa học về chế định chứng minh, khái niệm chứng minh, đối tượrg chứng minh và các hoat động hợp thành nội dung của hoạt động chứng minh

(hoự đòng cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ, nghiên cứu chứng cứ và đánh giá chứig cứ) chưa được đề cập đến trong BLTTDS; làm rõ được nội hàm của khái niệm

chứig cứ và mối liên hệ giữa chứng cứ với chứng minh trong Pháp luật tô tụng dân

sự Mệt Nam;

Trang 11

- Khái quát được nội dung, bản chất của chế định chứng minh theo Pháp luật

tố tụng dân sự Việt Nam; đặc biệt luận giải sâu sắc các vấn đề về quyền, nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể chứng minh; xác định rõ vai trò chứng minh, phạm vi nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể trong hoạt động tranh tụng tại phiên tòa;

- Phân tích đánh giá một cách chính xác, toàn diện và đầy đủ về thực trạng hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam trên cả phương diện điều chỉnh pháp luật và thi hành pháp luật Trên cơ sở phân tích làm rõ những điểm hợp

lý, bất hợp lý hoặc chưa đầy đủ của Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về chế định chứng minh, luận án đề xuất được một hệ thống các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định về chế định chứng minh cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động chứng minh các vụ, việc dân sự tại các Tòa án Việt Nam;

- Những kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện chế định chứng minh trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Luận án cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình giảng

dạy và học tập ở các Trường, Học viện chuyên ngành về luật; giúp cho cán bộ làm

công tác thực tiễn, các chủ thể tham gia tố tụng dân sự hiểu đầy đủ và sâu sắc về chế định này nhằm vận dụng đúng đắn các qui định của pháp luật khi áp dụng trong quá trình chứng minh vụ, việc dân sự theo Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

7 Cơ cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Luận án được kết cấu thành 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: N hữ ng vấn đề lý luận cơ bản về c h ế định chứng minh trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Chương 2: N ội dung của hoạt động chứng m inh trong Pháp luật tô' tụng dân sự Việt N am hiện hành

Chương 3: Thực tiễn áp dụng, phương hướng và kiến nghị hoàn thiện chề định chứng m inh trong T ố tụng dân sự Việt Nam

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN c ơ BẢN VỂ CHẾ ĐỊNH CHỨNG MINH

TRONG PHÁP LUẬT T ố TỤNG DÂN s ự VIỆT NAM 1.1 Chê định chứng minh và cơ sở, phương pháp luận của chế định chứng minh trong Pháp luật tô tụng dân sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm chê'định chứng minh

Về mặt lý luận, hệ thống pháp luật được chia ra các ngành luật Các ngành luật được chia ra các phân ngành luật và các chế định pháp luật Các phân ngành luật và các chế định pháp luật bao gồm các quy phạm pháp luật Trong khoa học pháp lý, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc dân sự được gọi là “Tố tụng dân sự” và tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tô tụng dân

sự thành một ngành luật được gọi là Luật tô' tụng dân sự “Luật tố tụng dân sự Việt Nam là ngành luật trong hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong tố tụng dân sự đ ể đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự nhanh chóng, đủng đắn, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và lợi ích của Nhà nước? [99, tr ll]

Như vậy, Tố tụng dân sự là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau như khởi kiện, lập hồ sơ, hòa giải vụ việc dân sự đến xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ việc dân sự và xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Quá trình giải quyết các vụ việc dân sự làm phát sinh các quan hệ khác nhau giữa Tòa án, Viên kiểm sát và những người tham gia tố tụng Điều chỉnh các quan hệ này, Pháp luật tố tụng dân sự có nhiều chế định khác nhau, trong đó chế định chứng minh là một chế định trung tâm

Chế định chứng minh trong tố tụng dân sự thực chất là một chế định của Pháp luật tố tụng về chứng minh Vì vậy, muốn tìm hiểu khái niệm chê định chứng minh trong tố tụng dân sự trước hết phải bắt đầu bằng việc làm sáng tỏ khái niệm chứng minh

Trang 13

Theo Từ điển tiếng Việt, cụm từ “chứng minh” dùng để chỉ dạng hoạt động phổ biến của con người trong đời thường (ví dụ như chứng minh khi tranh luận trong các cuộc hội thảo, chứng minh khi phát biểu bảo vệ quan điểm trên các diễn đàn )

nhằm “tóm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lể ' [102,

tr 192] Trong tố tụng dân sự, chứng minh cũng là một dạng hoạt động, nhưng không phải là hoạt động trong đời thường mà là hoạt động tố tụng, cụ thể là hoạt động sử dụng chứng cứ với mục đích khôi phục lại trước Tòa án vụ việc dân sự đã xảy ra trong những nét chính xác và tỷ mỉ nhất có thể có, qua đó Tòa án có thể khẳng định

có hay không có các sự kiện, tình tiết khách quan làm cơ sở cho yêu cầu hay phản đối của các bên đương sự trong vụ việc dân sự Tuy nhiên, hoạt động sử dụng chứng

cứ trong tố tụng dân sự không thể được tiến hành một cách tùy tiện theo ý chí chủ quan của Tòa án hay của các chủ thể tham gia tố tụng mà phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định của Pháp luật tố tụng dân sự về sử dụng chứng cứ thông qua các hoạt động

tố tụng cụ thể, bao gồm hoạt động cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ, nghiên cứu chứng cứ và đánh giá chứng cứ Tất cả các hoạt động này là các yếu tố hợp thành chứng minh hay nội dung của hoạt động chứng minh trong tô' tụng dân sự Nói một cách khác, trong TTDS chứng minh là hoạt động tố tụng trong đó các chủ thể tố tụng bằng những biện pháp do pháp luật quy định làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự

Như vậy, có thể hiểu: Chê định chứng m inh trong Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam là một nhóm các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa Tòa án, Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng dân sự trong hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vu việc dân sự.

Xuất phát từ khái niệm nêu trên, chúng tôi cho rằng, nghiên cứu chế định chứng minh trong tố tụng dân sự, chung quy lại, chính là nghiên cứu quy định của pháp luật tố tụng về nội dung của hoạt động chứng minh, bao gồm các hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ

Trang 14

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động chứng m inh trong tố tụng dân

sự Việt Nam

Hoạt động chứng minh là một hoạt động then chốt và quan trọng nhất được

chế định chứng minh điều chỉnh trong suốt quá trình tố tụng kể từ khi Tòa án thụ lý

giải quyết vụ việc dân sự cho đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật

của Tòa án

Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự được hiểu là: Tổng th ể các hoạt

động của Tòa án và các chủ th ể tham gia tố tụng trong việc cung cấp, thu thập,

nghiên cứu và đánh giá chứng cứ dựa trên quy luật của hoạt động nhận thức các

quy định của pháp luật nội dung, pháp luật tố tụng, tập quán và các tình tiết, sự

kiện cần chứng m inh và bằng niêm tin nội tâm của các chủ th ể chứng minh

trong m ỗi m ột quan hệ pháp luật dân sự cụ thể, nhằm m ục đích sử dụng chứng

c ứ đ ể xác định sự thật khách quan của vụ, việc dân sự.

Hoạt động chứng minh trong TTDS Việt Nam có các đặc điểm cơ bản sau:

- Hoạt động chứng minh là một quá trình nhận thức được diễn ra trong suốt

quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự gồm nhiều hoạt động khác nhau của các

chủ thể chứng minh Cụ thể, bao gồm: hoạt động cung cấp chứng cứ, thu thập chứng

cứ, nghiên cứu chứng cứ và đánh giá chứng cứ Dưới khía cạnh quá trình tô tụng, các

hoạt động này được phân ra làm các giai đoạn: giai đoạn cung cấp chứng cứ, giai

đoạn thu thập chứng cứ, giai đoạn nghiên cứu chứng cứ và giai đoạn đánh giá chứng

cứ Các giai đoạn của quá trình chứng minh tổng hợp thành một thể thống nhất trong

hoạt động chứng minh của Tòa án và những người tham gia tố tụng khác Xét trong

tính lôgíc các hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ có mối

quan hệ biện chứng với nhau, giai đoạn này là nền tảng của giai đoạn kia

- Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự được mở ra bắt đầu từ thời điểm

đương sự khởi kiện ra Tòa và Tòa án tiến hành các hoạt động thụ lý giải quyết vụ,

Mệc dân sự Hoạt động này khép lại bằng việc đánh giá sử dụng chứng cứ Các phán -quyết của Tòa án đối với yêu cầu của đương sự là kết quả của hoạt động này

- Hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ do các chủ Ithể chứng minh thực hiện phải tuân thủ theo đúng các quy định của Pháp luật tố

Trang 15

tụng dán sự nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ, việc dân sự Các giai đoạn

của hoạt động chứng minh có mối quan hệ khăng khít với nhau tạo thành một quá

trình thống nhất Giai đoạn trước là điều kiện, tiền đề cho giai đoạn sau, giai đoạn

sau kiểm tra giai đoạn trước, không có hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ thì

không có hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ Hoạt động đánh giá chứng cứ là

cơ sở để xác định kết quả, chất lượng của hoạt động thu thập, cung cấp, nghiên cứu

chứng cứ Việc phân chia hoạt động chứng minh thành các giai đoạn cụ thể nhằm

giúp định hướng những nhiệm vụ mà các chủ thể chứng minh phải giải quyết, hướng

tới mục đích cuối cùng là xác định chân lý khách quan, tạo cơ sở để giải quyết đúng

