1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biểu hiện của yếu tố nữ trong phật giáo việt nam qua hình tượng phật bà quan âm

113 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rõ nhất là trong hình tượng Quán Thế Âm Bồ tát, từ nguyên gốc Ấn Độ đã trở thành Quan Âm Bồ tát, thành Phật bà Quan Âm, trong đó người Việt Nam lại còn tạo thêm Phật bà cho riêng mình nh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRỊNH THỊ DUNG (Thích Đàm Thanh)

BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ NỮ TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

QUA HÌNH TƯỢNG PHẬT BÀ QUAN ÂM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRỊNH THỊ DUNG (Thích Đàm Thanh)

BIỂU HIỆN CỦA YẾU TỐ NỮ TRONG PHẬT GIÁO VIỆT NAM

QUA HÌNH TƯỢNG PHẬT BÀ QUAN ÂM

Chuyên ngành: Tôn giáo học

Mã số: 60 22 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Giáo viên hướng dẫn:

TS Nguyễn Quốc Tuấn

Hà Nội - 2010

Trang 3

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phật giáo có mặt tại Việt Nam hơn 2000 năm dù trải qua nhiều thời

kỳ biến động và thăng trầm lịch sử nhưng nó đã được khẳng định như một thành tố không thể tách rời của văn hóa dân tộc Khi vào nước ta, Phật giáo, do bản chất nhân văn cao độ, với tư tưởng truyền giáo “tùy duyên bất biến”, “khế cơ khế lý” đã được nhân dân Việt Nam chấp nhận và phát triển ngày một rộng rãi, từ yếu tố ngoại lai trở thành bản địa, từ cái xa lạ thành cái thân thuộc với mọi người Phật giáo Việt Nam đã xây dựng cho mình truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc, góp phần quan trọng trong việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, lối sống của nhân dân

Tuy nhiên, mặc dù tiếp nhận, hòa nhập vào đời sống văn hóa tinh thần và tâm linh của người Việt Nam, nhưng ngay từ rất sớm, Phật giáo ở Việt Nam đã tạo nên một bản sắc khác với Phật giáo ở các nước phương Đông xung quanh, mang đậm sắc thái dân tộc tính Việt Nam, gắn bó với cuộc đời mỗi con người, tạo ra những yếu tố tích cực trong phong cách riêng của nền văn minh nông nghiệp Việt Nam: nền văn minh lúa nước Trong nền văn minh đó, vai trò của người phụ nữ là điều không thể bác bỏ

và được đề cao ngay cả trên bình diện tâm linh

Vì vậy, khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo cũng đề cao người phụ

nữ Đây chính là nét khác biệt của Phật giáo Việt Nam so với các nước có truyền thống Phật giáo khác Điều này được thể hiện trước hết qua hình tượng Man Nương trong câu chuyện sản sinh ra Phật điện Tứ pháp thờ bốn

“bà” Phật: “Pháp Vân Phật, Pháp Vũ Phật, Pháp Lôi Phật, Pháp Điện Phật

Là Phật chứ không là Bồ Tát Cũng như sau đó Ỷ Lan cũng được phong

Trang 4

2 Quan Âm Phật Và một phụ nữ khác cũng nghiễm nhiên vào chùa chiếm một gian thờ riêng: Mẫu Thờ Quan Âm tại gia rất phổ biến” [29; 792] Pháp Vân tục gọi là Bà Dâu, Pháp Vũ tục gọi là Bà Đậu, Pháp Lôi tục gọi

là Bà Tướng, Pháp Điện tục gọi là Bà Dàn Từ “Bà” trong bốn cặp từ này trong tiếng Việt xưa có nghĩa là “Thần, Nữ Thần” Nó đăng đối với từ

“Ông” để chỉ Nam Thần (Chẳng hạn như Ông Đùng Bà Đà, cặp đôi khởi nguyên theo tàn tích thần thoại cổ của người Việt ta)

Như vậy, có thể thấy rằng nếu như ở nguyên gốc, các vị Phật Ấn Độ thường mang tính “nam, đàn ông”, thì khi du nhập Việt Nam, Phật giáo Việt Nam hình thành cả “Ông Phật" và “Bà Phật” Rõ nhất là trong hình tượng Quán Thế Âm Bồ tát, từ nguyên gốc Ấn Độ đã trở thành Quan Âm

Bồ tát, thành Phật bà Quan Âm, trong đó người Việt Nam lại còn tạo thêm Phật bà cho riêng mình như Quan Âm Thị Kính chẳng hạn

Nghiên cứu đề tài “Biểu hiện của yếu tố nữ trong Phật giáo Việt

Nam qua hình tượng Phật bà Quan Âm” nhằm khẳng định nét đặc sắc,

tiêu biểu và khác biệt của Phật giáo Việt Nam với Phật giáo Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản , thấy được sự hội nhập của Phật giáo với văn hóa dân tộc Khẳng định “cái riêng” của Phật giáo Việt cũng chính là thể hiện “cái riêng” của nền văn hóa Việt Nam Đó cũng là một thành phần quan trọng trong tiến trình xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo đúng tinh thần của Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương: “Mọi hoạt động văn hóa, văn nghệ phải nhằm xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”[17; 110]

2 Tình hình nghiên cứu

Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn của thế giới và Việt Nam nên luôn thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước Có thể kể đến các công trình khoa học trong nước tiêu biểu

Trang 5

Khoa học xã hội - Viện Nghiên cứu Tôn giáo với “Phật giáo với văn hóa -

xã hội Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do Nguyễn Hồng

Dương và Nguyễn Quốc Tuấn chủ biên…

Ngoài ra còn rất nhiều bài báo, tạp chí trên các tạp chí chuyên nghiên

cứu về Phật học như: Tạp chí Khuông Việt; Tạp chí Giác Ngộ, Tạp chí

Nghiên cứu Phật học, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo… đề cập đến học thuật

Phật học, vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội nhân loại nói chung, Việt Nam nói riêng

Nghiên cứu về Phật giáo với văn hóa, xã hội Việt Nam có thể kể đến

các bài báo tiêu biểu như: “Vài suy nghĩ về sự hội nhập của Phật giáo vào

nền văn hóa Việt Nam” của Minh Chi trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số

4 năm 2004; Vũ Khiêu với “Triết học và nghệ thuật Việt Nam trong quá

trình tiếp thu tư tưởng Phật giáo” trên Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo số

5-2006; Trần Văn Bình với “Tìm hiểu những đặc trưng của Phật giáo trong

quá trình hội nhập với văn hóa Việt Nam ” trên tạp chí Nghiên cứu Phật

học…v.v.v

Nghiên cứu về Quan Âm có một số công trình, bài báo như: “Ý nghĩa

biểu trưng tượng Phật bà Quan Âm nghìn mắt, nghìn tay” của tác giả Thái

Nam Thắng đăng trên Tạp chí Văn hóa Phật giáo; “Hình tượng Đức Quan

Âm trong lòng người dân Việt” của tác giả Ommani Padmehum đăng trong

Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 1 - 2003; Tác giả Trang Thanh Hiền với

Trang 6

4

“Hình tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn ở Việt Nam”, Nhà xuất bản

Văn hóa Thông tin năm 2005;…

Đặc biệt đầy đủ hơn cả là công trình “Bồ tát Quan Thế Âm trong các

chùa vùng đồng bằng sông Hồng” do Viện Khoa học Xã hội Việt

Nam, Viện nghiên cứu tôn giáo ấn hành năm 2004 Đây là công trình nghiên cứu đề cập đến các vấn đề: Bồ tát Quán Thế Âm - Lịch sử nghiên cứu vấn đề; Kinh bản về Bồ Tát Quan Thế Âm và cách tụng; Bồ tát Quán Thế Âm trong đời sống tâm linh của người Việt; Chùa Hương - Điểm hẹn của các cuộc hành hương về chốn tổ; Đi tìm mô thức tượng Quan Âm của người Việt; Bồ Tát Quan Thế Âm: Nội hàm và nghệ thuật Nhìn chung, công trình này nghiên cứu khá đầy đủ về lịch sử, vai trò của Quan Âm trong kinh điển Phật giáo, các hình tướng của Quan Âm và một số mô thức tượng Quan Âm của người Việt Đây là công trình nghiên cứu được giới học thuật đánh giá cao

Tuy nhiên, những công trình trên chỉ nghiên cứu về lịch sử, lai lịch

và các thần tướng của Quan Thế Âm hoặc các kiểu tượng Quan Âm trong kinh điển Phật giáo và kiểu tượng Quan Âm Việt Nam mà chưa công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về biểu hiện của yếu tố nữ trong Phật giáo Việt

Nam qua hình tượng Phật bà Quan Âm Có một số công trình nghiên cứu,

bài báo trên các tạp chí có đề cập tới vấn đề nhưng chỉ đứng trên phương diện, góc độ tiếp cận là hội nhập giữa Phật giáo với văn hóa dân tộc, chưa trình bày một cách chi tiết và diễn biến liên tục về biểu hiện của yếu tố nữ trong Phật giáo Việt Nam qua hình tượng Phật bà Quan Âm để thấy được nét riêng, “tính trội” của yếu tố nữ trong Phật giáo Việt Nam, thấy được một trong những nhân tố quan trong góp phần tạo nên nét đặc sắc của Phật giáo Việt Nam

Trang 7

5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu: Luận văn tìm hiểu biểu hiện của yếu tố nữ

trong Phật giáo Việt Nam thông qua hình tượng Phật bà Quan Âm Qua đó thấy được một trong những yếu tố cơ bản nhất tạo nên Phật giáo Việt Nam mang đậm tính chất văn hóa Việt Nam - tính trội của yếu tố nữ Khẳng định những giá trị văn hóa khác biệt của Phật giáo Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục đích trên, luận văn có

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Biểu hiện của yếu tố nữ trong Phật giáo

Việt Nam thông qua hình tượng Phật bà Quan Âm

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những biểu hiện của

yếu tố nữ trong Phật giáo Việt Nam qua hình tượng Phật bà Quan Âm trên một số lĩnh vực tiêu biểu như: tư tưởng, văn học, nghệ thuật

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận: Luận văn được xây dựng trên cơ sở vận dụng các

nguyên lý, quan điểm mác xít như: quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử

Trang 8

6 Luận văn kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu trong

và ngoài nước về Phật giáo và hình tượng Phật bà Quan Âm trong Phật giáo Việt Nam

5.2 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp

chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ yếu sử dụng phương pháp thống nhất giữa lôgíc và lịch sử, phân tích, tổng hợp, đối chiếu và so sánh

6 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở phân tích tổng quan chung về Phật giáo, quá trình du nhập

và đặc điểm của Phật giáo Việt Nam, những biểu hiện của yếu tố nữ trong Phật giáo Việt Nam thông qua hình tượng Phật bà Quan Âm trên một số lĩnh vực tiêu biểu như: tư tưởng, văn học, nghệ thuật Luận văn cũng chỉ ra một trong những đặc trưng tiêu biểu góp phần tạo nên sự khác biệt giữa Phật giáo Việt Nam với Phật giáo thế giới

7 Ý nghĩa của luận văn

Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần vào việc tìm hiểu và phân tích những biểu hiện của yếu tố nữ trong Phật giáo Việt Nam thông qua hình tượng Phật bà Quan Âm trên một số lĩnh vực cụ thể: tư tưởng, văn học, nghệ thuật một cách có hệ thống

Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng, cho việc hoạch định chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, nội dung chính của luận văn gồm 02 chương 05 tiết

Trang 9

7

Chương 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHẬT BÀ QUAN ÂM

VÀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về Phật giáo Việt Nam

1.1.1 Quá trình du nhập - phát triển của Phật giáo Việt Nam

Theo đường biển, các vị sư Ấn Độ đã đến Việt Nam ngay từ đầu công nguyên [53;23] Luy Lâu, trụ sở quận Giao Chỉ, đã sớm trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng Tại đây, với hoạt động truyền giáo của Khâu-đà-la (Ksudra, đến Luy Lâu trong khoảng các năm 168-189), đã xuất hiện truyền thuyết Phật giáo Việt Nam đầu tiên với Thạch Quang Phật

và Man Nương Phật Mẫu [66;45-53]

Từ trung tâm Phật giáo Luy Lâu, đã có những vị sư Ấn Độ như Ha-Kỳ-Vực (Mahajivaka) hoặc những người như Khương Tăng Hội (nguồn gốc Trung Á), sau khi xuất gia tu hành theo Phật giáo, đã đi sâu vào lãnh thổ Trung Hoa truyền đạo Một trong những người được Khương Tăng Hội truyền đạo chính là Ngô Tôn Quyền Có nhiều khả năng là từ Luy Lâu, Phật giáo đã truyền sang Bành Thành (kinh đô của nước Sở ở hạ lưu sông Trường Giang thuộc tỉnh Giang Tô ngày nay), rồi từ Bành Thành đến Lạc Dương (kinh đô nhà Đông Hán xây dựng trên bờ sông Lạc, phía Nam sông Hoàng Hà, thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay), tạo nên ba trung tâm Phật giáo lớn của đế chế Hán đầu công nguyên [66;27-28] Sau này, có lần khi trả lời vua Lương Vũ Đế về tình hình Phật giáo xứ Giao Châu, nhà sư Trung Quốc Đàm Thiên (người gốc Trung Á) đã tâu rằng: “Xứ Giao Châu

Ma-có đường thông sang Thiên Trúc Phật giáo truyền vào Trung Hoa chưa phổ cập đến Giang Đông mà xứ ấy đã xây ở Luy Lâu hơn 20 Bảo tháp, độ được hơn 500 vị Tăng và dịch được 15 bộ kinh rồi Thế là xứ ấy theo đạo

Trang 10

8 Phật trước ta” (chuyện này được Quốc sư Thông Biện thuật lại cho Thái hậu Linh Nhân (Ỷ Lan) nghe khi bà hỏi về nguồn gốc đạo Phật Việt Nam vào dịp các cao Tăng trong nước tập hợp tại chùa Khai Quốc (ngày nay là chùa Trấn Quốc, Thăng Long) vào ngày rằm tháng 2 năm 1096) Đến thời Tam Quốc, mẹ Ngô Tôn Quyền là Ngô Quốc Thái từng cho mời các nhà sư

từ Luy Lâu sang Kiến Nghiệp (thủ phủ nước Ngô) thuyết giảng

Tại Giao Châu, một người Trung Hoa tên là Mâu Bác (sinh khoảng 165-170) theo mẹ chạy tới đây lánh nạn, sau khi tiếp xúc với Phật giáo đã

bỏ đạo Nho, đạo Lão mà tu theo đạo Phật Cuốn sách Lý hoặc Luận (bàn

luận về cách xử lý những điều còn lầm lẫn, mê hoặc) do ông viết tại Giao Châu đã trở thành cuốn sách đầu tiên giới thiệu về Phật giáo bằng tiếng Hán Sách viết dạng Hỏi - Đáp gồm 37 câu, nội dung cho thấy rõ Phật giáo

đã du nhập vào Giao Châu trực tiếp từ Ấn Độ nên có cách trang phục, giao tiếp khác hẳn, khiến cho người Trung Hoa thắc mắc (như Tăng sĩ Giao Châu mặc áo cà sa đỏ, khi giao tiếp không quỳ), và tác giả đã có cái nhìn khách quan trong việc đánh giá quan hệ của văn hóa Trung Hoa với các dân tộc xung quanh “Điều 14 hỏi đáp, so sánh Phật giáo với Khổng giáo, biện bác

về Di Địch và Chư Hạ” [29;210] Chẳng hạn, câu hỏi số 14 nêu: “Tôi nghe dùng người Hạ (= Trung Hoa) để cải hóa giống người Di, Địch, chứ chưa từng nghe dùng người Di, Địch để cải hóa người Hạ bao giờ?” Tác giả trả lời: Vì không đi đâu không biết nên tự cho mình là nhất thiên hạ, “cũng giống như một người chỉ mới thấy sông suối mà chưa thấy biển, mới thấy ánh sáng đuốc mà chưa thấy ánh mặt trời” “Đạo Phật giống như mặt trời; Khổng, Lão chỉ là ngọn đuốc” Cũng do Phật giáo đã được truyền bá trực tiếp từ Ấn Độ vào Việt Nam ngay từ đầu công nguyên nên từ “Buddha” (bậc Giác ngộ) đã được phiên âm trực tiếp từ tiếng Phạn sang tiếng Việt thành Bụt Phật giáo Giao Châu lúc này mang màu sắc Tiểu thừa Nam

Trang 11

9 tông, và trong con mắt của người Việt Nam nông nghiệp, Bụt được hình dung như một vị thần dân dã toàn năng có mặt ở khắp nơi, luôn sẵn sàng xuất hiện để cứu giúp dân lành và trừng trị kẻ xấu Sau này, đến thế kỷ IV-V lại có thêm luồng ảnh hưởng Phật giáo Đại thừa Bắc tông từ Trung Hoa tràn vào Chẳng mấy chốc, nó đã lấn át và thay thế luồng Nam Tông có từ trước đó

Từ “Buddha” từ tiếng Phạn nhập vào tiếng Hán được phiên âm thành Phật Đà, Phật Đồ; Rồi Phật Đà, Phật Đồ vào tiếng Việt dần dần rút gọn lại còn Phật, từ đây từ “Phật” dần dần thay thế hẳn cho từ “Bụt” Từ Bụt với nghĩa là

“Người sáng lập ra Phật giáo” chỉ còn giới hạn trong các thành ngữ, tục ngữ mà nghĩa của nó đã trở thành cố định (Ví dụ: Gần chùa gọi Bụt bằng anh) Trong ngôn ngữ thường ngày “Bụt” được chuyển nghĩa thành “ông Tiên”; ông Bụt hiền từ là nhân vật phổ biến trong các truyện dân gian Việt Nam (Như truyện Tấm Cám)

Từ thế kỷ thứ 6, theo Thiền Uyển Tập Anh, cuốn sử Phật giáo cổ xưa

nhất hiện được biết, đã có sự du nhập các truyền phái Phật giáo từ Trung Hoa vào Việt Nam (Giao Châu) mang dấu ấn của Mật tông, Tịnh độ tông

và Thiền tông Trung Quốc Thiền tông là tông phái Phật giáo do nhà sư Ấn

Độ Bồ-đề-đạt-ma (Boddhidharma) sáng lập ra ở Trung Quốc vào đầu thế

kỷ VI “Thiền” (rút gọn của Thiền-na), là dạng phiên âm của Dhyana (tiếng Sanscrit có nghĩa là “tĩnh tâm”), chủ trương tập trung trí tuệ suy nghĩ (thiền) để tự mình tìm ra chân lý của đạo Phật Tu theo Thiền tông đòi hỏi phải dành toàn bộ thời gian công sức và phải có khả năng trí tuệ, những người bình dân khả năng trí tuệ hạn chế và còn phải lo cơm áo gạo tiền nên khó lòng có thể tu theo Thiền tông được Do vậy, Thiền tông chủ yếu chỉ phổ biến ở tầng lớp trí thức và giai cấp thượng lưu, cũng chính nhờ họ có điều kiện ghi chép lại mà nay, trong số ba truyền phái Phật giáo Đại thừa ở Việt Nam ta biết được về lịch sử Thiền tông ở Việt Nam rõ ràng hơn cả

Trang 12

10 Truyền phái thứ nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam là do nhà sư

Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) lập ra Ông là người Ấn Độ, đi qua Trung Hoa, được Tổ thứ ba Thiền tông Trung Hoa là Tăng Xán khuyên nên “mau

đi về phương Nam mà tiếp xúc với thiên hạ” Ông đến Việt Nam vào năm

580, tu ở chùa Pháp Vân, tục gọi là chùa Dâu và truyền cho Tổ thứ hai là Pháp Hiền Dòng Thiền này truyền được 19 thế hệ

Truyền phái thứ hai do một người ở Quảng Châu (Trung Quốc) có đạo hiệu là Vô Ngôn Thông lập ra Ông đến Việt Nam vào năm 820, tu ở chùa Kiến Sơ (làng Phù Đổng, nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội) Người

kế nghiệp ông là Cảm Thành Dòng Thiền này truyền được 17 đời

Truyền phái thứ ba ở thời Lý, có nhà sư Thảo Đường (người Trung Quốc, vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành, được vua Lý Thánh Tông (ở ngôi 1054-1072) giải phóng khỏi kiếp nô lệ và cho mở đạo tràng tại chùa Khai Quốc (Thăng Long) vào năm 1069 Đệ tử theo học rất đông, trong số

đó có cả chính vua Lý Thánh Tông, truyền được 6 đời

Thời Trần có vua Trần Nhân Tông (sinh năm 1258, ở ngôi từ

1279-1293, mất năm 1308), Người từng nghiên cứu Phật pháp dưới sự hướng dẫn của Thiền sư lỗi lạc Tuệ Trung Thượng Sĩ (Tuệ Trung Thượng Sĩ tên thật là Trần Tung, là con Trần Liễu, bác của Trần Nhân Tông) Sau khi xuất gia vào năm 1299, đã lên tu ở trên núi Yên Tử (huyện Đông Triều, Quảng Ninh) và tại đây lập ra Thiền phái Trúc Lâm Các sư Pháp Loa và Huyền Quang là Tổ thứ hai và thứ ba của phái này Với việc lập ra phái Trúc Lâm, thực chất là Trần Nhân Tông đã thống nhất được các truyền phái tồn tại trước đó và thống nhất toàn bộ các giáo nghĩa và truyền phái Phật giáo Việt Nam về một mối

Những giai đoạn sau này còn tiếp tục xuất hiện thêm một số thiền phái khác như phái Tào Động thời Trịnh - Nguyễn, phái Liên Tôn (thế kỷ XVII-

Trang 13

11 XIX) có trụ sở ở chùa Bà Đá và chùa Liên Phái (Hà Nội), phái Liễu Quán phổ biến ở miền Trung vào thế kỷ XVII-XVIII, phái Lâm Tế xuất hiện ở miền Trung vào thời Nguyễn và rất phổ biến ở miền Nam sau này

Phật giáo Việt Nam từ thời đại nhà Lý, Trần rất đề cao phạm trù Tâm: Phật tại tâm, tâm là Niết Bàn, tâm tứ Phật Phật Quốc sư núi Yên Tử nói với Trần Thái Tông: “Núi vốn không có Phật, Phật ở nơi tâm, tâm lặng lẽ sáng suốt ấy là chân Phật” Trần Nhân Tông viết:

“Nơi mình có ngọc, tìm đâu nữa,

Trước cảnh vô tâm, ấy đạo Thiền”

