1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hết quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại song song theo quy định của điều ước quốc tế và pháp luật việt nam

88 259 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Thương mại song song là hiện tượng sản phẩm được sản xuất một cách hợp pháp theo sự bảo hộ dành cho các đối tượng SHCN, quyền tác giả hay giống cây trồng, được

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRƯƠNG VĂN TOÀN

HẾT QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG THƯƠNG MẠI SONG SONG THEO QUY ĐỊNH CỦA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Quốc tế

Mã số: 60380108

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thái Mai

HÀ NỘI - NĂM 2016

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng 07 năm 2016

Tác giả

Trương Văn Toàn

Trang 3

TPP Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

WTO World Trade Organization – Tổ chức thương mại thế

giới

Trang 4

1.3 Mối quan hệ giữa hết quyền SHTT và thương mại song song 18

1.4 Hết quyền SHTT và thương mại song song theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới

Trang 5

CHƯƠNG 2: CÁC NỘI DUNG PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ HẾT QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG THƯƠNG MẠI SONG SONG THEO QUY ĐỊNH CỦA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GI I PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HẾT QUYỀN SHTT VÀ THƯƠNG MẠI SONG SONG

Trang 6

3.3.4 Cần chuẩn bị để kịp thích nghi với tốc độ phát triển công nghệ 69 3.3.5 Cần có thêm các quy định về nhập khẩu song song liên quan

tới thủ tục hải quan

70

PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thương mại song song là hiện tượng sản phẩm được sản xuất một cách hợp pháp theo sự bảo hộ dành cho các đối tượng SHCN, quyền tác giả hay giống cây trồng, được đưa ra một thị trường nhất định và sau đó sản phẩm này được nhập khẩu vào một thị trường thứ hai mà không có

sự cho phép của chủ thể quyền SHTT ở thị trường thứ hai đó Thương mại song song có ảnh hưởng khác biệt tới từng nhóm chủ thể khác nhau: đối với chủ sở hữu quyền SHTT, nó hạn chế quyền và lợi ích kinh tế, thương mại của nhóm chủ thể này; đối với người tiêu dùng, nó đem lại cơ hội tiếp cận sản phẩm với giá cả cạnh tranh, hợp lí Lợi ích của mỗi nhóm chủ thể này đều quan trọng và đều có ảnh hưởng thiết thực tới đời sống kinh tế, xã hội của một quốc gia cũng như của cả thế giới Do đó, việc điều chỉnh hoạt động thương mại song song để qua đó cân bằng được lợi ích của các nhóm chủ thể trên, hướng tới sự phát triển chung về kinh tế, xã hội là điều cần thiết, quan trọng

Thương mại song song gắn liền với cơ chế hết quyền SHTT – một

cơ chế tương đối phức tạp và còn mới mẻ ở Việt Nam Về cơ bản, thương mại song song là được phép nếu một quốc gia áp dụng cơ chế hết quyền quốc tế, và thương mại song song sẽ bị cấm nếu quốc gia đó

áp dụng cơ chế hết quyền quốc gia Mỗi quốc gia có những điều kiện kinh tế, xã hội khác biệt, những mục tiêu, chiến lược phát triển không đồng nhất, dẫn tới việc cơ chế hết quyền mà mỗi quốc gia lựa chọn là không giống nhau Từ sau Đổi mới tới nay, Việt Nam đang tiếp tục trong giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội Bộ mặt quốc gia, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được thay đổi từng ngày Cùng với đó, những điều kiện về cơ sở hạ tầng cũng biến đổi tương ứng Nghiên cứu

cơ chế hết quyền SHTT là một vấn đề quan trọng, góp phần thiết thực trong việc hoạch định chính sách về thương mại song song nói riêng, về

Trang 8

thương mại và kinh tế nói chung, qua đó thúc đẩy nhanh hơn nữa quá trình đổi mới và phát triển của Việt Nam Từ thực tế đó tác giả đã lựa

chọn nghiên cứu đề tài "Hết quyền Sở hữu trí tuệ trogn thương mại

song song theo quy định của Điều ước quốc tế và Pháp luật Việt Nam"

cho luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trên thế giới, vấn đề hết quyền SHTT đã được nghiên cứu từ khoảng thế kỉ XIX Ở Việt Nam, đi lên từ hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, với điều kiện kinh tế - xã hội là một nước kém phát triển, ngành lập pháp của Việt Nam còn tương đối chậm phát triển và

có nhiều hạn chế Những quy định đầu tiên về SHTT mới chỉ xuất hiện

từ đầu những năm 1980 (Điều lệ về Nhãn hiệu hàng hoá năm 1982;

Điều lệ về Kiểu dáng công nghiệp 1988 ) Vấn đề hết quyền SHTT lần đầu tiên được đề cập tới ở Bộ luật dân sự 1995, sau đó là Luật SHTT

2005 sửa đổi năm 2009 Về mặt học thuật, vấn đề này vẫn chưa thực sự được tập trung nghiên cứu Một số công trình, bài viết liên quan tới vấn

đề này gồm: Bài nghiên cứu “Pháp luật và thực tiễn về hết quyền SHTT

trong thương mại song song” (TS Nguyễn Như Quỳnh, phó Chánh

thanh tra Bộ Khoa học công nghệ); Bài nghiên cứu “Khái quát chung

về quyền SHTT trong thương mại song song” (TS Nguyễn Như Quỳnh,

phó Chánh thanh tra Bộ Khoa học công nghệ); “Pháp luật về hết quyền

SHTT và nhập khẩu song song ở một số nước thuộc hiệp hội các nước Đông Nam Á” (TS Nguyễn Như Quỳnh, phó Chánh thanh tra Bộ Khoa

học công nghệ)1 Có thể thấy đây là các bài viết của cùng một tác giả, với dung lượng của một bài nghiên cứu ngắn và chủ yếu đề cập khái quát một số khái niệm cơ bản về hết quyền SHTT và thương mại song song Ngoài ra, chưa có công trình hay bài viết nào tập trung nghiên cứu toàn diện về các quy định của Hiệp định TRIPS, Hiệp định TPP

1 Các bài viết này được đăng trên trang web của Thanh tra Bộ Khoa học công nghệ

Trang 9

(mới được ký kết tháng 02/2016) về vấn đề hết quyền SHTT và thương mại song song, cũng như nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này Trên thế giới, vấn đề hết quyền SHTT và thương mại song song đã sớm được các học giả tập trung nghiên cứu2 Các vấn đề như: khái niệm, các cơ chế hết quyền, bản chất, nguyên nhân và ảnh hưởng của thương mại song song đã được các học giả làm rõ trên cơ sở phân tích, diễn giải các vụ việc thực

tế Nhiều hội thảo ở tầm quốc gia, khu vực và quốc tế cũng đã được tổ chức để chia sẻ kinh nghiệm giữa các chuyên gia, cũng như giúp các nhà làm luật có một cái nhìn khái quát hơn về vấn đề này Có thể kể tới một số công trình nghiên cứu tiêu biểu được chú trọng, đánh giá cao

như: Christopher Stothers, Patent Exhaustion: the UK perspective, 16th

Annual Conference on Intellectual Property Law and Policy Fordham

University School of Law 27-28 March 2008; Christopher Stothers

(2008), Parallel Trade in Europe: Intellectual Property, Competition

and Regulatory Law, Hart Publishing; Ekaterina Shekhtman và

Evgeniy Sesitsky, Exhaustion and Parallel Importation in the Field of

trademarks…

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề hết quyền SHTT và thương mại song song, những ảnh hưởng của vấn đề này tới từng nhóm chủ thể khác nhau ( chủ thể quyền SHTT và người tiêu dùng) theo quy định của điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam

Vấn đề hết quyền sở hữu trí tuệ và thương mại song song được quy định trong nhiều ĐƯQT khác nhau, tuy nhiên luận văn tập trung nghiên cứu các quy định về hết quyền SHTT được đề cập trong Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền SHTT (TRIPS), Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Bởi lẽ đây

2 Xem Chương 1 dưới đây

Trang 10

là hai Hiệp định có các quy định toàn diện nhất về quyền sở hữu trí tuệ

mà Việt Nam đã và sẽ là thành viên Đối với pháp luật Việt Nam, luận vănnghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam từ giai đoạn áp dụng Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật Dân sự 2005, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 cho tới nay để qua đó đánh giá sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế, kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này

Bên cạnh đó, luận văn tìm hiểu, phân tích những yếu tố nào ảnh hưởng tới sự lựa chọn cơ chế hết quyền SHTT ở mỗi quốc gia nói chung, tìm hiểu cơ chế hết quyền SHTT ở một số quốc gia cụ thể là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu EU và Philippines với lí do như sau: Đối với Hoa Kỳ, đây là nước mà quan hệ thương mại với Việt Nam không ngừng phát triển trong những năm gần đây Đối với Nhật Bản, đây là nước có điểm tương đồng tương đối lớn về chính sách SHTT so với Việt Nam Trong những năm vừa qua, Nhật Bản hỗ trợ Việt Nam rất nhiều trong việc nghiên cứu, thực thi pháp luật về SHTT

Hệ thống nộp đơn và dữ liệu đơn SHCN của Việt Nam đang áp dụng là học hỏi từ mô hình hiện tại của Nhật Bản Đối với Liên minh châu Âu, đây là một trong hai khu vực áp dụng cơ chế hết quyền khu vực Trong khi đó, Việt Nam là một thành viên của ASEAN – một cộng đồng đang liên kết chặt chẽ với nhau hơn về mọi mặt, không loại trừ nhiều vấn đề bao gồm cả SHTT Đối với Philippines, đây là một nước thuộc ASEAN

có nhiều điểm tương đồng về kinh tế - chính trị với Việt Nam Việc nghiên cứu pháp luật về hết quyền SHTT của 4 quốc gia/ vùng lãnh thổ này, do đó, có ý nghĩa thiết thực đối với Việt Nam

4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Làm rõ các đặc điểm cơ bản và bản chất pháp lý của hết quyền SHTT; chỉ rõ nguyên nhân và ảnh hưởng của thương mại song song;

mối liên hệ giữa hết quyền SHTT và thương mại song song

Trang 11

Thông qua việc nghiên cứu các quy định của các ĐƯQT, pháp luật của một số quốc gia và pháp luật của Việt Nam về hết quyền SHTT

và thương mại song song, qua đó đánh giá được sự tương thích của pháp luật Việt Nam so với các ĐƯQT về hết quyền SHTT và thương mại song song, và đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này

5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

Hết quyền SHTT là gì? Thương mại song song là gì? Mối quan hệ giữa hai vấn đề này ra sao? Những yếu tố nào ảnh hưởng tới sự lựa chọn của một quốc gia khi áp dụng một cơ chế hết quyền SHTT nhất định? Nói cách, dựa vào đâu để một quốc gia cho phép hay không cho phép thương mại song song?