đắn vụ, việc dân sự

- Hoạt động chứng minh (hay chứng minh) thực chất là hoạt động sử dụng

chứng cứ thông qua các hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng

cứ Trong hoạt động cung cấp chứng cứ, đương sự sử dụng chứng cứ bằng cách áp

dụng những quy định của pháp luật về cung cấp chứng cứ Trong hoạt động thu thập

chứng cứ, Tòa án và các chủ thể tham gia tố tụng sử dụng chứng cứ bằng cách áp

dụng những quy định của pháp luật về thu thập chứng cứ Cũng như vậy, trong hoạt

động nghiên cứu và đánh giá chứng cứ, các chủ thể chứng minh sử dụng chứng cứ

bằng cách áp dụng quy định của pháp luật về nghiên cứu và đánh giá chứng cứ

1.1.3 Cơ sở phương pháp luận của c h ế định chứng m inh trong tố tụng dân

sự Việt Nam

Lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác-Lênin

thông qua việc áp dụng các cặp phạm trù cơ bản và các quy luật của phép biện

chứng duy vật là cơ sở của việc hình thành các quy định về chứng minh trong tố

tụng dân sự Việt Nam nói riêng và trong lĩnh vực tố tụng nói chung Sự thật khách

quan trong vụ, việc dân sự được nhận thức như chân lý, sự thật này đòi hỏi Tòa án và

những người tham gia tố tụng khác phải hoàn thành nhiệm vụ tố tụng của mình

trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ một cách khách quan,

đầy đủ, toàn diện và chính xác

Từ nguyên lý thế giới thống nhất ở tính vật chất, thế giới vật chất luôn vận

động và phát triển, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn có mối liên hệ phổ

Trang 16

biến tác động nhau, ràng buộc nhau, quy định và chuyển hóa lẫn nhau Phép biện

chứng duy vật đã chỉ ra: “Hết thảy mọi vật chất đều có đặc tính về bản chất gần giống như cảm giác, đặc tính phản ánh” [36, tr,104J Quá trình phản ánh các sự vật,

hiện tượng có thể tồn tại dưới hai dạng là phản ánh vật chất và phản ánh tinh thần

Sự phản ánh tổn tại khách quan đòi hỏi phải nhìn nhận sự vật, hiện tượng một cách toàn diện trong sự vận động, phát triển Chính lý luận nhận thức này đã tác động đến việc hình thành nên quan niệm về chứng minh và khoa học về chứng minh trong các loại hình tố tụng Để tìm hiểu tính chất các sự kiện, tình tiết của một vụ, việc dân sự

cụ thể khi có tranh chấp, việc sử đụng cặp phạm trù “tất nhiên và ngẫu nhiên” của phép biện chứng duy vật rất có ý nghĩa trong quá trình thu thập, cung cấp, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ “Tất nhiên” là sư xuất phát từ ngay bản chất cua sự vật, từ mối liên hệ bên trong của sự vật và trong những điều kiện nhất định nó đã xảy ra một cách khách quan “Ngẫu nhiên” xuất phát từ những mối liên hệ phụ thuộc từ bên ngoài, do đó nó có thể xảy ra và cũng có thể không xảy ra Cặp phạm trù tất nhiên - ngẫu nhiên” phản ánh mối liên hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả, giữa Ịcái tồn tại và cái phản ánh tồn tại là cái tất nhiên Quá trình chứng minh phải xác định được cái tất nhiên - hiện thực khách quan để loại trừ cái ngẫu nhiên nhămHàm sáng tỏ bản chất của tranh chấp

Có thể nói, toàn bộ quá trình chứng minh trong tố tụng dân sự là quá trình đi tìm chứng cứ để xác định sự thật khách quan về vụ, việc dân sự Việc chứng minh

<của các chủ thể tố tụng phải xuất phát từ việc nhìn nhận toàn diện về vụ, việc dân sự, xác định những vấn đề liên quan đến sự kiện, hiện tượng Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật phản ánh đặc trưng phổ biến của thế giới vật chất Mọi

sự vật hiện tượng luôn vận động, biến đổi không ngừng theo bản chất, mọi sự biến động, biến đổi của thế giới có xu hướng phát triển Vì vậy, phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ hữu cơ với nhau Khi nghiên cứu chứng cứ và đê đạt được mục đích cuối cùng là đánh giá chứng cứ, các chủ thể chứng minh phải phân tích, ngiiên cứu tình tiết, sự kiện trong mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác, phải xen xét tất cả các mặt, các yếu tố, các tình tiết, sự kiện có mối quan hệ gián tiếp, trung gian

Trang 17

của chứng cứ “Lôgíc biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật trong sự phát triển, trong sự tự thân vận động, trong sự biến đổi của nó” [34, tr.364] Quá trình chứng

minh là quá trình xác định các tình tiết, các sự kiện trong sự thay đổi, xảy ra một

cách khách quan Lý luận nhận thức đặt nền tảng cho yêu cầu chứng minh “xem xét

cụ th ể vấn đề cụ thể” [35, tr.32] Quan điểm lịch sử, cụ thể là kết quả trực tiếp của

sự vận dụng các nguyên lý, các cặp phạm trù và các quy luật của phép biện chứng duy vật, là cơ sở, phương pháp luận chung nhất trong hoạt động nhận thức và cải tạo

thế giới “Chân lý bao giờ cũng cụ thể, không có chân lý trừu tượng” [35, tr.72] Chủ

nghĩa duy vật biện chứng là nơi khởi nguồn của phương pháp luận cho quá trình chứng minh trong việc nhìn nhận, xem xét sự thật, chân lý của vụ, việc dân sự Triết học Mác - Lênin đã chỉ rõ: chân lý là kết quả của quá trình nhận thức của con người Song chân lý là khách quan, tính khách quan của chân lý thể hiện ở chỗ, nội dung phản ánh của chân lý là khách quan, tồn tại không lệ thuộc vào ý thức con người

và chân lý tuyệt đối v ề nguyên tắc, con người có thể đạt tới chân lý tuyệt đối, quá trình chứng minh vụ, việc dân sự sẽ và phải đạt tới chân lý đích thực của vụ, việc dân sự Quá trình nghiên cứu, đánh giá chứng cứ yêu cầu về chân lý bao giờ cũng phải cụ thể, không được áp dụng một cách máy móc

Việc vận dụng khái niệm chân lý khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng đối với sự nhận thức các sự vật, hiện tượng vào lĩnh vực nghiên cứu, giải quyết các vụ, việc dân sự là cơ sở hình thành quan niệm về chứng minh, các quy định về chứng minh trong Pháp luật tô tụng dân sự Việt Nam Theo đó, chân lý khách quan được hiểu là chân lý của sự kiện, được xác định thông qua việc áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đặc biệt là đánh giá chứng cứ theo một trình tự do luật định, đồng thời tuân thủ các quy tắc của pháp luật nhằm xác định sự thật khách quan của vụ, việc dân sự

Trang 18

Lý luận chứng minh dựa trên cơ sở phương pháp luận là phép biện chứng đòi hỏi loàn bộ hoạt động chứng minh phải được tiến hành theo nguyên tắc khách quan

và toàn diện Nguyên tắc khách quan đòi hỏi phải xem xét sự vật từ bản thân sự vật, phản ánh sự vật một cách trung thành Nguyên tắc toàn diện yêu cầu phải xem xét

sự vật trong tất cả các mặt, các mối liên hệ của nó cũng như tìm ra những mối liên

hệ bản chất để nhận thức đúng đắn sự vật, hiện tượng: “Muốn thật sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đả nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sai lầm và sự cứng nhắc” [36, tr.281 ] Từ phương diện triết học, con người có thể nhận thức được tất cả nhờ sự hiểu biết sâu sắc các hiện tượng,

sự vật của thế giới khách quan Triết học Mác - Lênin, cụ thể là chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng là chìa khóa của toàn bộ quá trình áp dụng

lý luận chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam

1.2 Đối tượng chứng minh trong Pháp luật tô tụng dân sự Việt Nam

1.2.1 Khái niệm đối tượng chứng minh

Theo từ điển tiếng Việt "Đối tượng là người, vật, hiện tượng mà con người nhằm vào trong suy nghĩ và hành động” [102, tr.328] Trong bất kỳ hình thức tố

tụng nào, đối tượng chứng minh luôn là những điều mà ngay từ đầu chủ thể chứng minh chưa biết và chúng chỉ được biết sau đó thông qua các sự kiện, tình tiết khác được xác định bằng chứng cứ Khi giải quyết vụ, việc dân sự Tòa án phải xác định được tất cả các sự kiện tình tiết liên quan đến vụ việc dân sự, đây chính là việc xác định đối tượng chứng minh Để giải quyết đúng đắn bất cứ vụ án nào Tòa án đều phải làm sáng tỏ tất cả các sự kiện pháp lý mà quy phạm pháp luật nội dung cần phải áp dụng liên quan đến những sự kiện đó Mục đích của hoạt động chứng minh

là đạt được sự khẳng định những vấn đề về nội dung của đối tượng chứng minh là đúng đắn và xác thực Trong tố tụng dân sự, đối tượng chứng minh là một vấn đề hết sức quan trọng giúp cho hoạt động chứng minh được tập trung Xác định đúng đối tượng chứng minh là cơ sở cho việc nhận thức đúng đắn vụ việc dân sự, là căn cứ định huớng cho quá trình chứng minh Với các vụ, việc dân sự cụ thể khác nhau thì

Trang 19

các sự kiện, tình tiết tạo thành đối tượng chứng minh cũng khác nhau Sự khác nhau này được xác định bởi nội dung yêu cầu hay phản đối yêu cầu của đương sự phía bên kia và các quy phạm pháp luật nội dung áp dụng để giải quyết vụ việc Tòa án cần căn cứ vào những quy định của pháp luật nội dung đối với từng loại quan hệ pháp luật tranh chấp để xác định những vấn đề cần phải chứng minh.

