1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp tu Tịnh độ trong Phật giáo Việt Nam

180 337 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, một công trình nghiên cứu tổng thể và cập nhật dưới góc độ Tôn giáo học nhằm làm rõ lịch sử hình thành và phát triển, cũng như thực trạng PTTĐ trong PGVN hiện nay, qua đó chỉ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TIẾN SƠN

PHÁP TU TỊNH ĐỘ TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC

Hà Nội – 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TIẾN SƠN

PHÁP TU TỊNH ĐỘ TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tôn giáo học

Mã số: 9 22 90 09

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1 TS Nguyễn Phúc Đàn (Thích Thanh Đạt)

2 TS Lê Tâm Đắc

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết luận khoa học của luận án chưa từng công bố trên bất kỳ công trình nào khác Nếu vi phạm tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả luận án

NGUYỄN TIẾN SƠN

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6

1 1 Tài liệu gốc 6

1 2 Tình hình nghiên cứu Pháp tu Tịnh Độ tại nước ngoài 9

1 3 Tình hình nghiên cứu về Pháp tu Tịnh Độ tại Việt Nam 10

1 4 Đánh giá kết quả các công trình đã có và một số vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu 18

1 5 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong luận án 19

Chương 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP TU TỊNH ĐỘ TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM 22

2 1 Khái lược về Pháp tu Tịnh Độ 22

2 2 Tổng quan về Pháp tu Tịnh Độ trong tiến trình lịch sử Phật giáo Việt Nam 37

Tiểu kết chương 2 56

Chương 3: THỰC TRẠNG CỘNG ĐỒNG TỊNH ĐỘ TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM HIỆN NAY 58

3 1 Khái quát về cộng đồng Tịnh Độ trong Phật giáo Việt Nam hiện nay 58

3 2 Phương thức tu tập của Pháp tu Tịnh Độ trong Phật giáo Việt Nam hiện nay 75

Tiểu kết chương3 98

Chương 4: Đ C ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ XU HƯỚNGCỦA PHÁP TU TỊNH ĐỘ TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM 100

4 1 Một số đ c điểm của Pháp tu Tịnh Độ trong Phật giáo Việt Nam 100

4 2 Vai trò của Pháp tu Tịnh Độ trong Phật giáo Việt Nam 114

4 3 Xu hướng của Pháp tu Tịnh Độ trong Phật giáo Việt Nam và một số khuyến nghị giải pháp 131

Tiểu kết chương 4 142

KẾT LUẬN 144

DANH MỤCCÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁNĐÃ CÔNG BỐ 147 TÀI LIỆU THAM KHẢO 148

PHỤ LỤC 157

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

Trang Bảng 2 1: Các tông phái Phật giáo Trung Quốc 32 Bảng 3 1: Mục đích theo đạo Phật của người dân 58 Bảng 3 2: Thống kê môn học và thời lượng học tại các trường Phật học

tiêu biểu trên cả nước có nội dung giảng dạy liên quan đến PTTĐ

65

Bảng 3 3: Thống kê số lượng đạo tràng niệm Phật của Ban Hướng dẫn

Phật tử TP Hồ Chí Minh -bản lưu hành nội bộ tháng 12 năm 2016

71

Bảng 3 4: Thời khoá giảng pháp 2012 tại chùa Hoằng Pháp 85

Bảng 3 5: Thời gian biểu tại Pháp hội Khe Sanh2014 89 Bảng 3 6: Thời gian biểu tại Pháp hội Hoàng thành Thăng Long 2015 91

Bảng 4 1: So sánh khổ vui giữa Sa Bà và Cực Lạc 115

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ TRONG LUẬN ÁN

Trang Hình 3 1: Mức độ ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến các hoạt

động của cư dân Đồng bằng Sông Hồng hiện nay

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, là tôn giáo lớn nhất ở Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện nay Du nhập vào từ đầu Công nguyên, Phật giáo nhanh chóng có được chỗ đứng vững chắc trong nhiều cộng đồng tộc người trên nhiều vùng miền của nước ta Sự ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu rộng xuyên vượt thời gian của Phật giáo trong xã hội Việt Nam có phần đóng góp rất lớn của Pháp tu Tịnh Độ, một trong những pháp tu phổ biến của Phật giáo Bắc tông (Phật giáo Đại thừa) trong Tăng ni, Phật tử nước ta Biểu hiện của nó thể hiện rõ nhất khi Tăng ni, Phật tử Việt Nam thường chào nhau bằng câu “Nam Mô A Di Đà Phật”; đa phần mọi người từ già đến trẻ, từ người hiểu đạo Phật hay không hiểu đạo Phật đều biết đến 6 chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”; thời khóa tụng niệm ở các chùa thường tụng

Kinh A Di Đà và niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà; tượng Đức Phật A Di Đà thờ

trong các ngôi chùa miền Bắc thường có kích thước lớn nhất; khi có người lâm

chung, Tăng ni và Phật tử thường tụng Kinh A Di Đà, niệm danh hiệu Đức Phật A

Di Đà để cầu nguyện cho vong linh được vãng sinh về Tây phương Cực lạc, v v…

Theo Cao Tăng truyện, nhà sư Đàm Hoằng đã từ Trung Quốc vào Việt Nam tu

tập theo PTTĐ đầu tiên Tại chùa Tiên Sơn (huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh ngày

nay), vào năm 422, nhà sư này đã tụng Quán kinh và cầu vãng sinh Tịnh Độ PTTĐ

sau đó trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn và hiện nay được Tăng ni, Phật tử Việt Nam thực hành đông đảo Trong quá trình hình thành và phát triển của PTTĐ, người Việt Nam đã tiếp nhận có chọn lọc Tịnh Độ tông ở Trung Quốc để áp dụng cho phù hợp với con người và thời đại, từ đó hình thành nên nét riêng của PTTĐ trong PGVN

Hiện nay, PTTĐ đang trở nên phổ biến trong đời sống PGVN Ngày càng có nhiều tín đồ Phật giáo thực hành theo PTTĐ Ngoài ra, một bộ phận không nhỏ người dân có cảm tình với Phật giáo (quần chúng tín đồ Phật giáo) cũng đang tu tập theo PTTĐ Việc tu tập của những thành phần này có khi được sự hướng dẫn trực tiếp của chức sắc và nhà tu hành Phật giáo, nhưng có khi chỉ thông qua băng đĩa, bài giảng trên internet Cách thức tu tập của những hình thức này nhiều khi không

Trang 9

giống nhau: niệm Phật lớn tiếng, niệm Phật có nhạc, niệm Phật lần tràng hạt, đạo tràng chuyên tu Phật thất 7 ngày, tổ chức pháp hội 3 ngày, niệm Phật một mình, tu niệm với đại chúng, v v Đáng chú ý là, PTTĐ ở nước ta đang chịu ảnh hưởng của một số yếu tố do quá trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nên có những xu hướng vận động và phát triển khá phức tạp Trước thực tế đó, vấn đề đ t ra là làm sao PTTĐ có thể “toả hương” hơn nữa vào đời sống Phật giáo và đời sống xã hội nước ta

Cho đến nay, nghiên cứu về PTTĐ trong PGVN từ nhiều chiều cạnh và mức

độ khác nhau đã được thực hiện Tuy nhiên, một công trình nghiên cứu tổng thể và cập nhật dưới góc độ Tôn giáo học nhằm làm rõ lịch sử hình thành và phát triển, cũng như thực trạng PTTĐ trong PGVN hiện nay, qua đó chỉ ra đ c điểm, vai trò và

xu hướng vận động, đưa ra một số khuyến nghị giải pháp nhằm phát huy những điểm tích cực, hạn chế những điểm tiêu cực trong hoạt động của PTTĐ nước ta thời gian tới vẫn có giá trị, có tính cấp thiết về lý luận và thực tiễn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2 1 Mục đích nghiên cứu của luận án

Luận án đi sâu nghiên cứu tổng thể và cập nhật về PTTĐ trong PGVN dưới góc độ Tôn giáo học, từ lịch sử truyền nhập, quá trình phát triển cho đến những vấn

đề liên quan đến hoạt động của PTTĐ giai đoạn hiện nay

2 2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Thứ nhất, luận án trình bày có hệ thống về lịch sử PTTĐ, từ kinh điển Phật

giáo đến những nhân vật Phật giáo tiêu biểu thực hành PTTĐ ở Ấn Độ, Trung Quốc;

sự du nhập và phát triển của PTTĐ trong tiến trình Phật giáo Việt Nam từkhởi nguyên đến hiện nay

Thứ hai, luận án đi sâu phân tích thực trạng cộng đồng Tịnh Độ trong PGVN

hiện nay, từ sự phân bố cộng đồng thực hành PTTĐ tại ba vùng miền, đến cách thức

tu tập Tịnh Độ của các đạo tràng tiêu biểu trên khắp cả nước

Thứ ba, trên cơ sở nêu bật một số đ c điểm và vai trò, cũng như chỉ rõ xu

hướng của PTTĐ trong PGVN, luận án đưa ra một số khuyến nghị giải pháp nhằm

Trang 10

phát huy những điểm tích cực, hạn chế những điểm tiêu cực trong hoạt động củaPTTĐ thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3 1 Đối tượng nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là PTTĐ, một trong bốn pháp tu tiêu biểu (Thiền, Mật, Tịnh, Luật) của Phật giáo Bắc tông (Phật giáo Đại thừa) đã và đang tồn tại trong PGVN từ lịch sử đến hiện tại

3 2 Phạm vi nghiên cứu của luận án

Phạm vi nghiên cứu của luận án là PTTĐ từ năm 1981 (năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam) trở lại đây trên khắp cả nước, trong đó chủ yếu tại ba trung tâm Phật giáo lớn nhất và tiêu biểu nhất của đất nước hiện nay là thành phố Hà Nội, tỉnh Thừa Thiên - Huế và thành phố Hồ Chí Minh

4 Lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của luận án

4 1 Lý thuyết nghiên cứu của luận án

Luận án sử dụngchủ yếu hai lý thuyết nghiên cứu, gồm: Lý thuyết thực thể tôn giáo và Lý thuyết phân kỳ lịch sử

Lý thuyết thực thể tôn giáo được luận án sử dụng để làm rõ 3 thành tố cơ bản của tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng là: niềm tin tôn giáo/ Phật giáo, thực hành tôn giáo/ Phật giáo và cộng đồng tôn giáo/ Phật giáo Niềm tin tôn giáo của cộng đồng PTTĐ ở nước ta cơ bản là niềm tin vào Đức Phật Di Đà và thế giới Tây Phương Cực Lạc Thực hành tôn giáo của cộng đồng PTTĐ ở nước ta chủ yếu thể hiện thông qua sinh hoạt tu tập của các đạo tràng, từ đó ảnh hưởng đến cộng đồng bằng những tác dụng như cố kết xã hội, an ninh tinh thần, v, v

Lý thuyết phân kỳ về lịch sử được luận án sử dụng để phân chia lịch sử PTTĐ trong PGVN thành 2 giai đoạn Giai đoạn 1 của PTTĐ ở nước ta từ thế kỷ V (năm

422, thời điểm Đàm Hoằng tu tập ở chùa Tiên Sơn trên núi Tiên Du) đến hết thế kỷ XVIII Giai đoạn 2 của PTTĐ nước ta từ đầu thế kỷ XIX (năm 1802, lập ra nhà Nguyễn) đến nay (năm 2018)

4 2 Cách tiếp cận nghiên cứu của luận án

Trang 11

Luận án sử dụng một số cách tiếp cận như Sử học, Triết học, Nhân học, Xã hội học, Văn hóa học

Cách tiếp cận Sử học được luận án sử dụng để nghiên cứu lịch sử hình thành

và quá trình phát triển của PTTĐ ở Ấn Độ và Việt Nam, Tịnh Độ tông ở Trung Quốc và Nhật Bản

Cách tiếp cận Triết học được luận án sử dụng để nghiên cứu tư tưởng triết học thể hiện trong kinh sách, giáo thuyết của PTTĐ và Tịnh Độ tông

Các cách tiếp cận Nhân học, Xã hội học, Văn hóa học được luận án sử dụng làm rõ thực trạng cộng đồng Tịnh Độ trong PGVN hiện nay

4 3 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp, sơ cấp: được đề tài áp dụng nhằm

khai thác tối đa những tư liệu gốc, tài liệu tham khảo liên quan đến quá trình hình thành và phát triển của PTTĐ ở Việt Nam

Các phương pháp phỏng vấn sâu, quan sát tham dự: được đề tài áp dụng nghiên

cứu thực trạng và vấn đề đ t ra liên quan đến hoạt động của cộng đồng PTTĐ, cũng

như vai trò của pháp tu này đối với Phật giáo và xã hội Việt Nam hiện nay

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Một là, luận án tổng quan khá đầy đủ tư liệu gốc và những công trình nghiên

cứu đi trước liên quan đến PTTĐ, đánh giá thành tựu cũng như hạn chế của những công trình này, giúp cho những người nghiên cứu có được một cái nhìn toàn cảnh

về PTTĐ

Hai là, luận án trình bày có hệ thống sự hình thành PTTĐ từ tam tạng kinh điển

đến các nhân vật Phật giáo tiêu biểu đại diện cho PTTĐ tại Ấn Độ và Trung Quốc, đồng thời giới thiệu quá trình du nhập và phát triển của PTTĐ trong lịch sử PGVN

