Trong khi đó, để đáp ứng đối với những thách thức của môi trường kỹ thuật số đặt ra cho bảo hộ quyền tác giả trên phạm vi quốc tế, pháp luật quốc tế cũng đã có những sự phát triển nhất đ
Trang 1BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ THEO ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
MÃ SỐ: LH-2017-33/ĐHL-HN
Chủ nhiệm đề tài: TS Vũ Thị Phương Lan Thư kí đề tài: ThS Nguyễn Đức Việt
Hà Nội, tháng 05 năm 2018
Trang 2BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ THEO ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chủ nhiệm Đề tài: TS Vũ Thị Phương Lan
Phó trưởng bộ môn Tư pháp quốc tế Khoa pháp luật quốc tế
Thư ký Đề tài: ThS Nguyễn Đức Việt
Giảng viên Bộ môn Tư pháp quốc tế Khoa pháp luật quốc tế
Hà Nội, tháng 05 năm 2018
Trang 4PHẦN THỨ NHẤT BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI
ii
Trang 5MỤC LỤC BÁO CÁO TỔNG HỢP
PHẦN THỨ NHẤT 2
BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI 2
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 3
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Bố cục của báo cáo tổng hợp 7
CHƯƠNG 1 9
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ 9
1.1 Khái niệm, nội dung và đặc điểm của quyền tác giả 9
1.1.1 Khái niệm quyền tác giả 9
1.1.2 Nội dung của quyền tác giả 10
1.1.3 Đặc điểm của quyền tác giả 12
1.2 Khái niệm và đặc điểm của bảo hộ quyền tác giả 13
1.2.1 Khái niệm và mục đích của bảo hộ quyền tác giả 13
1.2.2 Đặc điểm của bảo hộ quyền tác giả 17
1.3 Môi trường kỹ thuật số và thách thức của nó tới vấn đề bảo hộ quyền tác giả 18
1.3.1 Sự hình thành và đặc điểm của môi trường kỹ thuật số 18
1.3.2 Thách thức của môi trường kỹ thuật số với vấn đề bảo hộ quyền tác giả22 CHƯƠNG 2 29
Trang 6BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ
THEO QUY ĐỊNH CỦA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ 29 2.1 Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm
văn học, nghệ thuật và khoa học (The Berne Convention for the Protection
of Literary and Artistic Works) 30
2.2 Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở
hữu trí tuệ năm 1994 (Hiệp định TRIPs) 37 2.3 Hiệp ước về quyền tác giả của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới năm
1996 (WIPO Copyright Treaty 1996) 46 Kết luận Chương 2 57 CHƯƠNG 3 60 BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ Ở MỘT SỐ QUỐC GIA 60 3.1 Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số ở Hoa Kỳ 60
3.1.1 Tình hình xâm phạm quyền tác giả trên internet tại Hoa Kỳ và khuôn khổ pháp luật điều chỉnh 60 3.1.2 Bảo hộ quyền tác giả trước các vi phạm trên internet 61
3.2 Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số ở Nhật bản 66
3.2.1 Tình hình xâm phạm quyền tác giả trên internet tại Nhật Bản và khuôn khổ pháp luật điều chỉnh 66 3.2.2 Bảo hộ quyền tác giả trước các vi phạm trên internet 67
3.3 Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số ở Trung Quốc 72
3.3.1 Tình hình xâm phạm quyền tác giả trên internet tại Trung Quốc và
khuôn khổ pháp luật điều chỉnh 72 3.3.2 Bảo hộ quyền tác giả trước các vi phạm trên internet 74
3.4 Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số ở Thái Lan 85
Trang 73.4.1 Tình hình xâm phạm quyền tác giả trên internet tại Thái Lan và khuôn
khổ pháp luật điều chỉnh 85
3.4.2 Bảo hộ quyền tác giả trước các xâm phạm trên internet 87
3.5 Một số kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 95
CHƯƠNG 4 101
THỰC TRẠNG, THỰC TIỄN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THẬT SỐ 101
4.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số 101
4.1.1 Đối tượng bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số 102
4.1.2 Chủ thể được bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số 103
4.1.3.Các quyền của tác giả trong môi trường kỹ thuật số 106
4.1.4 Hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số 113
4.1.5 Biện pháp bảo vệ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số 115
4.2 Thực tiễn về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số ở Việt Nam 122