Khác với Thiền tông, Tịnh độ tông chủ trương phải dựa vào tha lực (sự giúp đỡ từ bên ngoài) Thực ra thì Thiền tông hay Tịnh độ tông cũng chỉ là những biện pháp tu thích hợp cho những đối tượng khác nhau và đều

từ Đức Phật mà ra: Bản thân Phật Thích Ca đã nhờ tự lực suy nghĩ mà giác ngộ; nhưng để mọi người cùng giác ngộ thì cần phải hết sức giúp đỡ họ Sự giúp đỡ từ bên ngoài này rất quan trọng, Phật Thích Ca có lần thuyết giảng rằng: “Một viên đá dù nhỏ đến mấy mà ném xuống nước thì nó cũng chìm, nhưng một hòn đá dù to đến mấy nếu đặt trên bè thì nó vẫn nổi” Thiền tông là phái dành cho những người có trình độ cao, có khả năng và điều kiện tự tu tự chứng

Còn Tịnh Độ tông là phái dành cho giới bình dân cần được giúp đỡ

để tu Sự giúp đỡ từ bên ngoài cho tín đồ Tịnh Độ tông là gợi cho họ hy vọng về một cõi Niết Bàn cụ thể gọi là cõi Tịnh Độ (yên tĩnh, trong sáng), được hình dung như một nơi cực lạc, nơi này do Đức Phật A Di Đà (A Di

Đà là tên phiên âm từ tiếng Phạn Amitabha nghĩa là “Vô lượng quang”) cai quản Người mà theo kinh Phật, đã xuất hiện từ vô số kiếp về trước Sự giúp

đỡ còn thực hiện thông qua việc bản thân họ cần thường xuyên đi chùa dâng hương hoa trước tượng Phật, thường xuyên tụng niệm danh hiệu Phật A Di

Trang 14

12

Đà Hình dung cụ thể về Niết bàn là để có đích mà hướng tới Dâng hương hoa trước tượng Phật và niệm danh Phật là để thường xuyên nhớ đến những lời dạy của Ngài mà ráng sức làm theo Hòa thượng Thích Thanh Từ giải thích: “Mục đích đi chùa không phải để cúng lạy, mà để học hỏi chính pháp, tập tu đức hạnh Lạy Phật không vì van xin tha tội, không vì cầu mong ban

ân, chỉ vì quý kính Lạy Phật để thấy mình còn thấp nhỏ , Quý kính gương cao cả của Phật để mình noi theo”[54;370-373] Nói theo, làm theo Phật thì chính là đã thành Phật, đã đạt đến Niết Bàn ngay ở cõi nhân gian này rồi Vai trò “công cụ” này của tượng Phật, của tên Phật,… được người Việt Nam nhận thức khá rõ Nói về tượng Phật, tục ngữ Việt Nam có câu: “Để là hòn đất, cất lên ông Bụt” Nhờ cách thức tu đơn giản như vậy, Tịnh độ tông là tông phái phổ biến khắp Việt Nam Đi đâu ta cũng gặp người dân tụng niệm câu: “Nam mô A Di Đà Phật” (nghĩa là nguyện quy theo Đức Phật A

Di Đà) Tượng A Di Đà cũng là tượng có mặt ở khắp mọi nơi và đã xuất hiện từ rất lâu đời

Trong khi đó, Mật tông chủ trương sử dụng những phép tu huyền bí (bí mật) như dùng linh phù, mật chú, ấn khuyết… để mau chóng đạt đến giác ngộ và giải thoát Tương truyền Mật giáo (Tantrism) do Đức Phật Đại Nhật (Mahavairocana) chủ xướng Mật tông có hai bộ kinh cơ bản là Kinh Đại Nhật và Kinh Kim Cương Vào Việt Nam, Mật tông không còn tồn tại độc lập như một “tông phái” riêng mà dường như nhanh chóng tìm được vị trí đồng hành cùng với tín ngưỡng truyền thống, hay về sau lại thu nạp một

số phương pháp tâm linh khác như hầu đồng, pháp thuật, yểm bùa, trừ tà

ma, chữa bệnh…

Do thâm nhập một cách hòa bình, ngay từ thời Bắc thuộc, Phật giáo

đã phổ biến rộng khắp Nội một việc là Lý Bí sau khi đánh đuổi quân nhà Lương, lên ngôi xưng là Lý Nam Đế vào năm 544, đã cho dựng chùa Khai

Trang 15

13 Quốc (tiền thân của chùa Trấn Quốc, Hà Nội), đồng thời một người trong

họ và là tướng của Lý Nam Đế có tên là Lý Phật Tử… cũng cho thấy ảnh hưởng của Phật giáo thời này như thế nào Các vua Đường từng nhiều lần mời các nhà sư An Nam sang kinh đô Trung Hoa thuyết pháp giảng kinh Sách vở Trung Hoa viết khá nhiều về Phật giáo Giao Châu thời kỳ này Nhiều quan lại và sĩ phu Trung Hoa đến trị nhậm và thăm thú chùa Việt Nam đã làm thơ ca ngợi các nhà sư ở đây Các cao tăng Giao Châu được mời sang kinh đô Trung Hoa thuyết pháp cũng được vua chúa và các thi sĩ Trung Hoa hết sức mến mộ Thi sĩ Dương Cự Nguyên có bài Tống Phụng Đình Pháp Sư Quy An Nam (tiễn Pháp sư Phụng Đình về An Nam), lời lẽ rất chân thành tha thiết Thi sĩ Cổ Đào trong bài thơ Tống An Nam Duy Giám Pháp Sư (Tiễn Pháp sư Duy Giám người An Nam) có đoạn cho thấy nhà sư Việt Nam đã giảng kinh riêng cho vua nghe:

"Giảng kinh xuân điện lý, Hoa nhiễu ngự sàng phi, Nam Hải kỷ hồi quá, Cựu sơn lâm lão quy

Dịch:

Giảng kinh trong xuân điện, Hoa thơm quấn giường vua, Đường Nam hải lỗi cũ,

Trở về ngọn núi xưa" [76;391-369]

Đến thời Lý-Trần, Phật giáo Việt Nam phát triển đến mức cực thịnh Vào thời Trần, nhà nho Lê Quát, học trò của Chu Văn An, đã từng lấy làm tức giận vì thấy dân ít theo Nho mà toàn theo Phật: “Phật chỉ lấy điều làm phúc mà động lòng người, sao mà sâu xa bền chắc đến như vậy? Trên là

Trang 16

14 Vương công, dưới đến thứ dân, hễ làm cái gì thuộc về việc Phật thì hết cả gia tài cũng không tiếc Nếu hôm nay đem tiền của để làm chùa, xây tháp thì hớn hở vui vẻ, như trong tay đã cầm được cái biên lai để ngày sau đi nhận số tiền trả báo lại Cho nên, trong từ kinh thành, ngoài đến châu phủ, đường cùng, ngõ hẻm, chẳng khiến đã theo, chẳng thề mà tin; hễ chỗ nào

có nhà ở thì có chùa Phật; bỏ đi thì làm lại, hư đi thì sửa lại”[54;24]

Rất nhiều chùa tháp có quy mô to lớn hoặc kiến trúc độc đáo được xây dựng trong thời gian này như chùa Phật Tích (Tiên Sơn, Bắc Ninh), chùa Dạm (Quế Võ, Bắc Ninh), chùa Diên Hựu (tức chùa Một Cột, Thăng Long), chùa Phổ Minh (xã Lộc Vượng, ngoại thành Nam Định), chùa Bối Khê (Thanh Oai, Hà Tây), chùa Trăm Gian (tên chữ là chùa Quảng Nghiêm, Hoài Đức, Hà Tây), chùa Hương Lãng (Văn Lâm, Hưng Yên, năm 1954 đã bị Pháp phá hủy hoàn toàn), chùa Thái Lạc (tên chữ là chùa Pháp Vân, Mỹ Văn, Hưng Yên), chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều, Quảng Ninh), hệ thống chùa Yên Tử (Uông Bí, Quảng Ninh), tháp Bình Sơn ở chùa Vĩnh Khánh (tức chùa Then, Lập Thạch, Vĩnh Phúc),…

Khâm phục những thành tựu văn hóa Phật giáo Việt Nam thời Trần, sách vở Trung Hoa thời Minh truyền tụng rất nhiều về bốn công trình nghệ thuật lớn của Đại Việt mà họ gọi là “An Nam tứ đại khí” Bốn công trình nghệ thuật lớn đó là:

Tượng Phật ở chùa Quỳnh Lâm: Chùa Quỳnh Lâm ở huyện Đông Triều (Quảng Ninh) được xây dựng vào khoảng thế kỷ XI, có pho tượng Di Lặc đúc bằng đồng mà theo văn bia nay vẫn còn giữ được, trong chùa thì tượng cao 6 trượng (khoảng 24m) đặt trong một toà điện Phật cao 7 trượng (khoảng 30m) Đứng từ bến đò Đông Triều cách xa 10 dặm, vẫn nhìn thấy nóc điện

Trang 17

15 Tháp Báo Thiên: Tên chữ là “Đại Thắng Tư Thiên Bảo Tháp”, là một công trình kiến trúc đồ sộ do vua Lý Thánh Tông cho xây dựng ở Thăng Long (cùng với chùa Báo Ân) vào năm 1057, sau khi đại thắng quân Tống lễ tạ ơn trời Phật Tháp tọa lạc trên gò bên bờ phía Tây hồ Lục Thủy (tức Hồ Gươm, Hà Nội ngày nay) Tháp được xây bằng đá, riêng một số tầng trên và chóp tháp được đúc bằng đồng Theo Việt Sử Lược, tháp gồm

30 tầng, cao vài chục trượng (khoảng gần 70m) Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cho biết tháp Báo Thiên tồn tại 325 năm, đến năm 1322 thì bị sét đánh sạt mất góc phía Đông của hai tầng tháp đồng trên cùng Nhiều sử sách đã ca ngợi về sự to lớn vượt bậc của công trình có một không hai này Nhà thơ danh tiếng đời Trần là Phạm Sư Mạnh đã làm bài thơ chữ Hán ca ngợi tháp như sau (trích dịch):

Trấn áp Đông Tây vững đế kỳ, Vọt cao một tháp đứng uy nghi, Cột chống trời Nam, sông núi lặng, Tháp vững bao đời vẫn chẳng suy, Gió thổi, chuông ngân, vang ứng đáp, Đêm sao, đèn đuốc, ánh lưu ly…

Năm 1414 giặc Minh bị Lê Lợi vây hãm trong thành Đông Quan, đã phá các tầng trên của Tháp để lấy đồng đúc súng đạn Đến năm 1434, vua Lê Thái Tông đã cho chọn thợ khéo sửa chữa Tháp và chùa Báo Thiên đã tiếp tục tồn tại 9 thế kỷ Năm 1884, sau khi đánh chiếm Hà Nội lần thứ 2, Pháp

đã cho phá tháp và chùa để xây dựng nhà thờ Thánh Josep (tức nhà thờ lớn

Hà Nội ngày nay)

Chuông Quy Điền: Để tôn tạo chùa Diên Hựu, năm 1101, vua Lý Nhân Tông cho xuất kho hàng vạn kilôgam đồng để đúc chuông và dự định