Ba là, với những tư liệukhá phong phú vàđáng tin cậy, luận án đi sâu phân tích

thực trạng cộng đồng PTTĐ trong PGVN hiện nay, từ thành phần tu tập và sự phân bố thực hành, đến cách thức tu tập Tịnh Độ tại các đạo tràng trên khắp cả nước

Bốn là, sau khi nêu bật một số đ c điểm và vai trò, cũng như xu hướng của

PTTĐ trong PGVN, luận án đưa ra một số khuyến nghị giải pháp đối với GHPGVN,

Trang 12

cộng đồng thực hành PTTĐ và chính quyền các cấp nhằm phát huy những điểm tích cực, hạn chế những điểm tiêu cực trong hoạt động của PTTĐ nước ta thời gian tới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6 1 Ý nghĩa lý luận của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án đóng góp cho giới khoa học xã hội và nhân văn nói chung, Tôn giáo học nói riêng, cũng như toàn thể giới Phật giáo và xã hội thấy được một pháp tu trong Phật giáo được đông đảo Tăng ni, Phật tử Việt Nam thực hành, có vai trò cực kỳ to lớn trong việc truyền bá Phật giáo sâu rộng đến quảng đại người dân Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện tại

6 2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án

Luận án có thể dùng làm tài liệu cho các trường/ lớp Phật học (Học viện Phật giáo, Cao đẳng Phật học, Trung cấp Phật học, …) và cơ sở nghiên cứu của GHPGVN các cấp (Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Phân viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, …); các cơ sở nghiên cứu và đào tạo quốc dân về tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng (Viện Nghiên cứu Tôn giáo thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Tín ngưỡng thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Trần Nhân Tông và Bộ môn Tôn giáo học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, …) Kết quả của luận án còn cung cấp những luận

cứ khoa học cho các ban ngành chính quyền trong việc tiếp tục hoàn thiện chính sách và pháp luật về tôn giáo, tín ngưỡng

7 Kết cấu của luận án

Ngoài các phần Lời cam đoan, Danh mục các chữ viết tắt, Danh mục các hình, Danh mục các bảng, Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình liên quan đến luận

án đã công bố, Tài liệu tham khảovà Phụ lục, nội dung của luận án được chia thành

4 chương, 12 tiết và tiểu kết các chương

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1 1 Tài liệu gốc

1 1 1 Kinh điển chữ Hán, chữ Phạn về Pháp tu Tịnh Độ

Tư tưởng Tịnh Độ khởi nguồn từ Ấn Độ Các kinh điển Hán tạng liên quan

đến PTTĐ được lưu trữ phần lớn trong bộ Đại Chính Tạng Những tác phẩm mànhiều danh tăng căn cứ vào để lập nên tông Tịnh Độ bao gồm 5 bộ kinh: Phật thuyết A Di Đà Kinh, thường gọi là Kinh A Di Đà[103]; Phật thuyết Vô Lượng Thọ Kinh, thường gọi là Kinh Vô Lượng Thọ[102]; Phật thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh, thường gọi là Quán Kinh [104]; Kinh Hoa Nghiêm - phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện [100]; Kinh Lăng Nghiêm, chương Niệm Phật viên thông [106]; và một bộ luận: Vô Lượng Thọ Kinh, Ưu ba đề xá nguyện sinh kệ, gọi tắt là Vãng sinh luận (hiện lưu trong Đại Chính Tạng, tập 26) [112] Sáu công trình của Tịnh Độ nêu

trên được giới nghiên cứu gọi là “Ngũ kinh nhất luận” (Năm kinh một luận)

Giới tu hành PGVN thường lấy các bộ sách Nhật tụng Bồ đề, Nhật tụng Vĩnh Nghiêm, … làm khoá lễ tu tập, tụng niệm sớm tối Những tác phẩm nhật tụng này chiếm 2/3 nội dung thuộc về tư tưởng Tịnh Độ, tiêu biểu gồm: Tịnh Độ nhật tụng [165], Chư kinh nhật tụng[137], Lễ tụng hành trì tập yếu chư nghi [156], Chư kinh nhật tụng (2 tập)[138], Chư kinh nhật tụng[153], Chư kinh nhật tụng tập yếu lễ nghi [139] Trong các bộ nhật tụng kể trên đều có Kinh Di Đà Như vậy, việc thực hành

PTTĐ của Tăng ni và Phật tử Việt Nam sớm nhất từ đầu thế kỷ XX trở lại đây đều

lấy niệm Đức Phật A Di Đà, tụng Kinh Di Đà làm cơ bản

Nội dung cơ bản của năm kinh một luận cung cấp những thông tin cơ bản về Đức Phật A Di Đà, quá trình tu hành thành Phật của Đức Phật ấy, môi trường cõi Cực Lạc, điều kiện vãng sinh về thế giới Tây Phương Đây là những nội dung nền tảng để tông Tịnh Độ ở Trung Quốc được thành lập và là yếu tố quan trọng để PTTĐ trong PGVN nương vào thực hành từ xưa đến nay

Trong năm kinh một luận, phần lớn những bản chữ Phạn vẫn còn được bảo lưu Hiện nay, nhiều học giả Trung Quốc, Nhật Bản… đối chiếu, so sánh, dịch lại từ bản

Trang 14

tiếng Phạn sang tiếng Hán, tiêu biểu như Phạn văn Phật điển nghiên cứudo Hàn Đình Kiệt trước tác [133] Tác giả đã trích dẫn từng đoạn bản tiếng Phạn của Kinh

Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ so sánh với bản dịch của đại sư Cưu Ma La Thập,

dẫn thêm phần dịch của đại sư Huyền Trang, dịch mới ra văn phong hiện đại Công việc đó đã càng tăng thêm niềm tin về sự truyền thừa của kinh điển Tịnh Độ

Ngoài ra, một số tư liệu gốc in bằng chữ Hán ở Việt Nam ít nhiều nói lên diện mạo của PTTĐ trong PGVN từ lúc pháp tu này truyền vào nước ta đến thời Lý - Trần

Đại Chính Tạng, tập 50, Cao Tăng Truyện, do nhà sư Thích Tuệ Kiểu soạn nói

về vị Tăng thực hành PTTĐ đầu tiên của Việt Nam đó là Thích Đàm Hoằng Đây là cuốn sử liệu đáng tin cậy nhất để xác định PTTĐ truyền đến nước ta Chỉ với 180

ký tự, nhưng tác phẩm này đã cung cấp nhiều thông tin liên quan đến lịch sử truyền nhập, con người thực hành, kinh điển thực hành, cách thức thực hành PTTĐ tại nước ta

Thiền Uyển tập anh, in năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715) [143], giới thiệu về

hành trạng các vị cao tăng thời Lý - Trần, trong đó có những vị hướng tâm Tịnh Độ như Thiền sư Tịnh Lực đã tu niệm Phật tam muội

Thái Tông hoàng đế ngự chế khoá hư, của Trần Thái Tông[151], đề cập đến

đ c điểm Thiền -Tịnh song tu của PGVN thời nhà Trần Chương “Niệm Phật luận”

trong tác phẩm này thể hiện rõ quan điểm về PTTĐ của vua Trần Thái Tông

Trúc Lâm Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục, đại sư Pháp Loa thời Trần biên tập[147], Việt Quốc Yên Tử sơn Trúc Lâm chư tổ thánh đăng lục do nhà sư Thích

Quảng Điều khắc lại [141] Hai tác phẩm này đề cập đến tư tưởng của các nhân vật Phật giáo tiêu biểu thời Trần như Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông

Từ khởi nguyên cho đến hết thời nhà Trần, tư liệu về PTTĐ ở nước ta không nhiều Nhưng từ thời nhà Lê trở về sau, tư liệu PTTĐ phong phú hơn Đương nhiên, những tác phẩm Hán văn vẫn chiếm ưu thế, một điều kiện thuận lợi để luận án này y

cứ và xác định tiến trình lịch sử PTTĐ trong PGVN

1 1 2 Tư liệu điền dã thực tế

Trước và trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã điền dã thực tế tại nhiều

cơ sở thực hành PTTĐ trên khắp cả nước, tiêu biểu như: chùa Bút Tháp (huyện

Trang 15

Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), chùa Phật Tích (huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh), chùa Vĩnh Nghiêm (huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang), chùa Bổ Đà (huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang), chùa Hoàng Kim (huyện Quốc Oai, Hà Nội), chùa Tây Phương và chùa Cực Lạc (huyện Thạch Thất, Hà Nội), chùa Liên Phái (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội), chùa Đồng Dương (quận Hà Đông, Hà Nội), chùa Vũ Lăng (huyện Thanh Oai,

Hà Nội), chùa Đại Từ Ân (huyện Đan Phượng, Hà Nội), Tịnh Độ đạo tràng (huyện Gia Lâm, Hà Nội), chùa Đồng Ngọ (huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương), Chùa Giám (huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương), chùa Từ Đàm, chùa Báo Quốc, Ni viện Diệu Đức (tỉnh Thừa Thiên - Huế), chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Huệ Quang, chùa Hoằng Pháp (TP Hồ Chí Minh), v v Những cơ sở nêu trên bảo lưu nhiều tư liệu phong phú, sâu sắc về PTTĐ trong PGVN

Trung Quốc là nơi Tịnh Độ tông được thành lập, nên việc khảo sát thực tế các

tự viện tu tập Tịnh Độ giúp tác giả thấy sự truyền thừa liền mạch về PTTĐ từ quá khứ đến hiện tại Những tự viện tiêu biểu tại Trung Quốc mà tác giảtừng điền dã như: chùa Long Tuyền, chùa Đàm Giá, chùa Giới Đài (thành phố Bắc Kinh), chùa Đại Giác, chùa Kê Minh (tỉnh Giang Tô), chùa Đông Lâm (tỉnh Giang Tây), chùa Phổ Đà (tỉnh Triết Giang), v v… Đây là các tự viện tiêu biểu ghi dấu tích sự hình thành và phát triển của Tịnh Độ tông, từ đó ít nhiều ảnh hưởng đến PTTĐ trong PGVN

Tại những địa điểm điền dã nêu trên, tác giả đã khảo sát khá nhiều sách cổ, văn bia, tượng Phật; sưu tầm kinh điển, phỏng vấn, tham dự một số khoá tu Tịnh Độ nên đã có những tư liệu liên quan đến PTTĐ có giá trị Chẳng hạn, tác giả đã phỏng vấn Thượng toạ Thích Chơn Tính, trụ trì chùa Hoằng Pháp (huyện Hóc Môn, TP

Hồ Chí Minh), phỏng vấn Phật tử Đ ng Minh Châu - Trưởng ban Tịnh Độ đạo tràng Tác giả đến chùa Diệu Đức (tỉnh Thừa Thiên - Huế), chùa Vũ Lăng (huyện Thanh Oai, Hà Nội), chùa Kê Minh (tỉnh Giang Tô, Trung Quốc) để khảo sát thực hành PTTĐ của các nhà sư tại những địa điểm đó Tác giả còn trực tiếp tham

dự các khoá lễ của Tịnh Độ đạo tràng ở Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội), ở Nghĩa trang Trường Sơn (tỉnh Quảng Trị), v v từ đó thu thập được nhiều thông

tin thực tiễn về PTTĐ trong PGVN hiện nay

Trang 16

1 2 Tình hình nghiên cứu Pháp tu Tịnh Độ tại nước ngoài

Tổng quan những kinh điển liên quan đến Tịnh Độ tông Trung Quốc, Hiệp hội

Phật giáo tỉnh Hà Bắc (Trung Quốc), tháng 7 năm 2010 xuất bản bộ Tịnh Độ tạng,

50 tập, biên soạn 787 tác phẩm [127] Bộ đại tạng này kiết tập toàn bộ những tác phẩm được sáng tác ở Trung Quốc từ thời Hậu Hán đến thời Trung Hoa dân quốc

Tịnh Độ tạng chia ra làm 2 loại hình chính Một là thống kê những kinh điển

chuyên khảo về Tịnh Độ ho c một phần liên quan đến PTTĐ (nội dung này có thể liệt kê vào tư liệu gốc) Hai là, giải thích các bộ kinh do Đức Phật Thích Ca thuyết giảng Loại hình thứ hai chủ yếu giải thích tư tưởng triết học của PTTĐ, tiêu biểu

nhưđại sư Trí Khải thời nhà Tuỳ biên trước Phật thuyết Quán Vô Lượng thọ kinh sớ [107] Đại sư Trí Húc thời nhà Minh chú giải Phật thuyết A Di Đà kinh yếu giải (Đại Chính Tạng, tập 37) [109] Những tác phẩm này hành văn theo lối học thuật

truyền thống của Trung Quốc và Việt Nam: phân tích, chú giải từng câu, từng đoạn trong kinh điển dưới góc nhìn của tác giả