Đối tượng chứng minh là tổng hợp những sự kiện, tình tiết làm cơ sở cho yêu cầu của đương sự và những sự kiện, tình tiết khác có ý nghĩa đê giải quyết đúng vụ việc dân sự cần được xác định bằng chứng cứ trong quá trình giải quyết

vụ, việc dân sự.

Mỗi vụ kiện dân sự phát sinh tại Tòa án thưòng chứa đựng những mâu thuẫn nhất định giữa các bên đương sự nên rất phức tạp Để giải quyết được vụ, việc dân sự thì mọi vấn đề của vụ, việc dân sự đều phải được làm sáng tỏ trước khi Tòa án quyết định giải quyết vụ, việc dân sự Trong khoa học pháp lý các hoạt động tố tụng của các chủ thể tô tụng tiến hành theo quy định của pháp luật trong việc lam rõ các tình tiết sự kiện của vụ, việc dân sự được gọi là chứng minh trong tố tụng dân sự Để có

sự nhận thức thống nhất về bản chất của khái niệm đối tượng chứng minh trong tố tụng dân sự, trước tiên cần có sự phân biệt giữa “sự kiện” với “tình tiết” của vụ việc

dân sự Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học, tình tiết là “sự việc nhỏ có quan

hệ chặt ch ẽ trong quá trình diễn biến của sự kiện” [101, tr.963] và sự kiện là sự viêc có ý nghĩa ít nhiêu quan trọng đã xảy rà” [101, tr.846] Dưới lăng kính tô tụng,

sự kiện và tình tiết luôn gắn kết cùng nhau Các quan hệ pháp luật dân sự phát sinh, thay đổi hay chấm dứt do những sự kiện nhất định mà ngôn ngữ pháp lý gọi là sự kiện pháp lý Khi những sự kiện này xảy ra trong thực tế mà pháp luật dự liệu làm phát sinh các hậu quả pháp lý

V í dụ: A cho B vay tiền, hành vi cho vay của A đối với B làm phát sinh quan

hệ vay tài sản giữa A và B Nghĩa vụ của B trả tiền vay cho A được hình thành từ sự kiện vay nợ A được thực hiện quyển yêu cầu B thực hiện nghĩa vụ từ hợp đồng vay,

A phải chứng minh các tình tiết liên quan đến sự kiện vay làm phát sinh hậu quả pháp lý - nghĩa vụ của B trả tiền vay Các tình tiết bao gồm: tổng số tiền vay, thời

Trang 20

hạn vay, lãi suất, việc thực hiện nghĩa vụ của B những tình tiết này có mối quan hệ chặt chẽ với diễn biến của sự kiện vay nợ.

1.2.2 Nội dung của đối tượng chứng minh

Mỗi loại vụ, việc dân sự đều có một đối tượng chứng minh chung, xác định được đối tượng chứng minh cho mỗi loại vụ, việc dân sự sẽ là điều kiện quan trọng

để có thể giải quyết bất kỳ vụ, việc nào trong loại vụ, việc đó Với từng loại vụ, việc dân sự cụ thể, đối tượng chứng minh còn có những đặc trưng riêng phụ thuộc vào các tình tiết, sự kiện của từng vụ, việc cụ thể Nội dung của đối tượng chứng minh bao gồm tất cả những tình tiết, sự kiện pháp lý khác nhau mà các chủ thể căn cứ vào

đó đưa ra yêu cầu hay phản đối yêu cầu của người khác và những tình tiết, sự kiện

có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ, việc dân sự Đối tượng chứng minh của vụ, việc dân sự không chỉ bao gồm sự kiện có tính chất khẳng định mà còn bao gồm cả những sự kiện có tính chất phủ định

Muốn tìm ra sự thật khách quan thì trước tiên Tòa án và các chủ thể chứng minh khác phải xác định được quan hệ pháp luật và những vấn đề cần phải chứng minh Về mặt lý luận, đối tượng chứng minh là tổng hợp những tình tiết, sự kiện cần phải chứng minh để làm rõ nội dung và bản chất quan hệ pháp luật giữa các bên đương sự đã xảy ra Tổng hợp các tình tiết, sự kiện đó tạo cơ sở cho việc xác định quyền, nghĩa vụ các bên và áp dụng quy định của pháp luật nội dung đối với họ Tuy nhiên, để giải quyết vụ việc dân sự khách quan, chính xác, đúng pháp luật, thì không chỉ những tình tiết, sự kiện thuộc đối tượng chứng minh mà cả những tình tiết, sự kiện có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ, việc dân sự dưới khía cạnh tố tụng cũng cần phải được chứng minh, như: những tình tiết, sự kiện làm căn cứ cho việc ra quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết vụ việc; những tình tiết, sự kiện làm căn cứ cho việc xác định thẩm quyền thụ lý vụ việc của Tòa án Cùng với đối tượng chứng minh, những tình tiết, sự kiện này tập hợp thành giới hạn chúng minh hay phạm vi chứng minh trong tố tụng dân sự

Có thể nói, phạm vi các sự kiện cần chứng minh rộng hơn các sự kiện thuộc đối tượng chứng minh, cụ thể bao gồm:

- Những sự kiện pháp lý làm cơ sở cho yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu

Trang 21

phản tố hay yêu cầu phản bác của bị đơn hoặc yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan Đây là nhóm tình tiết, sự kiện phải chứng minh mang tính chất luật nội dung (các tình tiết, sự kiện thuộc đối tượng chứng minh) Tòa án và các chủ thể chứng minh phải căn cứ vào những quy định của Pháp luật nội dung đối với từng loại vụ, việc mà xác định đối tượng phải chứng minh trong từng vụ án cụ thể

- Những tình tiết, sự kiện phải chứng minh mang tính chất thuần túy “tốtụng” Tất cả các tình tiết, sự kiện mà việc giải quyết vụ, việc dân sự về tố tụng phụthuộc vào nó cũng được xác định bằng các chứng cứ

Về mặt lý luận, tất cả các sự kiện, tình tiết trong vụ việc đều cần phải chứng minh Tuy vậy, pháp luật nước ta và các nước thừa nhận có những sự kiện, tình tiết không nằm trong đối tượng chứng minh, nghĩa là không cần chứng minh mà có thể

sử dụng ngay làm cơ sở để giải quyết các vụ, việc dân sự Việc quy định những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh trong quá trình giải quyết vụ, việc dân sự để tạo thuận lợi cho quá trình giải quyết vụ, việc dân sự, đơn giản hóa các thủ tục đối với các đương sự cũng như Tòa án trong việc chứng minh các yêu cầu của đương sự, phù hợp với các quy định khác của pháp luật

Điều 80 BLTTDS đã quy định cụ thể các sự kiện, tình tiết không cần phải chứng minh Căn cứ theo tính chất rõ ràng và đặc điểm của một số loại sự kiện, tình tiết, Pháp luật TTDS cho phép Tòa án sử dụng để giải quyết vụ, việc dân sự mà không phải xác định lại trong quá trình chứng minh, cụ thể là:

- Đối với những tình tiết, sự kiện mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận thì không phải chứng minh Mục đích của chứng minh là để làm rõ tình tiết, sự

kiện liên quan đến vụ, việc dân sự để giải quyết đúng đắn vụ, việc dân sự Những

tình tiết, sự kiện này không chứng minh thì mọi người cũng đã biết rõ về chúng Ví

dụ, sự kiện bão, lụt, động đất, chiến tranh Tuy nhiên, so với quy định của Pháp

luật tố tụng dân sự trước đây, Điều 80 BLTTDS đã bổ sung thêm quy định bắt buộc

để xác định là “phải được Tòa án thừa nhận” Đây là quy định nhằm xác định tính

rõ ràng của tình tiết, sự kiện - tức là, một tình tiết, sự kiện mọi người đều biết chỉ khống phải chứng minh trong trường hợp Tòa án cũng biết rõ về nó Quyền thừanhận một sự kiện nào đó là sự kiện mọi người đều biết không cần chứng minh phải