Các ĐƯQT và pháp luật của một số quốc gia đang quy định về vấn đề này như thế nào?

Pháp luật Việt Nam đã và đang quy định về vấn đề này như thế nào? Những quy định ấy đã tương thích với các ĐƯQT hay chưa?

Cần có giải pháp, kiến nghị nào để hoàn thiện hơn nữa pháp luật Việt Nam về vấn đề này?

6 Các phương pháp nghiên cứu để thực hiện luận văn

Phương pháp nghiên cứu của toàn luận văn là dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Bên cạnh đó, những phương pháp khoa học khác như: So sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê cũng được sử dụng để giải quyết những vấn đề mà đề tài luận văn đã đặt ra

Trang 12

Một số vụ việc tương tự trên thế giới cũng được sử dụng có chọn lọc để bình luận và các tài liệu, số liệu thống kê của các cơ quan chuyên ngành trong lĩnh vực SHTT cũng được tác giả tham khảo để việc nghiên cứu được toàn diện và sâu sắc hơn

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn cung cấp cái nhìn khá chi tiết về vấn đề hết quyền SHTT

và thương mại song song, theo quy định trong các ĐƯQT và pháp luật Việt Nam Qua đó, người đọc hình dung và hiểu được bản chất một vấn

đề hết sức quan trọng trong lĩnh vực SHTT không chỉ có ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ, người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng và tác động tới sự phát triển của nền kinh

tế, thương mại mỗi của quốc gia Luận văn cũng nêu lên một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này, qua đó giúp những chủ thể liên quan có một nguồn tài liệu tham khảo trong quá trình hoàn thiện, xây dựng văn bản pháp luật về SHTT

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với rất nhiều hiệp định thương mại tự do được đàm phán như: Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan Nga – Belarus – Kazahkstan (Hiệp định VCUFTA), Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và khối thương mại tự do Châu Âu – Na Uy – Thuỵ Sỹ - Iceland và Lichtenxtanh (Hiệp định VN-EFTA), Hiệp định Đối tác kinh

tế toàn diện khu vực giữa ASEAN và 6 đối tác (Trung - Ấn – Nhật – Hàn – Australia – New Zealand) (Hiệp định RCEP) và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Hàn Quốc (Hiệp định VKFTA)3 SHTT nói chung, hết quyền SHTT và thương mại song song nói riêng chắc chắn sẽ là một nội dung quan trọng trong những hiệp định này

3 Xem: Báo cáo thường niên Hoạt động SHTT 2014 do Cục SHTT thực hiện

Trang 13

Luận văn hy vọng sẽ là nguồn thông tin tham khảo thiết thực, có giá trị phục vụ công tác đàm phán các hiệp định này

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về hết quyền SHTT và thương mại song song

Chương 2: Các nội dung pháp lý cơ bản về hết quyền SHTT trong thương mại song song theo quy định của ĐƯQT và pháp luật Việt Nam

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam

về hết quyền SHTT và thương mại song song

Trang 14

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HẾT QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

VÀ THƯƠNG MẠI SONG SONG 1.1 Lý luận chung về hết quyền sở hữu trí tuệ

1.1.1 Khái quát chung về hết quyền sở hữu trí tuệ

Học thuyết hết quyền SHTT bắt đầu được đề cập và nghiên cứu từ khoảng cuối thế kỷ XIX Vụ việc đầu tiên liên quan tới hết quyền SHTT, cũng là một trong những vụ việc điển hình khi đề cập tới học thuyết này, là

vụ tranh chấp giữa Adams và Burke (Adams v Burke) xảy ra tại Hoa Kỳ năm 1865 Theo nội dung vụ việc, Merrill và Horner là hai nhà phát minh

đã nghiên cứu và sáng tạo ra một kiểu quan tài cho phép hiển thị tên và nguyên nhân qua đời của người đã khuất Sáng chế này được cấp bằng bảo

hộ tại Hoa Kỳ vào năm 1863 Sang đến năm 1865, Merrill và Horner chuyển giao quyền sử dụng sáng chế này cho công ty Lockhart & Seelye ở bang Massachusetts, với phạm vi 10 dặm tính từ Boston Bằng sáng chế tiếp tục được chuyển giao quyền sử dụng cho Adams trong phạm vi ngoài

10 dặm tính từ Boston – phạm vi này bao gồm cả thị trấn Natick, bang Massachusettes Burke, bị đơn trong vụ kiện, là một nhà thầu ở thị trấn Natick, bang Massachusettes – nằm cách trung tâm Boston 17 dặm Burke

đã mua một số quan tài do Lockhart & Seelye sản xuất theo bằng sáng chế nói trên và mang tới Natick để sử dụng trong hoạt động kinh doanh

Adams đã khởi kiện Burke vì hành động này, lập luận rằng Burke đã xâm phạm quyền của Adams đối với sáng chế nói trên Toà án Tối cao Hoa Kỳ,

sau khi cẩn thận xem xét vụ việc, đã đưa ra quan điểm như sau: “Mặc dù

quyền của Lockhart & Seelye đối với việc sản xuất, bán các sản phẩm quan tài chỉ giới hạn trong phạm vi 10 dặm tính từ trung tâm Boston, song việc một người tiêu dùng mua một cỗ quan tài sẽ đem lại cho người tiêu dùng đó quyền sử dụng cỗ quan tài đó Chủ sở hữu sáng chế cần hiểu được điều này, và hiểu rằng hành động sử dụng đó không nằm trong phạm

Trang 15

vi bảo hộ của sáng chế nữa.” 4

Vụ việc Adams v Burke lần đầu tiên đưa ra vấn đề hết quyền SHTT, và cũng là khởi điểm để các nhà luật học nghiên cứu sâu xa hơn thuyết hết quyền5 sau này

Ở Châu Âu, thuyết hết quyền được đưa ra lần đầu tiên vào cuối thế

kỷ XIX bởi nhà luật học người Đức Joseph Kohler, người đi tiên phong trong lĩnh vực SHTT hiện đại.6 Toà án Tối cao Đức sau đó đã áp dụng học thuyết của Joseph Kohler trong khi giải quyết một tranh chấp về sáng chế vào năm 19027 Trong vụ việc này, Toà án Tối cao Đức chỉ ra rằng:

“…Phạm vi bảo hộ của một sáng chế là ở chỗ: không một ai, trừ chủ sở hữu sáng chế hoặc người được chủ sở hữu cho phép, được quyền sản xuất sản phẩm tuân theo sáng chế nói trên và đưa sản phẩm này vào thị trường nội địa Tuy nhiên, phạm vi bảo hộ này không phải là vô tận

Nhờ vào việc bảo hộ sáng chế nói trên, chủ sở hữu sáng chế hoặc người được chủ sở hữu cho phép – chủ thể đã sản xuất sản phẩm và đưa sản phẩm ra thị trường – đã có được những lợi thế nhất định và hạn chế được

sự cạnh tranh từ các chủ thể khác từ việc sản xuất sản phẩm Vì lẽ này, quyền đối với sáng chế cần được chấm dứt kể từ thời điểm sản phẩm được đưa ra thị trường…” 8

8 Guajakol-Karbonat (Reichsgericht, 26 Mar 1902) 51 RGZ 139 Xem: Christopher

Stothers (2008), Parallel Trade in Europe: Intellectual Property, Competition and

Regulatory Law, Hart Publishing, tr 41.

Trang 16

Trong nhiều năm tiếp theo, học thuyết của Joseph Kohler được biết tới và ứng dụng rộng rãi ở hầu hết các nước Châu Âu

Quay trở lại vụ việc Adams v Burke nói trên, Lockhart & Sleeye

có quyền sản xuất, đưa ra thị trường sản phẩm quan tài trong phạm vi 10 dặm tính từ trung tâm Boston, còn Adams có quyền sản xuất, đưa ra thị trường sản phẩm trong phạm vi ngoài 10 dặm đó Sau khi sản xuất, đưa ra thị trường các sản phẩm quan tài ra thị trường, cả Lockhart & Sleeye lẫn Adams đều không có quyền ngăn cản người tiêu dùng sử dụng sản phẩm này như thế nào, sử dụng ở đâu, phân phối sản phẩm ra sao Việc Burke mua sản phẩm trong phạm vi 10 dặm và sử dụng ở một vị trí ngoài phạm

vi 10 dặm đó, vì vậy, không xâm phạm tới quyền của Adams Như vậy, theo thuyết hết quyền, khi sản phẩm mang đối tượng SHTT được đưa ra thị trường bởi chính chủ thể nắm giữ quyền SHTT hoặc với sự đồng ý của chủ thể này, chủ thể nắm giữ quyền SHTT không còn quyền kiểm soát đối

với việc phân phối và khai thác sản phẩm đó nữa

Qua những ví dụ và phân tích nêu trên, cũng như qua những nghiên cứu về hết quyền SHTT từ trước tới nay, có thể khái quát về hết

quyền SHTT như sau: Hết quyền SHTT là trạng thái chủ sở hữu quyền

SHTT không còn quyền phân phối đối với một sản phẩm cụ thể, khi sản phẩm đã được đưa ra thị trường bởi chính chủ sở hữu quyền SHTT, hoặc với sự đồng ý của chủ thể này