Gần đây, nhiều tác phẩm chuyên khảo về PTTĐ được các học giả Trung Quốc

nghiên cứu theo lối hiện đại, tiêu biểu như Trung Quốc Tịnh Độ tông thông sử của

Trần Dương Quýnh [115], một trong những bộ tập đại thành của các tông phái

Trung Quốc Bên cạnh đó còn phải kể đến những tác phẩmTrung Quốc Thiền tông thông sử, Trung Quốc Luật tông thông sử, Trung Quốc Thiên Thai tông thông sử, v,

v Trong đó, đứng vững trên phương diện lịch sử và tư tưởng như thông lệ của các bộ thông sử, Trung Quốc Tịnh Độ tông thông sử đã khảo cứu về quá trình

truyền thừa của Tịnh Độ tông và tư tưởng của các kinh điển Tịnh Độ cũng như tư tưởng Tịnh Độ của các vị cao tăng Trung Quốc

Thích Đại An, Tịnh Độ tông giáo trình [1] nghiên cứu Tịnh Độ tông dưới hình

thức “giáo trình” Thích Đại An là đương kim trụ trì chùa Đông Lâm ở Lư Sơn (Đạo tràng của Tuệ Viễn - Sơ tổ Tịnh Độ tông Trung Quốc), nên tác phẩm này cung cấp nhiều thông tin lợi ích không chỉ cho người nghiên cứu, mà còn đối với người

tu hành Phật giáo Những thể loại sách nghiên cứu về Tịnh Độ như vậy rất nhiều, có

thể liệt kê thêm một vài tác phẩm khác tiêu biểu như Nghiên cứu Tịnh Độ tông Trung Quốc của Thích Thông Căn và Ôn Kim Ngọc [116], Giáo trình Tịnh Độ tông

của Ngụy Lỗi [121], v v

Trang 17

Người Nhật Bản cũng có nhiều nghiên cứu sâu sắc về Tịnh Độ tông Trung Quốc và Tịnh Độ tông Nhật Bản, tiêu biểu phải kể đến bác sĩ Vọng Nguyệt Tín Hanh (1869 - 1948) Ông là nhân vật điển hình cho thế hệ nghiên cứu Tịnh Độ tông

thời cận đại Những tác phẩm nghiên cứu về Tịnh Độ của ông tiêu biểu như: Tịnh Độ giáo chi khởi nguyên cập kỳ khai triển [124], Lược thuật Tịnh Độ giáo lý sử, Tịnh Độ giáo chi nghiên cứu, Trung Quốc Tịnh Độ giáo lý sử Nhìn chung, những tác phẩm

nghiên cứu về Tịnh Độ của các học giả NhậtBản rất công phu và quy phạm Nhiều vấn

đề tiêu biểu của Tịnh Độ được các học giả Nhật Bản tìm hiểu kỹ lưỡng

Ngoài ra, nhiều luận văn và luận án ở Trung Quốc gần đây nghiên cứu khá sâu

rộng về Tịnh Độ tông Trung Quốc như: Đỗ Cương với luận án hậu tiến sĩ Trung Quốc Phật giáo Tịnh Độ tông giáo dục nghiên cứu [131] Tác phẩm này không những luận

thuật tư tưởng triết học, lịch sử của Tịnh Độ tông mà còn có tính Tôn giáo học, đó là khảo sát điền dãnhững đạo tràng Tịnh Độ tiểu biểu ở Trung Quốc, từ đó chỉ ra sự ảnh hưởng của nó đối với đời sống của người tu hành Phật giáo và xã hội

Nguyễn Tiến Sơn, Việt Nam Tịnh Độ tín ngưỡng sử luận [134] nghiên cứu tư

tưởng Tịnh Độ ở góc độ Triết học và Sử học Đây là luận văn thạc sĩ tiếng Trung đầu tiên nghiên cứu về lịch sử PTTĐ ở Việt Nam Do vậy, công trình không chỉ cống hiến cho học giả trong nước mà còn là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu nước ngoài

Nhìn chung, khối lượng tác phẩm đề cập đến PTTĐ bằng ngoại ngữ từ quá khứ đến hiện tại nhiều gấp hàng trăm lần so với kinh điển Tịnh Độ mà Đức Phật Thích Ca Mâu Nithuyết giảng Vì vậy, chúng là những tư liệu rất quý để luận án này tham khảo và trích dẫn

1 3 Tình hình nghiên cứu về Pháp tu Tịnh Độ tại Việt Nam

1 3 1 Tình hình nghiên cứu về lịch sử Pháp tu Tịnh Độ trong Phật giáo Việt Nam

Tư liệu bằng chữ Hán in ở Việt Nam thời Lê - Nguyễn là những cứ liệu xác

đáng cho nghiên cứu quá trình truyền nhập và phát triển PTTĐ thời kỳ này: Kiến tính thành Phật của thiền sư Chân Nguyên[149]; Đại thừa chư Tịnh Độ kinh [155], Kim Cương Di Đà kệ chú châm minh [157], Di Đà kinh sớ sao do đại sư Liên Trì

Trang 18

trước tác[152]; Phật thuyết A Di Đà Kinh yếu giải do Sa môn Thông Duệ trùng san[140]; Tịnh Độ hội nguyên[158], Tịnh Độ chỉ quy [159], Tịnh Độ vấn đáp [160], Tịnh Độ thần chung [161], Vãng sinh tập [166], Tây Phương mỹ nhân, Trương Tây Dân tập giải [162], Tây Phương hợp luận [163], Quy nguyên trực chỉ do Sa môn Nhất Nguyên Tông Bản soạn[135]; Long thư Tịnh Độ doTiến sĩ Vương Nhật Hưu soạn[146] Các tác phẩm này phần lớn do người Trung Quốc viết nhưng được người

Việt Nam chủ trì khắc ván tái bản Căn cứ vào phần lời tựa và phần lời bạt của cuốn sách có thể thấy được tình hình thực hành PTTĐ của người Việt Nam thời bấy giờ

Ví dụ, bộ Tịnh Độ sám nguyện, do Sa môn Tuân Thức thời nhà Tống soạn, bản in

tại nước ta năm Quý Dậu, niên hiệu Tự Đức (1873), tái bản năm Thành Thái (1897)[57] Tác phẩm này hiện nay vẫn thường dùng làm khoá lễ của Tăng ni, Phật

tử Việt Nam Lời tựa cuốn sách này cho biết: “Tại nước ta vào niên hiệu Vĩnh Hựu (1735 - 1740), Tổ sư Trạm Công đến Bắc Quốc (Trung Quốc) thỉnh mang về lưu trữ

ở chùa Càn An Năm Ất Sửu niên hiệu Tự Đức, Pháp chủ chùa Vĩnh Nghiêm được

kinh này in lại để đại chúng cùng thực hành” [60, tr 1] Lời tựa bộ Di Đà sớ sao in

năm Cảnh Hưng thứ 27 (1786) cho biết số mục người ấn tống in kinh này: “Pháp quyến gồm 124 người, Tỷ khiêu gồm 53 vị, Tỷ khiêu ni gồm 88 vị, người tại gia gồm 1 108 người”; mọi người đều hy vọng “vào vô thượng pháp môn, cùng các bậc thượng thiện nhân, đều đến Lạc Bang, chóng lên quả Phật” [95, tr 308]

Các tài liệu nói về cơ cấu tổ chức, mục đích, tông chỉ của các hội đoàn tu tập

Tịnh Độ không nhiều, nhưng nhìn chung có giá trị cao Chẳng hạn, sách Liên xã niệm Phật hội, Sa môn Nguyên Biểu biên soạn vào năm 1887, chùa Đại Khánh, tỉnh

Hải Dương in[136 ], phản ánh khá rõ diện mạo của một vùng Phật giáo phía Bắc nước ta tu tập pháp môn Niệm Phật và các hoạt động Phật pháp có ảnh hưởng đến

xã hội khá sâu rộng

Ngoài chữ Hán, nhiều kinh điển bằng chữ Nôm có nội dung về PTTĐ cũng là

những tư liệu đáng quý, tiêu biểu như: Long thư Tịnh Độ diễn âm do Sa môn Tính Định soạn [144]; Tây Phương công cứ tiết yếu diễn âm[164], Di Đà cảnh giới hạnh[154], Đại Di Đà kinh chính văn đặc niệm chích yếu diễn âm do Sa môn Tính

Định soạn[143] Những bộ kinh điển kể trên miêu tả về thế giới Cực Lạc cũng như

Trang 19

cách thức thực hành PTTĐ Phần lớn tác phẩm chữ Nôm được diễn tả bằng thể thơ lục bát, giúp người đọc sẽ dễ nhớ hiểu, dễ truyền bá

Đầu thế kỷ XX, những kinh sách Tịnh Độ bằng quốc ngữ ra đời Nhiều kinh gốc của PTTĐ bằng chữ Hán được dịch ra quốc ngữ để mọi người dễ tụng niệm hằng ngày, cũng là cơ sở để các nhà nghiên cứu làm tài liệu tham khảo và trích dẫn

Những ấn phẩm tiêu biểu về thể loại này phải kể đến: Vô Lượng thọ [20], Quán Vô Lượng thọ [92], Phật thuyết A Di Đà Kinh [93], Tịnh Độ ngũ kinh [21], v v

Ngoài những bộ kinh luận gốc, nhiều tác phẩm giải thích nghĩa lý Tịnh Độ được

các học giả Việt Nam biên dịch, tiêu biểu như Kinh A Di Đà sớ sao [35], Kinh A Di Đà yếu giải [56], Sám nguyện [60], Khuyến tu Tịnh Độ thiết yếu [74] Những tác phẩm này

giúp người nghiên cứu, người tu hành ở Việt Nam tiếp cận giáo lý Tịnh Độ sâu sắc hơn

Ngoài những tác phẩm được phiên dịch, các học giả Việt Nam còn chuyên khảo thành những tác phẩm của Tịnh Độ, tiêu biểu như các tác phẩm của HT Thích

Thiền Tâm: Niệm Phật thập yếu [68], 13 vị Tổ Tịnh Độ tông [70]; Thiết lập Tịnh Độ

- Kinh A Di Đà Thiền giải [31], … đã kiến giải sâu rộng về PTTĐ Những kiến giải

này một m t kế thừa tư tưởng PTTĐ của Trung Quốc, m t khác cũng có những lĩnh vực riêng biệt đại diện cho người Việt Nam đương thời

Những công trình như Kinh điển y cứ của Pháp tu Tịnh Độ và nhân vật tiêu biểu thực hành Pháp tu Tịnh Độ, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1&2 năm 2017; Khái niệm „Tịnh Độ tông‟ tại Trung Quốc và „Pháp tu Tịnh Độ‟ tại Việt Nam, đăng trên Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 395 năm 2017 của Nguyễn

Tiến Sơn [63] chú trọng giới thiệu về PTTĐ tại Việt Nam dưới góc độ Tôn giáo học Những tác phẩm nêu trên đề cập không chỉ đến lịch sử truyền nhập và phát triển PTTĐ trong PGVN, mà còn đến những lĩnh vực Triết học, Tôn giáo học của pháp tu này, những điều được chúng tôi lưu tâm tập hợp, chắt lọc phục vụ cho việc hoàn thiện luận án

1 3 2 Tình hình nghiên cứu về cộng đồng Tịnh Độ trong Phật giáo Việt Nam hiện nay

Nghiên cứu liên quan đến cộng đồng Tịnh Độ trong PGVN khu vực phía Bắc

có luận án tiến sĩ Triết học của Ngô Thị Lan Anh (2011), Ảnh hưởng của “Tâm”

Trang 20

trong Phật giáo đối với đời sống đạo đức nước ta hiện nay [3] Triển khai luận án,

tác giả đã phỏng vấn 1 500 phiếu dành cho người không phải tu hành Phật giáo và

500 phiếu cho người tu hành Phật giáo tại 7 tỉnh thành phía Bắc gồm: Hà Nội, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Nam Định, Quảng Ninh Một trong những kết quả phiếu điều tra xã hội học cho thấy các mục đích theo đạo Phật của người dân, trong đó có mục đích “được về Tây phương Cực Lạc”

Luận án tiến sĩ Triết học của Nguyễn Thị Thuý Hằng (2015), Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống tinh thần cư dân Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay [32] Tác giả luận án này cũng dùng phương pháp điều tra xã hội học trên địa

bàn 5 tỉnh thành: Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định Đối tượng khảo sát phiếu điều tra xã hội học là nhà tu hành Phật giáo (125 phiếu) và không phải nhà tu hành Phật giáo (500 phiếu) Kết quả thu được cho thấy ảnh hưởng mạnh

mẽ của nhân sinh quan Phật giáo đối với người dân, trong đó việc Niệm Phật, chiếm

tỷ lệ tốp đầu

Số liệu từ Báo cáo tổng kết 2012 [5] của Ban Trị sự Phật giáo thành phố Hà Nội ngày 20/12/2012, Báo cáo tổng kết năm học 2015 [89] khoá 2014 - 2018 của Trường Trung cấp Phật học Hà Nội, Tài liệu đại hội đại biểu Phật giáo thành phố Hà Nội năm 2017 [29] của Ban Trị sự Phật giáo thành phố Hà Nội đã cung cấp nhiều

thông tin về các đạo tràng thực hành PTTĐ trên địa bàn thủ đô và việc giảng dạy cho các tăng ni sinh tại Trường Trung cấp Phật học có nội dung về PTTĐ hiện nay