Trang 18

16 treo nó tại khuôn viên chùa, trong một tòa tháp chuông (phương đình) bằng

đá xanh cao 8 trượng (khoảng 32m) Chuông sau khi đúc xong quá to: tương truyền miệng chuông có đường kính 1,5 trượng (khoảng 6m), cao 3 trượng (khoảng 12m), nặng tới vài vạn cân Bởi vậy, mà không treo lên nổi nên đành phải để ở ngoài ruộng Mùa nước ngập, rùa bò ra bò vào nên dân gian gọi là chuông Quy Điền, có nghĩa là “Ruộng Rùa” Quả chuông này

đã bị giặc Minh phá hủy để lấy đồng đúc súng đạn vào năm 1414

Vạc Phổ Minh: Đúc bằng đồng vào đời Trần Nhân Tông 1293), đặt tại sân chùa Phổ Minh (thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng, ngoại thành Nam Định) Vạc sâu 4 thước (khoảng 1,6m), rộng 10 thước (khoảng 4m), nặng trên 7 tấn Vạc to tới mức có thể nấu được cả một con bò mộng: trẻ con có thể chạy nô đùa trên thành miệng vạc Đến nay trước sân chùa Phổ Minh vẫn còn ba trụ đá kê chân vạc

(1279-Sang thời Lê, Mạc nhà nước đề cao Nho giáo, Phật giáo dần dần mất

đi vai trò ưu trội, nhưng không vì thế mà bi suy thoái Nhìn tình hình trong

cả nước, kể cả lúc chia thành Đàng Ngoài và Đàng Trong, thì Phật giáo vẫn

có một vai trò quan trọng, nếu không muốn nói là Phật giáo ở Đàng Trong lại có những bước phát triển vượt bậc, có những đột phá mới trên các vùng đất mới thu về Thời Tây Sơn, vua Quang Trung đã rất quan tâm chấn hưng Phật giáo, xuống chiếu chỉnh đốn việc xây cất chùa, cho xây các chùa lớn đẹp, chọn các Tăng nhân có học thức và đạo đức cho coi chùa, song vì vua mất sớm nên việc này ít thu được kết quả[39;142] Đến thời Nguyễn, đối với các vua đầu triều vẫn coi trọng Phật giáo, xã hội lại càng như vậy, nhưng vì nửa cuối triều Nguyễn đất nước rơi vào cảnh nô lệ của thực dân Pháp, Phật giáo cũng chịu chung số phận cùng dân tộc, nó bị suy thoái trầm trọng, nhất là ở những nơi thực dân chiếm đóng và dung dưỡng Công giáo Tuy nhiên, Phật giáo không vì thế mà trút hơi thở cuối cùng, nó vẫn được

Trang 19

17 các vị cao tăng và nhân dân dung dưỡng, duy trì và chuẩn bị cho công cuộc chấn hưng vào thế kỷ XX

Đầu thế kỷ XX, đứng trước trào lưu Âu hóa và những biến động về mọi mặt của đất nước do sự giao lưu với phương Tây mang lại, phong trào chấn hưng Phật giáo được dấy lên, khởi đầu từ mảnh đất Nam Bộ và Sài Gòn - Gia Định, với vai trò quan trọng nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu, rồi sau đó lan ra cả nước Vào những năm 30, các hội Phật giáo ở Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ lần lượt ra đời với những cơ quan ngôn luận riêng Các cuộc tranh luận về tư tưởng Phật giáo về những vấn đề chính ở thời kỳ này là: thái độ Phật tử là xuất thế hay nhập thế, Phật giáo là vô thần hay hữu thần, có linh hồn hay không và quan hệ của nó với thể xác như thế nào?

đã diễn ra trên báo chí hết sức sôi nổi Đỉnh cao của phong trào chấn hưng Phật giáo là sự thành lập Tổng Liên hội Phật giáo Việt Nam năm 1951 tại chùa Từ Đàm, thống nhất Phật giáo Việt Nam trong mái nhà chung lần đầu tiên dưới một hình thái tổ chức mới, rất khác với truyền thống trước đó

Cho đến nay, Phật giáo là tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng nhất, có số lượng tín đồ đông nhất ở Việt Nam Theo số liệu của Ban tôn giáo Chính phủ thì số lượng tín đồ Phật tử xuất gia và tại gia thường xuyên đến chùa tham gia các Phật sự khoảng 10 triệu người, còn số chịu ảnh hưởng của Phật giáo khoảng vài chục triệu người[2;105]

Đạo Phật gần gũi và thân thiết với người Việt Nam đến nỗi dường như một người Việt Nam bất kỳ, nếu không theo một tôn giáo nào khác thì

ắt là theo Phật hoặc chí ít cũng là có cảm tình với đạo Phật Pho tượng đồng lớn nhất được đúc trong thời hiện đại cũng là tượng Phật - đó là pho tượng Phật A Di Đà cao 4m, trọng lượng tính cả tòa sen là 14 tấn, do phường đúc đồng Ngũ Xã thực hiện trong 3 năm 1949-1952 hiện đặt tại chùa Thần Quang ở làng Ngũ Xã (Hà Nội) Ảnh hưởng của đạo Phật

Trang 20

18 thường trực tới mức cùng với mái đình, ngôi chùa trở thành công trình công cộng quan trọng ở mỗi làng Người dân đi bất kỳ đâu lỡ độ đường đều

có thể ghé vào chùa xin ăn hoặc xin nghỉ tạm qua đêm Thành ngữ "của chùa" có nghĩa là “của công” Từ đó mà sinh ra các lối nói: Làm chùa (không được trả công); ăn chùa, học chùa (không trả tiền)… Người Việt Nam nhìn thấy cái gì cũng có thể liên tưởng đến Bụt, Phật: Người hiền lành thì ví là "hiền như Bụt", chỗ trơn nhẵn thì ví là "nhẵn như đít Bụt", một loại cây mọc ven hồ ao có rễ dài rủ xuống trông giống tượng Phật được đặt tên là cây Bụt mọc, một loại trái cây hiếm quý đuôi tẽ làm nhiều nhánh múp míp được đặt tên là quả Phật thủ…

1.1.2 Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam

Đặc trưng của lối tư duy nông nghiệp, cũng là đặc trưng nổi bật nhất của Phật giáo Việt Nam

Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã tiếp xúc ngay với các tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Do vậy, đã được tổng hợp chặt chẽ ngay với chúng Hệ thống chùa “Tứ pháp” tuy gọi là “chùa”, nhưng thực ra vẫn xuất phát từ những đền thờ các vị thần tự nhiên truyền thống Mây-Mưa-Sấm-Chớp và thờ đá Về sau, lối kiến trúc phổ biến của chùa chiền Việt Nam là kết hợp giữa thờ Phật và thờ Thần với việc đưa các Thần, các Thánh, các Mẫu, các vị Thành Hoàng thổ địa, các anh hùng dân tộc… vào thờ ở trong chùa Ngày nay, chùa thờ cả Chủ tịch Hồ Chí Minh ở hậu Tổ [32;176] Hầu như không chùa nào là không để bia ký hậu, bát nhang cho các vong hồn đã khuất

Phật giáo Việt Nam là sự tổng hợp của các tông phái với nhau Ở Việt Nam, không có tông phái Phật giáo nào thuần khiết Tuy Thiền tông có chủ trương bất lập ngôn, song ở Việt Nam chính các Thiền

sư đã để lại khá nhiều trước tác có giá trị Dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi

Trang 21

19 thì pha trộn với Mật giáo Nhiều Thiền sư, nhất là những vị sống vào thời

Lý như Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không… đều nổi tiếng là giỏi pháp thuật, có tài thần thông biến hóa Phật giáo Việt Nam cũng dung hợp chặt chẽ con đường giải thoát bằng tự lực với con đường giải thoát bằng tha lực phối hợp Thiền tông với Tịnh Độ tông (niệm Phật A Di Đà và cầu Bồ Tát cứu vớt)

Chùa miền Bắc là cả một Phật điện vô cùng phong phú với hàng mấy chục pho tượng Phật, Bồ Tát, La Hán của các tông phái khác nhau Riêng tượng Phật Thích Ca sơ sinh (thường gọi là Cửu Long, do tích khi sinh có 9 con rồng đến phun nước cho Ngài tắm) Tuyết Sơn (Thích Ca thời kỳ tu khổ hạnh ở núi Tuyết Sơn), Thích Ca đang thuyết pháp, Thích Ca ngồi tòa sen (tượng phổ biến nhất) và Thích Ca nhập Niết bàn (lúc sắp mất)

Ở phía Nam, đã xuất hiện một hệ phái Phật giáo trộn lẫn Bắc tông và Nam tông là Khất sĩ

Phật giáo Việt Nam tổng hợp chặt chẽ với cả các tôn giáo khác: Phật với Nho, với Đạo Kết hợp chặt chẽ việc Đạo với việc Đời Tuy là tôn giáo xuất thế, nhưng ở Việt Nam, Phật giáo lại rất nhập thế: Các cao Tăng thường được triều đình mời tham chính hoặc cố vấn trong những việc hệ trọng Năm 971, vua Đinh phong cho Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu làm Tăng thống Thời Tiền Lê, đại sư Không Việt và pháp sư Đỗ Thuận được giao việc tiếp sứ thần nhà Tống Trước khi xuất binh đánh quân Tống xâm lược, vua Lê Đại Hành đã hỏi ý kiến sư Vạn Hạnh Thời Lý, Thiền sư Vạn Hạnh trở thành cố vấn về mọi mặt cho vua Lý Thái Tổ Bài kệ của vua

Lý Nhân Tông truy tán sư Vạn Hạnh viết:

“Học rộng lầu ba cõi,

Lời in tiếng sấm ca

Quê làng tên Cổ Pháp, Dựng gậy vững kinh vua”

Trang 22

20 Cũng trong thời Lý, các nhà sư Đa Bảo, Viên Thông… đều tham gia chính sự, sự gắn bó giữa Đạo với Đời mật thiết tới mức không chỉ có các nhà

sư tham gia vào chính sự mà vào các thời Lý còn có khá nhiều vua quan quý tộc đi tu (đặc biệt là ở Thiền phái Thảo Đường và Trúc Lâm Yên Tử) Trong sáu thế hệ đệ tử của phái Thảo Đường thì đã có tới chín người là vua quan đương nhiệm (Các vua là đệ tử phái Thảo Đường gồm: Lý Thánh Tông (ở ngôi 1054-1072), Lý Anh Tông (ở ngôi 1138-1175), Lý Cao Tông (ở ngôi 1176-1210))

Không phải ngẫu nhiên mà ở sân chùa Phổ Minh, quê hương nhà Trần lại dựng chiếc vạc đồng lớn tượng trưng cho quyền lực (một trong bốn bảo vật) của “An Nam Tứ Khí” Đó là hình ảnh điển hình nhất của sự kết hợp chặt chẽ giữa vương quyền với thần quyền)

Vẫn với truyền thống gắn bó Đạo với Đời, Phật tử Việt Nam thường hăng hái tham gia vào các hoạt động xã hội Đầu thế kỷ XX, Phật tử là lực lượng rất tích cực trong cuộc vận động đòi ân xá Phan Bội Châu và đám tang Phan Chu Trinh Thời Diệm-Thiệu, Phật tử miền Nam nhiều lần xuống đường tham gia vào phong trào đấu tranh đòi hoà bình và độc lập dân tộc, nổi bật là sự kiện Phật tử đấu tranh phản đối nền độc tài chuyên chế của gia đình họ Ngô mà đỉnh cao là vụ Hoà thượng Thích Quảng Đức

tự thiêu tại Sài Gòn tháng 6-1963

Đặc tính nổi bật thứ hai của Phật giáo Việt Nam là xu hướng hài hòa âm dương có phần thiên về nữ tính Đặc trưng bản chất của văn hóa nông nghiệp