Khi đối tượng SHTT (như nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế) được chấp nhận bảo hộ, chủ thể quyền (chủ sở hữu của đối tượng đó)

có những quyền cơ bản gắn với đối tượng đó, trong đó có quyền khai thác, sản xuất, phân phối, lưu thông sản phẩm gắn với đối tượng đó (Chẳng hạn, sản xuất các sản phẩm dựa trên một sáng chế đã được bảo hộ.) Quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông sản phẩm đó là quá trình vận động của một thị trường hàng hoá thông thường và chủ thể quyền, thông qua quá trình đó, sẽ thu được lợi nhuận cho mình Trong một thị trường hàng hoá

Trang 17

có sự tham gia của nhiều nhóm đối tượng khác nhau (người bán, người mua), diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau (mua trực tiếp để sử dụng, tiêu dùng; mua để bán lại nhằm thu lợi nhuận từ chênh lệch giá), với nhiều mục đích khác nhau (tiêu dùng, thu lợi nhuận) Thị trường lành mạnh sẽ thúc đẩy các hoạt động kinh tế phát triển Quay trở lại với vấn đề quyền của nhóm chủ thể nói trên Khi hàng hoá được đưa ra thị trường, câu hỏi đặt ra

là liệu chủ thể quyền này có được phép kiểm soát sự lưu thông của các hàng hoá này nữa hay không, kiểm soát tới giai đoạn nào? Nếu sự kiểm soát này là không có giới hạn, chủ thể quyền theo đó sẽ có một quyền năng

vô hạn đối với sản phẩm, trở thành nhà phân phối sản phẩm duy nhất trên thị trường và theo đó sẽ áp đặt sự độc quyền nhằm thu được lợi nhuận lớn nhất cho mình.9 Một thị trường hàng hoá có độc quyền không phải là một thị trường lành mạnh, và hệ quả là ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế Với

lý do này, học thuyết hết quyền ra đời nhằm giới hạn quyền này của chủ thể quyền nhằm đảm bảo sự lưu thông bình thường của hàng hoá và sự lành mạnh của thị trường Như vậy, về bản chất pháp lý, học thuyết hết quyền là việc xác định chủ thể mang quyền SHTT sẽ có khả năng/ quyền kiểm soát hàng hoá tới thời điểm nào

1.1.2 Đặc điểm của “hết quyền sở hữu trí tuệ”

Xem xét khái niệm về “hết quyền SHTT”, có thể nhận định một số đặc điểm cơ bản về hiện tượng này như sau:

Thứ nhất: Hết quyền sở hữu trí tuệ xảy ra khi thoả mãn đồng thời hai điều kiện là: (i) sản phẩm đã được đưa ra thị trường và (ii) hành động đưa ra thị trường này được thực hiện bởi chính chủ thể quyền SHTT, hoặc người được chủ thể quyền SHTT cho phép

9 Độc quyền xuất hiện khi trên thị trường chỉ có duy nhất một nhà phân phối sản phẩm/ dịch vụ nhất định Xem: Neva R Goodwin, Jonathan M Harris, Julie A

Nelson, Brian Roach, Mariano Torras (2003), Microeconomics in Context, Houghton

Mifflin, Chương 17: Market with market powers, tr 359.

Trang 18

Trong một số trường hợp, chủ thể quyền SHTT có thể là người trực tiếp thực hiện quyền sản xuất sản phẩm mang đối tượng SHTT Trong nhiều trường hợp khác, chủ thể quyền SHTT không đủ khả năng, điều kiện thực hiện việc sản xuất này Do đó, chủ thể quyền SHTT có thể cho phép một chủ thể khác thay mình thực hiện việc sản xuất Việc “cho phép” ở đây, trên thực tế, có thể diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau10 Chẳng hạn, nó có thể diễn ra thông qua việc chủ thể quyền SHTT cấp li-xăng cho một chủ thể khác (như trong vụ việc Adams v Burke nói trên) Người được chủ thể quyền SHTT cho phép sẽ tiến hành sản xuất và sau đó là đưa

ra thị trường các sản phẩm mang đối tượng SHTT Hoặc, việc chủ thể quyền SHTT tự mình sản xuất các sản phẩm mang đối tượng SHTT, song không có điều kiện để tự đưa sản phẩm ra thị trường Chủ thể quyền SHTT

sẽ uỷ quyền cho một đại lý, một nhà phân phối thực hiện việc đưa sản phẩm ra thị trường

Nhìn chung, dù sản phẩm mang đối tượng SHTT được đưa ra thị trường bởi chính chủ thể quyền SHTT hay bởi một chủ thể khác được chủ thể quyền SHTT cho phép, thì hết quyền sẽ xảy ra sau khi sản phẩm được đưa ra thị trường

Thứ hai: Khi hết quyền SHTT xảy ra, chỉ quyền phân phối sản phẩm không còn và quyền sản xuất sản phẩm không bị ảnh hưởng

Khi chủ sở hữu quyền SHTT hoặc chủ thể khác được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền SHTT đưa sản phẩm mang đối tượng SHTT được bảo hộ ra thị trường, quyền phân phối của chủ sở hữu quyền SHTT đối với

10 Ekaterina Shekhtman và Evgeniy Sesitsky, Exhaustion and Parallel Importation in

the Field of trademarks, 2008/shekhtman-sesitsky-final-pdf - tác giả liệt kê một số hình thức “cho phép”

http://www.turin-ip.com/research-papers/papers-(consent) gồm: affiliate (nhà liên kết), licensee (bên nhận li-xăng), distributor (nhà phân phối) hoặc agent (đại lý)

Trang 19

sản phẩm này không còn Theo từ điển Tiếng Việt11, phân phối là “phân

chia cho nhiều người, theo nhiều đơn vị, thường theo những nguyên tắc nhất định nào đó” Theo từ điển Tiếng Anh, phân phối (distribute, động

từ) là “đưa hàng hoá tới các cửa hàng hoặc các cơ sở kinh doanh để

bán”12 Trong một số tài liệu, thuật ngữ “lưu thông” có thể được sử dụng thay thế cho “phân phối” Lưu thông được hiểu là chuyển giao một vật nào

đó từ người này sang người khác hoặc từ nơi này sang nơi khác Mặt khác, chủ thể quyền SHTT vẫn tiếp tục có quyền sản xuất các sản phẩm/ cung cấp các dịch vụ khác theo đối tượng SHTT đã được bảo hộ của mình Bản chất của thuyết hết quyền SHTT, như phân tích ở phần 1 trên đây, là nhằm xác định chủ thể mang quyền SHTT sẽ có khả năng/ quyền kiểm soát hàng hoá tới thời điểm nào Câu trả lời là quyền này chấm dứt ở thời điểm hàng hoá (được chủ thể này, hoặc một bên được chủ thể này cho phép) đưa ra thị trường Thời điểm chấm dứt này nhằm loại trừ sự độc quyền của chủ thể quyền Trong khi đó, quyền sản xuất/ phân phối các sản phẩm tiếp theo không bị ảnh hưởng, bởi đó là quyền chính đáng của chủ thể quyền vì vốn

dĩ nó không tạo ra sự độc quyền Đồng thời, nó còn là cơ sở để chủ thể quyền khai thác các lợi ích kinh tế từ quyền SHTT của mình

1.2 Khái niệm và ảnh hưởng của thương mại song song

1.2.1 Khái niệm và nguyên nhân của thương mại song song

Thương mại song song là hiện tượng sản phẩm được sản xuất một cách hợp pháp theo sự bảo hộ dành cho các đối tượng SHCN, quyền tác giả hay giống cây trồng, được đưa ra một thị trường13 nhất định và sau đó sản phẩm này được nhập khẩu vào một thị trường thứ hai mà không có sự cho phép của chủ thể quyền SHTT ở thị trường thứ hai đó Chủ thể quyền

11 TS Chu Bích Thu (Chủ biên) (2013) Từ điển Tiếng Việt phổ thông, , NXB Phương Đông, tr.703

12 “send goods to shops and businesses to be sold”, Oxford Learner’s Pocket

Dictionary, Fourth Edition, 2008, pg 130

13 Ở đây là thị trường mang tính lãnh thổ quốc gia

Trang 20

này thường là một nhà phân phối địa phương đã được cấp li-xăng Chẳng hạn, một sản phẩm thuốc được sản xuất ở nước A, sau đó được xuất khẩu sang nước B mà không được sự cho phép của nhà phân phối địa phương ở nước B – chủ thể trước đó đã được cấp li-xăng sáng chế thuốc tại nước B

Ở hầu hết các quốc gia, thuật ngữ được sử dụng là “thương mại song song” (parallel trade) và được chia thành 2 nhóm là “nhập khẩu song song” (parallel imports) hoặc “xuất khẩu song song” (parallel exports) Ở Hoa Kỳ, thuật ngữ tương ứng được sử dụng là “thị trường xám” (grey market), nhằm phân biệt với “thị trường đen” (black market).14 Nội hàm của thương mại song song không bao gồm các sản phẩm không phải do chủ thể quyền SHTT, hoặc chủ thể khác được sự đồng ý của chủ thể quyền SHTT sản xuất và đưa ra thị trường; không bao gồm các sản phẩm giả mạo, trái pháp luật Thương mại song song cũng không phải là buôn lậu – vốn là một hành vi trái pháp luật Ở đây cần khẳng định, các sản phẩm được kinh doanh trong thương mại song song là các sản phẩm thật, chính hãng

Về khía cạnh tiêu dùng, chủ thể quyền SHTT thường có sự điều chỉnh về mặt kĩ thuật đối với sản phẩm ở từng thị trường khác nhau để phù hợp với người tiêu dùng hoặc với các yêu cầu kĩ thuật ở từng thị trường