20ỉổ J

Trang 22

thuộc về Tòa án vì Tòa án là cơ quan chịu trách nhiệm giải quyết vụ, việc dân sự

Việc bổ sung quy định này xuất phát từ thực tế mức độ phổ biến của các tình tiết, sự

kiện mọi người đều biết có thể rất khác nhau, có tinh tiết, sự kiện phổ biến ở phạm vi

rất rộng có thể cả thế giới biết, nhưng cũng có tình tiết, sự kiện chỉ phổ biến ở phạm

vi hẹp (một tỉnh, một huyện thậm chí là phạm vi của một cụm dân cư) Vấn đề đặt ra

là tình tiết, sự kiện phổ biến ở mức độ nào thì không phải chứng minh? Thực tiễn xét

xử tại các Tòa án cho thấy không thể xác định được chính xác những người biết

được tình tiết, sự kiện Vì thế, việc đánh giá mức độ phổ biến của tình tiết, sự kiện

mọi người đều biết chỉ mang tính tương đối nên BLTTDS không thể quy định giới

hạn tối thiểu về mức độ phổ biến của tình tiết, sự kiện không cần chứng minh

Chúng tôi cho rằng việc xác định tình tiết, sự kiện mọi người đều biết không cần

phải chứng minh trong mỗi một trường hợp cụ thể cần phải căn cứ vào thời gian xảy

ra tình tiết, sự kiện Bởi vì, tính chất rõ ràng của tình tiết, sự kiện có thể mất dần đi

theo thời gian trong trí nhớ của con người Do đó, một sự kiện lúc đầu có thể là sự

kiện mọi người đều biết không cần phải chứng minh nhưng nếu xảy ra lâu rồi thì vẫn

có thể phải chứng minh lại trong quá trình tố tụng Khi giải quyết các vụ, việc dân sự

Tòa án phải xem xét từng trường hợp cụ thể về mức độ phổ biến tin tức của các tình

tiết, sự kiện Nếu Tòa án sử dụng các sự kiện phổ biến ở phạm vi lãnh thổ nhất định

để giải quyết vụ, việc dân sự thì phải chỉ rõ trong hồ sơ vụ, việc vì sao sự kiện này

khỏng phải chứng minh để tránh trường hợp có những vụ, việc dân sự được Tòa án

xét xử lại ở cấp xét xử khác mà ở cấp xét xử đó Tòa án chưa chắc đã biết rõ về nó

Tòa án cũng cần dựa trên cơ sở yêu cầu của việc công khai, minh bạch các hoạt

động xét xử mà quyết định thừa nhận hay không các sự kiện mà mọi người đều biết

- Đối với những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong các bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thâm quyên đã có hiệu

lực pháp luật cũng không phải chứng minh Thực tế, một sự kiện xảy ra có thể làm

phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một hoặc nhiều quan hệ pháp luật Những quan hệ

phíp luật này có thể được xem xét ở những thời điểm khác nhau, trong những vụ án

khíc nhau, thậm chí ở những Tòa án khác nhau Việc thừa nhận sự kiện, tình tiết

khDiig cần chứng minh phải là sự kiện trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp

Trang 23

luật V'ới những chứng cứ đã được thẩm tra, xác minh Điều này có ý nghĩa đảm bảo

cho C íông tác xét xử của Tòa án được nhanh chóng, chính xác, đồng thời khắc phục

tình tirạng có thể xảy ra mâu thuẫn giữa những quyết định của Toà án và các cơ quan

có thẩm quyền về cùng một vấn đề Mặc dù không phải chứng minh nhưng khi sử

dụng những sự kiện không cần phải chứng minh, Tòa án phải nêu rõ nguồn gốc,

xuất x ứ của những sự kiện đó Hơn nữa, việc chứng minh lại một tình tiết, sự kiện

còn có khả năng dẫn đến sự phức tạp trong việc giải quyết vụ, việc dân sự, làm trì trệ

thủ tục tô tụng dân sự, giảm uy tín của Tòa án và cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Để gi ải quyết nhanh được các vụ, việc dân sự, tránh những phức tạp không đáng có,

Điều 80 BLTTDS quy định khi giải quyết vụ, việc dân sự Tòa án không cho chứng

minh lại những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong các bản án, quyết định của

Tòa á n đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm

quyền Chúng tôi cho rằng, mặc dù không xem xét lại tình tiết, sự kiện đã được xác

định trong những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên,

trong những trường hợp cá biệt khi Tòa án giải quyết vụ, việc dân sự mà có nghi ngờ

về tính đúng đắn của tình tiết, sự kiện thì Tòa án có thể đưa vấn đề đó ra xem xét lại

bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm

- Đối với những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp cũng được xác định là những tình tiết, sự kiện không

phải chứng minh Sở dĩ như vây vì những tình tiết, sự kiện này đã được ghi lại dưới

một hình thức nhất định và được cơ quan nhà nước có thẩm quyển công chứng,

chứng thực hợp pháp Mặt khác, phải bảo đảm giá trị các giấy tờ, tài liệu đã được

các cơ quan nhà nước công chứng, chứng thực hợp pháp

Ngoài ra, đối với những tình tiết, sự kiện mà đương sự thừa nhận hoặc không

phản đối những tình tiết, sự kiện mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó

không phải chứng minh Tương tự như vậy, sự thừa nhận của ngưòi đại diện (trong

trường hợp đương sư có người đai diên) được coi là sự thừa nhận của đương sự theo

quy định tại khoản 2, 3 Điều 80 BLTTDS Như vậy, sự thừa nhận của một bên đương

sự hay người đại diện của họ có giá trị miễn nghĩa vụ chứng minh cho đương sự phía

bên kia Điều này xuất phát từ một vấn đề thuộc bản chất của chứng minh là làm cho

Trang 24

đương sự bên kia thấy rõ sự tồn tại của các tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc

dân sự để thừa nhận

1.3 Chủ thể chứng minh và các quy định về quyền - nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam

1.3.1 Khái niệm chủ th ể chứng m inh

Chủ thể chứng minh là chủ th ể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự tham

gia vào hoạt động chứng minh nhằm xác định có hay không có những sự kiện,

tình tiết làm cơ sở cho yêu cầu hay phản đôi của các bên đương sự trong vụ việc

dân sự.

Trong quá trình chứng minh, các chủ thể tham gia vào hoạt động chứng minh

với những vị trí tố tụng khác nhau Hành vi tố tụng của mỗi chủ thể được quy định

bởi vị trí tố tụng của họ, vì vậy chủ thể chứng minh thực hiện những hành vi tố tụng

tủ a mình trong phạm vi quyền và nghĩa vụ mà Pháp luật tô tụng dân sự cho phép

Các chủ thể chứng minh trong tố tụng dân sự bao gồm: các đương sự (nguyên đơn,

bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan), người đại diện của đương sự,

người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; các cơ quan, tổ chức khởi

kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích của người khác và Tòa án Trong trường hợp

Viện kiểm sát tham gia tố tụng theo quy định của Pháp luật Tố tụng dân sự thì Viện

kiểm sát cũng trở thành chủ thể chứng minh

1.3.2 Quyền, nghĩa vụ chứng m inh của các chủ th ể chứng minh trong tô

tụng dân sự

Quyền chứng minh là khả năng của các chủ thể chứng minh bằng hành vi tố

tụng của mình tham gia vào hoạt động chứng minh Việc thực hiện quyền chứng

minh do các chủ thể chứng minh quyết định Ngược lại, nghĩa vụ chứng minh bao

gồm những hành vi tố tụng nhất định trong hoạt động chứng minh (hoạt động cung

cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ) mà các chủ thể chứng minh bắt

buộc phải tiến hành hoặc không được tiến hành theo quy định của pháp luật Trong

trường hợp nghĩa vụ chứng minh bị vi phạm, chủ thể vi phạm phải gánh chịu những

hậu quả pháp lý bất lợi

Chủ thể chứng minh có quyền, nghĩa vụ chứng minh, tham gia vào hoạt động

Trang 25

chứng minh, tuy nhiên không phải tất cả các chủ thể chứng minh đều có quyền,

nghĩa vụ chứng minh như nhau Tùy thuộc vào vai trò, địa vị tố tụng của các chủ thể

này và ở từng giai đoạn tố tụng cụ thể, các chủ thể chứng minh có quyền, nghĩa vụ

tham gia vào quá trình chứng minh các sự kiện, tình tiết của vụ việc ở những phạm

vi và mức độ khác nhau Ví dụ, quyền, nghĩa vụ chứng minh của đương sự khác với

trách nhiệm chứng minh của Tòa án; quyền, nghĩa vụ chứng minh của người đại

diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khác với

trách nhiệm chứng minh của Viện Kiểm sát

1.3.2.1 Quyền và nghĩa vụ chíừig minh của đương sự, người đại diện của dương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

(ỉ) Quyền, nghĩa vụ chứng m inh của đương sự

Hoạt động xét xử các vụ án dân sự là hoạt động phát sinh trên cơ sở có sự

tranh chấp trong quan hệ pháp luật nội dung giữa các bên có lợi ích tư đối lập nhau

nhưng bình đẳng về địa vị pháp lý mà trong đó có một quy tắc chung cho cả hai bên

đương sự: “Người nào đề ra một luận điểm cần có chứng cứ thì phải chứng minh”