Các vị Phật Ấn Độ xuất thân vốn là thượng lưu nhưng vị Phật người nam giới, sang Việt Nam biến thành Phật ông, Phật bà Có những chùa Mường còn giữ những tên gọi rất nguyên sơ: Bụt đực - Bụt cái [3;41] Phật

bà Quan Âm (biến thể của Quán Thế Âm Bồ Tát) trở thành vị thần hộ

Trang 23

21 mệnh của cư dân khắp vùng sông nước vốn là địa bàn của văn hóa Việt Nam, (nên Phật Bà còn được gọi là “Quan Âm Nam Hải”) Người Việt Nam còn có những “Phật Bà” riêng của mình, do mình tạo ra như: Đứa con gái của nàng Man Nương, tương truyền sinh vào ngày 8-4, được xem là Phật tổ Việt Nam Bản thân nàng Man Nương thì trở thành Phật Mẫu Rồi còn những vị Phật Bà khác nữa như Quan Âm Thị Kính (Tượng bà trong các chùa thường gọi là Quan Âm tống tử), Phật Bà chùa Hương (tức bà Chúa Ba, hay Quan Âm Diệu Thiện) Lại còn rất nhiều các Phật bà, Bồ Tát

bà vô danh như Bà Trắng chùa Dâu Thậm chí ngay cả Đức Phật Thích Ca

là đàn ông có danh tính hẳn hoi, thân thế hẳn hoi mà trong các bức tranh dân gian vẫn cứ được hình dung như Phật Bà

Việt Nam có khá nhiều chùa mang tên các bà: Hệ thống Tứ Pháp với các chùa Bà Dâu, chùa Bà Đậu, chùa Bà Tướng, chùa Bà Dàn có ở nhiều nơi Riêng Hà Nội, có sáu chùa mang tên các bà: Chùa Bà Đá (số 3 phố Nhà Thờ, Hoàn Kiếm), chùa Bà Đanh (khu vực trường Chu Văn An, Ba Đình), chùa Bà Nành (số 154 Nguyễn Khuyến, Đống Đa), chùa Bà Ngô (128 Nguyễn Khuyến, Đống Đa), chùa Bà Già (làng Phú Gia, phường Phú Thượng, Tây Hồ), chùa Bà Móc (27 Nguyễn Thiệp)… Tuyệt đại bộ phận Phật tử tại gia là các bà “trẻ vui nhà, già vui chùa” là câu tục ngữ nói đến các bà

Chùa hoà nhập với thiên nhiên, bao giờ cũng là nơi phong cảnh hữu

tình Thành ngữ, tục ngữ có các câu như: "Đất vua, chùa làng, phong cảnh

Bụt" hay "vui như chẩy hội chùa"… Cảnh chùa hữu tình, hội chùa vui, cửa

chùa rộng mở, cho nên chùa cũng là nơi chở che cho bao đôi gái trai tình

tự: " Hội chùa Thầy có hang Cắc Cớ, trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy” (tục

ngữ) Truyện thơ nôm lục bát Phan Trần dài gần nghìn câu kể về mối tình đắm say của một đôi trai gái dưới mái chùa (thư sinh Phan Tất Chánh với ni

Trang 24

22

cô Trần Kiều Liên, pháp danh Diệu Thường); Mối tình lại được sư cô thông

cảm giúp đỡ Ca dao Việt Nam có câu: “Đàn ông chớ kể Phan Trần, Đàn bà

chớ kể thầy Vân, Thuý Kiều”

Tính tổng hợp, tính hài hoà âm dương có thiên về nữ tính là những biểu hiện đa dạng của truyền thống văn hóa nông nghiệp Bên cạnh đó, truyền thống văn hóa nông nghiệp còn có tính linh hoạt Tính linh hoạt này

đã khiến cho khi vào Việt Nam, Phật giáo đã bị Việt Nam hóa một cách mạnh mẽ

Ngay khi Phật giáo vừa đặt chân đến Việt Nam, người Việt Nam đã tạo ra một lịch sử Phật giáo riêng cho mình: Nàng Man, cô gái làng Dâu-Hà Bắc, một trong những đệ tử đầu tiên của Phật giáo, trở thành Phật Mẫu Việt Nam; đứa con gái của nàng hoá thân vào đá để thành Phật tổ với ngày sinh là ngày Phật đản 8-4

Vốn có đầu óc thực tế, người Việt Nam coi trọng việc sống phúc đức

trung thực hơn là đi chùa: "Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu

chùa", "Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người"

(ca dao) Coi trọng truyền thống thờ cha mẹ ông bà hơn là thờ Phật: "Tu

đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu" (ca dao); đồng nhất

cha mẹ với Phật: "Phật trong nhà không thờ, thờ Thích Ca ngoài đường"

(tục ngữ)

Vào Việt Nam, Đức Phật được đồng nhất với những vị vua trong tín ngưỡng truyền thống có khả năng cứu giúp mọi người dân (không chỉ Phật

tử) thoát khỏi mọi tai họa: "Nghiêng vai vái Phật, lạy trời, đương cơn hoạn

nạn độ người trầm luân" (ca dao); làm nền mây, mưa, sấm, chớp để mùa

màng tốt tươi (hệ thống chùa Tứ Pháp); ban cho người hiếm muộn có con

(tục đi chùa cầu tự): "Tay bưng quả nếp vô chùa, thắp nhang lạy Phật xin

bùa cho em" (ca dao); ban lộc cho người bình dân để quanh năm làm ăn

Trang 25

23 phát đạt (tục đi chùa lễ Phật và hái lộc vào lúc giao thừa); cứu độ cho người chết và giúp họ siêu thoát (tục mời nhà sư tới tụng kinh và làm lễ tiễn đưa người chết)

Muốn giữ cho Phật giáo ở mãi bên mình, người Việt Nam nhiều khi phá cả giới luật Có những địa phương nghèo, do muốn buộc ông sư gắn bó với làng mình để giữ chùa, cúng lễ, dân làng đã tổ chức cưới vợ cho sư, khiến cho ngôi chùa trở thành một gia đình [54;66]

Muốn hiểu điều này, không thể dừng lại ở hình thức của sự kiện, mà

đi vào nội dung Việc các tôn giáo thường cấm kỵ các “cán bộ chuyên trách” của mình xây dựng gia đình chẳng qua là để nhằm mục đích buộc họ toàn tâm toàn ý phụng sự việc đưa tôn giáo đến với quần chúng được tốt hơn Trường hợp “cưới vợ cho sư” ở đây tuy về hình thức thì trái với giới luật, nhưng trớ trêu thay, lại chính nhờ vậy mà đạt được mục đích, đúng với nội dung là giúp dân làng gắn bó hơn với tôn giáo này Đây chính là một biểu hiện của tính linh hoạt trong Phật giáo Việt Nam

Người Việt Nam giao tiếp theo nguyên tắc “xưng khiêm, hô tôn” cho nên các vị Bồ Tát mà người Việt Nam quý trọng đều được tôn là Phật cả: Phật Bà Quan Âm (vốn là Bồ Tát), Phật Di Lặc Tượng Phật Việt Nam mang dáng dấp hiền hòa của người Việt với những tên gọi rất dân dã: ông Bụt ốc (tượng Thích Ca tóc trên đầu có hình xoáy trôn ốc), ông nhịn ăn mà mặc (Ngài Tuyết Sơn gầy ốm), ông nhịn mặc mà ăn (Ngài Di Lặc to béo) Phật Di Lặc Việt Nam không chỉ độc đáo ở danh hiệu “nhịn mặc mà ăn”

mà còn được hình dung như một người ông hiền từ với đàn trẻ thơ bá vai,

bá cổ Nhiều pho tượng Phật tạc theo lối ngồi chân co chân duỗi rất giản dị, thoải mái như tượng Tuyết Sơn, tượng Phật Bà Chùa Hương Trên đầu Phật

Bà chùa Hương còn lấp ló cả lọn tóc đuôi gà rất truyền thống của người phụ nữ Việt Nam Hay tượng Bà Chúa Mía (chùa Mía - Hà Nội) mang đậm

Trang 26

24 phong cách của người phụ nữ Việt Nam Bà ngồi toạ thiền, tay lần tràng hạt, khuôn mặt hiền từ thoát lên vẻ đẹp thánh thiện của người phụ nữ Việt

(hình 1)

Ngôi chùa Việt Nam được thiết kế theo phong cách ngôi nhà Việt Nam

cổ truyền với hình thức mái cong, có ba gian hai chái, năm gian hai chái… Chùa Một Cột như một lễ vật dâng lên Phật Bà với hình bông sen thanh thoát

ở trên và trụ đã biểu hiện ước vọng phồn thực (no đủ và đông đúc) [15;12] Ở dưới là một kiến trúc dân tộc độc đáo, mô hình này không phải chỉ

có ở chùa Một Cột, Hà Nội mà cột đá ở chùa Dạm - Bắc Ninh cao hơn 5m biểu tượng cho tín ngưỡng phồn thực, chạm hình đầu rồng chầu viên ngọc và hình sóng nước, trên đỉnh còn dấu hằn của xà ngang với 6 lỗ đục xung quanh, dấu vết của những con sơn trụ chống, cho thấy rõ điều này [12;17]

Như vậy, Phật giáo Việt Nam đã gắn bó đồng hành cùng dân tộc và

có lịch sử gần 20 thế kỷ Ngày nay, Tăng ni, tín đồ, Phật giáo cả nước dưới

sự lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc đổi mới của đất nước

1.2 Một số vấn đề lý luận chung về Phật bà Quan Âm

1.2.1 Khái niệm Bồ tát Quan Âm

Quan Thế Âm theo chữ Phạn là (avalokiteśvara), cũng gọi là Quán

Tự Tại Đến đời Đường vì kị húy vua Đường Lý Thế Dân cho nên bỏ chữ Thế nên thường gọi là Quan Âm, “Bồ Tát Quan Âm đúng ra phải đọc là Quán Thế Âm có nghĩa là nghe thấu tất cả các tiếng cầu cứu của chúng sinh đau khổ bất kỳ ở thế giới nào, giàu lòng thương người cứu khổ cứu nạn nên còn gọi là Đại Bi” [31;592] Bồ tát Quan Âm là một trong những vị Bồ

Tát (bodhisattva) quan trọng nhất trong Đại thừa (mahāyāna) Có nhiều

luận giải khác nhau về nguyên nghĩa tên ngài Có người hiểu “īśvara” là

Trang 27

25 một “người nam” quán chiếu thế giới, có người hiểu “svara” là “Âm”, tức

là vị Bồ Tát lắng nghe mọi tiếng thế gian

Nhìn chung, Quán Thế Âm là thể hiện lòng Bi (karuā), một trong hai dạng của Phật tính Bồ Tát là bậc Đại Bi (mahākāruika) Dạng kia của Phật tính là Trí tuệ (Bát-nhã, prajñā), là đặc tính được Bồ Tát Văn-thù-sư- lợi (mañjuśrī) thể hiện Quán Thế Âm là vị Bồ Tát thể hiện nguyện lực của Phật A-di-đà (amitābha) và được xem như quyến thuộc của vị Phật này