Chẳng hạn: sản phẩm xà phòng “Shield” tại Hoa Kỳ trơn và thơm hơn, chứa chất khử mùi mạnh hơn so với sản phẩm xà phòng “Shield” được bán

ra ở thị trường Anh Khi đó, nhập khẩu song song có thể khiến tại cùng một thị trường tồn tại các sản phẩm với đặc điểm kỹ thuật khác biệt nhau

Nếu người tiêu dùng không nắm rõ thông tin về vấn đề này, người tiêu dùng dễ hiểu nhầm rằng sản phẩm không đạt được chất lượng như được quảng cáo tại nước nhập khẩu, thậm chí họ có thể cảm thấy mình bị lừa dối

14 “Thị trường xám” nhằm chỉ hoạt động kinh doanh các sản phẩm chính hãng của nhà sản xuất nước ngoài “Thị trường đen” nhằm chỉ hoạt động kinh doanh các hàng hoá giả mạo về SHTT

Trang 21

Nguyên nhân sâu xa của thương mại song song xuất phát từ sự khác biệt về giá của cùng một sản phẩm tại các thị trường khác nhau Khi một sản phẩm có giá tại thị trường xuất khẩu thấp hơn so với thị trường nhập khẩu, việc chuyển dịch sản phẩm từ nước xuất để bán ở nước nhập sẽ

thu được lợi nhuận - kể cả sau khi trừ đi các chi phí vận chuyển, hải quan

Nhà kinh doanh trong trường hợp này có thể thu được lợi nhuận bằng cách xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hoá song song thông qua các kênh chính thức

Sự khác biệt về giá nói trên có thể do nhiều lý do khác nhau

Trước hết, đó là do chi phí nguyên vật liệu và giá thành sức lao động ở mỗi thị trường, mỗi quốc gia là khác nhau Hệ quả là cùng một sản phẩm nhưng chi phí sản xuất, và theo đó là giá bán sản phẩm đó, ở các quốc gia khác nhau là khác nhau Sự khác biệt giá cũng có thể do chính sách can thiệp giá của chính phủ đối với một số loại mặt hàng, đặc biệt là sản phẩm thuốc Sự biến động và chênh lệch tỉ giá tiền tệ cũng có thể dẫn tới khác biệt về giá Chủ thể quyền SHTT, với mong muốn tối đa hoá lợi nhuận thu được từ các sản phẩm của mình, sẽ tối đa hoá việc mở rộng thị trường tới càng nhiều quốc gia càng tốt Để làm được điều đó, chủ thể quyền SHTT buộc phải bán sản phẩm với giá khác nhau cho những nhóm người tiêu dùng khác nhau

1.2.2 Ảnh hưởng của thương mại song song tới các bên liên quan

1.2.2.1 Đối với người tiêu dùng

Thương mại song song đem lại lợi ích thiết thực cho người tiêu dùng ở chỗ, nó tạo ra sự cạnh tranh về giá cả để qua đó, người tiêu dùng có thể tiếp cận và mua được các sản phẩm với giá hợp lý nhất Ví dụ: sản phẩm trò chơi điện tử Crysis được đưa ra thị trường bởi một công ty của Australia, được phân phối ở Australia với giá 100$ và ở các nước châu Á trong đó có Hong Kong với giá 50$ Nhập khẩu song song từ Hong Kong

Trang 22

giúp người tiêu dùng Australia có thể mua được sản phẩm Crysis với giá rẻ hơn mức 100$ do chủ thể quyền SHTT đặt ra ở thị trường Australia

Đối với người tiêu dùng ở các nước đang phát triển, thương mại song song đặc biệt có ý nghĩa đối với lĩnh vực y tế và nông nghiệp

- Trong lĩnh vực nông nghiệp: cạnh tranh về giá trong nông nghiệp

giúp người nông dân có cơ hội sử dụng các sản phẩm hỗ trợ nông nghiệp, chăn nuôi (như thuốc trừ sâu, phân bón…) với giá cả rẻ nhất, qua đó giảm được tối đa chi phí sản xuất nông sản Hệ quả của quá trình này ở chỗ: Thứ nhất, người nông dân sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh của chính mình khi đưa sản phẩm nông sản ra thị trường Thứ hai, người nông dân sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn nhờ việc giảm được chi phí sản xuất đầu vào Cuối cùng, một ngành nông nghiệp phát triển chính là lợi ích to lớn đối với chính phủ nước nhập khẩu

- Trong lĩnh vực y tế: cạnh tranh về giá giúp người tiêu dùng, đặc

biệt là người tiêu dùng ở các nước kém phát triển, đang phát triển, có cơ hội sử dụng được nhiều sản phẩm y tế hơn Cạnh tranh về giá cũng giúp chính phủ nhiều nước cắt giảm được chi tiêu công cho lĩnh vực y tế (chủ yếu thông qua chi trả cho bảo hiểm y tế, chi trả cho đầu tư y tế công…), tăng hiệu quả trong việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cũng như phòng ngừa và đối phó với bệnh dịch Thương mại song song trong lĩnh vực y tế ngày càng chiếm một tỉ trọng lớn trong nền kinh tế của các quốc gia (xem Phụ lục 1)

1.2.2.2 Đối với chủ thể quyền SHTT

Thương mại song song hạn chế sự độc quyền của chủ thể quyền SHTT ở nhiều khía cạnh Nếu không có thương mại song song, chủ thể quyền SHTTsẽ không phải chịu sự cạnh tranh về giá, có thể chủ động điều chỉnh giá sản phẩm mà mình đưa ra thị trường, qua đó tối đa hoá lợi nhuận thu được Ở tầm khu vực và tầm quốc tế, chủ thể quyền SHTT sẽ tiếp tục tạo được những lợi thế khác về chiến lược, đồng thời nắm quyền chủ động

Trang 23

điều tiết các yếu tố như phân phối hàng hoá, giá cả, cũng như các yếu tố khác… Do đó, về cơ bản, thương mại song song luôn vấp phải sự phản đối

từ các chủ thể quyền SHTT và họ cho rằng thương mại song song cần bị hạn chế, thậm chí bị loại bỏ

Chủ thể quyền SHTT cho rằng, giá sản phẩm cao sẽ được bù vào chi phí đầu tư, nghiên cứu sản phẩm mới Cạnh tranh về giá làm cho phần chi phí này bị sụt giảm, kéo theo khả năng tái đầu tư, khả năng nghiên cứu khoa học để đưa ra sản phẩm mới cũng sụt giảm theo Trong lĩnh vực y tế

và nông nghiệp, hai lĩnh vực cơ bản có tầm quan trọng và ảnh hưởng thiết thực tới đời sống và sức khoẻ cộng đồng, việc liên tục nghiên cứu và đưa

ra các sản phẩm mới là rất cần thiết, nhằm đáp ứng những nhu cầu ngày càng đa dạng và khác biệt của người tiêu dùng Đối với hai lĩnh vực này, người tiêu dùng chịu sự ảnh hưởng (trực tiếp hoặc gián tiếp) từ những yếu

tố ngoại cảnh đến từ môi trường sống - những yếu tố liên tục biến đổi theo thời gian và do đó, người tiêu dùng cần có những sản phẩm tương ứng để thích nghi với chúng Chẳng hạn, biến đổi khí hậu, mà cụ thể là El Nino gây ra hạn hán ở một số khu vực, làm sụt giảm sản lượng lương thực ở nhiều khu vực trên thế giới như Châu Á và Châu Phi Để đối phó, ngành sản xuất nông nghiệp của các nước này cần tìm tới các sản phẩm nông nghiệp mới (như giống lúa, phân bón…) giúp thích nghi với hạn hán Biến đổi khí hậu, mặt khác, lại gây ra mưa và lũ kéo dài trên diện rộng ở một số quốc gia Nam Phi mà điển hình là Brazil Hệ quả của nó là những vùng nước tù đọng lớn, nguyên nhân chính làm tăng số lượng muỗi truyền bệnh Zika trong giai đoạn cuối năm 2015 Ngành y tế, do đó, cần những trang thiết bị và những sản phẩm dược (vácxin phòng bệnh, thuốc chữa bệnh…) mới

Một khía cạnh nữa liên quan tới vấn đề y tế và nông nghiệp, đó là

sự viện trợ của các công ty dược phẩm (thường là các công ty, tập đoàn dược phẩm lớn) tới các quốc gia kém phát triển và đang phát triển nhằm chung tay đối phó với vấn đề bệnh dịch ở các quốc gia này Hệ quả của

Trang 24

vấn đề viện trợ là khi sản phẩm không được dùng hết, chúng có thể bị xuất khẩu ngược trở lại – thông qua xuất khẩu song song – tới các nước khác với giá cao hơn để thu lợi nhuận Điều này rõ ràng gây thiệt hại không nhỏ với chủ thể quyền SHTT

Thương mại song song cũng tạo ra sự bất bình đẳng trong kinh tế, khi mà chủ thể quyền phải bỏ ra chi phí để quảng bá, tiếp thị sản phẩm của mình tới người tiêu dùng Trong khi đó, chủ thể tiến hành nhập khẩu song song lại không cần bỏ ra những chi phí này mà vẫn có thể bán được sản phẩm

1.3 Mối quan hệ giữa hết quyền SHTT và thương mại song song

Hết quyền sở hữu trí tuệ và thương mại song song có mối quan hệ mật thiết với nhau Mối quan hệ này phụ thuộc vào các cơ chế hết quyền SHTT được áp dụng ở các quốc gia như thế nào