4.3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số 126
4.3.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số 127
4.3.2 Chủ sở hữu quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số cần chủ động đầu tư áp dụng các biện pháp công nghệ cao để tự bảo vệ quyền tác giả của mình 133
4.3.3 Tăng cường năng lực cho đội ngũ thực thi quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số 134
Trang 84.3.4 Nâng cao năng lực của cơ quan chuyên môn để giúp các cơ quan thực thi pháp luật đưa ra các hình thức xử phạt hợp lý và hiệu quả 135 4.3.5 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, động viên và phát huy
sức mạnh toàn dân tích cực tham gia phòng ngừa và đấu tranh chống các
hành vi xâm phạm quyền tác giả, đặc biệt là trong môi trường kỹ thuật số 136
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138 PHẦN THỨ HAI 142 CÁC BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ 142
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi đổi mới, pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam, trong đó có pháp luật bảo hộ quyền tác giả, đã có những sự phát triển đáng ghi nhận Năm
1995, Bộ luật dân sự đầu tiên của Nước CHXHCN Việt Nam được ban hành đã dành một phần riêng để quy định về quyền sở hữu trí tuệ Năm 2005, Luật sở hữu trí tuệ đầu tiên được ban hành trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định tương ứng của Bộ luật dân sự năm 1995 Cho đến nay, pháp luật về quyền tác giả của Việt Nam, trong tổng thể pháp luật về sở hữu trí tuệ, đã từng bước được hoàn thiện để phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam cũng như nhu cầu hội nhập quốc tế
Với sự phát triển không ngừng của Internet, không gian mạng (cyber space)
ngày càng được mở rộng và lan tỏa từ quốc gia này tới quốc gia khác Nhờ có không gian mạng, các quốc gia ngày càng kết nối chặt chẽ hơn, người dân sinh sống giữa các quốc gia trở nên gần gũi với nhau hơn, các giao dịch kinh tế, giao lưu văn hóa, xã hội trở nên thuận tiện hơn bao giờ hết Tất cả những yếu tố đó đem lại lợi ích lớn về phát triển kinh tế cũng như xã hội ở nhiều quốc gia Internet không những trở thành nguồn sinh lợi trực tiếp mà còn là tác nhân cho
sự phát triển kinh tế ấn tượng của nhiều quốc gia trên thế giới
Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng và môi trường kỹ thuật số cũng đem lại những mối đe dọa nhất định cho một số lĩnh vực kinh tế -
xã hội, trong đó có lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả Bản chất của quyền tác giả là những quyền trừu tượng, đối tượng của quyền tác giả là những tài sản trí tuệ, vô hình Trong khi tạo ra một cuộc cách mạng về cách thức liên lạc và trao đổi thông tin giữa các cá nhân, cộng đồng và quốc gia, môi trường kỹ thuật số cũng tạo cơ sở rất thuận tiện cho các hoạt động sao chép, sử dụng các tác phẩm mà không được sự đồng ý của tác giả Môi trường kỹ thuật số thực sự đặt ra những thách thức không nhỏ về mặt pháp lý đối với việc bảo hộ quyền tác giả Tuy
Trang 102
nhiên, vấn đề này vẫn chưa được chú trọng để phản ánh vào công tác xây dựng pháp luật của Việt Nam
Trong khi đó, để đáp ứng đối với những thách thức của môi trường kỹ thuật
số đặt ra cho bảo hộ quyền tác giả trên phạm vi quốc tế, pháp luật quốc tế cũng
đã có những sự phát triển nhất định Hệ thống pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền tác giả được hình thành từ năm 1886 bao gồm các văn bản như Công ước Berne
về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật năm 1886, Công ước Rome 1961 về bảo
hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và các tổ chức phát sóng, Công ước Geneva 1971 về bảo hộ các nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép trái phép bản ghi âm của họ, Công ước Brussel 1974 liên quan đến việc phân phối các tín hiệu mang chương trình được truyền qua vệ tinh, Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ Cuối thế kỷ 20,
hệ thống pháp luật quốc tế về quyền tác giả được bổ sung thêm hai nguồn quan trọng là Hiệp định của WIPO về quyền tác giả (WCT) và Hiệp định của WIPO