(Tịnh độ tông) Với lòng từ bi vô lượng, Quán Thế Âm thể hiện sức mạnh huyền diệu cứu giúp mọi chúng sinh quán tưởng đến mình lúc gặp hiểm nguy Trong nhân gian, Quán Thế Âm là vị bảo hộ tránh khỏi tai hoạ và hay được phụ nữ không con cầu tự Trên Phật điện Bồ tát Quan Âm thường đứng bên trái A Di Đà Phật, còn bên phải là Bồ tát Đại Thế Chí Có khi Quan Âm được thờ thành một bộ ba với Thiện Tài và Long Nữ Trong các loại tranh tượng về Quán Thế Âm, người ta thấy có 33 dạng, khác nhau về

số đầu, tay và các đặc tính Thông thường ta thấy tượng Bồ Tát có ngàn tay ngàn mắt, có khi mười một đầu Trên đầu có khi có tượng A-Di- Đà, xem như đặc điểm chính Trên tay có khi thấy Bồ Tát cầm hoa sen hồng, vì vậy nên Quán Thế Âm cũng có tên là Liên Hoa Thủ (người cầm hoa

sen, padmapāi) hay nhành dương liễu và một bình nước Cam-lộ (amta) Số

tay của Bồ Tát biểu hiện khả năng cứu độ chúng sinh trong mọi tình huống

Trong tranh tượng với mười một đầu thì Quán Thế Âm mang chín đầu của chín vị Bồ Tát, một đầu của một vị Phật và cuối cùng là đầu của Phật A-di-đà Cứ mỗi ba đầu tượng trưng là ba đặc tính: từ bi với chúng sinh khổ nạn, quyết tâm đối trị cái xấu, hoan hỉ với cái tốt Theo một cách nhìn khác thì mười một đầu biểu tượng cho mười cấp của Thập địa và Phật quả

Trang 28

26 Đôi lúc Quán Thế Âm Bồ Tát cũng được trình bày dưới một dạng ít

thấy, đó là “Sư Tử Hống Quán Tự Tại” (sihanāda-lokeśvara) Dưới dạng

này, Bồ Tát là một Dược sư, đặc biệt cứu độ những người bệnh phong cùi

(lepra) Mắt Bồ Tát đang nhìn bệnh nhân và mắt chính giữa (tuệ nhãn)

đang tập trung chẩn bệnh Hai bảo vật bên vai cũng là những dụng cụ của một dược sĩ, bình sắc thuốc bên trái của Bồ Tát và đao trừ tà (bệnh) bên phải Sư tử Bồ Tát cưỡi xuất phát từ một sự tích Tương truyền rằng, có một con sư tử sinh được một con nhưng con chết ngay sau khi sinh Đau đớn quá nó rống lên thật to và nhờ tiếng rống uy dũng này, nó làm cho con

nó sống lại Vì thế mà có sự liên hệ giữa tên của Sư Tử Hống Quán Tự Tại (“giọng sư tử”) với nghề nghiệp của một dược sĩ “gọi người sống lại”

Một thuyết khác giải thích tích của mười một đầu và nghìn tay: lúc Quán Thế Âm quán chiếu cảnh khổ của chúng sinh thì đầu Bồ Tát đau xót

vỡ ra từng mảnh Phật A-Di- Đà xếp các mảnh đó lại thành mười một đầu Xuất phát từ nguyện lực cứu độ mọi chúng sinh, thân Bồ Tát mọc ra nghìn tay, trong mỗi tay có một mắt Quán Thế Âm cũng hay được vẽ là kẻ cứu

độ chúng sinh trong sáu nẻo Luân hồi (Lục đạo): trong súc sinh, Quán Thế

Âm đầu ngựa, hoặc cưỡi sư tử; trong địa ngục, là kẻ có nghìn cánh tay; trong cõi A-Tu-La, là kẻ có mười một đầu

Tại Trung Quốc, Việt Nam và Nhật, Quán Thế Âm có tên là Quan

Âm, hay được trình bày dưới dạng “Phật Bà” Tại Tây Tạng, Quán Thế Âm

(chenresi [spzan ras gzigs]) là “người bảo vệ xứ tuyết” và có ảnh hưởng

trung tâm trong truyền thống Phật giáo tại đây Người ta xem Bồ Tát là cha

đẻ của dân tộc Tây Tạng và nhờ Ngài mà Phật giáo được truyền bá qua nhà

vua Tùng-tán Cương-bố (songten gampo, 620-649), được xem là một hiện thân của Quán Thế Âm Đạt-lại Lạt-ma và Cát-mã-ba (karmapa) cũng được

xem là hiện thân của Quán Thế Âm Câu Man-tra OM- MA-NI PAD-ME

Trang 29

27 HUM được xem là thuộc tính của Quán Thế Âm, là thần chú đầu tiên truyền đến Tây Tạng và ngày nay được tụng đọc nhiều nhất Tranh tượng của Bồ Tát được biểu diễn bằng một người có mười một đầu và ngàn cánh tay hoặc trong dạng có bốn tay, ngồi toà sen

1.2.2 Quan Âm Bồ tát trong kinh điển Phật giáo

Bồ tát Quan Âm thể hiện tư tưởng đại từ, đại bi, cứu khổ, cứu nạn chúng sinh được dẫn nhiều trong kinh điển Phật giáo Đặc biệt Bồ tát Quan

Âm xuất hiện trong Phật giáo Đại thừa và được dẫn nhiều trong Kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa và kinh Lăng Nghiêm Đây là ba bộ kinh đã đưa ra Quan Âm Bồ tát với tư tưởng cứu khổ cứu nạn Tư tưởng từ bi của Bồ tát

là một trong những tư tưởng chủ đạo của Phật giáo Đại thừa

Chúng ta đều biết, Đức Bồ Tát Quan Thế Âm đã được nói đến trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Phổ Môn, đó là một nam nhân; trong khi hình ảnh được thờ phụng nơi chùa chiền Việt Nam, được truyền tụng trong dân gian và thể hiện qua thi ca, lại là một Phật Bà: “Bồ Tát Quan Thế Âm được mô tả trong phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa là một nam nhân Sang Tây Tạng, Trung Hoa và Việt Nam, Quan Thế Âm biến thành nữ nhân thân, trong lúc đó Phật tử các nước này vẫn tụng đọc kinh Pháp Hoa mà không thấy có sự mâu thuẫn Lý do là kinh Pháp Hoa có nói: "Nếu cần hiện

ra thân gì mà cứu độ thì Quan Âm hiện ra thân đó, như thân quốc vương, thân tể tướng, thân nhi đồng, thân phụ nữ " Cho nên bất cứ ở đâu xuất hiện một con người với lòng từ bi rộng lớn, là ở đó người ta cho là Đức Quan Âm hiện thân Danh từ Quan Thế Âm (Avalokitesvara) có nghĩa là người lắng nghe tiếng kêu của cuộc đời; lắng nghe để tìm tới mà cứu giúp "[36;199]

Trong kinh Hoa Nghiêm khi nói về vai trò của Bồ tát Quan Âm (Bồ tát Quán Tự Tại) có viết: “Bồ tát Quán Tự Tại vì chúng Bồ tát mà tuyên nói

Trang 30

28 pháp đại từ bi, khiến nhiếp thô tất cả chúng sinh tiếp nối chẳng đứt: “ Hoặc dùng âm thanh, hoặc dùng uy nghi, hoặc vì họ thuyết pháp, hoặc hiện thần biến, làm cho tâm họ tỏ ngộ mà được thành thục Hoặc vì họ mà hiện thân đồng loại cùng họ ở chung mà thành thục họ Này thiện nam tử! Ta tu hành môn đại bi hạnh này, nguyện thường cứu độ tất cả chúng sinh, nguyện tất

cả chúng sinh khỏi sợ con đường hiểm, khỏi sợ nhiệt não, khỏi sợ mê hoặc, khỏi sợ trói buộc, khỏi sợ sát hại, khỏi sợ nghèo cùng, khỏi sợ chẳng sống, khỏi sợ tiếng xấu, khỏi sợ sự chết, khỏi sợ đại chúng, khỏi sợ ác thú, khỏi

sợ tối tăm, khỏi sợ dời đổi, khỏi sợ ái biệt ly, khỏi sợ oán thù gặp, khỏi sợ thân bức bách, khỏi sợ lo buồn Ta lại phát nguyện: Nguyện tất cả chúng sinh hoặc nhớ đến Ta, hoặc xưng tên ta, hoặc thấy thân Ta, thời đều được tất cả sự bố úy” [42;314-320]

Kinh Pháp Hoa khi nói về vai trò của Bồ tát Quan Âm được thể hiện qua tư tưởng từ bi Từ Bi được coi là căn tính của Quan Âm

Từ bi dịch nghĩa là Maitri Karuna, Maitri là Từ, Karuna là Bi Đại Trí Luận viết: “Đại từ dữ nhất thiết chúng sinh lạc, đại bi bạt nhất thiết chúng sinh khổ…” “Từ Bi thị Phật đạo chi căn bản”…Nghĩa là: Đại từ đem lại vui sướng (lạc) cho chúng sinh Đại bi là nhổ hết mọi Khổ của chúng sinh Đó là căn bản của đạo Phật Trí Độ Luận còn phân tích có ba loại từ bi

Một là “Chúng sinh duyên từ bi” đó là Tiểu bi chỉ tình thương cảm của chúng sinh, lòng thương người của kẻ phàm phu

Hai là, “Pháp duyên từ bi” là Trung Bi Đó là giác ngộ đến chư pháp

vô ngã, đó là từ bi của Thanh Văn

Ba là, “Vô duyên từ bi” là Đại Từ Bi, đó là lòng từ bi của Phật không còn phân biệt mọi khác biệt, Tâm không duyên vào đâu Đó gọi là Tam Từ

Đó là quan điểm từ bi của Long Thọ, tác giả Trí Độ Luận

Trang 31

29 Còn tư tưởng Từ Bi thể hiện đặc tính của Quan Âm trong kinh Pháp Hoa thì lại là cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh Bất cứ chúng sinh gặp điều khổ, tai nạn nào trong đời sống hàng ngày, bị uy hiếp về sinh mạng đều được Quán Âm cứu vớt bằng phép thần thông Từ bi đem lại hạnh phúc, dứt bỏ mọi phiền não trong cuộc sống chứ không phải từ bi của Long Thọ nhằm giải thoát con người ra khỏi vòng luân hồi Có thể Tiểu bi của Long Thọ ứng với từ bi của Quán Âm Bồ tát Con người gặp nạn kêu cứu Quan

Âm để tiếp tục sống đời thường chứ không phải để siêu độ lên cõi Niết Bàn hay Tịnh Độ Chất nhập thế chiếm địa vị thống trị trong Quan Âm Bồ tát

Trong kinh Pháp Hoa Quan Âm cũng giống như Quán Tự Tại, hễ ai gặp nạn niệm danh Ngài đều thoát nạn Nếu sa vào lửa thì lửa không cháy Nếu rơi xuống nước thì trôi vào chỗ cạn Nếu đi biển tìm vàng bạc, châu báu gặp bão thuyền trôi đến nước La Sát thì không bị nạn quỷ La Sát Nếu

bị người đánh giết thì dao gậy kẻ thù gãy từng khúc Nếu bị quỷ Dạ Xoa

và quỷ La Sát toan sát hại chúng sợ hãi không dám ngước mắt nhìn Nếu

có tội hay không có tội mà bị gông cùm xiềng xích thì gông cùm xiềng xích tự tháo mở Nếu đi buôn gặp bọn cướp thì không bị cướp bóc Nói tóm lại, tránh được bảy nạn lớn nhỏ…Để thực hiện tư tưởng từ bi, Quan