1.3.1 Các cơ chế hết quyền SHTT

Hết quyền SHTT có thể xảy ra trong phạm vi quốc gia, khu vực hoặc quốc tế tương ứng với ba cơ chế hết quyền: (i) cơ chế hết quyền quốc gia, (ii) cơ chế hết quyền khu vực và (iii) cơ chế hết quyền quốc tế Theo thuyết hết quyền, khi sản phẩm mang đối tượng SHTT được đưa ra thị trường bởi chính chủ thể nắm giữ quyền SHTT hoặc với sự đồng ý của chủ thể này, chủ thể nắm giữ quyền SHTT không còn quyền kiểm soát đối với việc phân phối và khai thác thương mại các sản phẩm đó nữa Do đó, các hành vi thương mại như sử dụng, bán, đề nghị bán, cất giữ để bán, cho thuê hoặc các hành vi phi thương mại như tặng, cho mượn sản phẩm mang đối tượng SHTT được bảo hộ của chủ thể khác không bị coi là xâm phạm quyền SHTT

Cơ sở lý luận của vấn đề hết quyền xuất phát từ phạm vi của quyền

phân phối sản phẩm của chủ thể quyền – cụ thể ở chỗ phạm vi này được

Trang 25

xác định tới đâu: quyền phân phối chấm dứt ở phạm vi quốc gia, nghĩa là chủ thể quyền không quyền phân phối ngay sau khi đưa sản phẩm ra thị trường quốc gia; hay quyền phân phối chấm dứt ở phạm vi quốc tế, nghĩa

là chủ thể quyền không quyền phân phối ngay sau khi đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế Tuỳ thuộc vào phạm vi hết quyền SHTT xảy ra ở đâu, dẫn tới việc cơ chế hết quyền nào được áp dụng, và theo đó là việc các hành vi thương mại nêu trên sẽ được coi là hợp pháp trong phạm vi nào

1.3.1.1 Hết quyền quốc gia

Đối với cơ chế hết quyền quốc gia, chủ sở hữu quyền SHTT không còn quyền kiểm soát việc phân phối và khai thác thương mại sản phẩm mang đối tượng SHTT được bảo hộ khi chủ sở hữu quyền SHTT hoặc chủ thể khác được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền SHTT đưa sản phẩm ra thị trường nội địa Những quyền nêu trên không còn trong phạm vi lãnh thổ nước mà chủ sở hữu quyền SHTT hoặc chủ thể khác được sự đồng ý của chủ sở hữu quyền SHTT đưa sản phẩm ra thị trường lần đầu tiên

Tuy nhiên, quyền SHTT của chủ thể này vẫn được bảo hộ ở những nơi khác và chủ thể này có quyền ngăn chặn nhập khẩu song song sản phẩm mang đối tượng SHTT được bảo hộ quyền SHTT từ nước ngoài vào

Nói cách khác, chủ sở hữu quyền SHTT không thể ngăn cấm lưu thông sản phẩm diễn ra trong thị trường nội địa nhưng có thể ngăn chặn nhập khẩu song song những sản phẩm này từ nước ngoài vào Chẳng hạn, khi Công ty PepsiCo đưa các sản phẩm đồ uống mang nhãn hiệu Pepsi ra thị trường Hoa Kỳ - vốn là một nước áp dụng cơ chế hết quyền quốc gia, PepsiCo không còn quyền kiểm soát việc lưu thông các sản phẩm này (ở đây là các sản phẩm đã được đưa ra thị trường Hoa Kỳ bởi PepsiCo, chứ không phải sản phẩm đồ uống Pepsi nói chung) ở thị trường Hoa Kỳ, nghĩa là không thể kiểm soát việc các chủ thể khác sử dụng, mua bán, tặng cho sản phẩm Pepsi này trong phạm vi thị trường Hoa Kỳ Tuy nhiên, PepsiCo có quyền ngăn cấm việc nhập khẩu các sản phẩm đồ uống Pepsi vào thị trường Hoa

Trang 26

Kỳ - trừ khi thuộc trường hợp ngoại lệ như sẽ phân tích ở phần 4.1 dưới đây

đã được đưa ra thị trường khu vực bởi chính chủ thể này hoặc chủ thể khác được sự đồng ý của chủ thể này Tuy nhiên, chủ sở hữu quyền SHTT có quyền ngăn chặn việc nhập khẩu những sản phẩm này từ ngoài vào thị trường khu vực

Ví dụ: Khi sản phẩm điện thoại Nokia được Tập đoàn Nokia (Nokia Corporation) đưa ra thị trường Phần Lan, Tập đoàn Nokia (vốn là chủ sở hữu của nhãn hiệu Nokia) mất quyền kiểm soát sự lưu thông tiếp theo của các sản phẩm này trong phạm vi thị trường Khu vực Kinh tế Châu

Âu Tuy nhiên, Tập đoàn Nokia có quyền cấm nhập khẩu điện thoại Nokia

từ ngoài vào thị trường Khu vực Kinh tế Châu Âu

Hiện tại, cơ chế hết quyền khu vực được áp ở hai khu vực, đó là:

(i) các nước thuộc Khu vực Kinh tế Châu Âu15 (hiện gồm 28 quốc gia thành viên) Cơ chế hết quyền khu vực được xác lập từ đầu những năm

1970 khi Toà án tối cao của Liên minh châu Âu ra phán quyết trong vụ Deutsche Grammophon Gmbh v Metro SB Grossmarket GmbH

15 Xem phần 4.2 dưới đây

Trang 27

(ii) các nước Tây Phi thuộc Cộng đồng Pháp ngữ16 - đây là các nước thuộc Tổ chức SHTT Châu Phi (OAPI) (hiện gồm 17 quốc gia thành viên) Cơ chế hết quyền khu vực được quy định tại Điều 3 của Hiệp định Bangui 1999

1.3.1.3 Hết quyền quốc tế

Cơ chế hết quyền quốc tế xảy ra khi sản phẩm được bảo vệ quyền SHTT được chính chủ sở hữu quyền SHTT hoặc chủ thể khác được sự đồng ý của chủ sở hữu đưa ra bất kỳ thị trường nào trên thế giới Ngược lại với cơ chế hết quyền quốc gia, chủ sở hữu quyền SHTT không thể ngăn chặn sự lưu thông của hàng hoá trên phạm vi toàn thế giới

Ví dụ: Khi tập đoàn IBM (một tập đoàn chuyên sản xuất máy tính của Ấn Độ) đưa các sản phẩm máy tính mang nhãn hiệu IBM ra thị trường

Ấn Độ với giá 500 đô la Mỹ, ra thị trường Việt Nam với giá 200 đô la Mỹ

Một công ty X mua các sản phẩm này tại thị trường Việt Nam, sau đó đem nhập khẩu vào Ấn Độ với giá 400 đô la Mỹ nhằm cạnh tranh với chính tập đoàn IBM Lúc này, việc nhập khẩu của công ty X vào thị trường Ấn Độ là được phép, bởi IBM không còn quyền kiểm soát sau khi đưa các sản phẩm

ra thị trường Việt Nam nữa

Về mối quan hệ giữa hết quyền sở hữu trí tuệ và thương mại song song, trước hết cần phải lưu ý rằng hết quyền là cơ sở cho thương mại song song Do đó, khả năng loại bỏ nhập khẩu song song của chủ thể nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ phụ thuộc vào chính sách và pháp luật của nước nhập khẩu về hết quyền sở hữu trí tuệ Trường hợp thứ nhất, nếu hết quyền quốc gia được áp dụng, chủ thể nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ chỉ mất quyền phân phối hàng hoá trong lãnh thổ quốc gia Kết quả là, nhập khẩu

16 Xem trang 10, tài liệu Hội thảo Regional Seminar for Certain African Countries on the Implementation and Use of Several Patent-Related Flexibilities do WTO tổ chức ngày 229-31/01/2013 tại Nam Phi:

http://www.wipo.int/edocs/mdocs/patent_policy/en/wipo_ip_dur_13/wipo_ip_dur_13_ref_tz14a.pdf

Trang 28

song song không được công nhận Trường hợp thứ hai, cơ chế hết quyền khu vực được áp dụng, chủ thể nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ mất quyền phân phối hàng hoá trong phạm vi khu vực Do đó, thương mại song song được coi là hợp pháp trong khu vực Trường hợp thứ ba, nếu cơ chế hết quyền quốc tế được áp dụng, hết quyền xảy ra khi hàng hoá được đưa ra bất kỳ thị trường nào và quyền phân phối hàng hoá của chủ thể nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ không còn trên phạm vi toàn cầu Do đó, thương mại song song được coi là hợp pháp trên phạm vi toàn cầu

1.3.2 Sự lựa chọn cơ chế hết quyền của từng quốc gia

Như phân tích ở trên, hết quyền có thể xảy ra trong phạm vi quốc gia, khu vực hoặc quốc tế tương ứng với ba cơ chế hết quyền: cơ chế hết quyền quốc gia, cơ chế hết quyền khu vực và cơ chế hết quyền quốc tế

Mỗi cơ chế hết quyền sẽ đưa đến những hệ quả pháp lý khác nhau đối với thương mại song song, và tiếp đó ảnh hưởng trực tiếp tới vấn đề kinh tế của mỗi quốc gia Do đó, khi xem xét khía cạnh lập pháp, mỗi quốc gia sẽ cân nhắc nhiều yếu tố khác nhau để lựa chọn một cơ chế hết quyền phù hợp nhất đối với mình

1.3.2.1 Yếu tố tự do thương mại

Lập luận phổ biến nhất khi ủng hộ hết quyền quốc tế, đó là một hệ thống thị trường mang nặng tính khu vực, cắt cứ sẽ không phù hợp với tự

do thương mại Thông qua giao dịch quốc tế về hàng hoá và dịch vụ, các quốc gia có thể chuyên môn hoá vào những ngành mà mình có lợi thế, qua

đó các bên đều đạt được lợi ích lớn nhất (học thuyết lợi thế tuyệt đối, lợi thế tương đối) Dỡ bỏ các rào cản phi thế quan sẽ tạo ra sự phân phối sản phẩm dựa trên lợi thế tuyệt đối hoặc tương đối, qua đó mở rộng khả năng xuất khẩu sản phẩm của quốc gia Tự do thương mại cũng là lập luận chính

và là nền tảng để EU lựa chọn cơ chế hết quyền khu vực của mình – một

cơ chế có thể coi là “hết quyền quốc tế ở phạm vi nhỏ”