về bảo hộ sản phẩm ghi âm và trình diễn (WPPT) WCT được ký kết tại Geneva ngày 20/12/1996 dưới sự bảo trợ của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) Hiệp định để ngỏ để các quốc gia thành viên của WIPO và Cộng đồng Châu Âu (EC) gia nhập Hiệp ước gồm 25 điều, quy định về các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, bao gồm cả chương trình máy tính, không phân biệt cách thức và hình thức thể hiện chúng; sưu tập dữ liệu dưới bất kì hình thức nào, với
sự lựa chọn và sắp xếp nội dung tạo thành những sáng tạo trí tuệ Cho đến nay hiệp định này đã có 96 thành viên WPPT được ký cùng ngày với WCT và có các điều khoản tương tự áp dụng đối với quyền của người ghi âm và người trình diễn Cả hai hiệp định này đều trực tiếp điều chỉnh vấn đề bảo hộ quyền tác giả
và quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số
So với hệ thống pháp luật quốc tế về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường
kỹ thuật số, hệ thống pháp luật Việt Nam còn những bất cập nhất định Trong số các điều ước quốc tế về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số vẫn
Trang 113
còn có những văn bản quan trọng mà Việt Nam chưa phải là thành viên Điều này đặt ra nhu cầu về mặt lý luận đối với việc so sánh hệ thống pháp luật Việt Nam và quốc tế về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số để trên cơ
sở đó đánh giá nhu cầu Việt Nam tham gia các điều ước quốc tế này
Mặt khác, Nghị quyết số 48 của Bộ Chính Trị ban hành ―Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020‖ đã đưa ra định hướng lớn là ―Tiếp tục ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, tín dụng quốc tế, sở hữu trí tuệ, thuế quan, bảo vệ môi trường Đồng thời, đẩy mạnh việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên‖ Mặc dù đã được đề cập như vậy song vấn đề bảo hộ quyền tác giả vẫn chưa được quan tâm đúng mức cả trên khía cạnh pháp luật thực định cũng như thực tiễn quản lý
Như vậy, có thể thấy việc nghiên cứu đề tài ―Bảo hộ quyền tác giả trong
môi trường kỹ thuật số theo Điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam‖ có
tính cấp thiết cao cả về lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
* Các công trình nghiên cứu trong nước:
Có thể nói hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu trong nước về quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế Song, có tương đối ít các công trình nghiên cứu chuyên sâu về quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số Một số công trình tiêu biểu trong lĩnh vực này là:
- Quản Tuấn An, Bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan trong môi trường
kỹ thuật số - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, 2009
- Dương Bảo Trung, Một số vấn đề về quyền tác giả trong thời đại kỹ thuật
số theo Hiệp ước WIPO về quyền tác giả, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1/2013
Trang 12* Các công trình nghiên cứu ngoài nước:
Có thể nói có rất nhiều công trình nghiên cứu ở nước ngoài về vấn đề quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số Tuy nhiên, không có công trình nào nghiên cứu hệ thống pháp luật của Việt Nam điều chỉnh vấn đề bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số Các công trình nghiên cứu về nhu cầu tham gia các điều ước quốc tế về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số thì lại càng hiếm
Một số công trình nghiên cứu về quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
có thể tham khảo là:
- Muragendra B T., Copyright and trademakr in Cyberspace, International Journal of Scientific & Engineering Research, Volum 3, Issue 6, June-2012
- Kristin Ashurst Hughes, Copyright in Cyberspace: A Survey of National Policy Proposals for On-Line Service Provider Copyright Liability and an Argument for International Harmonization, American University International Law Review, Volume 11, Issue 6,
1996
Trang 13- Dykes, John Michael M – Intellectual Property on the Net MIT