Âm phải đồng cảm với từng loại người, từng trường hợp cứu độ cho nên Quan Âm phải có nhiều hóa thân khác nhau, thường có ba mươi ba tướng Trong kinh điển Phật giáo cho rằng có ít nhất ba Quan Âm Bồ tát: Quán

Tự Tại hay Quan Âm Nam Hải theo Kinh Hoa Nghiêm; Thánh Quan Âm trong bộ ba Tây phương Tam Thánh trong kinh Pháp Hoa, kinh Bi Hoa và Quan Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt (Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm) trong kinh Lăng Nghiêm

Trong Kinh Hoa Nghiêm có Quán Tự Tại, không có Quán Thế Âm Quán Tự Tại là dịch nghĩa từ Phạn Avalokitesvara Từ này gồm ba phần:

Trang 32

30 Ava nghĩa là Thế, thế giới, cảnh giới, toàn bộ vũ trụ của Phật giáo Isvara nghĩa là Tự Tại tức nội tâm không bị phiền não trói buộc, tiến hóa vô ngại Isvara vốn là tên vị thần Bà La Môn Đại Tự Tại (Mahesvara) hay Tự Tại Thiên (Isvara) sáng tạo chủ của vũ trụ Sau chuyển vào Phật giáo thành Ma Ê Thủ La Thiên Vương (Maha-Isvara, cũng là Siva) hình tượng thường ba mắt tám tay cầm phất trần cưỡi trâu trắng Hay là Tha Hóa Tự Tại Thiên trên thượng tầng Dục Giới Hình tượng Quan Âm Nam Hải có sóng biển và đầu rồng hay quỉ đỏ đỡ tòa sen chính là Quán Tự Tại (Quan Âm) trong kinh Hoa Nghiêm Quan Âm Nam Hải ngồi trên Kim Cương Bảo Thạch trên biển Nam Hải, cho nên tượng Quan Âm tọa sơn cũng chính là Ngài Thiện Tài đến tham vấn Ngài cho nên tượng Quan Âm Tống Tử hay Quan Âm có Thiện Tài và Long Nữ đứng hầu hai bên cũng chính là Ngài Riêng tượng Quan Âm Tống Tử có hai cách giải thích khác nhau Một là, Quan Âm ban con cái cho phụ nữ Hai là, đó là bộ tượng miêu thuật lại truyện Quan Âm Thị Kính và như vậy thường có một con vẹt tiêu biểu cho anh chàng Thiện Sĩ, người nói theo cha mẹ như “vẹt” vu oan cho nàng Thị Kính

Như vậy, Quán Tự Tại dưới hình thức tiếu tượng Quan Âm Tọa Sơn, Quan Âm Tống Tử là sản phẩm của Kinh Hoa Nghiêm, về sau phát triển thành tượng Quan Âm Nam Hải

Quán Thế Âm là do Cưu Ma La Thập dùng khi dịch kinh Pháp Hoa Cũng dịch từ Phạn Avalokitesvara, nhưng lại phân tích thành Ava, Lokita

và Svara Svara là Âm Cho nên dịch thành Quán Thế Âm (hay Quan Âm) nghĩa là nghe thấu hết âm thanh của chúng sinh trong tất cả các thế giới, pháp môn này sẽ được nói rõ là pháp môn nhĩ căn trong kinh Lăng Nghiêm Đi sâu vào vấn đề này dẫn đến nguyên bản chữ Phạn của Kinh Pháp Hoa Kinh này không được dịch theo văn bản chữ Phạn mà theo văn

Trang 33

31 bản Trung Á Tên cổ của vị Bồ tát này là Avalokita-svara như trong văn bản Tây Tạng của kinh này, sau mới là Avalokita – Isvara Bản dịch kinh Pháp Hoa đã định hình danh từ Quán Thế Âm với ba mươi ba hóa thân mang ảnh hưởng của Hindu giáo về tư tưởng hóa thân Trong kinh đã nói Quán Thế Âm từ thế giới Tịnh Quang Trang Nghiêm đến không liên quan

gì đến Potalaka và đồng tử Thiện Tài Đó là một vị Bồ tát được Phật giới thiệu với pháp hội theo yêu cầu của Bồ tát Vô Tận Ý, giới thiệu về ba mươi

ba hóa thân cứu độ chúng sinh khỏi bảy đại nạn Ba mươi ba thân là những hóa thân của Quán Thế Âm để hòa nhập với đối tượng tiếp xúc Đó là: Phật thân, Bích Chi Phật thân, Thanh Văn thân, Phạm Vương thân, Đế Thích thân, Tự Tại Thiên thân, Đại Tự Tại Thiên thân, Thiên Đại Tướng Quân thân, Tỳ Sa Môn thân, Tiểu Vương thân, Trưởng Giả thân, Cư Sĩ thân, Tể Quan thân, Bà La Môn thân, Ưu Bà Di thân, Trưởng Giả Phụ Nữ thân, Cư

Sĩ Phụ Nữ thân, Tể Quan Phụ Nữ thân, Bà La Môn Phụ Nữ thân, Đồng Nam thân, Đồng Nữ thân, Thiên thân, Long thân, Dạ Xoa thân, Càn Thát

Bà thân, A Tu La thân, Ca Lâu La thân, Khẩn Na La thân, Ma Hầu La Ca thân, Chấp Kim Cang Thần thân

Hình tướng Quán Thế Âm trong kinh Pháp Hoa là ba mươi ba Quan

Âm gồm có:

1 Dương Chi Quan Âm cầm tịnh bình và cành dương

2 Long Đầu Quan Âm là tranh vẽ Quan Âm bay trên mây Đây là thân rồng

3 Độc Kinh Quan Âm là tượng ngồi trên mỏm đá tay cầm quyển kinh

4 Viên Quang Quan Âm là tranh vẽ Quan Âm đằng sau có vòng hào quang nhiều tia sáng Đây là Quan Âm cứu người khỏi nạn gươm đao

5 Du Hí Quan Âm là tranh vẽ Quan Âm bay trên đám mây ngũ sắc

Trang 34

32

6 Bạch Y Quan Âm, tay trái cầm hoa sen, tay phải bắt

ấn gi÷ Nguyện Đây là thân Quan Âm ban con trai cho nữ tín đồ cầu xin

7 Liên Ngọa Quan Âm ngồi trên đãa sen nổi trong hồ

8 Lang Kiến Quan Âm ngồi tựa vách núi nhìn thác nước đổ Đây là Quan Âm dùng nước cứu nạn lửa

9 Thi Dược Quan Âm ngồi tay phải chống má, tay trái cầm hoa sen

10 Ngư Lam Quan Âm hoặc xách cá hoặc xách giỏ cá

11 Đức Vương Quan Âm ngồi trên sườn núi tay cầm gậy tre trúc

12 Thủy Nguyệt Quan Âm đang ngắm bóng trăng trong nước

13 Nhất Diệp Quan Âm đang ở trên lá sen phiêu diêu mặt nước

14 Thanh Cảnh Quan Âm thể hiện theo huyền thoại Siva nuốt chất độc khiến cho cổ xanh Đây là thân Đế Thích của Quan Âm vì huyền tích Siva gán vào Quan Âm

15 Uy Đức Quan Âm tay trái cầm hoa sen ngồi trên sườn núi

16 Diên Mệnh Quan Âm đầu đội mũ có hình tượng Phật Đây là thân Phật của Quan Âm

17 Chúng Bảo Quan Âm ngồi trên mặt đất tay phải chống xuống, tay trái đặt trên đầu gối của chân co lên

18 Nham Hộ Quan Âm đang ngồi thiền trong hang động

19 Năng Tịnh Quan Âm đứng trên mỏm núi nhìn ra biển trầm tư Đây là biểu thị Quan Âm giúp người bị nạn bình tĩnh vượt qua được hiểm nguy

20 A Nậu Quan Âm đứng nhìn ra biển xa xăm mà A Nậu lại có nghĩa là “cực vi”

Trang 35

33

21 A Ma Đề Quan Âm cưỡi sư tử thân mình phóng hào quang Đây

là Văn Thù vì cưỡi Sư tử

22 Diệp Y Quan Âm ngồi trên vách núi cầm lá cỏ

23 Lưu Ly Quan Âm tay cầm lư hương Quan Âm giúp người ta không sợ chết

24 Đa La Tôn Quan Âm tay cầm đóa sen xanh Đa La là phiên âm

từ Tara Đây là thân Tara

25 Cáp Lị Quan Âm vẽ hình trong hai vỏ con hàu Con hàu (con sò) sắp bị ăn kêu cứu Quan Âm được thoát chết

26 Lục Thời Quan Âm dáng cư sĩ chỉ ý hàng ngày tụng kinh 6 lần Đây là thân cư sĩ

27 Phổ Từ Quan Âm là hình tượng hóa thân của Đại Tự Tại Đây là thân Mahesvara

28 Mã Lang Phụ Quan Âm giống một phụ nữ nông thôn, theo chuyện một cô gái nông thôn đời Đường kén chồng bằng cách chọn ai đọc thuộc lòng được kinh Pháp Hoa và chọn được người chồng họ Mã Đây là thân nữ của Quan Âm

29 Hợp Chưởng Quan Âm có đặc điểm hai tay bắt chéo thành hình chữ thập

30 Nhất Như Quan Âm đang bay trên mây Quan Âm khống chế sấm sét cứu người

31 Bất Nhị Quan Âm ngồi trên lá sen nổi trên mặt nước hai tay buông xuôi

32 Trì Liên Quan Âm ngồi trên lá sen tay cầm hoa sen

33 Sái Thủy Quan Âm tay phải cầm bình rót nước xuống Đây là Quan Âm cứu người bị nạn về nước

Trang 36

34 Tam Thập Tam Quan Âm đều căn cứ ba mươi ba thân trong kinh Pháp Hoa mà vẽ ra từ đời Đường về sau Nhưng không thể thấy sự tương ứng hoàn toàn của ba mươi ba thân (Phật, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Trưởng Giả, Cư Sĩ, Đồng Nam, Đồng Nữ…) với ba mươi ba Quan Âm Có thể nhận được các vị thứ mười bốn giống Shiva coi là thân Đế Thích Vị thứ hai mươi sáu Lục Thời Quan Âm là thân cư sĩ Vị thứ hai mươi bảy Phổ Từ Quan Âm là hóa thân Đại Tự Tại Thiên Nhiều hình tượng khác như Dương Chi Quan Âm, Bạch Y Quan Âm, Ngư Lam Quan Âm…thì đều là hình tượng bản thân Quan Âm không phải hóa thân của các nhân vật khác Theo những tư liệu khác thì thấy một số tướng của Quan Âm nhằm thể hiện giải trừ thất nạn Chủ yếu các hình tượng trong ba mươi ba thân đó là tranh vẽ nghệ thuật hơn tranh thờ, có thể thời gian đã làm mờ nhạt mối quan hệ giữa

ba mươi ba thân với ba mươi ba tướng của Quan Âm Trong ba mươi ba thân đã thấy có thân Đế Thích, thân Đại Tự Tại, thân Bà La Môn, thân Tara, chứng tỏ ảnh hưởng của Bà La Môn giáo và Hin Đu giáo vào Phật giáo là rất lớn “Quán Thế Âm (Quan Âm) của kinh Pháp Hoa là một vị Bồ tát có khả năng nghe các âm (tiếng nói) và có ba mươi ba hóa thân biểu thị ảnh hưởng Hin Đu giáo Về tiếu tượng, ba mươi ba thân đều là hình tượng người thường một đầu hai tay hai chân có phép thần thông cứu độ”[31;629]