[28, tr.59] Theo quy tắc này, mỗi bên đương sự có nghĩa vụ phải chứng minh những

sự kiện, tình tiết mà mình đã viện dẫn làm cơ sở cho những yêu cầu và phản đối của

mình, hay nói một cách giản đơn hơn ai khẳng định một sự việc gì thì phải chứng

minh sự việc ấy Quy định này xuất phát từ cơ sở khi yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền

lợi cho mình với tư cách là người trực tiếp tham gia vào các quan hệ pháp luật nội

đung có vi phạm hay tranh chấp, đương sự là người hiểu rõ nhất vì sao họ có yêu cầu

đó, họ biết được những tình tiết, sự kiện trong vụ việc, do đó có khả năng cung cấp

chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, v ề mặt tâm lý, khi đưa ra yêu cầu

của mình bao giờ đương sự cũng là người đứng ở thế chủ động, tự nguyện đưa ra

những lý lẽ để chứng minh, bênh vực cho quyền lợi của mình Sự thật là cơ sở của

yêu cầu và phản đối của các bên nên các bên sẽ quan tâm và tìm mọi cách để khăng

định sự thật này Ví dụ: khi đưa ra yêu cầu thì nguyên đơn phải chứng minh cho yêu

cầu của mình đối với bị đơn, tức là phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, tham gia

nghiên cứu chứng cứ, tham gia hỏi, tranh luận để chứng minh, bỏi vì bị đơn được

suy đoán là không có bất cứ trách nhiệm gì với nguyên đơn cho đến khi trách nhiệm

Trang 26

của bị đơn chưa được chứng minh Cung cấp chứng cứ chỉ là một trong các biện

pháp chứng minh của đương sự

Bên cạnh đó, trong tiến trình phát triển của hoạt động chứng minh, quyền và

nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể chứng minh không bất biến mà trong điều kiện

nhất định, nó có thể di chuyển từ một bên đương sự này sang một bên đương sự

khác Ví dụ: khi đưa ra yêu cầu, nguyên đơn phải có nghĩa vụ chứng minh, thế

nhưng, theo tiến trình phát triển của hoạt động chứng minh, nghĩa vụ chứng minh

(cũng là nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, tham gia nghiên cứu chứng cứ, tham gia hỏi,

tranh luận ) sẽ được di chuyển từ nguyên đơn sang bị đơn khi bị đơn đưa ra yêu

cầu phản tô đối với nguyên đơn, hoặc khi bị đơn muốn viện dẫn những sự kiện, tình

tiết nhằm bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn

Như vậy, quy tắc chung về quyền, nghĩa vụ chứng minh của đương sự có thể

quy vào ba luận điểm cơ bản sau đây:

- Thứ nhất, nghĩa vụ chứng minh sẽ thuộc về bên đương sự nào muốn viện

dẫn những sự kiện, tình tiết để làm cơ sở cho những yêu cầu hoặc phản đối của

mình

Kể từ khi làm đơn khởi kiện, việc chứng minh yêu cầu đối với nguyên đơn là

nghĩa vu Nếu nguyên đơn đưa ra yêu cầu mà không chứng minh được yêu cầu của

mình là có căn cứ, có trong thực tế hoặc đưa ra những chứng cứ không có giá trị

chứng minh, trong khi đó bị đơn lại đưa ra được chứng cứ có tính thuyết phục để

phản đối yêu cầu của nguyên đơn thì yêu cầu của nguyên đơn sẽ bị Tòa án bác bỏ

Về phía bị đơn, họ là người bị kiện nên họ có quyền chứng minh để bảo vệ

quyền lợi của mình trước Tòa án Tuy nhiên, việc chứng minh sẽ trở thành nghĩa vụ

đối với bị đơn nếu:

+ BỊ đơn có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu của nguyên đơn hoặc bị đơn đưa

ra yêu cầu liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn Trường hợp bị đơn đưa ra yêu cầu

có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn thì bị đơn phải cung cấp chứng cứ để chỉ

ra yêu cầu đó có cơ sở thực tế, cơ sở pháp lý hay không, có đúng đắn không? Khi đó

nguyên đơn cũng có quyền phản đối lại yêu cầu đó của bị đơn đồng thời phải chứng

minh cho việc phản đối yêu cầu của mình;

Trang 27

+ Bị đơn không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn (có thể bị đơn chỉ chấp nhận một phần yêu cầu và phản đối phần còn lại của yêu cầu đó hoặc không chấp nhận hoàn toàn) hoặc thậm chí chỉ trong trường hợp bị đơn đang nắm giữ chứng cứ liên quan đến nguyên đơn.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, họ có nghĩa vu chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ Chẳng hạn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập tham gia vào vụ kiện giữa nguyên đơn và bị đơn, họ cho rằng đối tượng đang tranh chấp là thuộc sở hữu của họ chứ không phải thuộc sở hữu của nguyên đơn hay bị đơn Trong trường hợp này, nghĩa vụ chứng minh (nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, tham gia nghiên cứu chứng cứ, tham gia hỏi, tranh luận ) của họ cũng giống như nghĩa vụ của nguyên đơn khi chứng minh cho yêu cầu của mình

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập dù đứng về phía nguyên đơn hay bị đơn, họ đều có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cùng nguyên đơn hay bị đơn vì lợi ích của họ liên quan đến vụ kiện Việc cung cấp chứng cứ của họ để chứng minh làm sáng tỏ các tình tiết, sự kiện của vụ kiện để bảo

vệ quyền lợi cho đương sự mà họ đứng về phía đương sự đó, hoặc có thể làm căn cứ cho yêu cầu của họ đối với một trong các bên đương sự; hoặc chứng cứ do họ cung cấp làm căn cứ để họ phản đối về việc kiện đòi hoàn lại mà một bên đương sự đặt ra cho họ

- Thứ hai, nghĩa vụ chứng minh, theo sự tiến triển của hoạt động chứng minh,

trong những điều kiện nhất định có thể di chuyển từ một bên đương sự này sang một bên đương sự khác, và ngược lại

- Thứ ba, phạm vi quyền, nghĩa vụ chứng minh của các bên đương sự phụ

thuộc vào phạm vi yêu cầu hoặc phạm vi ý kiến phản đối của họ Phạm vi yêu cầu hoặc phạm vi ý kiến phản đối đưa ra đến đâu thì phạm vi nghĩa vụ chứng minh đến

đó Nằm ngoài phạm vi nghĩa vụ chứng minh (hay kết thúc phạm vỉ nghĩa vụ chứng minh) là quyền chứng minh của đương sự Ví dụ: A cho B vay tiền, A khởi kiện ra

Tòa yêu cầu B trả tiền vay A đưa ra 3 sự kiện, tình tiết: Có hợp đồng vay giữa A và

B, thời hạn trả tiền đã kết thúc, B chưa trả tiền A chỉ phải đưa ra chứng cứ để chứng

Trang 28

minh cho 2 tình tiết đầu tiên, còn tình tiết thứ 3 thì A không có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh nhưng B lại phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh rằng mình đã trả tiền cho Ị^(toàn bộ hoặc một phần) Tất nhiên A cũng có quyền đưa ra chứng cứ để chứng minh tình tiết thứ 3 nhưng đó không phải là nghĩa

vụ của A (Ví dụ này cũng cho thấy sự khác biệt trong quyền và nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể trong quan hệ kiện vật quyền hay kiện trái quyền) Quan hệ vật quyền liên quan đến một vật nhất định Chủ thể quyền có thể thỏa mãn yêu cầu của mình thông qua hành vi của chính mình, không phụ thuộc vào hành vi của người khác, người chiếm hữu vật được coi là người có quyền đối với vật, vì vậy nghĩa vụ chứng minh thuộc về người không chiếm hữu vật Trong khi đó, trong quan hệ trái quyền, việc chứng minh chủ thể có nghĩa vụ chưa thực hiện nghĩa vụ thuộc về nguyên đơn, chủ thể quyền thực hiện quyền để thỏa mãn yêu cầu của mình thông qua hành vi của chủ thể có nghĩa vụ, phụ thuộc vào ý chí của người khác Như vậy, trong quan hệ trái quyền nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi thuộc về người vi phạm nghĩa vụ

Ngoài ra, có điều cần lưu ý thêm là, trên thực tế, ranh giới giữa quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự rất mong manh, bản thân ranh giới này cũng rất

co dãn, không thể bó hẹp trước trong một quy tắc hay một quy định chắc chắn Thậm chí, ngay cả khi nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình (tức là có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, tham gia nghiên cứu chứng cứ, tham gia hỏi, tranh luận ), thì nguyên đơn cũng có quyền rút lại chứng cứ đó, hoặc quyết định không cung cấp chứng cứ đó để chứng minh nữa Trong trường hợp này quyền và nghĩa vụ chứng minh (tất nhiên là bao gồm cả quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ) là đan xen Nếu nguyên đơn không muốn sử dụng quyền chứng minh, không thực hiện nghĩa vụ chứng minh, mà cụ thể là không cung cấp chứng cứ, không xuất trình chứng cứ thì cũng đồng nghĩa với việc nguyên đơn khước từ quyền đưa ra yêu cầu, từ bỏ yêu cầu của mình và Tòa án sẽ ra phán quyết bất lợi cho nguyên đơn

Trước thời điểm Bộ luật tố tụng dân sự được ban hành, việc quy định về nghĩa

vụ cung cấp chứng cứ và quyền - nghĩa vụ chứng minh của đương sự đã được xác

định tại Điều 3 của PLTTGQCVADS: “Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để