- Fujita, Anne K – The Great Internet Panic: How Digitization is
- Lehman, Bruce A.; Brown, Ronald H – A Preliminary Draft of the Report of the Working Group on Intellectual Property Rights
<http://cirrus.mit.edu/met_links/iitf_draft.html> (1994)
- Litman, Jessica – Revising Copyright Law for the Information Age
<http://www.law.cornell.edu/commentary/intelpro/litrvtxt.htm>
(1996)
Trang 146
- Loundy, David J – Revising the copyright law for electronic publishing <http://www.leepfrog.com/E-Law/Revising-HyperT.html>
- Martin, Gerard – Online fair use of copyrighted material: issues and concerns
- Saltrick, Susan – The Pearl of Great Price: Copyright and Authorship from the Middle Ages to the Digital Age
<http://educom.edu/web/pubs/review/reviewArticles/30345.html> (1995)
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là làm rõ lý luận và thực tiễn về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
về bảo hộ quyền tác giả nói chung và bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số nói riêng theo hướng phù hợp với pháp luật quốc tế trong lĩnh vực này
Để đạt được mục đích cuối cùng, đề tài xác định một số mục tiêu như sau:
- Phân tích và so sánh để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa
hệ thống pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
Trang 157
- Đánh giá nhu cầu và đưa ra đề xuất về lý luận và thực tiễn đối với việc gia nhập các điều ước quốc tế về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật quốc gia và các điều ước quốc
tế về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn về không gian và thời gian Về không gian, đề tài nghiên cứu vấn đề bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số ở Việt Nam và một số điều ước quốc tế có liên quan, đề tài cũng nghiên cứu thực tiễn bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số ở một số quốc gia để từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam Về mặt thời gian, đề tài nghiên cứu pháp luật Việt Nam và quốc tế hiện hành trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài áp dụng cách tiếp cận duy vật biện chứng trong trong quá trình nghiên cứu Bên cạnh đó đề tài tiếp cận từ quan điểm hội nhập quốc tế để phân tích nhu cầu của Việt Nam tham gia các điều ước quốc tế về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
Đề tài áp dụng hai phương pháp chủ đạo là phương pháp phân tích và phương pháp so sánh Phương pháp phân tích được áp dụng để nghiên cứu sâu
về hệ thống pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số Phương pháp so sánh để đối chiếu, so sánh giữa hai hệ thống này
6 Bố cục của báo cáo tổng hợp
Căn cứ trên mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, Báo cáo tổng hợp được bố cục thành 4 chương, 14 mục Chương 1 gồm 3 mục nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số Chương 2 gồm 3 mục nghiên cứu quy định của pháp luật quốc tế về bảo hộ
Trang 168
quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số Chương 3 gồm 5 mục nghiên cứu và rút ra một số kinh nghiệm tốt của một số quốc gia trên thế giới về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số Chương 4 gồm 3 mục nghiên cứu thực trạng pháp luật, thực tiễn bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số của Việt Nam và đề ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
Trang 179
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG
MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ 1.1 Khái niệm, nội dung và đặc điểm của quyền tác giả
1.1.1 Khái niệm quyền tác giả
Quyền tác giả là một một loại quyền sở hữu của một chủ thể pháp lý đối với đối tượng là các tác phẩm văn học và nghệ thuật Quyền tác giả cũng là một
loại quyền sở hữu trí tuệ (Intellectual Property Rights) cũng giống như các loại
quyền sở hữu trí tuệ khác như quyền đối với sáng chế, quyền đối với giải pháp hữu ích hay nhãn hiệu hàng hóa Các tác phẩm văn học, nghệ thuật là đối tượng của quyền tác giả bao gồm các tác phẩm văn học như bài báo, sách, truyện …, các tác phẩm nghệ thuật như bài hát, bản nhạc, bức tranh, ảnh, phim … Chủ thể của quyền tác giả là người sáng tạo, hoặc người sở hữu tác phẩm văn học, nghệ thuật