Nghiên cứu liên quan đến PTTĐ tại khu vực miền Trung, tiêu biểu là tỉnh Thừa Thiên - Huế, trước hết phải kể đến đề tài khoa học cấp Bộ do TS Lê Tâm Đắc

làm chủ nhiệm (2010), Phật giáo Huế và vùng phụ cận thời kỳ từ năm 1932 đến nay,

Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Khoa học xã hội Việt Nam [18] Đề tài đã dành gần 20 trang khảo cứu PTTĐ đã và đang tồn tại ở Phật giáo xứ Huế Trong đó, đề tài đã chỉ ra mô hình thực hành PTTĐ ở Huế với nét nổi bật là “Niệm Phật đường”:

“Niệm Phật Đường có hình chữ T quốc ngữ Do công năng sử dụng có sự khác biệt với các ngôi chùa truyền thống, Niệm Phật Đường thường có 2 phần rõ rệt: phần ngôi chùa cùng các kiến trúc thuộc chùa, và phần giảng đường với các nhà làm việc của các tổ chức Phật giáo địa phương của Hội Phật Học An Nam Phật điện của

Trang 21

các Niệm Phật Đường đều thờ duy nhất một pho tượng Đức Phật Thích Ca ngự trên tòa sen, tay bắt ấn Tam muội Đây chắc chắn là một trong những đ c điểm nổi bật của Niệm Phật Đường so với ngôi chùa Việt truyền thống”[18, tr 3] Tuy Niệm Phật đường thờ tượng Phật Thích Ca, nhưng phần nghi lễ, tụng niệm trong cơ sở thờ

tự này vẫn niệm Phật A Di Đà Phép hành trì PTTĐ của Phật giáo xứ Huế được kế thừa từ năm 1932 với sự đề cao cách thức tu tập Tịnh độ của Hội Phật học An Nam, nên dấu ấn Tịnh Độ thông qua việc thờ phụng, thời khoá tụng niệm tại các ngôi

chùa, Niệm Phật đường xứ Huế vẫn còn tồn tại và duy trì tới ngày nay Thời khoá tu học [58] của Ni viện Diệu Đức là một minh chứng tiêu biểu và cụ thể

Cũng nghiên cứu về Phật giáo xứ Huế, Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm trong

Lịch sử Phật giáo xứ Huế, có phần phụ lục thống kê Danh sách các chùa tại Thừa Thiên-Huế và Danh sách các Niệm Phật Đường và Gia đình Phật tử thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế [4, tr 706-729] Theo đó, Niệm Phật Đường chiếm tỉ lệ khoảng ¾

tổng số các ngôi chùa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế hiện tồn

PTTĐ ở khu vực miền Nam, Thống kê các đạo tràng tu học tại Thành phố Hồ Chí Minh của Ban Hướng dẫn Phật tử TP Hồ Chí Minh cung cấp số liệu đạo tràng

niệm Phật, cũng như số lượng người tham dự mỗi đạo tràng niệm Phật trên địa bàn

TP Hồ Chí Minh Đây là những thông tin quan trọng phản ánh thực trạng người thực hành PTTĐ tại một trong những trung tâm Phật giáo lớn phía Nam của đất nước ta hiện nay

Ngoài ra, những tác phẩm của chức sắc, nhà tu hành chùa Hoằng Pháp nói chung, của Thượng toạ Thích Chân Tính trụ trì ngôi chùa này nói riêng phản ánh

khá phong phú diện mạo PTTĐ vùng đất phương Nam của Tổ quốc Tác phẩm Cẩm nang tổ chức khoá tu [84]của Thượng tọa Thích Chân Tính đã chỉ ra những mô hình

phong phú phù hợp với từng lứa tuổi, từng giới tính, từng nghề nghiệp, thu hút đông đảo Phật tử và nhân dân đến với PTTĐ

Phản ánh PTTĐ hiện diện ở cả ba miền có thể thấy rõ trong luận án tiến sĩ Tôn

giáo học của Hoàng văn Năm (Thích Trí Như), Giáo dục và đào tạo tăng ni sinh Phật giáo Việt Nam ở miền Bắc [46, tr 174 - 207] Trong tác phẩm này, tác giả đã

thống kê lịch giảng dạy, số tiết mỗi môn học của các trường Phật học tiêu biểu đại

Trang 22

diện cho cả 3 miền Bắc - Trung - Nam có nội dung liên quan đến PTTĐ Việc dạy

và học nội dung về PTTĐ tại các trường Phật học như vậy có sức lan toả lớn trong cộng đồng Mỗi nhà sư sau khi hiểu biết về PTTĐ sẽ lan toả tinh thần này đến với đông đảo Phật tử và người dân

Tịnh Độ đạo tràng, Quy tắc thành viên [87] cho biết thực trạng của PTTĐ biểu

hiện thông qua nhiều hình thức tổ chức, trong đó có Tịnh Độ đạo tràng Bộ sách quy định nội quy của “Tịnh Độ đạo tràng” gồm 6 chương Chương 1: Tôn chỉ, nguyên tắc hoạt động và thành viên Chương 2: Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ và nhân sự Chương 3: Danh xưng, cấp thẻ, hội họp Chương 4: Gia nhập, bãi miễn tư cách thành viên tuyên dương và kỷ luật Chương 5: Tài chính, tài sản Chương 6: Sửa đổi và thi hành Những quy định, quy chế như vậy giúp Tịnh Độ đạo tràng hoạt động rộng rãi trên phạm vi cả nước Những lần tổ chức pháp hội của Tịnh Độ đạo tràng thu hút từ hàng vài nghìn đến hàng vạn người đến cùng niệm hồng danh Đức Phật A Di Đà Những bài văn chúc, chẳng hạn như bào văn chúc đọc tại pháp hội

Hoàng thành Thăng Long ngày 15/8/2015 (xem Phụ lục), đã nói lên tinh thần của

Đinh Viết Lực (2012), Pháp tu Tịnh Độ và tượng Phật A Di Đà trong các ngôi chùa Việt ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ [44], luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo

học Tác giả nghiên cứu đ c điểm và mối tương quan giữa PTTĐ với Thiền tông và Mật tông, cũng như sự hỗn dung giữa ba thành tố Thiền - Mật - Tịnh ở Việt Nam thể hiện trong bài trí tượng Phật và phương pháp tu tập [44, tr 51] So sánh giữa PTTĐ ở Việt Nam với Tịnh Độ tông tại Trung Quốc và Nhật Bản, tác giả chỉ ra:

“Tịnh Độ ở Trung Quốc và Việt Nam chú ý đến sự dung hợp giữa các tông phái và

có phần hỗ trợ tương tác với nhau trong quá trình tu tập Tịnh Độ ở Nhật Bản thì

Trang 23

khác hẳn Đại sư Thân Loan tin vào niệm Phật nhưng ban đầu ông dùng tự lực để mong tỏ ngộ chân lý, nhưng cuối cùng không được, nên đã chuyển sang niệm Phật theo bổn nguyện tha lực của Đức Phật A Di Đà Nghĩa là, khi niệm Phật, ông tin tưởng và giao phó trọn vẹn thân tâm cho Phật, để Phật sẽ dùng cái Đức mà đến cứu

độ ta và tự lực phải hoàn toàn buông bỏ Đây là điểm khác biệt rất cơ bản giữa Phật

tử theo PTTĐ ở Nhật Bản với Trung Quốc và Việt Nam Tăng sĩ và Phật tử Tịnh Độ

ở Trung Quốc và Việt Nam tu theo pháp tu Tín, Hạnh, Nguyện Nhưng Đại sư Thân Loan không theo tuần tự như thế mà qua Giáo, Hạnh, Tín, Chứng Đây là điểm khác nữa nổi bật trong sự thực hành pháp môn niệm Phật của Nhật Bản”[44, tr 54] Có thể nói, những nhận định của Đinh Viết Lực nêu trên khá xác đáng về đ c điểm và vai trò của PTTĐ tại Việt Nam

Lê Tâm Đắc (2011), Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kỳ, luận án tiến

sĩ chuyên ngành Tôn giáo học, nhấn mạnh: “Do phương pháp tu tập của Tịnh Độ dễ thực hành, dễ tu, dễ chứng, được cho là tiện ích không những về kiếp sau, mà còn

có lợi cho ngay cuộc sống hiện tại, rất phù hợp với tâm thức tín ngưỡng truyền thống của quảng đại của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước đến với tôn giáo chủ yếu qua nghi lễ chứ không hoàn toàn ở giáo lý, nên trong đời sống Phật giáo Việt Nam, pháp môn này tỏ ra ưu thắng so với Thiền tông” [19, tr 93] Do vậy, trong luận án, tác giả dành hẳn một chuyên mục nghiên cứu về phong trào chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kỳ giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX với việc đề cao PTTĐ cũng như vai trò của PTTĐ trong PGVN

Nguyễn Văn Quý (2014), Tịnh Độ tông và biểu hiện của nó trong Phật giáo Việt Nam hiện nay [62], luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tôn giáo học Luận văn chia làm hai

chương, chương 1 nói về một số nội dung cơ bản của Tịnh Độ, chương 2 nói về lịch sử

du nhập, phát triển và những biểu hiện cơ bản của Tịnh Độ tông trong PGVN Trong

đó, tác giả bước đầu nghiên cứu về tư tưởng Thiền - Tịnh và tư tưởng Phúc - Tuệ song

tu trong PGVN, cũng như vai trò của Tịnh Độ đối với tín đồ PGVN Có thể nói, cho đến nay, luận văn này có góc nhìn Tôn giáo học khá đầy đủ về PTTĐ trong PGVN Tuy nhiên, một số nội dung vẫn cần phải nghiên cứu sâu rộng hơn mới phản ánh đầy

đủ và rõ nét đ c điểm, vai trò của PTTĐ trong PGVN

Trang 24

Các tác phẩm của giới Phật học chỉ ra đ c điểm, vai trò của PTTĐ tiêu biểu

phải kể đến như HT Thích Thánh Nghiêm với Niệm Phật sinh Tịnh Độ, Thượng tọa Thích Chân Tính với Cẩm nang tổ chức khoá tu, v v Đ c biệt, Niệm Phật thập yếu của HT Thích Thiền Tâm đã chỉ rõ mối quan hệ giữa Tịnh Độ tông và các tông

phái khác trong Phật giáo Đây là sách gối đầu giường của tín đồ Phật giáo Việt Nam thực hành PTTĐ

Các bài viết trên các tạp chí từ đầu thế kỷ XX đến ngày nay như Đuốc Tuệ, Viên Âm, Giác Ngộ, Nghiên cứu Tôn giáo, Nghiên cứu Phật học…, đề cập khá sâu

sắc đ c điểm, vai trò của PTTĐ, tiêu biểu như: Pháp môn Tịnh Độ [95], Tịnh Độ quyết nghi [97], Phép tu niệm thường ngày theo Tịnh Độ môn [96], Ba món tư lương sang Tịnh Độ [24], Phép tu Tịnh Độ [25], Tôi tu Tịnh Độ [26], Giới thiệu về Tịnh Độ tông [52], Tìm hiểu về trào lưu Tịnh Độ [54], Pháp môn Tịnh Độ tại Việt Nam nhìn từ bối cảnh hiện đại [53], Pháp môn Tịnh Độ [27], Xưng tán Tịnh Độ Phật nhiếp thọ [55], v v

Một số công trình của các nhà quản lý tôn giáo ở Việt Nam như Nguyễn

Thanh Xuân, Một số tôn giáo ở Việt Nam; Hà Văn Núi - Nguyễn Lam, Những điều cần biết về hoạt động tôn giáo ở Việt nam đã tập hợp hiến chương, nội quy của các

tôn giáo ở Việt Nam hiện nay Trong đó, sự ảnh hưởng của PTTĐ thể hiện khá rõ trong hiến chương, nội quy, tên gọi của một sốtôn giáo nội sinh được tái công nhận

về tổ chức và hoạt động thời gian gần đây như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội, Phật giáo Hòa Hảo, Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn,

v v

Những tài liệu chính thống của GHPGVN như Hiến chương, công văn của Ban Trị sự Phật giáo các tỉnh thành có nội dung liên quan đến PTTĐ cũng không ít Đồng thời, những tư liệu thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Dân vận Trung ương, Trung ương M t trận Tổ quốc Việt Nam; Ban Tôn giáo (Sở Nội vụ), Ban Dân vận, M t trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh thành; nhiều bài viết trên internet phản ánh về PTTĐ hiện nay đều là những tư liệu quan trọng để luận án tham khảo

và trích dẫn

Trang 25

1 4 Đánh giá kết quả các công trình đã có và một số vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu

1 4 1 Đối với nhóm tư liệu gốc, tư liệu chữ Hán in ở nước ngoài và Việt Nam

Nhóm tư liệu gốc chữ Hán in ở Trung Quốc đề cập chủ yếu vềtư tưởng Tịnh

Độ, quá trình hình thành và phát triển của Tịnh Độ từ Ấn Độ đến Trung Quốc; từ đó quy chiếu PTTĐ có sự truyền thừa từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đến các vị tu hành Phật giáo người Ấn, người Hoa rồi được truyền đến Việt Nam