1.3.2.2 Yếu tố phân biệt giá

Trang 29

Khi cơ chế hết quyền quốc gia được áp dụng, thương mại song song bị cấm, chủ thể quyền SHTT không phải chịu sự cạnh tranh về giá từ các chủ thể khác Khi đó, chủ thể quyền SHTT có thể áp đặt các mức giá khác nhau (cho cùng một sản phẩm hoặc dịch vụ) tại các thị trường khác nhau Ngược lại, khi cơ chế hết quyền quốc tế được áp dụng, thương mại song song là được phép, dẫn tới có sự cạnh tranh về giá Khi đó, chủ thể quyền SHTT khó có thể áp đặt sự khác biệt về giá ở các thị trường khác nhau

Lấy ví dụ có hai quốc gia: quốc gia A (nước phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao) và quốc gia B (kém phát triển hơn, thu nhập bình quân đầu người thấp) Một chủ thể quyền SHTT sẽ phân phối sản phẩm ở quốc gia A và quốc gia B trong các điều kiện khác nhau như sau:

Khi cơ chế hết quyền quốc gia được áp dụng (dẫn tới có sự phân biệt về giá), chủ thể quyền SHTT sẽ bán sản phẩm ở A với giá là a, bán sản phẩm

ở B với giá là b – giá b thấp hơn a17 Khi cơ chế hết quyền quốc tế được áp dụng (dẫn tới không có sự phân biệt về giá), chủ thể quyền SHTT sẽ chỉ phân phối sản phẩm ở quốc gia A Ở kịch bản thứ nhất, cả chủ thể quyền SHTT và người tiêu dùng ở nước nghèo đều được lợi, còn người tiêu dùng

ở nước giàu không bị ảnh hưởng Mặt khác, ở kịch bản thứ nhất, chủ thể quyền SHTT sẽ đạt doanh thu cao hơn so với ở kịch bản thứ hai Như vậy,

cơ chế hết quyền quốc gia sẽ tạo ra năng suất cao hơn

1.3.2.3 Hết quyền quốc gia là sự hỗ trợ cho quyền SHTT

Theo lý thuyết chung, hạn chế thương mại song song sẽ đem lại nhiều quyền hơn cho chủ thể quyền SHTT, giúp chủ thể này khai thác tối

đa các lợi ích vật chất từ sản phẩm và dịch vụ của mình Kết quả là, các chủ thể này sẽ có nguồn kinh phí đầy đủ để tái đầu tư, mở rộng nghiên cứu, cải tiến công nghệ và đưa ra thị trường các sản phẩm, dịch vụ mới

17 Lý thuyết kinh tế gọi đây là sự “Phân biệt giá cấp III”

Trang 30

Điều này không chỉ đem lại lợi ích cho chủ thể quyền SHTT mà còn đem lại lợi ích cho người tiêu dùng, cho chính quốc gia

Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp thì lập luận nói trên đều đúng Nghiên cứu SHTT nói chung, có thể tạm chia các đối tượng thuộc phạm vi bảo hộ của quyền SHTT thành 2 nhóm: Nhóm thứ nhất gồm các đối tượng là kết quả của hoạt động có tính sáng tạo, kết quả của quá trình nghiên cứu, khám phá, như sáng chế, KDCN, các tác phẩm Nhóm còn lại gồm các đối tượng có tính cung cấp thông tin, gồm nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý.18 Khi khai thác các quyền đối với nhóm thứ nhất, chủ thể quyền đương nhiên sẽ thu được lợi nhuận thông qua việc phân phối sản phẩm, dịch vụ Nếu áp dụng cơ chế hết quyền quốc gia, tính cạnh tranh của thị trường giảm đi, chủ thể quyền tăng được lợi nhuận và tăng chi phí tái sáng tạo ra sản phẩm mới – như phân tích nêu trên Tuy nhiên, đối với các đối tượng ở nhóm thứ hai, lập luận này dường như không thuyết phục, bởi chi phí tái đầu tư, tái sáng tạo ra một nhãn hiệu mới là không đáng kể

Thực tế cũng cho thấy, các nhà sản xuất, cung cấp sản phẩm, dịch vụ thường xuyên thay đổi, đưa ra thị trường các nhãn hiệu mới, đa dạng để thu hút người tiêu dùng Chi phí để thiết kế, tìm tòi và cho ra đời một nhãn hiệu mới sẽ không thể so sánh với chi phí sáng tạo, nghiên cứu cho ra đời một sáng chế hay một kiểu dáng mới Đây cũng là lí do mà nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng các cơ chế hết quyền khác nhau đối với từng nhóm đối tượng SHTT khác nhau Ví dụ: Nhật Bản áp dụng cơ chế hết quyền quốc tế đối với nhãn hiệu và sáng chế, áp dụng cơ chế hết quyền quốc gia đối với tác phẩm điện ảnh

18 Theo quan điểm của tác giả, nhóm thứ hai tuy cũng có sự sáng tạo nhất định (chẳng hạn việc thiết kế, sáng tạo ra một mẫu nhãn hiệu), nhưng hàm lượng sáng tạo ở nhóm thứ hai này không nhiều Hơn nữa, mục đích chính của nhãn hiệu hay chỉ dẫn địa lý là nhằm giúp người tiêu dùng phân biệt được hàng hoá, dịch vụ Trong khi đó, ở nhóm thứ nhất, hàm lượng sáng tạo là rất lớn Mục đích bảo hộ của các đối tượng ở nhóm thứ nhất – cũng theo tác giả - là nhằm ghi nhận công sức, chất xám mà chủ thể quyền

đã bỏ ra

Trang 31

1.4 Hết quyền SHTT và thương mại song song theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới

Bảng 1 Thống kê cơ chế hết quyền trên thế giới.19

Khu vực địa lý Hết quyền

quốc gia

Hết quyền khu vực

Hết quyền quốc tế

Như phân tích ở trên, mỗi quốc gia có những đặc thù riêng về kinh

tế, chính trị, xã hội, dẫn tới sự lựa chọn cơ chế hết quyền ở mỗi quốc gia là không giống nhau Đi sâu hơn để phân tích, mỗi quốc gia không áp dụng một cơ chế hết quyền duy nhất cho tất cả các đối tượng SHTT mà có thể lựa chọn áp dụng các cơ chế khác nhau cho từng nhóm đối tượng SHTT riêng Ngoài ra, ở mỗi cơ chế, các quốc gia có thể quy định một số ngoại lệ hay loại trừ nhất định Điều này được thể hiện ra qua bảng tóm lược trên đây

19 Tài liệu hội thảo Regional Seminar on the Effective Implementation and Use of

Several Patent-Related Flexibilities do WTO tổ chức tại Bangkok, Thái Lan từ

29-31/01/2011:

http://www.wipo.int/edocs/mdocs/patent_policy/en/wipo_ip_bkk_11/wipo_ip_bkk_11 _ref_topic14.pdf

20 Tại thời điểm thống kê (năm 2011), Liên bang Comoros chưa gia nhập Tổ chức SHTT Châu Phi OAPI Liên bang Comoros chỉ gia nhập và là thành viên thứ 17 của OAPI từ ngày 25/05/2013 Để tôn trọng tính nguyên gốc của thông tin tham khảo, bảng thống kê này trích dẫn chính xác số liệu từ tài liệu của WTO năm 2011 Tuy nhiên, ở phần 3.1.2 trên đây, tác giả đã cập nhật số lượng thành viên đầy đủ của OAPI tính tại thời điểm viết

21 Gồm 28 thành viên của EU và 3 nước Na Uy, Iceland, Lichtenstien Xem: Jarrod

Tudor (2012), Intellectual Property, the Free Movement of Goods and Trade

Restraint in the European Union, tạp chí The Journal of Business, Entrepreneurship &

the Law Volume 6, Issue 1, ngày 15/11/2012

Trang 32

1.4.1 Hoa Kỳ

Kinh tế Hoa Kỳ là nền kinh tế có quy mô lớn nhất thế giới, với khoảng 17.420 tỉ trong năm 2014 Đây là một nền kinh tế hỗn hợp, nơi mà các công ty, các tập đoàn lớn và các công ty tư nhân là những thành phần chính của nền kinh tế vi mô, ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế của Hoa

Kỳ Ở Hoa Kỳ, Toà án đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự hình thành và phát triển của pháp luật về hết quyền sở hữu trí tuệ Trước tiên, hết quyền sở hữu trí tuệ được Toà án xây dựng trong một vụ việc về sáng chế và sau đó được quy định trong các văn bản pháp luật Trong vụ việc về sáng chế Adam v Burke, Toà án tối cao Hoa Kỳ lần đầu tiên xem xét vấn

đề hết quyền sở hữu trí tuệ 22 Tiếp đó, trong vụ kiện Boesch v Graff năm

1890, Graff khởi kiện Boesch ra toà án California, yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm sáng chế đế đèn Phán quyết của Toà án tối cao Hoa Kỳ sau đó cho thấy cơ chế hết quyền quốc gia đối với sáng chế đã được áp dụng.23

Hoa Kỳ sở hữu một lượng lớn sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, cũng như là quốc gia có nền công nghiệp điện ảnh, âm nhạc nói riêng, văn học nghệ thuật nói chung phát triển vào bậc nhất thế giới Với lý

do đó, Hoa Kỳ lựa chọn áp dụng cơ chế hết quyền quốc gia để bảo vệ tốt nhất quyền lợi của các chủ thể quyền SHTT, qua đó đẩy mạnh sự sáng tạo không ngừng của các chủ thể này

Đối với nhãn hiệu, Hoa Kỳ áp dụng một trường hợp loại trừ duy nhất, vốn được xem xét trong vụ Lever Brothers Company v US năm