Với tư cách là một loại quyền sở hữu, quyền tác giả đem đến cho người sáng tạo, chủ sở hữu các tác phẩm văn học nghệ thuật các quyền pháp lý nhằm ngăn chặn hay cho phép những người khác sử dụng các tác phẩm sáng tạo của họ trong một khoảng thời gian nhất định Nếu ai đó vi phạm quyền tác giả thì tác giả hoặc chủ sở hữu có thể kiện ra cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu người vi phạm bồi thường, qua đó bảo vệ các lợi ích hợp pháp của mình Điều đặc biệt hơn, tác giả không cần đăng ký để thụ hưởng quyền tác giả mà chỉ cần thỏa mãn
ba điều kiện Thứ nhất, tác giả là người sáng tạo ra tác phẩm Thứ hai, tác phẩm được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định Thứ ba, tác phẩm phải được thể hiện trên một lãnh thổ ở đó bảo hộ quyền tác giả Như vậy, nếu một người viết một bài báo hay ghi âm một bài hát và cho công bố ở một quốc gia bảo hộ quyền tác giả, ví dụ Việt Nam, thì người đó sẽ ngay lập tức có quyền tác giả đối với tác phẩm đó mà không cần đăng ký với bất kỳ cơ quan hay tổ chức nào Với quyền tác giả, một người có quyền đứng tên bài báo, cho phép người khác sao chép, chỉnh sửa bài báo và nhiều quyền pháp lý cụ thể khác Người đó cũng có
Trang 1810
thể dùng quyền tác giả để ngăn chặn người khác sao chép, chỉnh sửa … tác phẩm của mình
Như vậy, có thể định nghĩa quyền tác giả là khả năng được pháp luật bảo
hộ cho tác giả, chủ sở hữu tác phẩm độc quyền khai thác lợi ích vật chất và tinh thần từ các tác phẩm văn học, nghệ thuật do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu
Vậy, nguyên do gì mà tác giả lại có quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật mà họ sáng tạo ra? Câu trả lời được nhiều người đưa ra là do lao động1
Hoạt động sáng tạo mặc dù có thể xảy ra bất chợt trong một giây khắc lóe sáng của tài năng song trong phần lớn trường hợp là kết quả của một quá trình lao động của tác giả Để viết một tác phẩm văn học, nghiên cứu hoặc vẽ một bức tranh người sáng tác phải mất hàng tuần, thậm chí hàng tháng, hàng năm trời miệt mài lao động Ngay cả trong những trường hợp thời gian sáng tác là rất ngắn thì lao động sáng tạo vẫn được công nhận Bên cạnh ―lao động‖, quyền tác giả còn được hình thành dựa trên lý thuyết ―nguyên nhân – kết quả‖ Không có người sáng tác thì sẽ không có tác phẩm văn học, nghệ thuật, do đó tác phẩm phải thuộc về người sáng tác
1.1.2 Nội dung của quyền tác giả
Mặc dù quyền tác giả là ―chủ quyền‖ của người sáng tạo hoặc sở hữu đối với sản phẩm của mình song đây chỉ là quyền trừu tượng Để được bảo vệ thì quyền tác giả được cụ thể hóa thành các quyền pháp lý mà pháp luật quốc tế hoặc quốc gia quy định cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm văn học, nghệ thuật, ví dụ tác giả có quyền đứng tên tác phẩm hay không, có quyền độc quyền chỉnh sửa, cho phép sao chụp tác phẩm hay không Trong thực tiễn, chính các quyền pháp lý cụ thể của quyền tác giả là đối tượng mà tòa án bảo vệ cho tác giả Nói cách khác, thông qua việc bảo vệ các quyền pháp lý cụ thể mà quyền tác giả
1
Xem Justin Hughes, The philosophy of intellectual property (Lý luận về quyền sở hữu trí tuệ), 77 Geo L J (1988), trang 287
Trang 19- Các quyền nhân thân của tác giả bao gồm quyền đặt tên cho tác phẩm, đứng tên tác phẩm, công bố tác phẩm, cho phép người khác công bố tác phẩm, sửa chữa hoặc không sửa chữa tác phẩm, cho người khác sửa chữa tác phẩm, không cho người khác sửa chữa tác phẩm Phần lớn các quyền nhân thân luôn gắn với tác giả mà không thể chuyển giao được cho người khác, đó là các quyền nhân thân phi tài sản như quyền đứng tên tác giả, quyền đặt tên tác phẩm và quyền ngăn cấm hay cho phép người khác sửa chữa tác phẩm Các quyền nhân thân gắn liền với tài sản ví dụ quyền công bố tác phẩm, có thể được chuyển giao cho người khác và thu lợi ích vật chất