Khối tư liệu Hán văn khắc in tại Việt Nam là những bộ kinh luận dành cho người thực hành PTTĐ nhằm phát khởi Tín - Nguyện - Hạnh Các tác phẩm phục vụ những

khoá lễ tụng như Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ, Quán Kinh, Tịnh Độ sám nguyện

truyền đạt thông tin cần thiết cho người thực hànhnguyên lý cơ bản của PTTĐ; cũng như niên đại in kinh, người công đức khắc ván in kinh góp phần làm sáng tỏ sức ảnh hưởng của PTTĐ đến cộng đồng Phật tử và xã hội nước ta đương thời

Những tư liệu điền dã lưu trữ ở văn bia, sách cổ, cũng như biểu hiện qua việc thực hành nghi lễ đang diễn ra là những bằng chứng có sức thuyết phục phản ánh sự tồn tại và phát triển của Tịnh Độ tông ở Trung Quốc và PTTĐ ở Việt Nam

Những tư liệu gốc kể trên có nội dung khá tản mạn về PTTĐ ví như những hạt ngọc trai Nhiệm vụ của luận án là lấy sợi chỉ xâu chúng lại thành vòng ngọc trai

Cụ thể, luận án phải hệ thống hoá tư liệu gốc để lột tả quá trình truyền thừa PTTĐ

từ Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam Đồng thời, hệ thống hoá giáo lý của PTTĐ từ kinh điển đến người thực hành, từ đó tiến tới hoàn thiện hệ thống lý luận của PTTĐ

ở Việt Nam, do người Việt Nam sáng tạo ra Điều này làm rõ phương diện thứ nhất của Lý thuyết thực thể tôn giáo trong PTTĐ làniềm tin tôn giáo

1 4 2 Đối với nhóm tài liệu liên quan đến cộng đồng Tịnh Độtrong Phật giáo Việt Nam hiện nay

Những tài liệu liên quan đến cộng đồng thực hành PTTĐ trong PGVN hiện nay có số lượng không nhiều Tuy nhiên, do nghiên cứu “thực trạng” là vấn đề mới

mẻ, thời sự, nên cácluận án tiến sĩ của Ngô Thị Lan Anh, Nguyễn Thị Thuý Hằng rất đáng quý Bởi vì, các tác giả đó dùng phương pháp điều tra xã hội học, nên có những số liệu liên quan đến người đang thực hành PTTĐ ở các tỉnh thành phía Bắc

Trang 26

Nhưng hai luận án trên chưa nghiên cứu Phật giáo các khu vực khác, nên chúng tôi phải bổ sung số liệu liên quan đến PTTĐ tại các tỉnh thành miền Trung và miền Nam từ nhiều nguồn, đ c biệt là các nguồn chính thống

Bên cạnh việc kế thừa tối đa kết quả nghiên cứu đi trước, để phản ánh thực trạng PTTĐ hiện nay, chúng tôi phải phỏng vấn sâu một số chức sắc, nhà tu hành và Phật tử ở nước ta đang thực hành pháp tu này Những người được phỏng vấnđược lưu ý tính đại diện (vùng miền, giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, học vấn, …), phản ánh việc thực hành PTTĐ vừa đúng giáo lý nhà Phật vừa phù hợp xã hội thời nay Tư liệu phỏng vấn được phân tích, tổng hợp từ đó làm rõ các phương diện thứ hai và thứ

ba của Lý thuyết thực thểtôn giáo là thực hành tôn giáo và cộng đồng tôn giáo

1 4 3 Đối với nhóm tài liệu liên quan đến đặc điểm và vai trò của Pháp tu Tịnh Độtrong Phật giáo Việt Nam

Nhóm tài liệu này tương đối nhiều, phần lớn chỉ ra PTTĐ có những đ c điểm

cơ bản như tính hỗn dung, tính phổ cập, tính quy tụ, nhưng chưa hệ thống lại mà thôi Luận án sẽ phải hệ thống hoá những đ c điểmcơ bản của PTTĐ Bên cạnh đó, nhóm tài liệu nêu trên còn chỉ rõ PTTĐ có vai trò trong “quá khứ”, còn luận án phải chỉ ra vai trò của PTTĐ trong “hiện tại”, từ đó dự đoán về sự vận động và vai trò của PTTĐ trong “tương lai”

Tóm lại, luận án cần phải tổng hợp những tài liệu hiện kể trên để làm sáng tỏ hơn và có sức thuyết phục hơn về PTTĐ trong PGVN ở ba phương diện của Lý thuyết thực thể tôn giáo, một trong những lý thuyết quan trọng của ngành Tôn giáo học hiện nay, là niềm tin tôn giáo, thực hành tôn giáo và cộng đồng tông giáo Kết quả luận án giúp cho không chỉ giới Phật giáo, mà còn giới khoa học nắm bắt được một lượng thông tin khá phong phú và đáng tin cậy về PTTĐ

1 5 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong luận án

- Đạo tràng: Theo Từ điển Phật học (Đinh Phúc Bảo chủ biên), “Đạo tràng”

nghĩa ban đầu chỉ nơi Đức Phật Thích Ca thành đạo, nay vẫn còn ngọn tháp “Bồ Đề Đạo Tràng” Tại Ấn Độ, đạo tràng là nơi thờ Phật Ở Trung Quốc, đến thời nhà Tuỳ, năm Đại Nghiệp thứ 9, nhà vua ra sắc lệnh đổi các “Tự viện” thành “Đạo tràng”

Ngoài ra, theo sách Chú thích Kinh Duy Ma, “Đạo tràng” là nơi nhàn tĩnh để tu đạo

Trang 27

Luận án dùng khái niệm “Đạo tràng” theo nghĩa này Cụ thể, “Đạo” là “đạo Phật”,

“Tràng” là “trường học” “Đạo tràng” là trường học Phật giáo, nơi cùng tu Tịnh Độ, cùng niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà, nên có tên “Tịnh độ Đạo tràng”

- Mê tín dị đoan: là niềm tin mù quáng của con người vào các lực lượng siêu

nhiên biểu hiện thông qua những hành vi cực đoan, phi nhân tính, phản văn hoá, thường gây hậu quả tiêu cực đến đời sống xã hội, đ c biệt là sự phương hại đến sức khỏe, kinh tế và tính mạng con người Trong luận án, ngoài ngữ nghĩa nêu trên, khái niệm “mê tín dị đoan” còn để chỉ những sinh hoạt tôn giáo của Tăng ni, Phật tử và

người dân Việt Nam không theo đúng chính pháp mà Đức Phật Thích Ca thuyết giảng

- Niệm Phật: là một hình thức tưởng nhớ Phật Hình thức niệm Phật có cả

trong Phật giáo Nguyên thủy (Phật giáo Nam tông) lẫn trong Phật giáo Đại thừa (Phật giáo Bắc tông) Tu sĩ và tín đồ Phật giáo Nguyên thủy và một số tông phái, pháp tu của Phật giáo Đại thừa thường niệm danh hiệu Đức Phật Thích Ca - “Nam

Mô Thích Ca Mâu Ni Phật”; trong khi PTTĐ niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà -

“Nam Mô A Di Đà Phật”

- Pháp môn: Lời Đức Phật nói gọi là “Pháp” Pháp là công cụ để mọi người tu

học theođạo Phật gọi là “Môn” “Pháp môn” là các phương pháp tu tập của đạo Phật Theo giáo thuyết nhà Phật, tôn giáo này có 84 000 (cực kỳ nhiều) pháp môn, trong

đó có “Pháp môn Tịnh Độ” (phương pháp tu tập Tịnh Độ)

- Tịnh Độ:BộViệt NamTịnh Độ sử luận giải thích:“Tịnh độ từ chữ Phạn

“Parisuddha buddha ksetra” phiên dịch ra Chữ “Parisuddha” nghĩa là “được tịnh hoá”, chữ “Buddha” nghĩa là “Phật”, chữ “Ksetra” nghĩa là “Độ” (cõi nước, đất nước) Nên cả câu chữ Phạn trên dịch là: “Quốc độ của Phật được thanh tịnh”, “tất

cả quốc độ của chư Phật đều đã thanh tịnh” [82, tr 4] Khái niệm“Tịnh Độ” nêu trên đang giải thích theo nghĩa rộng Còn trong luận án, khái niệm “Tịnh Độ ” được

hiểu theo nghĩa hẹp, đó là quốc độ của Đức Phật A Di Đà, cõi Tây phương Cực lạc

- Pháp tu Tịnh Độ: Trong luận án này, khái niệm “Pháp tu Tịnh Độ” được sử

dụng theo nghĩa là một phương pháp tu tập của người tin tưởng và thực hành việc

niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà để cầu vãng sinh sang cõi Tây phương Cực lạc

Trang 28

- Tây phương Cực lạc (Sukhāvati): là khái niệm được nói trong Kinh A Di

Đà, chỉ nơi Đức Phật A Di Đà đang giáo hoá Đây là thế giới lý tưởng để người

thực hành PTTĐ cầu vãng sinh về sau khi mệnh chung

- Tín - Nguyện - Hạnh: là ba yếu tố cần thiết của người thực hành PTTĐ Nói

ngắn gọn, Tín là có niềm tin sâu sắc về cõi Tây phương Cực lạc và Đức Phật A Di

Đà Nguyện là phát nguyện sau khi mệnh chung được vãng sinh về cõi Tây phương Cực lạc Hạnh là hằng ngày thực hành xưng niệm câu “Nam Mô A Di Đà Phật” (Di

Đà lục tự)

- Tông phái: Sau khi Đức Phật Thích Ca nhập diệt, các đệ tử nương vào giáo

pháp của ngài để chia thành từng tông và phái với mục đích chủ yếu thuận tiện cho việc truyền giáo Phật giáo Trung Quốc thành lập “Tịnh Độ tông”, “Thiền tông” ; trong Thiền tông có các phái nhỏ như: Phái Vân Môn, Phái Pháp Nhãn PGVN có Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi, Thiền phái Vô Ngôn Thông, Thiền phái Thảo Đường,

v v

Trang 29

Chương 2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP TU TỊNH ĐỘ TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

2 1 Khái lược về Pháp tu Tịnh Độ

2 1 1 Pháp tu Tịnh Độtừ kinh điển Phật giáo

Việc niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà, phát nguyện cầu vãng sinh về Tây phương Cực lạc là cương lĩnh của PTTĐ Muốn về Tây Phương Cực lạc, người tu tập cần phải Tín - Nguyện - Hạnh Những chân lý này được Đức Phật Thích Ca

Mâu Ni nói rõ trong Phật thuyết A Di Đà kinh, Quán Vô Lượng Thọ kinh, Vô lượng thọ kinh

2 1 1 1 Pháp tu Tịnh Độ trong Kinh Phật thuyết A Di Đà

Phật thuyết A Di Đà kinh (gọi tắt là Kinh Di Đà) do Cưu Ma La Thập phiên

dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán Người Việt Nam xưa nay đều lấy bản kinh này làm thời khóa đọc tụng sớm tối Nội dung bộ kinh nói về Tây phương Cực Lạc và PTTĐ

Bộ kinh này thuộc thể “Vô vấn tự thuyết” (không ai hỏi, Phật tự nói ra) Xá Lợi Phất - đệ tử trí tuệ số một của Đức Phật, một trong số 1 250 đệ tử Đức Phật có m t lúc bấy giờ, được coi là đối tượng nghe chính Bởi vì, chỉ người có trí tuệ số một mới đủ trọng trách tiếp nhận lời Đức Phật thuyết Như nhiều kinh điển khác, bộ kinh này Đức Phật thuyết tại vườn của Cấp Cô Độc, cây của thái tử Kỳ Đà, nước Xá Vệ

Theo chiều ngang, nội dung Kinh Di Đà quy nạp về ba yếu tố căn bản của

PTTĐ là Tín - Nguyện - Hạnh Ngay phần đầu bộ kinh, Đức Phật chỉ ra sự tốt đẹp của cõi Tịnh Độ để các đệ tử phát khởi niềm tin về một thế giới: “Chúng sinh nước

đó không có các khổ, chỉ hưởng điều vui, nên gọi Cực Lạc”[21, tr 12] “Cực - 極”

là “rất”, “Lạc - 樂” là “vui”, Cực Lạc là “rất vui”, đối lập với thế giới “Sa Bà - 娑

婆”, dịch là “Kham nhẫn - 堪忍” (phải nhẫn nhịn sự khổ) Thế giới Cực Lạc cách

xa địa cầu/ trái đất“mười vạn ức cõi Phật” [21, tr 12] theo hướng Tây

Về môi trường, Cực Lạc là cõi nước hoàn toàn thanh tịnh (Tịnh Độ), không bị

ô nhiễm Cõi đó được cấu tạo bởi lan can bảy tầng, lưới báu phủ trên hư không, cây trồng thẳng hàng đều có bảy lớp Ao cõi Cực Lạc có cát bằng bột vàng trải ở dưới