22 Như đã trình bày ở phần 1.1 trên đây

23 Sáng chế nói trên được cấp văn bằng bảo hộ cho Graff ngày 04/12/1883 ở Hoa Kỳ, được cấp trước đó vào các ngày 14/11/1879, 13/01/1880 và 26/03/1880 ở Đức Graff sản xuất các sản phẩm đế đèn và đưa ra thị trường Đức, sau đó các sản phẩm này được Boesch nhập về và phân phối lại cho một công ty Hoa Kỳ Graff cho rằng Boesch đã xâm phạm quyền đối với sáng chế của mình

Trang 33

199324 Trong vụ việc này, Lever US (một công ty của Hoa Kỳ) cùng bạn hàng tại Anh là Lever UK, cùng sản xuất sản phẩm xà phòng mang nhãn hiệu “Shield” và nước rửa tay mang nhãn hiệu “Sunlight” Các nhãn hiệu này đều được bảo hộ tại Hoa Kỳ và Anh Các sản phẩm được điều chỉnh thành phần hoá chất để phù hợp với người tiêu dùng tại mỗi thị trường riêng biệt Chẳng hạn, sản phẩm “Shield” tại Hoa Kỳ trơn và thơm hơn, chứa chất khử mùi mạnh hơn Sản phẩm “Sunlight” tại Anh tạo bọt ít hơn, được thiết kế với kiểu chữ thường, vỏ sản phẩm bọc giấy bạc Còn ở Hoa

Kỳ, sản phẩm “Shield” tạo bọt mạnh hơn, bao bì là kiểu chữ đậm, vỏ sản phẩm bọc giấy thường Lever UK xuất các sản phẩm “Sunlight” và

“Shield” vào thị trường Hoa Kỳ, và vấp phải sự phản đối của Lever US bởi Lever US cho rằng các sản phẩm này gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng Hoa Kỳ, và trên thực tế người tiêu dùng Hoa Kỳ tỏ ra thất vọng khi mua nhầm sản phẩm sản xuất tại Anh – vốn có tiêu chuẩn kĩ thuật không phù hợp với thị trường Hoa Kỳ

Lever US viện dẫn Điều 42 Đạo luật Lanham, trong đó nói rằng:

“nhập khẩu hàng hoá có sự khác biệt, cho dù hàng hoá mang nhãn hiệu

trùng với nhãn hiệu được bảo hộ tại Hoa Kỳ, và dù hàng hoá nhập khẩu là chính hiệu hoặc có mối quan hệ chi nhánh giữa các nhà sản xuất” Cơ

quan Hải quan Hoa Kỳ không chấp nhận lập luận của Lever US mà vẫn cho phép nhập các sản phẩm trên vào thị trường Hoa Kỳ, với lí do: Theo Đạo luật số 19 về Hải quan về Biên giới, Điều 133.21 quy định: Các sản phẩm nhập khẩu mang nhãn hiệu đã được bảo hộ tại Hoa Kỳ sẽ không bị cấm nếu chủ sở hữu nhãn hiệu và công ty nhập khẩu có mối quan hệ chi nhánh hoặc mối quan hệ chung rằng buộc.” Lever US đã khởi kiện cơ quan Hải quan Hoa Kỳ Toà án tối cao, sau khi xem xét lại tinh thần của

Trang 34

Điều 42 Đạo luật Lanham, đã phán quyết: Đạo luật số 19 về Hải quan về Biên giới, Điều 133.21 không lý giải rõ nội hàm của Điều 42 Đạo luật Lanham Do đó, trong trường hợp này, toà tuyên Lever US thắng kiện, đồng thời cấm nhập khẩu các sản phẩm sản xuất từ Anh Như vậy, ngoại lệ

ở Hoa Kỳ là: Nhập khẩu song song được chấp nhận và quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu Hoa Kỳ không còn khi hai điều kiện sau đây được thoả mãn: (i) chủ sở hữu nhãn hiệu Hoa Kỳ có mối quan hệ cùng sở hữu hoặc cùng kiểm soát với nhà sản xuất nước ngoài25; (ii) không có sự khác biệt giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá trên thị trường Hoa Kỳ

1.4.2 Liên minh Châu Âu

Liên minh Châu Âu là một liên minh kinh tế - chính trị gồm 28 quốc gia thành viên thuộc Châu Âu Liên minh châu Âu được thành lập bởi Hiệp ước Maastricht vào ngày 01/11/1993 dựa trên Cộng đồng châu

Âu (EC) Với hơn 500 triệu dân, Liên minh châu Âu chiếm khoảng 22%

(16,2 nghìn tỷ đô la Mỹ năm 2015) GDP danh nghĩa và khoảng 17% (19,2 nghìn tỷ đô la Mỹ năm 2015) GDP sức mua tương đương của thế giới (PPP)26

Trong các vụ việc điển hình như vụ Consten và Grundig v

Commission năm 1966, hay vụ Deutsche Grammophon v Metro năm

197127, Toà án Liên minh Châu Âu đã thiết lập cơ chế hết quyền khu vực trong phạm vi Liên minh Châu Âu Theo đó, khi chủ thể nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ đã đồng ý đưa hàng hóa ra thị trường của bất kỳ nước thành viên nào, chủ thể này không còn quyền để ngăn chặn nhập khẩu hàng hoá

25 Nguyên văn tiếng Anh: “The U.S and foreign trademarks are not owned by the

same person, and are not a parent or subsidiary, or otherwise subject to common ownership or control.”

26 http://data.worldbank.org/region/EUU

27

https://wiki.openrightsgroup.org/wiki/Case_law_from_the_European_Court_of_Justic

e

Trang 35

vào thị trường của các nước thành viên, nói cách khác thương mại song song trong thị trường Liên minh Châu Âu được công nhận là hợp pháp

Cơ chế hết quyền khu vực được pháp điển hoá và được quy định trong Chỉ thị đầu tiên về nhãn hiệu số 89/104/EEC năm 1988 Hiện nay, Chỉ thị 89/104/EEC được thay thế bằng Chỉ thị 2008/95/EC của Nghị viện Châu Âu ngày 22/10/2008 về hài hoà pháp luật của các nước thành viên liên quan đến nhãn hiệu Cơ chế hết quyền khu vực được áp dụng với tất

cả các đối tượng SHTT: quyền tác giả, quyền SHCN và quyền đối với giống cây trồng Chẳng hạn, đối với quyền SHCN mà cụ thể là nhãn hiệu, Điều 7 Chỉ thị 2008/95/EC quy định như sau:

1 Chủ sở hữu nhãn hiệu không được cấm người khác sử dụng nhãn hiệu trong mối quan hệ với hàng hoá mà chính chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc người được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu đưa ra thị trường Cộng đồng

2 Không áp dụng quy định của đoạn 1 khi tồn tại những lý do chính đáng cho phép chủ sở hữu nhãn hiệu phản đối tiếp tục kinh doanh hàng hoá, đặc biệt khi tình trạng của hàng hoá bị thay đổi hoặc bị hư hỏng sau khi được đưa ra thị trường

1.4.3 Nhật Bản

Hiện tại, kinh tế Nhật Bản phụ thuộc phần lớn vào hệ thống bán lẻ sản phẩm28 Nhật Bản là thị trường bán lẻ lớn thứ hai thế giới với 127 triệu khách hàng Xét về tương quan, Nhật Bản chiếm 55% tổng thị trường bán

lẻ của toàn Châu Á Đây cũng là quốc gia có nhu cầu nhập khẩu cao, với 61% lượng thực phẩm có nguồn gốc từ nhập khẩu (theo báo cáo LHQ năm 2008)

Trong vụ kiện BBS Kraftfahrzeug Technik AG v Racimex Japan

và JapAuto Prods diễn ra năm 1995, Toà án tối cao Tokyo Nhật Bản đã áp

28 http://www.japanretailnews.com/japans-retail-market.html

Trang 36

dụng cơ chế hết quyền quốc tế đối với sáng chế Theo nội dung vụ việc, nguyên đơn BBS Kraftfahrzeug Technik AG sở hữu sáng chế “bánh xe tự động”, được nộp đơn tại Nhật Bản ngày 29/10/1983 (trên cơ sở đơn ưu tiên nộp tại Châu Âu ngày 27/05/1983, đơn này được cấp bằng ngày 22/04/1987), được cấp bằng số 1629869 vào ngày 20/12/1991 Bị đơn là hai công ty Racimex Japan và JapAuto Prods Hai công ty này đã và đang nhập khẩu các sản phẩm bánh xe tự động mà BBS sản xuất tại Đức theo bằng sáng chế nói trên rồi phân phối tại thị trường Nhật Bản BBS cho rằng hành động này của Racimex Japan và JapAuto Prods gây ra thiệt hại

về doanh thu cho BBS Toà án cho rằng, nguyên đơn (BBS) đã sản xuất và đưa ra thị trường Đức sản phẩm bánh xe tự động theo bằng sáng chế được bảo hộ tại Đức, và rằng điều này đã cho phép nguyên đơn khai thác quyền

và lợi ích có được từ sáng chế của mình Như vậy, không có cơ sở để nói rằng nguyên đơn đã chịu thiệt hại nào cả Điều đó có nghĩa là quyền đối với sáng chế liên quan tới các sản phẩm bánh xe tự động nói trên đã hết tại Nhật Bản, kể từ thời điểm sản phẩm được nguyên đơn đưa ra thị trường Đức

Đối với nhãn hiệu, trong một phán quyết ngày 27/02/2003, Toà án tối cao Nhật Bản đưa ra quan điểm rằng, nhập khẩu song song sẽ được coi

là hợp pháp nếu thoả mãn đồng thời cả 3 tiêu chí sau: Thứ nhất, hàng hoá nhập khẩu mang nhãn hiệu phải được chủ nhãn hiệu hoặc người được chủ

sở hữu nhãn hiệu sản xuất Thứ hai, chủ sở hữu nhãn hiệu (kể cả ở nước xuất khẩu hay ở Nhật Bản) phải là một bên riêng rẽ, hoặc có thể là một bên liên quan (về mặt pháp lý hay tài chính) để hàng hoá mang nhãn hiệu thể hiện rằng nó có cùng xuất xứ với thông tin nhãn hiệu bảo hộ tại Nhật Bản