Trang 29

bảo vệ quyền lợi của mình Tòa án có nhiệm vụ xem xét mọi tình tiết của vụ án và khi cần thiết có th ể thu thập thêm chứng cứ đ ể đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được chính xác'" Tương tự như vậy, tại Điều 3 PLTTGQCVAKT cũng nêu rõ là

“đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh đ ể bảo vệ quyền lợi của mình” Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự được thể hiện ngay từ khi khởi kiện Khoản 3 Điều 34 PLTTGQCVADS quy định: “Người khởi kiện phải làm đơn ghi rõ họ, tên, địa chỉ của mình, của bị đơn, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nội dung vụ việc; yêu cầu của mình và những tài liệu, lý lẽ chứng minh cho những yêu cầu đó” Như vậy, khi một người khởi kiện mà không có tài liệu chứng

minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, Toà án có quyền không thụ lý mà trả lại đơn khởi kiện Quy định tại Điều 3 PLTTGQCVADS hay PLTTGQCVAKT với một tiêu

đề rất rõ ràng nghĩa vụ chứng minh của đương sự nhưng nội dung của nghĩa vụ chứng minh đó cũng không có gì khác ngoài nghĩa vụ cung cấp chứng cứ Chính từ

các quy định chưa rõ trong thời kỳ này mà dẫn đến các cách hiểu khác nhau về nghĩa vụ chứng minh của đương sự

- Cách hiểu thứ nhất: Việc buộc các đương sự phải có nghĩa vụ chứng minh

trong tố tụng dân sự là một điều rất cần thiết Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về đương sự, Tòa án chỉ tiến hành một số biện pháp thu thập chứng cứ nhằm hỗ trợ đương sự trong quá trình thu thập chứng cứ trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu

- Cách hiểu thứ hai: Tòa án không có trách nhiệm thu thập chứng cứ Xuất phát từ nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, vì vậy việc các đương sự cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là phụ thuộc vào ý chí của các bên Tòa án có trách nhiệm xác minh chứng cứ mà đương sự cung cấp chứ không thu thập chứng cứ

Trong quan điểm nhận thức của các chủ thể tố tụng, qua thực tiễn xét xử thể hiện nhiều người đã đồng nhất nghĩa vụ chứng minh với nghĩa vụ cung cấp chứng

cứ Trong nhiều trường hợp các đương sự không xuất trình được chứng cứ, do đó không chứng minh được yêu cầu của mình “Một số Tòa quan niệm nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự nên khi khởi kiện nếu đương sự không xuất trình được các

Trang 30

chứng cứ (theo quan niệm của họ là đương sự không chứng minh được) nên đã không thụ lý vạ án” [76, tr 117] Mặc dầu, việc xuất trình các chứng cứ đó nằm ngoài khả năng của họ, các chứng cứ đó không phải do họ giữ mà do các cá nhân hoặc các cơ quan khác giữ

Bộ luật tố tụng dân sự được ban hành đánh dấu một sự thay đổi căn bản trong nhận thức về vấn đề chứng minh và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ - nghĩa vụ chứng minh của đương sự Việc xác định nghĩa vụ chứng minh của đương sự thông qua việc thu thập chứng cứ và cung cấp cho Tòa án được thể hiện rõ hơn trong Điều 6 BLTTDS: Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là cố căn cứ và hợp pháp Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu đ ể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự 2 Tòa án chi tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy đ ịn h ”

Tất nhiên, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ chứng minh của đương sự không chỉ thể hiện qua hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ Vì vậy, bên cạnh những quy định cụ thể về hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ (như quy định tại các Điều

165, 175 BLTTDS) về việc ngay khi khởi kiện, đương sự thực hiện quyền và nghĩa

vụ chứng minh bằng việc phải gửi kèm theo đơn khởi kiện các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhận được thông báo về việc thụ lỷ vụ án phải gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và chứng cứ, tài liệu kèm theo; quy định tại Điều 84 BLTTDS

về việc đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Toà án trong quá trình Toà án giải quyết vụ việc dân sự; quy định tại Điều 244 BLTTDS về việc người kháng cáo phải gửi cho Toà án các tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo đơn kháng cáo (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp BLTTDS cũng đã có những quy định cụ thể hơn, rõ ràng hơn bảo đảm cho các đương sự chủ động thực hiện được quyền, nghĩa vụ chứng minh của họ trong các hoạt động nghiên cứu chứng cứ và đánh giá chứng cứ Chẳng hạn, tại phiên toà các bên đương sự được tham gia trình bày yêu cầu, bổ sung ý kiến, tham gia hỏi, nghe băng ghi âm, xem băng ghi hình, xem xét vật chứng, tham gia tranh luận để chứng

Trang 31

minh bảo vệ quyền lợi của mình, thời gian tranh luận của họ không hạn chế (từ Điều

217 - 235 BLTTDS)

(ii) Quyền và nghĩa vụ chứng minh của ngưòỉ đại diện của đưong sự

Tương tự như pháp luật nội dung, Pháp luật tố tụng dân sự cũng phân chia người đại diện ra làm hai loại là người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo

ủy quyền Người đại diện theo pháp luật được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự

là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế quyền đại diện theo quy định của pháp luật Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện đê bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng được coi là đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của người được bảo vệ (khoản 2 Điều 73 BLTTDS) Trong trường hợp Tòa án triệu tập người đại diện do luật định tham gia tô tụng thì người đại diện cũng cần phải chứng minh cho yêu cầu của đương sự nhưng nghĩa vụ chứng minh vẫn thuộc về đương sự Nếu đương sự không tự chứng minh được thì người đại diện mới phải chứng minh thay

Đối với những vụ án dân sự, hôn nhân gia đinh khác như tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, hủy bỏ việc nuôi con nuôi, tranh chấp về thừa

kế, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do người chưa thành niên, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây ra hoặc họ là nạn nhân thì người đại diện do luật định tham gia tố tụng thay mặt cho người chưa thành niên nhưng khi cần thiết Toà án có thể hỏi thêm ý kiến người chưa thành niên Trong những trường hợp này, người đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho người chưa thành niên, họ có những quyền và nghĩa vụ tô tung như đương sư Do đó, nghĩa vụ chứng minh của họ như nghĩa vụ chứng minh của đương sự Nghĩa là, họ có toàn quyền trong việc đưa ra yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu để bảo vệ quyển lợi cho người chưa thành niên đông thời phải chứng minh cho những yêu cầu và phản đối yêu cầu đó

Như vậy, nghĩa vụ chứng minh chính là thuộc về đại điện của đương sự Tuy nhiên người chưa thành niên cũng có nghĩa vụ chứng minh đối với những vấn đề có liên quan đến lợi ích của họ mà họ có khả năng chứng minh được

Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự tùy từng trường hợp mà tham gia tố tụng độc lập hoặc phải có người đại diện hợp pháp thầm gia tố tụng

Trang 32

Nếu đương sự là người chưa thành niên dưới 16 tuổi, người tâm thần, người

có nhược điểm về thể chất không có năng lực hành vi tố tụng dân sự thì người tham

gia lố tụng là người đại diện hợp pháp của họ Đương sự trong những trường hợp này

không có nghĩa vụ chứng minh mà nghĩa vụ chứng minh thuộc về người đại diện

hợp pháp của họ Cha, mẹ hoặc người đỡ đầu của những người này tham gia tố tụng,

thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng thay họ với tư cách là người đại diện hợp pháp

chứ không phải với tư cách là nguyên đơn hay bị đơn

Người đại diện theo ủy quyền được quy định trong BLDS là người đại diện

theo ủy quyền trong tô tụng dân sự Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy

quyền cho người khác thay mặt minh tham gia tố tụng (khoản 3 Điều 73 BLTTDS)

Nghiên cứu các quy định của BLTTDS, mặc dù không có một điều luật nào

quy định trực tiếp về quyền và nghĩa vụ chứng minh của người đại diện trong Pháp

luật tố tụng dân sự Tuy nhiên, theo quy định của Điều 74 BLTTDS đã xác định:

“Người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự được thực hiện các quyên và

nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự mà mình là đại diện Người đại diện theo ủy

quyền trong tố tụng dân sự được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự theo

nội dung văn bẩn ủy quyền” Như vậy, người đại diện của đương sự thay mặt đương

sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự nên nghĩa vụ chứng minh của

họ được hình thành trên cơ sở quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự Trong

tô tụng dân sự, tùy theo việc họ đại diện cho đương sự nào mà có quyền và nghĩa vụ

chứng minh của đương sự đó Người đại diên theo pháp luật, người được Tòa án chi

định là người đại diện trong TTDS có quyền và nghĩa vụ thực hiện tất cả nghĩa vụ

chứng minh của đương sự họ đại diện Người đại diện theo uỷ quyền của đương sự

thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong phạm vi được uỷ

quyền Đối với người đại diện được uỷ quyền toàn bộ thì yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của họ như yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của người ủy quyền Do đó, nghĩa vụ

chứng minh của họ cũng giống như của đương sự Nếu đương sự chỉ ủy quyền một

phần thì người đại diện có nghĩa vụ chứng minh trong phạm vi ủy quyền

(iii) Quyền và nghĩa vụ chứng minh của người bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp của đương sự