Trang 30

đáy, nước trong ao có tám công đức, đường đi quanh ao và lan can được xây bằng chất liệu vàng, bạc, lưu ly, pha lê Bên cạnh ao có những lầu gác bằng bảy thứ báu xây bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não Trong ao có hoa sen to như bánh xe, gồm bốn màu xanh, vàng, đỏ, trắng, mỗi bông đều phóng hào quang rực rỡ Cõi Cực Lạc có nhiều loài chim đẹp, lạ ngày đêm hót ra những âm thanh mầu nhiệm, nói ra những giáo pháp khiến chúng sinh khởi tâm niệm Phật, Pháp, Tăng Những loài chim này không phải do tội báo sinh làm súc sinh mà là do Đức Phật A Di Đà biến hóa ra Ở cõi Cực Lạc thường có nhạc trời tự nhiên phát ra, ho c

do gió thổi nhẹ làm lay động các cây báu, các lưới giăng khiến người nghe tự nhiên sinh tâm vui vẻ, biết niệm Tam bảo

Môi trường cõi Cực Lạc rất tốt Con người cõi Tịnh Độ rất đ c biệt Trong thế giới Cực Lạc, Đức Phật A Di Đà như vị chủ nhà, xung quanh có rất nhiều đệ tử, trong đó đại đa sốđạt quả vị Thanh Văn và La Hán, không còn luân hồi trở lại theo nghiệp lực và một đời nữa sẽ thành Phật Đức Phật A Di Đà đang ở cõi Cực Lạc nói pháp Ngài có tuổi thọ vô cùng, thành Phật được mười kiếp Ánh sáng từ thân Ngài chiếu khắp mười phương không có chướng ngại

Đức Phật Thích Ca khẳng định niềm tin về cõi Cực Lạc bằng việc rộng nói các vị Phật trong sáu phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Trên, Dưới đều hiện ra tướng lưỡi rộng

dài, khen ngợi Kinh Di Đà là một bản kinh hết thảy các vị Phật đều bảo hộ, nhớ nghĩ;

khen ngợiĐức Phật Thích Ca ở cõi Sa Bà (trái đất) có năm sự ô nhiễm: kiếp, thấy biết, phiền não, chúng sinh, thọ mệnh mà vẫn thành Phật và nói ra PTTĐ là pháp thế gian

khó tin Tựu trung lại, Kinh Di Đà xác lập niềm tin trên yếu tố miêu tả môi trường cõi

Cực Lạc, miêu tả con người cõi Cực Lạc, các vị Phật sáu phương khen ngợi cõi Cực Lạc, Đức Phật Thích Ca nhiều lần nhắc nhở chúng sinh nên tin kinh này

Điều quan trọng thứ hai trong PTTĐ là Nguyện, một nội dung được Kinh Di

Đà nhiều lần nhắc đến Sau khi miêu tả hoàn cảnh cõi Cực Lạc, Đức Phật nói:

“Chúng sinh nghe rồi, phải nên phát nguyện, nguyện sinh nước kia, sở dĩ vì sao? Vì được cùng với chư Thượng Thiện Nhân, câu hội một nơi”, “Xá Lợi Phất này, ta thấy lợi ích, nên nói kinh này, nếu có chúng sinh, nghe lời nói ấy, phải nên phát nguyện, sinh đến nước kia” [21, tr 15-16]

Trang 31

Điểm then chốt đối với người tu Tịnh Độ là phải phát nguyện mong cầu tha thiết vãng sinh về cõi Cực Lạc Được vãng sinh sẽ có môi trường tu thành Phật tốt nhất, nhất định không còn thoái lui, không còn luân hồi tái sinh theo nghiệp báo

Kinh Di Đà nhắc đi nhắc lại điều này: “Xá lợi Phất này, nếu có người nào, muốn

sinh cõi nước, Phật A Di Đà, ai đã phát nguyện, ai nay phát nguyện, ai sẽ phát nguyện thì những người ấy, đều chẳng thoái chuyển, nơi đạo Vô Thượng, Chính Đẳng Chính Giác”; “nếu có ai tin, phải nên phát nguyện, sinh sang nước kia” [21, tr 19-20] Cho nên, nếu niệm Phật liên tục như thành đồng vách sắt, gió mưa không lọt mà không cầu nguyện vãng sinh thì không thể sinh sang cõi Tịnh Độ

Khi đã tin sâu sắc, nguyện thiết tha, người tu Tịnh Độ còn phải thường xuyênniệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà: “Nếu có thiện nam, hay thiện nữ nào, nghe nói A Di Đà Phật, chấp trì danh hiệu, ho c một ngày, ho c hai ngày, ho c ba ngày, ho c bốn ngày, ho c năm ngày, ho c sáu ngày, ho c bảy ngày, một lòng không loạn, người đó đến lúc mệnh chung, Phật A Di Đà cùng các thánh chúng, hiện trước người đó, người đó mệnh chung, tâm không điên đảo, liền được vãng sinh, cõi nước Cực Lạc” [21, tr 16] Chấp trì danh hiệu tức là miệng thường xuyên niệm câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, ho c “A Di Đà Phật” Việc niệm đó cần thường xuyên, khi niệm cần “một lòng không loạn” lúc lâm chung sẽ được Đức Phật A Di Đà đón về Cực Lạc

2 1 1 2 Pháp tu Tịnh Độ trong Kinh Vô Lượng Thọ

KinhVô Lượng Thọ do Khương Tăng Khải dịch từ chữPhạn sang chữ Hán

Đây là bộ kinh triển khai giáo nghĩa Tịnh Độ theo chiều hướng sâu rộng hơn, trọng tâm ởnguyện Nội dung kinh giải thích rõ kiếp trước và quá trình tu hành thành Phật của Đức Phật A Di Đà Theo đó, nhiều kiếp về trước, Đức Phật A Di Đà từng là vua Thế Nhiêu, vì giác ngộ thế gian vô thường, muốn tìm phương cứu khổ cho đời nên xuất gia tu hành với Phật Thế Tự Tại với tên mới là Pháp Tạng Pháp Tạng được Phật Thế Tự Tại giới thiệu cho hai trăm mười ức cõi nước các vị Phật để tuyển chọn những nét đẹp nhất của mỗi thế giới Pháp Tạng liền dùng năm kiếp để “suy nghĩ nhiếp lấy, các hạnh thanh tịnh, trang nghiêm cõi Phật” Sau khi tập hợp các vẻ đẹp của mỗi thế giới, Pháp Tạng đối trước thầy mình phát ra bốn mươi tám nguyện, nội

Trang 32

dung cơ bản xoay quanh việc xây dựng thế giới Cực Lạc và đối tượng được vãng sinh về cõi đó Nguyện số mười tám có tính tiêu biểu về PTTĐ Nguyện này được phát khi Đức Phật A Di Đà còn là Tỷ khiêu Pháp Tạng, nay đã thành Phật nên nguyện có hiệu lực: “Nếu con thành Phật, mười phương chúng sinh, dốc lòng tin ưa, muốn sinh nước con, cho đến mười niệm, nếu chẳng sinh về, thì con chẳng trụ, ở

ngôi Chính Giác” [21, tr 43] Điều nguyện này xác định, người tu trong giờ phút

lúc lâm chung chỉ “Tin” = Tín, “Ưa muốn sinh” = Nguyện và “Cho đến mười niệm”

= Hạnh là đủ điều kiện được vãng sinh Nói cách khác, niệm chí ít mười câu “Nam

Mô A Di Đà Phật” là yếu tố cần và đủ được vãng sinh, nếu người đó có đầy đủ niềm tin và phát nguyện

Sau khi phát nguyện trước Phật Thế Tự Tại, Pháp Tạng trải qua triệu kiếp tu hành, tích lũy công đức, tu Bồ tát đạo, từng hiện thân làm vua ở nhân gian, từng làm thân trời để giáo hóa chúng sinh, đến nay đã thành Phật ở thế giới Tây Phương, đất nước Cực Lạc, với nhiều tên gọi khác nhau như: Vô Lượng Quang, Vô Đối Quang, Diệm Vương Quang, Thanh Tịnh Quang, Hoan Hỷ Quang, Trí Tuệ Quang, Bất Đoạn Quang, Nan Tư Quang, Vô Xứng Quang, Siêu Nhật Nguyệt Quang Tất

cả 10 danh hiệu đều có từ “Quang” (ánh sáng) Điều này có nghĩa, Đức Phật A Di

Đà có ánh sáng hào quang chiếu khắp mười phương

Kinh Vô Lượng Thọ miêu tảvề thế giới Cực Lạc đầy đủ hơn và kỹ càng hơn Kinh Di Đà Đó là lý do để người tu Tịnh Độ đoạn trừ nghi ho c, thêm lớn niềm tin

Phần sau bộ kinh, Đức Phật nói cho Bồtát Di L c, người sẽ thành Phật sau Phật Thích Ca nghe năm sự khổ ở cõi Sa Bà Dụng ý của Phật là, chúng sinh phải biết khổ mới biết tu Tịnh Độ, cầu thoát khổ Làm được như vậy là đại thiện

2 1 1 3 Pháp tu Tịnh Độ trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ

KinhQuán Vô Lượng Thọ (gọi tắt là Quán kinh) do Cương Lương Da Xá đời

Lưu Tống dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán Đây là bộ kinh có lịch sử li kỳ và hấp dẫn theo sử liệu và quan điểm của Phật giáo Bắc tông (Phật giáo Đại thừa) Theo đó, vào thời Đức Phật Thích Ca, tại thành Vương Xá có vua là Tần Bà Xa La (Bimbisāra) trị vì Con trai vua là A Xà Thế (Ajātaśatru) nghe lời Đề Bà Đạt Đa bắt vua cha nhốt vào ngục tối Vợ vua là Vi Đề Hy (Vaidehī) cung cấp lương thực cho

Trang 33

chồng bằng cách tắm rửa sạch sẽ, dùng sữa mật trộn với bột rồi đắp lên người, nước nho đổ vào các đồ trang sức rồi bí mật đem vào cung cho vua ăn uống Vua hướng

về núi Linh Thứu, thỉnh Đức Phật cho đệ tử đến nói pháp Đức Phật sai Mục Kiền Liên và Phú Lâu Na dùng thần thông bay vào cung cấm nói pháp cho vua nghe Qua hai mươi mốt ngày, A Xà Thế biết được sự tình liền định giết mẹ nhưng được hai đại thần là Nguyệt Quang và Kỳ Bà ngăn cấm Vua liền giam mẹ vào lãnh cung, cấm mọi người vào thăm cha mẹ Hoàng hậu bị giam cầm buồn rầu, khổ sở liền hướng về Đức Phật kêu cứu Đức Phật liền cùng Mục Kiền Liên và A Nan dùng thần thông hiện thân đến thăm hoàng hậu Hoàng hậu Vi Đề Hy khóc lóc xin Đức Phật chỉ cho một thế giới không có khổ đau để sinh về Đức Phật liền dùng thần thông cho bà Vi Đề Hy thấy tất cả thế giới mười phương Khi soi chiếu đến thế giới Cực Lạc,

bà liền mong cầu Đức Phật chỉ cho phương pháp tu để được sinh về thế giới này Đức Phật phóng hào quang soi đến để vua nhìn thấy, vua hoan hỷ chứng quả A Na Hàm Sau đó, vì bà Vi Đề Hy, Đức Phật đã thuyết 16 phương pháp tu quán tưởng để được vãng sinh, gồm: Quán M t trời l n, như chiếc trống cheo Quán nước lắng trong, tại ao bảy báu Quán đất bằng phẳng, trong cõi Cực Lạc Quán hàng cây báu, đẹp đẽ nhiệm màu Quán nước tám công đức, trong ao bảy báu Quán sát tổng hợp, lầu gác, nhạc trời Quán hoa sen báu, màu sắc đẹp tươi Quán Đức Phật Di Đà, cùng hai Bồtát Quán ĐứcPhật Di Đà, đẹp đẽ thù thắng Quán tưởng thân vàng, Bồ tát Quán Thế Âm Quán Bồ tát Đại Thế Chí, tay cầm bông sen Quán tưởng tổng hợp, khi được vãng sinh Quán tưởng xen tạp, Phật và Bồtát Quán điều kiện sinh về, ba cấp Thượng phẩm Quán điều kiện sinh về, ba cấp Trung phẩm Quán điều kiện sinh về, ba cấp Hạ phẩm

Quán Kinh thuộc về “Hạnh” trong Tín - Nguyện - Hạnh, nên các phương pháp

thực hành rất phong phú Ngoại trừ mười sáu pháp quán nêu trên, các phương pháp khác không kém phần thiết thực đối với người tu Tịnh Độ: “Muốn sinh nước ấy (Cực Lạc), phải tu ba phúc: Một là, hiếu dưỡng cha mẹ, kính hầu sư trưởng, từ tâm không giết, tu mười nghiệp lành; Hai là, thụ trì tam quy, đầy đủ các giới, không phạm uy nghi; Ba là, phát tâm Bồ Đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến

khích người tu” [21, tr 124] Do đó, người thực hành PTTĐ không chỉ biết ngồi

một chỗ niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” mà còn phải thực hành những pháp lành ở

Trang 34

đời như hiếu thảo cha mẹ, kính trọng người thầy, giữ gìn mười nghiệp lành, v v Điều kiện để sinh về thượng phẩm thượng sinh đòi hỏi đầy đủ cả Tín -

Nguyện - Hạnh Quán kinh nói: “Một là tâm chí thành, hai là tâm tin sâu, ba là tâm

hồi hướng phát nguyện Đủ ba tâm này, ắt sinh nước kia Lại có ba hạng chúng sinh,

sẽ được vãng sinh Thế nào là ba: Một là tâm từ không giết, đầy đủ giới hạnh Hai là đọc tụng kinh điển đại thừa Phương đẳng Ba là tu hành lục niệm, hồi hướng phát nguyện, nguyện sinh nước kia, đủ công đức ấy, một ngày cho đến bảy ngày, liền