Trong Kinh Lăng Nghiêm thì Bồ tát Quán Âm đang dự pháp hội, các

đệ tử tự giới thiệu phương pháp tu chứng của mình với Phật Bồ tát Quan

Âm bèn đứng ra tự giới thiệu, kể rằng xưa có một vị Phật là Quan Âm dạy cho phương pháp tu chứng nhĩ căn và cuối cùng thành Bồ tát Quan Âm với

32 ứng thân, thần chú và số đầu, tay mắt hàng ngàn Có thể hiện ra 1, 3, 5,

7, 9, 11 cho đến 108, 1000, 10000, 84000 đầu, 2, 4, 6, 12, 14, 16, 18, 20, 24 đến 108, 1000, 10000, 84000 tay, 2, 3, 1000, 10000, 84000 mắt Nói về cội nguồn học Quan Âm Phật, về diệu đức nhiều đầu nhiều tay nhiều mắt là

Trang 37

35 những điểm mới không có trong kinh Pháp Hoa, kinh Lăng Nghiêm giống Kinh Pháp Hoa ở chỗ Bồ tát Quan Âm tu nhĩ căn tuy rằng trong kinh Pháp Hoa chưa đề cập đến hai chữ “nhĩ căn”, cơ sở của thần thông Quan Âm và cũng giống ở nhiều hóa thân Nhưng kinh Lăng Nghiêm thì kể 32 ứng thân, kinh Pháp Hoa thì kể 33 ứng thân Dù cách gọi khác nhau ít nhiều và có ý nghĩa nhất định song danh sách cụ thể của các ứng thân đều giống nhau hoàn toàn, cơ bản bao gồm các thần linh Phật giáo, các thần linh Bà La Môn giáo, các nhân vật đời thường, các thiên thần, các ma quỷ trong toàn bộ vũ trụ

Kinh Lăng Nghiêm chủ yếu thuyết giải về Thủ Lăng Nghiêm tam muội, một loại thiền định bao hàm tất cả các loại thiền định, đạt được Thủ Lăng Nghiêm tam muội thì đạt đến Niết Bàn vĩnh viễn bất diệt, chu du khắp quốc thổ của Phật, không chướng ngại Quan Âm chỉ là một tam muội chứ không phải Thủ Lăng Nghiêm tam muội, điều đó cũng chung cho cả kinh Lăng Nghiêm lẫn kinh Pháp Hoa Duy chỉ trong kinh Lăng Nghiêm có diệu đức biến hóa nhiều đầu mắt nhiều tay là dấu ấn của Hin đu giáo đậm nhất Là cơ sở cho sự xuất hiện hình tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan

Âm, Thập Nhất Diện Quan Âm bên cạnh 33 tướng Quan Âm

“Kinh Lăng Nghiêm cũng đưa ra những chức năng cứu độ và hóa thân của Quan Âm như kinh Pháp Hoa, nhưng cống hiến riêng biệt đặc hữu

là hình tượng nhiều tay nhiều mắt nhiều đầu của Hin đu giáo [31;630]

Nói về vai trò của Quan Âm trong Kinh Pháp Hoa do Cưu Ma La Thập dịch từ văn bản chữ Phạn có viết: “Nhược hữu vô lượng bách thiên vạn ức chúng sinh thụ chư khổ não văn thị Quan Âm Bồ tát nhất tâm xưng danh Quan Âm Bồ tát tức thời quán kỳ âm thanh giai đắc giải thoát” (Nếu

có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sinh chịu các khổ não, nghe Quan

Âm Bồ tát này một lòng xưng danh, Quan Âm Bồ tát tức thời xem xét tiếng tăm kia đều được giải thoát).[38;302]

Trang 38

36 Tóm lại, hình tượng Quan Âm trong kinh điển Phật giáo rất đa dạng với 33 tướng và mang đặc tính tượng trưng cho tư tưởng từ bi, cứu khổ cứu nạn của Phật giáo Có thể tóm lược hình tượng Quan Âm trong kinh điển Phật giáo như sau:

Trong Kinh Hoa Nghiêm có một vị Bồ tát Quán Tự Tại (cũng là Quan Âm theo bản dịch sau Đường Huyền Trang) ngồi trên Kim Cương Bảo Thạch ở Potalaka Đó là mẫu hình đầu tiên của tượng Bồ tát Quan Âm Tọa Sơn về sau phát triển thành Quan Âm Nam Hải

Theo Kinh Pháp Hoa, có một vị Bồ tát di Thích Ca trả lời cho Bồ tát

Vô Tận Ý nói Bồ tát Quan Âm (Quán Thế Âm) nghe được tất cả lời kêu cứu thập phương và biến hóa 33 thân để tiếp cứu độ đối tượng kêu cứu Đó

là mẫu hình của Dương Chi Quan Âm và Thánh Quan Âm

Theo Kinh Lăng Nghiêm, có một vị Bồ tát Quán Thế Âm dự pháp hội đã trình bày quá trình tu tập và khả năng của bản thân Bồ tát Quan Âm Phật dạy cho Phổ môn nhĩ căn, có 32 ứng thân, 14 công đức, 4 diệu đức cứu độ chúng sinh Trong 4 diệu đức thì diệu đức thứ nhất là có tướng nhiều đầu, nhiều tay, nhiều mắt Đó là mẫu hình của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm

Theo Kinh Phật thuyết Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm Bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni, có một Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm Bồ tát trong Lục Quan Âm, nhiều đầu, nhiều tay, nhiều mắt Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn này chịu ảnh hưởng nhiều của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm trong kinh Lăng Nghiêm Trong kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm

Đà La Ni của Mật tông có nói: “Trong vô lượng ức kiếp thời quá khứ, Bồ tát Quan Thế Âm nghe Đức Thiên Quang Vương Tĩnh Chú Như Lai nói thần chú Đại Bi Tâm Đà La Ni bèn phát nguyện làm lợi ích, an lạc tất cả chúng sinh Liền khi ấy, trên người mọc ra một nghìn con mắt và một nghìn

Trang 39

37 bàn tay” Con số 1.000 biểu tượng cho sự viên mãn, nên tượng được tạo với đủ 1.000 mắt, 1.000 tay (gồm 40 tay lớn và 960 tay nhỏ, trong mỗi tay đều có mắt), có nơi tạo tượng với 40 tay lớn, hoặc 42 tay lớn (có 2 tay chắp, 2 tay đặt trong tư thế thiền định) Nghệ nhân ở các nước Phật giáo theo truyền thống Đại thừa thường tạo tượng theo mẫu thức 40 tay lớn, bởi con số 40 ứng với 25 hữu (25 quốc độ của chúng sinh trong tam giới -25x40 = 1.000) (25 hữu trong Tam giới gồm: 14 hữu trong Dục giới: 4 Ác đạo (A tu la, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh); 4 Đại bộ châu (Đông Thắng Thần Châu, Nam Thiệm Bộ Châu, Tây Ngưu Hoá Châu, Bắc Câu Lô Châu); 6 Trời cõi dục (Tứ Thiên Vương Thiên, Đao Lợi Thiên, Dạ Ma Thiên, Đâu Suất Thiên, Hoá Lạc Thiên, Tha Hoá Tự Tại Thiên); 7 hữu trong Sắc giới: Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền, Đại Phạm Thiên, Tịnh Cư Thiên và Võ Tưởng Thiên; 4 hữu trong Vô sắc giới: Không

Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ, và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ).[58]

Như vậy, Bồ tát Quan Âm là thần linh, một nhân vật huyền thoại đã diễn biến về hình tượng cụ thể như trong các kinh điển Phật giáo trên đã đề cập Không phải có nhiều Quan Âm mà có nhiều mẫu hình Quan Âm ít nhiều phát triển từ nguyên mẫu Quan Âm Tọa Sơn ở Potalaka, có thể kể một số mẫu hình Quan Âm tiêu biểu như sau:

Thứ nhất, Quán Tự Tại ở Potalaka tức Quan Âm Tọa Sơn, Quan Âm Tọa Sơn hoàn toàn thuộc dòng Phật giáo chính thống là Thần Quan Âm Tọa Sơn thường được đặt bên dưới Phật điện, thông thường ở hai bên ngách của Thượng điện

Thứ hai, Quán Thế Âm (Quan Âm) chịu ảnh hưởng của Hinđu giáo,

đó là mẫu hình của Dương Chi Quan Âm, Thánh Quan Âm và Quan Âm Nam Hải Nghìn Tay

Trang 40

38 Thứ ba, Quan Thế Âm (Quan Âm) chịu ảnh hưởng của cả Hinđu giáo và Mật giáo, tiêu biểu là Lục Quan Âm, Thập Nhất Diện Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm

Về hạnh nguyện thể hiện những hóa thân cứu khổ của Bồ tát Quan Thế Âm, chúng ta thấy rất rõ trong Kinh Pháp Hoa ở phẩm Phổ Môn Kinh diễn tả Bồ tát hiện 32 ứng thân đủ loại tùy hình và 19 lối thuyết pháp để phổ độ chúng sinh Ngài còn có 14 năng lực vô úy Hình ảnh đức Chuẩn Ðề vương là hóa thân của Ngài có nghìn tay nghìn mắt Mắt và tay là biểu thị cho lòng từ bi và trí tuệ Có đầy đủ Bi Trí song hành và đức tính vô úy, thì việc hoằng hóa độ sinh của Bồ tát mới có thể đạt được hiệu quả cao

Hạnh nguyện của Bồ Tát Quan Thế Âm là hạnh nguyện lắng nghe từ

bi cứu khổ Vì ngay danh hiệu của Ngài cũng đã nói lên cái ý nghĩa đó Quán Thế Âm có nghĩa là quan sát tiếng tăm kêu than thống khổ của người đời mà Ngài hiện thân đến để cứu độ cho họ vượt qua mọi khổ nạn Ðó là hạnh nguyện vị tha lớn lao trùm khắp pháp giới của Ngài Bồ tát thì lúc nào cũng sẵn sàng cứu khổ chúng sinh, chúng sinh khi nào gặp khổ nạn thì đều tưởng nhớ đến Bồ tát

Bồ tát Quán Thế Âm xưa kia trong lúc tu nhân, Ngài cũng phải khổ công hành trì theo lời dạy của đức Phật Quán Thế Âm mới được thành tựu Như Ngài đã trình bày rõ về pháp tu của Ngài trong kinh Lăng Nghiêm Pháp tu của Ngài chỉ dón gọn trong năm chữ: “phản văn văn tự tính” Nghĩa là phải hằng nghe lại tính nghe của mình Nhưng khởi đầu vẫn phải bước qua cửa ngõ “Văn, Tư, Tu” Văn-Tư-Tu là ba môn tuệ học có khả năng đưa người ta đạt đến chính định Ðây là một pháp tu mà Ngài đã học được từ nơi đức Phật Quán Thế Âm chỉ dạy Văn là nghe, nghe rồi tư duy, phải luôn nghĩ nhớ chín chắn, xong rồi, nên ứng dụng thùc hành những gì

mà mình đã suy nghĩ chín chắn kỹ càng đúng theo chân lý

Ngày đăng: 20/03/2020, 23:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w