- Các quyền tài sản đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật là các quyền mà người sáng tạo có để khai thác lợi ích vật chất do tác phẩm văn học, nghệ thuật mang lại Quyền sao chép tác phẩm, quyền dịch tác phẩm hoặc làm tác phẩm phái sinh từ tác phẩm gốc là các quyền tài sản quan trọng nhất, tiếp theo đó là các quyền như biểu diễn, phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao của tác phẩm Trong kỷ nguyên số hiện nay, pháp luật quốc tế và quốc gia thường công nhận thêm quyền truyền thông bản thân tác phẩm tới công chúng
(communication to the public of their works 3) thay vì chỉ có quyền truyền thông
tới công chúng sự trình diễn tác phẩm (communication to the public of the
performance of their works 4)
2
Luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam (2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009) sử dụng thuật ngữ
―quyền nhân thân‖ và ―quyền tài sản‖ Công ước Berne (1886) sử dụng các thuật ngữ tương ứng là ―quyền tinh thần‖ và ―quyền kinh tế‖
Trang 2012
1.1.3 Đặc điểm của quyền tác giả
Quyền tác giả là một loại quyền pháp lý, tức là nó được pháp luật quy định
và được các cơ quan có thẩm quyền bảo vệ Vi phạm đối với quyền tác giả đều
bị coi là vi phạm pháp luật và đều có thể bị áp dụng chế tài để khắc phục theo quy định của pháp luật Ở đặc điểm này quyền tác giả cũng giống các quyền pháp lý khác Tuy nhiên, so với các quyền pháp lý khác thì quyền tác giả có một
số đặc điểm đặc trưng sau
Thứ nhất, quyền tác giả bảo vệ sự sáng tạo của tác giả đối với các sản
phẩm trí tuệ vô hình Tác giả được hưởng quyền tác giả không chỉ bởi vì họ đã làm ra tác phẩm mà bởi vì sự sáng tạo chứa đựng trong tác phẩm mà họ đã tạo
ra Một người chép lại hoặc đánh máy lại một cuốn sách của một tác giả khác cũng có thể gọi là đã tạo ra cuốn sách cụ thể đó song không thể có quyền tác giả đối với cuốn sách đó Thậm chí hành vi này còn bị coi là đạo văn Bởi lẽ những lời văn của cuốn sách, tức là nội dung cuốn sách, là do người khác nghĩ ra đầu tiên, đó là người đã sáng tạo ra cuốn sách và là tác giả đích thực của cuốn sách Đối tượng đã được sáng tạo ra ở đây, cuốn sách – đối tượng của quyền tác giả, là một sản phẩm trí tuệ vô hình chứ không phải hữu hình như cái bàn, cái ghế, cái
xe máy, ô tô cụ thể Ở đặc điểm này, quyền tác giả cũng giống với các quyền sở hữu trí tuệ khác như quyền đối với sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa v.v
Thứ hai, đối tượng của quyền tác giả là các tác phẩm được sáng tạo ra
trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, văn học, điện ảnh v.v
Ở khía cạnh này, quyền tác giả khác với các loại quyền sở hữu công nghiệp vốn
có đối tượng là các sản phẩm trí tuệ được sáng tạo ra để ứng dụng trong công nghiệp và thương mại Các tác phẩm văn học, nghệ thuật được con người sáng tạo ra để phục vụ nhu cầu thưởng thức, giải trí Có ít đối tượng của quyền tác giả
có tính ứng dụng trong công nghiệp (ví dụ phần mềm máy tính) Trong khi đó, các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp có tính ứng dụng và giá trị sinh lời cao trong thương mại và công
Trang 2113
nghiệp Sự khác biệt này có tác động rất lớn tới phương thức bảo vệ lợi ích có được từ quyền sở hữu trí tuệ Với quyền tác giả người ta quan tâm nhiều hơn tới quyền sao chép tác phẩm; với quyền sở hữu công nghiệp, người ta quan tâm nhiều hơn tới quyền được chuyển giao sản phẩm sở hữu công nghiệp
Thứ ba, quyền tác giả chỉ bảo hộ về hình thức thể hiện của ý tưởng, không
bảo hộ bản thân ý tưởng Đây cũng là đặc thù của quyền tác giả Khi một cuốn sách được bảo hộ bởi quyền tác giả thì cái được bảo hộ là lời văn, cách hành văn của cuốn sách Bản thân nội dung câu truyện, cách xây dựng, bố cục của cốt truyệt là ý tưởng của cuốn sách, mặc dù là phần cốt lõi của cuốn sách, song không được bảo hộ Điều đó có nghĩa là người khác có thể sử dụng cốt truyện như vậy, sử dụng tuyến nhân vật như vậy mà không vi phạm quyền tác giả Chỉ khi nào sao chép y nguyên lời văn của tác phẩm thì khi đó mới bị coi là vi phạm quyền tác giả Một ví dụ khác, một người nghĩ ra một phương thức kinh doanh mới rất có hiệu quả, đem lại thành công trong kinh doanh Người đó viết ra một cuốn sách để truyền bá ý tưởng của mình Một người chủ doanh nghiệp đọc được cuốn sách, sau đó đem áp dụng ý tưởng kinh doanh vào doanh nghiệp của mình