được vãng sinh” [21, tr 142] Bộ kinh kết thúc bằng sự quả quyết, Hoàng hậu Vi

Đề Hi chắc chắn được vãng sinh, và khuyến tấn người đọc truyền bá sâu rộng giáo nghĩa kinh văn

Nói chung, Kinh Di Đà nhấn mạnh Tín, Kinh Vô Lượng Thọ chú trọng Nguyện, Quán Kinh thiên về Hạnh Ba bộ kinh này Đức Phật Thích Ca chuyên nói

về thế giới Cực Lạc, Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà, do đó được Tịnh Độtông lấy

làm kinh cơ bản để lập tông Ngoài ra, các kinh điển Phật giáo khác nhưKinh Bi Hoa, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa…đều đề cập đến Đức Phật A Di Đà và PTTĐ nhưng không chuyên nhất bằng Kinh Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ và Quán Kinh Sau khi kinh điển được phiên dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán, các vị luận sư đã không ngừng triển khai tư tưởng của Kinh Bi Hoa, Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa…, nhưng “Tịnh Độ tam kinh”

vẫnlà ba bộ kinh giới thiệu về PTTĐ đầy đủ nhất và xác thực nhất

2 1 2 Một số nhân vật Phật giáo đại diện cho Pháp tu Tịnh Độ tại Ấn Độ và Trung Quốc

Kinh điển do Đức Phật Thích Cathuyết giảng Người nói cần có người nghe hiểu, thực hành và truyền thừa Người truyền thừa kinh điển khiến PTTĐ được kế thừa từ đời này đến đời khác Những nhân vật tiêu biểu đại diện cho PTTĐ ở Ấn Độ và Trung Quốc từ đó truyền đến Việt Nam khiến cho pháp tu này phát triển mãi đến ngày nay

2 1 2 1 Các nhân vật Phật giáo đại diện cho Pháp tu Tịnh Độ tại Ấn Độ

Đức Phật Thích Ca thuyết giảng kinh điển, A Nan, Bà Vi Đề Hy và các cung

nữ là những người thực hành Tịnh Độ đầu tiên Sau này, nhiều vị đệ tử đã nối tiếp ý Đức Phật tu theo pháp môn này, tiêu biểu như Mã Minh, Long Thọ, Thế Thân

Trang 35

Mã Minh: ra đời sau khi Đức Phật nhập diệt 600 năm, người xứ Đông Thiên

Trúc, thông suốt các pháp ngoại đạo, trí tuệ sâu xa, biện luận như thác nước tuôn trào, là tổ thứ mười hai Thiền tông Ngài là người sáng tác khúc nhạc Lại Tra Hòa

La, khi gảy đàn, năm trăm vương tử trong thành nghe rồi tỉnh ngộ đời vô thường nên xin đi tu, bầy ngựa lắng nghe đều rơi lệ và hí dài tỏ vẻ bi thương, vì thế người

đời gọi tên ngài là Mã Minh (ngựa hý) Mã Minh trước tác Khởi tín luận, trong đó

khuyên niệm Đức Phật A Di Đà, cầu sinh Tịnh Độ:“Ở thế giới Ta Bà này, các hành giả sợ mình không thể thường g p chư Phật, để gần gũi nghe pháp cúng dàng Và ngại tín tâm khó được thành tựu, e dễ bị thoái chuyển Các chúng sinh ấy nên biết rằng: Đức Như Lai có phương tiện thù thắng để nhiếp hộ lòng tin Đó là nhân duyên chuyên tâm niệm Phật, tùy nguyện cầu sinh về cõi Tịnh Độ tha phương để thường được thấy Đức Phật, lìa hẳn ba đường ác Như trong Tu Đa La nói: “Nếu kẻ nào chuyên niệm Đức Phật A Di Đà ở thế giới Cực lạc phương Tây, đem căn lành mình

tu, hồi hướng nguyện về cõi ấy, tất sẽ được vãng sinh”[67, tr 11]

Long Thọ: người xứ Nam Thiên Trúc, sinh sau Đức Phật diệt độ khoảng 700

năm Ngài sinh dưới cây có năm trăm long thần ở, lại nhờ Long vương Bồ tát mà

ngộ đạo nên gọi là “Long Thọ” Long Thọ là tổ thứ mười bốn của Thiền tông Luận

Tỳ Bà Sa do ngài trước tác có những phần nội dung khen ngợi về Tịnh Độ: “Nếu

người muốn thành Phật, xưng niệm A Di Đà, ứng thời vì hiện thân, nên nay con quy

mệnh” [67, tr 13] Luận Đại Trí Độ của ngài giải thích Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật trong đó có đề cập đến Tịnh Độ: “Các pháp tam muội khác có thể trừ được nghiệp

dâm, không thể trừ được nghiệp sân, có môn trừ được nghiệp sân, không thể trừ nghiệp dâm Có môn trừ được nghiệp si không thể trừ được dâm, sân Có môn trừ được ba độc tham, sân, si không thể trừ các tội đời trước Môn niệm Phật tam muội có thể trừ các

thứ phiền não và các thứ tội chướng, hay độ chúng sinh” [67, tr 13]

Thế Thân: còn gọi là Thiên Thân, người nước Bắc Thiên Trúc, sinh sau Đức

Phật nhập diệt 900 năm Ngài từng viết năm trăm bộ luận tuyên dương Phật giáo Nguyên thủy, bài bác Phật giáo Đại thừa Sau này, nhờ huynh trưởng Vô Trước chỉ bảo, Thế Thân tỉnh ngộ định cắt lưỡi tạ tội Vô Trước khuyên nên dùng lưỡi này tán thán giáo pháp chứ cắt lưỡi có tác dụng gì Nghe lời khuyên, Thế Thân làm năm

Trang 36

trăm bộ luận tuyên dương Phật giáo Đại thừa, thường gọi là Thiên bộ Luận sư (vị luận

sư viết nghìn bộ luận) Ngài trước tác bộ Vô Lượng Thọ kinh luận, còn gọi là Vãng sinh luận Tác phẩm này được xếp vào một trong những kinh luận cơ bản của PTTĐ, gồm

“Năm kinh một luận” Phần đầu bộ luận này nói: “Thế Tôn con một lòng, quy mệnh mười phương Phật, Vô Ngại Quang Như Lai, nguyện sinh về Cực Lạc” [67, tr 20] Những nhân vật Phật giáo Ấn Độ tiêu biểu kể trên đã thực hành PTTĐ Sức ảnh hưởng của họ đến đời sau thông qua việc các dịch giả, luận sư Trung Hoa đã phiên dịch,

chú giải, lưu truyền các tác phẩm của họ Vãng Sinh Luận được Đàm Loan thời Nguyên Ngụy chú thích thêm Luận Khởi Tín, Luận Đại Trí Độ của Mã Minh, Long

Thọảnh hưởng lớn đến không chỉ Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Trung Quốc, mà còn cả Phật giáo thế giới Những tác phẩm của các đại sư Ấn Độ được dịch sang tiếng Việt khiến nhiều người có thể đọc hiểu và thực hành theo tư tưởng của họ về PTTĐ Nói khác cách, PTTĐ từ Ấn Độ được thể hiện thông qua tư tưởng, trước tác bởi kinh Phật, bởi các đại sư Ấn Độ được dịch sang chữ Hán rồi truyền đến Việt Nam chứ không truyền trực tiếp từ Ấn Độ sang Việt Nam Cho nên, việc nghiên cứu sự truyền thừa này có tác dụng củng cố niềm tin của người thực hành PTTĐ ở Việt Nam

2 1 2 2 Các nhân vật Phật giáo đại diện cho Pháp tu Tịnh Độ tại Trung Quốc

Truyền đến Trung Quốc, các bậc cao tăng đã biết phát huy những đ c sắc từ kinh điển theo cách hiểu riêng của mỗi người khiến cho PTTĐ ở Trung Quốc ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội Mười ba vị cao tăng trở thành những nhân vật tiêu biểu cho Tịnh Độ tông Trung Quốc (đời sau tôn xưng là 13 vị tổ Tịnh Độ tông), gồm:

Tuệ Viễn(334 - 416): người Nhạn Môn, tuổi nhỏ hiếu học, thông đạt sách

Nho, hai mươi mốt tuổi xuất gia, sau dựng chùa Đông Lâm ở Lư Sơn, đào ao trồng sen, kết tập 123tu sĩ và cư sĩ thành tổ chức “Liên Xã”, thệ nguyện niệm Phật cầu vãng sinh Tây Phương Ở Lư Sơn ba mươi năm, ngài viết sách lập thuyết đề xướng pháp môn niệm Phật

Thiện Đạo(613 - 681): người Sơn Đông, cả đời nghiêm trì giới luật, ở Trường

An ba mươi năm, siêng năng niệm Phật, hoằng truyền Tịnh Độ, viết sách chú thích

ba kinh Tịnh Độ, chép hơn mười ngàn cuốn Kinh Di Đà, vẽ hơn ba trăm bức tranh Tây

Trang 37

Phương Cực Lạc Khi niệm Phật, miệng phóng ánh sáng nên được gọi là “Quang Minh hòa thượng” Ngài được Tịnh Độ Chân tông Nhật Bản tôn xưng là Cao Tổ

Thừa Viễn(712 - 802): người huyện Tứ Xuyên, sau khi xuất gia ở Nam Nhạc

Hành Sơn (tỉnh Hồ Nam ngày nay), tu hành Tịnh Độ, xây dựng chùa Di Đà, sinh hoạt tiết kiệm, hành đạo khắc khổ, chuyên chăm tu trì “Ban Chu Niệm Phật tam muội”, đời sau gọi là “Ban Chu đạo tràng”

Pháp Chiếu(? - ?): tuổi nhỏ xuất gia và ngưỡng mộ lời dạy của Tuệ Viễn

Niên hiệu Đại Lịch thứ tư (769), ở chùa Hồ Đông, lập ra đạo tràng “Ngũ Hội Niệm Phật”, đời sau gọi là “Ngũ hội Pháp sư” Vua Đường Đại Tông thỉnh ngài vào cung dạy pháp tu Niệm Phật, gọi ngài là Quốc sư

Thiếu Khang(770 - 805): người Triết Giang, xuất gia từ nhỏ, thông tỏ kinh luận,

chuyên tâm niệm Phật Vì phương tiện giáo hóa, ngài lấy tiền cho và khuyên tín đồ niệm Phật Khi số lượng người niệm Phật nhiều lên, ngài liền giảm dần số tiền Về sau, ngài dựng đạo tràng ở Mục Châu, kết tập đại chúng, hoằng dương Tịnh Độ

Vĩnh Minh Diên Thọ(904 - 975): sống vào đời Tống, người tỉnh Triết Giang,

xuất thân là tướng quân nhưng thường làm việc bố thí, phóng sinh Khi xuất gia, ngài là truyền nhân của Thiền phái Pháp Nhãn, về sau quay về Tịnh Độ, tinh tiến niệm Phật Mỗi ngày, ngài niệm mười ngàn Phật hiệu, làm 108 việc thiện, đề xướng

Thiền -Tịnh song tu theo pháp “Tứ liệu giản” Ngài trước tác các bộ Tông Kính Lục

100 quyển, Vạn Thiện Đồng Quy Tập, Thần Thê An Dương Phú 97 quyển [73, tr

247-248] Hậu thế cho rằng, ngài là hóa thân của Đức Phật A Di Đà

Tỉnh Thường (959 - 1020): người tỉnh Triết Giang, xuất gia từ nhỏ, tinh tiến

tu hành, giới hạnh nghiêm cẩn Ngài trước tu phép Chỉ quán của Thiên Thai tông,

sau đến chùa Chiêu Khánh ở Hàng Châu điêu khắc tượng Phật, trích máu viết Kinh Hoa Nghiêm, kết tập đại chúng cùng tu, khuyên mọi người niệm Phật

Liên Trì (1532 - 1612): hiệu Châu Hoằng, cũng gọi là Vân Thê Những trước

tác của ngài ảnh hướng lớn đến PGVN như: A Di Đà Kinh sớ sao, Trúc song tùy bút, Vãng sinh tập, Văn phát nguyện vãng sinh, Cảnh sách Tịnh Độ, Khoa cúng thủy lục

du già Đến nay, văn phát nguyện của ngài vẫn được tăng ni dùng làm thời khóa tụng niệm hằng ngày Theo Tịnh Độ tông giáo trình, quy nhiếp công hạnh tu Tịnh

Độ của ngài thể hiện ở ba phương diện: đề xướng Tịnh Độ, dung hợp các tông

Trang 38

(Thiền, Tịnh, Giáo, Luật) làm một; niệm Phật bao gồm tất cả công đức; chú trọng giới luật, rộng khuyên niệm Phật [1, tr 119-120]

Trí Húc (1598 - 1655):hiệu Ngẫu Ích, tu hành tại núi Bắc Thiên Mục Linh

Phong Năm 17 tuổi, ngài đọc Trúc Song Tùy Bút mà ngộ đạo rồi xuất gia Về sau,

ngài chủ trương thống nhất Nho -Phật- Đạo làm một, Thiền - Giáo - Luật không hai,