Trang 33

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đưưng sự tham gia tố tụng với mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Vì vậy, người bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự có nghĩa vụ giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ nên cũng có quyền và nghĩa

vụ chứng minh Khoản 2 Điều 64 BLTTDS quy định người bảo vệ quyền và lợi ích

họp pháp có quyền và nghĩa vụ “Xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho Tòa án, nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án đ ể thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự” Ngoài việc giúp đương sự về mặt pháp lý để đương sự bảo vệ quyền, lợi

ích hợp pháp của họ thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải chứng minh sự tồn tại các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của đương sự trước Tòa án.\Nghĩa vụ chứng minh của người bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được thực hiện thông qua việc xác minh thu thập chứng cứ, chứng minh tính hợp pháp của chứng cứ để bảo vệ các yêu cầu hay sự phản đối yêu cầu của đương sự là có cơ sở Trong trường hợp này, đương sự

là người đề ra yêu cầu, do đó trước hết đương sự phải là người có nghĩa vụ chứng minh nhưng do đương sự không thể tự mình chứng minh nên họ nhờ người khác chứng minh cho mình Người bảo vệ quyền lợi cho đương sự có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu hoặc phản đối của đương sự

Chứng minh có nghĩa là thuyết phục, do đó người bảo vệ quyền lợi cho đương sự phải đưa ra những lý lẽ, chứng cứ mang tính thuyết phục đối với Toà án để chứng minh cho yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của đương sự mà mình bảo vệ là đúng đắn và có cơ sở

1.3.2.2 Nghĩa vụ chứng minh của các cơ quan tổ chức khởi kiện yêu cầu bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

Ngoài các đương sự, trong trường hợp cần khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước thì cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền khởi kiện

vụ án vẻ Hôn nhân gia đình; công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động theo quy định của pháp luật về lao động Cơ quan, tổ chức trong

Trang 34

phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước BLTTDS quy định các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng có nghĩa vụ chứng minh (Khoản 3 Điều 79 BLTTDS) Tuy không có quyền và lợi ích gắn liền với vụ việc dân sự như đương sự, nhưng các cá nhân, cơ quan, tổ chức này cũng đưa ra yêu cầu và biết rõ sự việc Do đó, tương tự như đương sư, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Trong trường hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức này không thực hiện được nghĩa vụ chứng minh của mình thì sẽ dẫn đến sự bất lợi cho các đương sự.

1.3.2.3 Xác định trách nhiệm chứng minh của Tòa án

Tòa án là chủ thể có nhiệm vụ giải quyết vụ, việc dân sự Để giải quyết đúng

vụ, việc dân sự thì Tòa án vẫn phải xác định xem trong vụ, việc dân sự phải chứng minh làm rõ là những sự kiện, tình tiết nào? Các chứng cứ, tài liệu của đương sự và những người tham gia tố tụng cung cấp có đủ để giải quyết vụ, việc dân sự chưa?

Việc các đương sự có quyền, nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ cho Tòa

án và chứng minh cho yêu cầu của mình phu thuộc vào ý chí cua cac bên, Tòa án chi xem xét và đưa ra phán quyết của mình trên cơ sở chứng cứ mà các bên đưa ra Đê quyết định giải quyết vụ, việc của mình có sức thuyết phục thì Tòa án không thể không làm rõ những cơ sở của quyết định đó, tức là phải chứng minh những sự kiện

làm cơ sở cho các kết luận của Tòa án uLý luận và thực tiễn giải quyết các vụ việc dần sự của Tòa án đã cho thấy việc không chứng minh được một sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự có th ể s ẽ kéo theo việc ra một quyết định không có cơ sở làm xâm phạm đến quyền lợi của bên đương sự không hoàn thành được nghĩa vụ chứng minh của h ọ ” [96, tr.65] Vì vậy, khi thấy chứng cứ có trong hồ sơ vụ, việc dân sự chưa

đủ cơ sở để giải quyết thì Tòa án phải yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ (khoản 1 Điều 85 BLTTDS) Đối với trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và cộ yêu cầu thì Tòa án có thể tiến hành thu thập chứng cứ(khoản 2 Điều 85 BLTTDS) Khi nhận được yêu cầu của đương sự, Tòa án phải yêu

Trang 35

cầu đương sự trình bày rõ việc đương sự tự thu thập chứng cứ như thế nào, lý do tại sao không thể tự mình thu thập chứng cứ và những biện pháp đương sự đã áp dụng

mà vẫn không có kết quả trên cơ sở đó để chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của đương sự Nếu có cơ sở kết luận đương sự chưa tự mình chủ động thu thập chứng cứ, chưa áp dụng khả năng mà đương sự có thể thu thập chứng cứ thì Thẩm phán không chấp nhận yêu cầu của đương sự và thông báo cho đương sự biết bằng văn bản Việc thu thập chứng cứ của Tòa án không phải là nghĩa vụ mà chỉ mang tính hỗ trợ cho việc thu thập chứng cứ của đương sự làm căn cứ để giải quyết vụ, việc dân sự và phục vụ cho việc làm rõ cơ sở quyết định của Tòa án Tòa án thực hiện việc đánh giá, công bô' công khai chứng cứ trước khi sử dụng (Điều 96, Điều 97 BLTTDS) BLTTDS không quy định việc thu thập chứng cứ của Tòa án với tính chất

là một nhiệm vụ Các Pháp lệnh trước đây giao trách nhiệm cho Toà án trong việc thu thập, điều tra chứng cứ để bảo đảm việc xét xử đúng sự thật, việc điều tra không đầy đủ được quy định là một căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm (điểm a, khoản 1 Điều 71 PLTTGQCVADS) Vì vậy, từ trước đến nay các Tòa án đều rất vất vả trong quá trình điều tra Bộ luật tố tụng dân sự đã tạo cơ sở pháp lý chính từ các quy định tại Điều 6, Điều 79, Điều 84 và khoản 1 Điều 85 BLTTDS khẳng định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh chủ yếu thuộc trách nhiệm của đương sự Đương sự phải thu thập chứng cứ và Tòa án chỉ tiến hành công việc này trong phạm vi hạn chế khi có đủ hai điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS Căn cứ do điều tra không đầy đủ đã không được đưa vào để xác định m ột trong các căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm theo quy định tại Điều 283 BLTTDS

Mặc dù các đương sự có nghĩa vụ xuất trình chứng cứ trước Toà án nhằm thuyết phục về những yêu cầu mà mình đưa ra là có căn cứ, song chứng cứ do các đương sự cung cấp không phải lúc nào cũng có độ chính xác tuyệt đối của toán học (vì có thể có sự giả mạo hoặc nhầm lẫn) Do đó, Tòa án phải trực tiếp thụ cảm, xem xét, phân tích, so sánh chứng cứ tại phiên toà Đây là nội dung chủ yếu, cơ bản và có

ý nghĩa quyết định trong hoạt động của Tòa án Tòa án có nhiệm vụ xác minh chứng

cứ thông qua việc nghe các đương sự trình bày, giải thích, thẩm vấn các nhân chứng, nghe ý kiến của giám định viên, sự tranh luận của các đương sự, xem xét vật chứng,

Trang 36

kết luận giám định, xem xét chứng cứ trong mối liên quan mật thiết với nhau, nghiên cứu trên cơ sở so sánh những chứng cứ này với chứng cứ khác Trách nhiệm chứng minh của Tòa án nổi bật ở vai trò nghiên cứu và đánh giá về giá trị chứng minh của các chứng cứ được Tòa án tiến hành dựa trên cơ sở pháp luật, lương tâm và trách nhiệm của các thành viên Hội đồng xét xử, được thể hiện trong phòng nghị án khi ra bản án (quyết định) về vụ, việc dân sự Đây là sự đánh giá chính thức về mặt pháp lý, mang tính chất quyết định đối với các chứng cứ của vụ việc, còn đối với các chủ thể khác (VKS, chủ thể khởi kiện vì lợi ích chung, đương sự ) việc đánh giá chứng cứ có thể được tiến hành trực tiếp bằng sự bác bỏ hay công nhận chứng cứ này hoặc chứng cứ kia hoặc bằng sự hoài nghi về tính xác thực của các chứng cứ Tuy nhiên, đây chỉ là hoạt động hỗ trợ, tham gia mang tính chất tham khảo khi Tòa án ban hành bản án (quyết định) về vụ, việc Nó có thể được Tòa án chấp nhận hay bác bỏ trong bản án hay quyết định về vụ, việc dân sự.