và đạt được thành công lớn Ở đây, người chủ doanh nghiệp này thực chất đã không vi phạm quyền tác giả mặc dù sử dụng ý tưởng kinh doanh của người khác mà không xin phép Quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện, trong trường hợp này chính là bản thân cuốn sách Do đó chỉ khi nào cuốn sách bị sao chép thì khi đó quyền tác giả mới bị xâm phạm
1.2 Khái niệm và đặc điểm của bảo hộ quyền tác giả
1.2.1 Khái niệm và mục đích của bảo hộ quyền tác giả
Bảo hộ quyền tác giả là việc Nhà nước công nhận quyền của tác giả đối với tác phẩm, quy định và bảo vệ cho tác giả các quyền pháp lý cụ thể đối với tác phẩm nhằm làm cho tác giả thực sự hưởng được các lợi ích vật chất và tinh thần
có được từ quyền tác giả
Trang 2214
Con người sáng tạo ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật từ rất lâu đời Có
lẽ từ khi loài người có nền văn minh thì đã có các tác phẩm thi ca, sau đó là hội họa và văn học Thủa ban đầu, các tác phẩm thi ca thường được truyền khẩu từ thế hệ này sang thế hệ khác, các tác phẩm văn học thường tồn tại dưới các cuốn sách bằng da, bằng gỗ khắc hoặc chép tay, các tác phẩm hội họa hầu như chỉ có độc bản vẽ trên vách đá hoặc những nơi công cộng Việc sao chép các tác phẩm thời kỳ này nếu muốn thực hiện sẽ tốn rất nhiều công sức, chủ yếu bằng việc chép lại bằng tay Tính thương mại của tác phẩm cũng chưa thể hiện rõ rệt Vì vậy tác giả của các tác phẩm nói chung chưa quan tâm tới vấn đề quyền tác giả
Vào khoảng giữa Thế kỷ 15, Johannes Gutenberg, một thợ cơ khí và là nhà xuất bản tiên phong người Đức đưa công nghệ in ấn vào Châu Âu Thực ra,
kỹ thuật in ấn đã được biết đến từ trước đó ở Trung Quốc song đến Thế kỷ 15 Gutenberg áp dụng kỹ thuật cơ khí để đưa công nghệ và dây chuyền in áp dụng đại trà, trở thành một ngành công nghiệp vô cùng tiềm năng ở Châu Âu Các tác phẩm văn học giờ đây có thể được nhân bản một cách dễ dàng hơn rất nhiều so với trước với hiệu suất và chất lượng hầu như không thua kém tác phẩm gốc Người dân được tiếp cận dễ dàng hơn với tác phẩm văn học, đi cùng với đó là tính thương mại của tác phẩm cao hơn và khả năng xâm phạm tới tác phẩm, bằng cách nhân bản trái phép, trở nên tiềm tàng hơn Nhu cầu bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học bắt đầu xuất hiện Quốc gia đầu tiên công nhận và bảo hộ quyền tác giả khi đó là Cộng hòa Venice5 quyền tác giả được cấp dưới dạng giấy phép in sách trong một khoảng thời gian không xác định Sau khi công nghiệp in được du nhập vào Vương quốc Anh và ngày càng lớn mạnh, Vương quốc Anh cũng bắt đầu công nhận và bảo hộ quyền tác giả Năm 1710, Vương quốc Anh ban hành Đạo luật Anne cấp cho các tác giả độc quyền kiểm soát việc tái bản công trình của họ trong vòng 14 năm và có thể được gia hạn thêm 14
5
Cộng hòa Venice (The Republic of Venice) là một nước cộng hòa nằm trong phạm vi lãnh thổ Italia ngày nay Cộng hòa Venice tồn tại từ năm 697 đến 1797
Trang 23Từ khoảng cuối Thế kỷ 19 đến cuối Thế kỷ 20, công nghệ analog6 được áp dụng đã đem lại những thay đổi vô cùng lớn trong các ngành công nghiệp in ấn, giải trí, nhiều sản phẩm văn học, nghệ thuật mới được ra đời như nhiếp ảnh, điện ảnh, ghi âm, truyền thông, truyền hình, ảnh vệ tinh, tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc… Phạm vi quyền tác giả lúc này không còn bị giới hạn đối với các tác phẩm trên giấy nữa Công nghệ analog cũng làm cho việc sao chép các tác phẩm văn học, nghệ thuật trở nên dễ dàng hơn trước rất nhiều Các tác phẩm văn học, sách có thể được sao chụp nhanh chóng bởi các máy photocopy, các tác phẩm
âm nhạc, điện ảnh có thể được ghi sang bản ghi khác trên đĩa băng từ một cách hết sức dễ dàng, tốn ít thời gian hơn Để ứng phó với tình trạng này, các quy định bảo vệ quyền tác giả của các quốc gia bắt đầu được mở rộng, chủ yếu là gia tăng số lượng các quyền vật chất Thời gian bảo hộ quyền tác giả cũng được kéo dài tới 50 năm sau khi tác giả qua đời Các điều ước quốc tế về quyền tác giả, ví