đồng quy Tịnh Độ Ngài trước tác hơn 40 tác phẩm, tiêu biểu như Trùng trị tì ni sự nghĩa tập yếu, Di Đà yếu giải, Tịnh Độ thập yếu, Ngẫu Ích đại sư Tịnh Độ tập Tư

tưởng chủ đạo của ngài gồm: niệm Phật là tâm tông viên đốn; hội quy các tông, cùng về Tịnh Độ; nghiêm trì giới luật, chuyên chí vãng sinh

Hành Sách (1627 - 1682): tự Triệt Lưu, là người đề xướng việc cộng tu bảy

ngày gọi là “Phật thất”, phục hưng tổ chức Liên Xã Tác phẩm tiêu biểu của ngài

gồm Liên Tạng tập, Tịnh Độ cảnh ngữ, Khuyến phát chân tín văn Tư tưởng chủ

đạo của ngài là tin sâu nguyện thiết, thành tựu tịnh nghiệp; khuyến hóa người tu, chán Sa Bà khổ; sự lý viên dung, nhất tâm bất loạn

Thật Hiền (1686 - 1734): hiệu Tỉnh Am, tự Tư Tề, là người tinh thông Thiền,

Giáo, Tính, Tướng, từng đối trước tháp Phật phát 48 nguyện Về già, ngài trụ trì chùa Phạm Thiên ở Hàng Châu, kết xã niệm Phật, chuyên tu Tịnh Độ Trước tác của ngài

gồm: Vãng sinh tập, Tịnh Độ thi, Tây Phương phát nguyện văn chú, Tục vãng sinh truyện, Khuyến phát Bồ đề tâm văn Tư tưởng chủ đạo của ngài làphát tâm Bồ đề, viên

thành tịnh nghiệp; phê phán cuồng thiền, chỉ về Tịnh Độ; chán Sa Bà, mong Tịnh Độ, trừ gốc ái; tinh tiến tu trì, trước phải tự độ “Sư chia nhật khóa làm hai mươi phần: mười phần trì danh, chín phần quán tưởng, một phần lễ sám” [67, tr 120]

Tế Tỉnh (1741 - 1810): tự Triệt Ngộ, hiệu Nạp Đường, còn có tên hiệu là

Mộng Đông (nên tác phẩm để lại có Mộng Đông thiền sư di tập) Tư tưởng chủ đạo

của ngài là nhiếp Thiền về Tịnh, đề cao niệm Phật Ngài lấy mười sáu chữ làm quy tắc chính của tu Tịnh Độ: “Chân vị sinh tử, phát Bồ đề tâm, dĩ tín nguyện thâm, trì Phật danh hiệu” (Thực vì sinh tử, phát tâm Bồ đề, dùng tín nguyện sâu, niệm danh hiệu Phật) [1, tr 139]

Ấn Quang (1861 - 1941): húy Thánh Lượng, hiệu Thường Tàm Quý Tăng (vị

tăng thường hổ thẹn) Tác phẩm tiêu biểu của ngài gồm: Ấn Quang pháp sư văn sao,

Ấn Quang pháp sư gia ngôn lục, Bính Tí tức tai pháp hội pháp ngữ Tư tưởng chủ

Trang 39

đạo của ngài làpháp môn Tịnh Độlà con đường duy nhất cứu giúp chúng sinh trong đời mạt pháp, xa lìa sinh tử; cùng hoằng Nho - Phật, thế phápvà xuất thế pháp đều nên coi trọng; đề xướng nhân quả, cứu vãn đời mạt; thành kính hổ thẹn, lấy khổ làm thầy; giáo dục gia đình, gốc để trị thế

Tóm lại, các nhân vật tiêu biểu kể trên đại diện cho Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo Trung Quốc tu hành PTTĐ Ngoài ra còn rất nhiều nhân vật thực hành PTTĐ

Sách Vãng sinh tập, Liên Tông bảo giám, hương quê Cực Lạc , liệt kê rõ điều

này Kinh điển của Tịnh Độ vốn đơn giản nhất trong các tông phái Phật giáo Nhưng qua các nhân vật tiêu biểu kể trên, PTTĐ được thực hành bằng nhiều cách thức hơn, trước tác phong phú hơn, từ đó làm cho pháp tu này ảnh hưởng sâu rộng trong Phật giáo, trong đó có PGVN

2 1 3 Quan điểm về Tịnh Độ tông Trung Quốc và Pháp tu Tịnh Độ trong Phật giáo Việt Nam

2 1 3 1 Quan điểm về Tịnh Độ tông Trung Quốc

Truyền nhập vào Trung Quốc, Phật giáo tiếp xúc với nền văn hoá Trung Hoa với những truyền thống học vấn khoa mục, tư biện, minh kinh bách học Do đó, các tông phái Phật giáo Trung Hoa ra đời Đến thời nhà Đường, sự hiện diện của 10 tông phái đã hoàn thành hệ thống tổ chức Phật giáo nước này, tạo nên nét riêng của Phật giáo Trung Hoa Mười tông phái Phật giáo tại Trung Quốc cuối thời nhà Đường (618 - 907)bao gồm:

Bảng 2 1: Các tông phái Phật giáo Trung Quốc

TIỂU THỪA

1 Câu xá

2 Thành thật

3 Luật 1 Phát minh lý luận

2 Kinh điển căn cứ

3 Tổ sư khai sáng

4 Tự viện trung tâm

5 Quá trình truyền thừa

TRUNG THỪA 4 Pháp tướng (Duy thức)

Trang 40

9 Thiền

10 Tịnh Độ Một “tông” của Phật giáo Trung Quốc cần các yếu tố:

Thứ nhất, mỗi tông phái của Phật giáo Trung Quốc đều có tông chỉ, đường lối thực hành rõ ràng, có tính sáng tạo đ c biệt Bởi vì, khi Phật giáo từ Ấn độ truyền vào Trung Quốc bao gồm rất nhiều học thuyết, tư tưởng Vị tổ sư phát triển một tư tưởng trong kinh điển lên thành một quan điểm mới, được nhiều người chấp thuận tin theo thì tư tưởng đó có thể làm tông chỉ của tông phái Ví dụ, Luật tông lấy việc nghiêm trì giới luật làm tông chỉ Tam Luận tông phát triển lý Trung đạo Thiền tông lấy việc “kiến tính thành Phật” làm mục đích cuối cùng

Thứ hai, mỗi tông phái lấy một vài bộ kinh, luật, luận làm cơ sở y cứ, chẳng

hạn Luật tông lấy Tứ phần luật làm nền tảng Thiên Thai tông nương vào Kinh Pháp Hoa Dẫu Thiền tông tuyên bố “bất lập văn tự”, nhưng kỳ thực vẫn y cứ vào Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Lăng Già, Kinh Kinh Cương làm cơ sở

Thứ ba, tổ sư khai sáng Vị sư đầu tiên lập tông phái gọi lại thuỷ tổ hay sơ tổ,

ví như Huyền Trang là thuỷ tổ của Câu Xá tông Trung Hoa, trong khi Thế Thân là thuỷ tổ của tông Câu Xá tông ở Ấn Độ Cưu Ma La Thập là thuỷ tổ của Thành Thực tông Đạo Tuyên là thuỷ tổ của Luật tông Trung Hoa, v v

Thứ tư, tổ đình tự viện trung tâm Mỗi vị tổ sư khai lập tông phái đều lấy nơi mình tu hành làm nơi trung tâm hành đạo Sau này, các đệ tử kế tiếp phát triển và lấy nơi phát tích làm tổ đình Ví dụ, chùa Thê Hà (Nam Kinh) là tổ đình của Tam Luận tông (nơi đại sư Cưu Ma La Thập hành đạo), chùa Đông Lâm ở Lư Sơn là tổ đình của Tịnh Độ tông

Thứ năm, quá trình truyền thừa Mỗi tông phái có sự truyền thừa dài ngắn, liền đoạn khác nhau Thiền tông đời nối đời không dứt, lấy mạch truyền thừa từ Đức Phật Thích Ca đến Bồ Đề Đạt Ma là tổ thứ 28 ở Ấn Độ đồng thời là tổ đầu tiên của Thiền tông Trung Hoa từ đó truyền đến Tuệ Năng là tổ thứ 6 Từ các đệ tử của Huệ Năng lại chia thành 5 phái: Tào Động, Lâm Tế, Vân Môn, Pháp Nhãn, Quy Ngưỡng Đến nay, pháp mạch còn lưu truyền mãi, phần lớn người xuất gia tu hành tại Việt

Ngày đăng: 19/03/2018, 17:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thích Đạo An (2006), Tịnh độ Tông Giáo Trình, Nxb Văn hoá Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tịnh độ Tông Giáo Trình
Tác giả: Thích Đạo An
Nhà XB: Nxb Văn hoá Tôn giáo
Năm: 2006
2. Đào Duy Anh (2010), Lịch sử cổ đại Việt Nam, Nxb Văn Hoá Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử cổ đại Việt Nam
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn Hoá Thông Tin
Năm: 2010
3. Ngô Thị Lan Anh (2011), Ảnh hưởng của “Tâm” trong Phật giáo đối với đời sống đạo đức nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của “Tâm” trong Phật giáo đối với đời sống đạo đức nước ta hiện nay
Tác giả: Ngô Thị Lan Anh
Năm: 2011
4. Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm (2001), Lịch sử Phật giáo xứ Huế. Nxb TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Phật giáo xứ Huế
Tác giả: Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm
Nhà XB: Nxb TP HCM
Năm: 2001
6. Ban Hướng dẫn Phật tử PG HCM (2016), Phụ lục các đạo tràng tu học tại TPHCM, (Lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ lục các đạo tràng tu học tại TPHCM
Tác giả: Ban Hướng dẫn Phật tử PG HCM
Năm: 2016
7. Ban Trị sự Trung ương PG Hòa Hảo (1969), Sấm giảng giáo lý PG Hòa Hảo của Đức Huỳnh Giáo chủ. Nxb. Tôn giáo, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sấm giảng giáo lý PG Hòa Hảo của Đức Huỳnh Giáo chủ
Tác giả: Ban Trị sự Trung ương PG Hòa Hảo
Nhà XB: Nxb. Tôn giáo
Năm: 1969
8. Ban trị sự Phật giáo tỉnh Gia Lai, Công văn Ngày 20/10/2011 9. Phan Kế Bính (1999), Việt Nam Phong Tục, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn" Ngày 20/10/2011 "9. " Phan Kế Bính (1999), "Việt Nam Phong Tục
Tác giả: Ban trị sự Phật giáo tỉnh Gia Lai, Công văn Ngày 20/10/2011 9. Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1999
10. Thích Đồng Bổn (1995), Hành trạng danh tăng Việt Nam thế kỷ XX, Nxb HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trạng danh tăng Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Thích Đồng Bổn
Nhà XB: Nxb HCM
Năm: 1995
12. Đoàn Trung Còn (1970), Các tông phái đạo Phật, Phật học 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tông phái đạo Phật
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Năm: 1970
13. Đoàn Trung Còn (1996), Phật học từ điển, Nxb TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học từ điển
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb TP HCM
Năm: 1996
14. Cao Huy Du dịch, Đào Duy Anh hiệu đính (2009), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Văn Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Cao Huy Du dịch, Đào Duy Anh hiệu đính
Nhà XB: Nxb Văn Học
Năm: 2009
15. Nguyễn Du (2015), Văn Chiêu Hồn, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Chiêu Hồn
Tác giả: Nguyễn Du
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2015
16. Đại chính tạng, tập 50, Cao Tăng Truyện, trang 0405 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Tăng Truyện
19. Lê Tâm Đắc (2011), Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kỳ, luận án tiến sĩ Tôn giáo học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kỳ
Tác giả: Lê Tâm Đắc
Năm: 2011
20. Thích Huệ Đăng dịch (2007), Vô Lượng Thọ Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vô Lượng Thọ
Tác giả: Thích Huệ Đăng dịch
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2007
21. Thích Tiến Đạt dịch (2014), Tịnh độ Ngũ Kinh, Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tịnh độ Ngũ Kinh
Tác giả: Thích Tiến Đạt dịch
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2014
22. Thích Tiến Đạt (2007), Những điều căn bản dành cho người xuất gia, Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều căn bản dành cho người xuất gia
Tác giả: Thích Tiến Đạt
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2007
23. Lê Quý Đôn (1977), Lê Quý Đôn toàn tập, Kiến văn tiểu lục, tập 2, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Quý Đôn toàn tập, Kiến văn tiểu lục, tập 2
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1977
24. Đuốc Tuệ (24/12/1935), Ba món tư lương sang Tịnh độ 25. Đuốc Tuệ (1/4/1940). , Phép tu Tịnh độ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba món tư lương sang Tịnh độ " 25. Đuốc Tuệ (1/4/1940)
27. Giác Ngộ, (26/10/2006), Pháp môn Tịnh độ (Tuần báo, số 352) 28. Giác Ngộ, (15-12-2005), Về cõi tịnh. (Tuần báo, số 307) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp môn Tịnh độ "(Tuần báo, số 352) 28. Giác Ngộ, (15-12-2005), "Về cõi tịnh

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w