1.3.2.4 Trách nhiệm chứng minh của Viện kiểm sát trong Tô tụng dân sự

Trách nhiệm chứng minh của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự phụ thuộc vào vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự VI vậy, để xác định trách nhiệm chứng minh của Viện kiểm sát, trước hết chúng ta bắt đầu bằng việc tìm hiêu

vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong Tố tụng dân sự

Nghiên cứu các quy định của BLTTDS cho thấy, vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự được thể hiện rõ nét bởi hai hoạt động đặc trưng: tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự và kháng nghị các bản án, quyết định dân sự của Tòa án

* Hoạt động tham gia phiên tòa, phiên họp của Viện kiểm sát:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 21 BLTTDS và nội dung hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 03/2005/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 1/9/2005 “Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ, việc dân sự” (sau đây viết tắt là Thông tư 03/2005), Viện kiểm sát nhàn dân tham gia phiên toà, phiên họp trong các trường hợp sau đây:

- Những vụ án do Toà án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại

Trang 37

Trường hợp này có nghĩa là trong quá trình Toà án thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật mà đương sự có khiếu nại về việc thu thập đó thì Toà án thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền biết để Viện kiểm sát tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm Tại tiết d, điểm 1.3, mục 1 Phần II Thông tư 03/2005

có hướng dẫn: Sau khi nhận được đơn khiếu nại do đương sự gửi đến hoặc do Tòa án chuyển đến, VKS phải vào sổ nhận đơn Trường hợp VKS xét thấy cần yêu cầu Tòa

án xác minh, thu thập chứng cứ trên cơ sở khiếu nại của đương sự thì VKS phải có văn bản yêu cầu Tòa án phải tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo văn bản yêu cầu của VKS và thông báo kết quả bằng văn bản cho đương sự và VKS biết Sau khi xem xét kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án, VKS sẽ thông báo bằng văn bản cho Tòa án biết về viêc VKS tham gia phiên tòa sơ thâm (như vậy VKS có thể tham gia hoặc không tham gia) Trường hợp VKS đã có văn bản yêu cầu nhưng đến thời hạn mở phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 179 BLTTDS, VKS vẫn không nhận được văn bản thông báo về kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án thì VKS phải tham gia phiên tòa sơ thẩm Trong trường hợp sau khi xét xử sơ thẩm, nếu đương sự kháng cáo vì lý do Tòa án không thu thập chứng cứ đầy đủ, thì Tòa án phải báo cho Viện kiểm sát ngang cấp biết đê chuân bị

và tham gia phiên toà xét xử phúc thẩm

- Các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được qui định tại các Chương 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29; tức là từ Điều 311 đến Điều 374 của BLTTDS

- Các vụ, việc dân sự mà Viện kiểm sát đã kháng nghị các bản án và quyết định của Tòa án theo các trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm Đồng thời tham gia các phiên toà giám đốc thẩm và tái thẩm do Tòa án kháng nghị theo thâm quyền

- Viện kiểm sát nhân dân còn tham gia các phiên tòa phúc thẩm đối với các quyết định tam đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án câp sơ thâm bịđươig sự kháng cáo

Khi tham gia phiên toà, phiên họp sơ thẩm, phiên tòa, phiên họp phúc thẩm

do dương sư kháng cáo, Kiểm sát viên có quyền tham gia hoạt động nghiên cứu

Trang 38

chứng cứ (thông qua việc hỏi, xem xét vật chứng, nhận xét kết luận giám định ) và đánh giá chứng cứ thông qua phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giảiquyết vụ, việc dân sự.

Khi tham gia phiên tòa, phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm do Tòa án kháng nghị, Kiểm sát viên tham gia hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ bằng cách: Nghiên cứu hồ sơ vụ việc, đưa ra ý kiến về quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trước khi Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm thảo luận (khoản 1, 2 Điều 295; Điều 310 BLTTDS); và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ việc dân sự trước khi Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm biểu quyết (khoản

3, 4 Điều 295, Điều 310 BLTTDS)

* Hoạt động kháng nghị bản án, quyết định dân sự của Tòa án:

Theo quy định của BLTTDS, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án, quyết định giải quyết vụ, việc dân sự của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Trong những trường hợp cần thiết, để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, Viện Kiểm sát có quyền tham gia hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ bằng cách yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng (khoản 3 Điều 85 BLTTDS)

Khi tham gia phiên toà, phiên họp phúc thẩm mà Viện kiểm sát kháng nghị, Kiểm sát viên có quyền tham gia hoạt động cung cấp, thu thập chứng cứ (thông qua việc xuất trình bổ sung chứng cứ), tham gia hoạt động nghiên cứu chứng cứ (thông qua việc hỏi, xem xét vật chứng, nhận xét kết luận giám định ) và đánh giá chứng

cứ thông qua quyết định kháng nghị, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ, việc dân sự

Khi tham gia phiên tòa, phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm mà Viện kiểm sát kháng nghị, Kiểm sát viên tham gia hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ bằng cách: Nghiên cứu hồ sơ vụ việc, bảo vệ quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trước khi Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm thảo luận (khoản 1, 2 Điều 295; Điều 310 BLTTDS); và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ

Trang 39

việc dân sự trước khi Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm biểu quyết (khoản 3, 4 Điều

1.3.3 Việc quy định về' quyền và nghĩa vụ chứng m inh của các chủ th ể chứng m inh nhìn từ góc độ Luật so sánh

Hiện tại trên thế giới tồn tại hai hệ thống pháp luật chính: Hệ thống Commonlaw và hệ thống Civil law (hay còn gọi là hệ thống Án lệ và hệ thống Luật dân sự) Tương ứng với hai hê thống luât nôi dung như trên tồn tại hai thủ tục tô tụng khác nhau là thủ tục tố tụng tranh tụng và thủ tục tố tụng xét hỏi v ề bản chất, 2 thủ tục

tố tụng này được vận hành trên những nguyên tắc khác nhau do được xây dựng trên

2 hệ thống pháp luật khác nhau Cơ sở để xác định các nguyên tắc, nội dung, phương pháp chứng minh trong tố tụng dân sự ngoài nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự mà Pháp luật tô tụng dân sự các nước đều quy định thì vai trò, quyền

và nghĩa vụ chứng minh của các bên đương sự, đặc biệt là trách nhiệm chứng minh của Tòa án chịu chi phối khá nhiều vào mô hình tố tụng là tranh tụng hay thẩm vấn Nhìn trên bình diện tổng quát, mặc dù cả hai hệ thống pháp luật này đều có điểm thống nhất chung khi quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên đưa ra yêu cầu Tuy nhiên, do đặc trưng của từng hệ thống pháp luật các quy định về chế định chứng minh nói riêng và các vấn đề tố tụng khác nói chung quy định ở hai hệ thống pháp luật này lại mang những dấu ấn khác biệt riêng Nghiên cứu dưới góc độ Luật so sánh chúng ta có thể thấy, nếu như theo hệ thống Luật Án lệ (điển hình luật Anh, M ỹ ) các vấn đề về chứng cứ và chứng minh được quy định trong một đạo luật riêng gọi là Bộ luật chứng cứ (ví dụ Bộ luật Federal

Trang 40

Rulcs of Evidence của Mỹ) quy định rõ thế nào là chứng cứ, việc thẩm tra, thu thập, đánh giá chứng cứ Còn hầu hết các nước theo hệ thống Luật dân sự, vấn đề chứng minh và chứng cứ được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng dân sự.

Liên quan tới chế định chứng minh, phần lớn các nước theo hệ thống Luật Án

lệ hoàn toàn không quy định vai trò điều tra của Toà án, Thẩm phán không có trách nhiệm tìm ra sự thật, theo đó Tòa án được coi là cơ quan trọng tài Người Thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử về dân sự chỉ là người phân xử trên cơ sở các chứng cứ do đương sự cung cấp Việc cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của đương

sự hoàn toàn thuộc trách nhiệm của các bên, cụ thể là Luật sư của các bên Hoạt động chứng minh tập trung chủ yếu tại phiên tòa, tại đó các Thẩm phán được trao quyền để điều khiển các hành vi tô tụng Chứng cứ được các bên đương sự trực tiếp đưa ra trong quá trình tranh tung, thắng trong tô tụng tranh tụng là bên đã chứng minh được trước Tòa là mình đúng, mặc dù trong nhiêu trường hợp bên thắng trong tô tụng tranh tụng chưa hẳn đã là bền đúng” [107.tr.63] Tất cả các tình tiết,

các chứng cứ mà Tòa án sử dụng để ra bản án đều đã được các bên tranh luận tại phiên tòa

Ví dụ: Theo thủ tục TTDS Anh, chứng cứ bình thường là nhân chứng Việc

thu thập chứng cứ qua nghe nhân chứng được thực hiện theo quy tắc Thẩm phán không chất vấn nhân chứng mà chỉ có Luật sư mới chất vấn nhân chứng thông qua

việc đặt câu hỏi cho người làm chứng trình bày (người làm chứng ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả những người có trình độ về chuyên môn như giám định viên) Việc chất vấn nhân chứng, thu thập chứng cứ được thực hiện ngay tại phiên

toà với sự có mặt của Thẩm phán, việc thu thập - cung cấp chứng cứ để thực hiện nghĩa vụ chứng minh được quy định theo 3 thể thức chính:

- Giai đoạn 1: Chất vấn bởi chính đương sự có yêu cầu mời nhân chứng

chính (Examination in chief) - Luật sư nào yêu cầu nhân chứng sẽ đặt câu hỏi chính nhân chứng đó, trong trường hợp này luật cấm các các câu hỏi mang tính chất dẫn dụ (gợi ý);

- T h ể thức 2: Thẩm vấn chéo (Cross examination): Luật sư của bên đối

phương sẽ chất vấn lại nhân chứng vừa được Luật sư đối phương hỏi

Ngày đăng: 24/01/2021, 20:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w