Thứ ba, hàng hoá nhập khẩu song song không có sự khác biệt đáng kể về chất lượng với hàng hoá cũng nhãn hiệu đang được bày bán ở Nhật Bản

Một ngoại lệ đối với vấn đề nhập khẩu song song ở Nhật Bản đó là vấn đề về giá thuốc Nhật Bản áp dụng cơ chế hết quyền quốc tế đối với sáng chế và nhãn hiệu, trừ trường hợp sản phẩm thuộc các quy định pháp

Trang 37

lý liên quan tới điều chỉnh giá Nhật Bản có một hệ thống bảo hiểm y tế toàn quốc, và giá thuốc cụ thể do Bộ Y tế Nhật Bản điều chỉnh Nhật Bản cũng là nước có nền công nghiệp điện ảnh (cụ thể là các tác phẩm hoạt hình, phim ảnh…) rất phát triển Do đó, để bảo vệ tốt nhất quyền của các chủ thể hoạt động trong lĩnh vực này, Nhật Bản tuy chọn cơ chế hết quyền quốc tế đối với lĩnh vực quyền tác giả, song đặt ra loại trừ đối với các tác phẩm điện ảnh Các tác phẩm điện ảnh này sẽ được áp dụng cơ chế hết quyền quốc gia.29

1.4.4 Phillipines

Trước năm 2007, ở Philippines, các quy định về SHTT nói chung,

về hết quyền SHTT nói riêng được quy định chủ yếu trong Bộ luật SHTT

1997 Liên quan tới vấn đề hết quyền SHTT, Bộ luật này quy định như sau:

- Đối với sáng chế: Mục 71 quy định các quyền độc quyền của chủ

sở hữu sáng chế không còn khi chủ thể đưa hàng hoá ra thị trường Philipines Như vậy, Phillipines áp dụng nguyên tắc hết quyền quốc gia đối với sáng chế

- Đối với nhãn hiệu: Mục 166 cấm nhập khẩu hàng hoá vi phạm quyền chủ sở hữu đối với nhãn hiệu đã đăng ký bảo hộ Tuy nhiên, mục này không đề cập đến nhập khẩu hàng hoá chính hiệu là đối tượng của nhập khẩu song song Do đó, quy định về hết quyền SHTT đối với nhãn hiệu dường như chưa rõ ràng

- Đối với quyền tác giả: hết quyền và nhập khẩu song song sản phẩm được bảo hộ quyền tác giả không được pháp luật Philipines quy định

rõ ràng Song trên thực tế, toà án Philipines đã giải quyết một số vụ việc về nhập khẩu song song và có chung quan điểm ngăn cấm hoạt động này

29 Kaoru Kuroda và Eiji Katayama (2012), Efforts to Establish Clear Standards for

Exhaustion in Japan, tạp chí WASHINGTON JOURNAL OF LAW, TECHNOLOGY

& ARTS VOLUME 7, ISSUE 4 SPRING 2012

Trang 38

Năm 2007, Nghị viện Philipines đã thông qua Bộ luật SHTT sửa đổi (Bộ luật số 8293), trong đó thừa nhận nhập khẩu song song sản phẩm thuốc Mục 72 của Bộ luật 2007 quy định về giới hạn của quyền đối với sáng chế Theo đó, chủ sở hữu sáng chế không có quyền ngăn cản bên thứ

ba khai thác sản phẩm mang sáng chế nếu việc khai thác đó nhằm phục vụ cho mục đích y tế Như vậy, Philipines đã chuyển từ áp dụng nguyên tắc hết quyền quốc gia sang áp dụng nguyên tắc hết quyền quốc tế đối với sản phẩm thuốc Trước thực trạng giá thuốc cao ở Philipines, Chính Phủ nước này đã coi nhập khẩu song song là công cụ giảm giá thuốc và tăng cường khả năng tiếp cận với thuốc ở quốc gia này 30

đó, hết quyền SHTT đem lại lợi ích cho người tiêu dùng khi giúp họ tiếp cận được nhiều sản phẩm với giá cả cạnh tranh, chủng loại đa dạng Hết quyền SHTT có thể xảy ra trong phạm vi quốc gia, khu vực hoặc quốc tế tương ứng với ba cơ chế hết quyềncơ chế hết quyền quốc gia, cơ chế hết quyền khu vực và cơ chế hết quyền quốc tế Mỗi cơ chế hết quyền sẽ đưa đến những hệ quả pháp lý khác nhau đối với thương mại song song, và tiếp

đó ảnh hưởng trực tiếp tới vấn đề kinh tế của mỗi quốc gia Do đó, khi xem xét khía cạnh lập pháp, mỗi quốc gia sẽ cân nhắc nhiều yếu tố khác nhau để lựa chọn một cơ chế hết quyền phù hợp nhất đối với mình: yếu tố thương mại, yếu tố phân biệt giá…

30 Xem thêm: http://www.wipo.int/wipolex/en/profile.jsp?code=ph

Trang 39

CHƯƠNG 2 CÁC NỘI DUNG PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ HẾT QUYỀN SHTT TRONG THƯƠNG MẠI SONG SONG THEO QUY ĐỊNH CỦA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM

2.1 Hết quyền SHTT và thương mại song song theo quy định của các ĐƯQT

2.1.1 Khái quát về các ĐƯQT về hết quyền SHTT và thương mại song song

Từ những năm 1980, quyền SHTT bắt đầu trở thành mối quan tâm thường xuyên và có ảnh hưởng trực tiếp trên tầm quốc tế Các tài sản trí tuệ ngày càng đóng góp mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế, cũng như thúc đẩy tri thức thế giới Bên cạnh đó, khuynh hướng sử dụng trái phép các tài sản trí tuệ lại diễn ra ngày càng phổ biến và trầm trọng; nạn hàng nhái, hàng giả đã trở thành một vấn nạn diễn ra trên phạm vi toàn cầu

Việc bắt chước, sao chép để sản xuất và bán các sản phẩm có chứa các thành quả sáng tạo đã dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, đẩy lùi khỏi thị trường những người đã bỏ công sức đầu tư để tạo ra các thành quả đó Thực tế này làm cho họ không có khả năng thu hồi vốn và lợi nhuận cần thiết để tiếp tục các hoạt động sáng tạo

Trước bối cảnh đó, việc tạo lập một hệ thống bảo hộ quyền SHTT

có tính bắt buộc trên phạm vi quốc tế nhằm ngăn chặn việc sử dụng trái phép tài sản trí tuệ và khuyến khích, thúc đẩy sáng tạo ngày càng trở nên bức thiết Phần lớn các quốc gia đều nhất trí rằng cần phải thảo luận, ký kết một công ước mới điều tiết các vấn đề về quyền SHTT Hiệp định TRIPS đã được ra đời thông qua các cuộc đàm phán thương mại đa phương tại Vòng Urugoay của WTO nhằm mục tiêu giải quyết một cách toàn diện vấn đề bảo hộ quyền SHTT Hiệp định TRIPS được ký kết vào năm 1994 và chính thức có hiệu lực vào tháng 1-1995 Với Hiệp định này,

Trang 40

lần đầu tiên những quy định về quyền SHTT được đưa vào hệ thống thương mại đa biên và người ta kỳ vọng rằng Hiệp định sẽ “góp phần thúc đẩy việc cải tiến, chuyển giao và phổ biến công nghệ, mang lại lợi ích cho

cả người sáng tạo và người sử dụng công nghệ cũng như lợi ích kinh tế -

xã hội nói chung và đảm bảo sự cân bằng giữa quyền lợi và nghĩa vụ”

Hiệp định TRIPS là ĐƯQT đa phương đầu tiên đề cập tới vấn đề hết quyền SHTT và thương mại song song

Sau Hiệp định TRIPS, một ĐƯQT đa phương đáng chú ý khác cũng đề cập tới vấn đề hết quyền SHTT và thương mại song song, đó là

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (tiếng Anh: Trans-Pacific

Partnership Agreement - viết tắt TPP) TPP là một hiệp định thương mại

tự do được ký kết giữa 12 nước gồm: Chile, New Zealand, Singapore, Brunei (được coi là 4 thành viên sáng lập), Hoa Kỳ, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, Australia, Canada, Peru, Việt Nam Hiệp định ra đời với mục đích xóa bỏ các loại thuế và rào cản cho hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên, thúc đẩy hội nhập các nền kinh tế thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương Đây là một hiệp định có tính chất toàn diện, bao quát tất cả các khía cạnh chính của thương mại tự do như: trao đổi hàng hóa, xuất xứ hàng hoá, rào cản kỹ thuật, trao đổi dịch vụ, SHTT, lao động…

Khởi điểm của TPP là một hiệp định thương mại được đàm phán giữa 3 nước: Chile, New Zealand và Singapore Hiệp định này được gọi là Hiệp định Đối tác ba nước liên kết xuyên Thái Bình Dương (tiếng Anh:

Pacific Three Closer Economic Partnership – viết tắt là P3), được ký kết

vào ngày 03/06/2005 và có hiệu lực ngày 28/05/2006 Tiếp đó, Brunei mong muốn tham gia đàm phán mở rộng hiệp định này Sau vòng đàm

phán với Brunei, Hiệp định lấy tên là Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến

lược Xuyên Thái Bình Dương (tiếng Anh: Trans-Pacific Strategic

Economic Partnership Agreement – viết tắt là P4) Tháng 9/2008, Mỹ

tuyên bố tham gia đàm phán gia nhập hiệp định Kế đó là 7 nước

Ngày đăng: 19/03/2018, 17:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w