dụ Công ước Berne, cũng được ký kết giữa các quốc gia nhằm bảo đảm sự bảo
hộ quyền tác giả trên phạm vi quốc tế7
Thoạt nhìn sẽ thấy quyền tác giả chủ yếu có tác dụng bảo vệ người sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật Quyền tác giả cũng đem lại sự bù đắp vật chất, thậm chí là bù đắp một cách đáng kể cho người sáng tạo hoặc chủ sở hữu tác phẩm Với những tác phẩm có giá trị vật chất lớn như những bộ phim bom tấn của Hollywood hay những phần mềm trị giá hàng tỷ USD, quyền tác giả dường
Trang 2416
như đem lại và bảo đảm giá trị vật chất rất đáng kể cho người nắm giữ nó Tuy nhiên, xét từ góc độ lý luận, việc công nhận và bảo vệ quyền tác giả, cũng giống như việc công nhận và bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ khác, nhằm 2 mục đích8
:
- Thứ nhất, bảo hộ quyền tác giả nhằm khuyến khích hoạt động sáng tạo
của người sáng tạo, hay nói cách khác là khuyến khích sự sáng tạo trong cộng đồng Khi pháp luật có thể bảo vệ cho các chủ thể quyền khai thác lợi ích vật chất từ tác phẩm và không ai khác có thể khai thác tác phẩm mà không có sự đồng ý của tác giả9
thì mọi người trong xã hội sẽ cảm thấy yên tâm sáng tác Từ
đó mọi người đều có động lực sáng tạo và qua đó khuyến khích cả cộng đồng sáng tạo Nếu pháp luật không bảo hộ được quyền tác giả, tác phẩm có thể bị sao chép, khai thác trái phép mà tác giả không thể làm gì thì lúc đó tác giả chỉ có thể sáng tạo vì niềm đam mê Hoạt động sáng tạo nói chung trong cộng đồng sẽ không được khuyến khích, thậm chí bị thui chột Các doanh nghiệp, ví dụ doanh nghiệp phần mềm sẽ không muốn đầu tư lớn để cho ra đời những tác phẩm có giá trị
- Thứ hai, bảo hộ quyền tác giả nhằm tạo điều kiện cho sự tiếp cận một
cách thích hợp của cộng đồng đối với các tác phẩm Bản thân việc bảo bộ cho tác giả khả năng khai thác độc quyền lợi ích vật chất từ tác phẩm đã gián tiếp khuyến khích tác giả đưa tác phẩm lưu hành trong công chúng, qua đó công chúng tiếp cận với tác phẩm Việc quy định một thời hạn bảo hộ nhất định đối với tác phẩm cũng có tác dụng hai chiều Bên cạnh việc bảo đảm cho người sáng tạo được độc quyền kiểm soát tác phẩm của mình trong khoảng thời gian được bảo hộ, công chúng còn được tiếp cận miễn phí đối với sản phẩm sau khi thời gian bảo hộ kết thúc
8
Xem Lewis a Kaplan, Copyright and the Internet (Quyền tác giả và Internet), 22 Temp
Envtl L & Tech J (2003), trang 1; Trisha Meyer, Graduated response in France: The clash of
copyright and the Internet (Phản ứng từ từ của Pháp: sự va đập giữa quyền tác giả và Internet), Journal of Information Policty 2 (2012), trang 107-127, tại trang 109
9
Marlize Jansen, Protecting copyright on the Internet (Bảo vệ quyền tác giả trên Internet), 12
Juta’s Bus L trang 100-103, tại trang 100
Trang 2517
1.2.2 Đặc điểm của bảo hộ quyền tác giả
Vì quyền tác giả là một quyền pháp lý nên việc bảo hộ quyền tác giả cũng mang đặc điểm của việc bảo hộ quyền pháp lý nói chung, nghĩa là sự bảo hộ do Nhà nước bảo đảm đối với người chủ sở hữu quyền tác giả Bên cạnh đó, bảo hộ quyền tác giả còn có những đặc điểm sau
Thứ nhất, bảo hộ quyền tác giả là sự bảo hộ dành cho tác giả, người đã
sáng tạo ra tác phẩm Điều này ngày nay được xem là đương nhiên song trong lịch sử hình thành và phát triển của quyền tác giả thì không phải lúc nào cũng như vậy Vào nửa đầu Thế kỷ thứ 16, khi công nghệ in mới ra đời và vấn đề quyền đối với các bản in sách bắt đầu được quan tâm, chủ thể được trao độc quyền đối với sách không phải là tác giả cuốn sách mà là nhà xuất bản của cuốn sách Quyền này về thực chất là độc quyền sao chép, nhân bản sách Cái tên
―Copyright‖ (Bản quyền) được ra đời từ đó Sau đó, khi ngành công nghiệp in
ngày càng phát triển, sự cạnh tranh giữa các NXB ngày càng lớn và tác giả, người sáng tạo ra tác phẩm, dần trở thành người chủ đích thực đầu tiên của tác phẩm và cũng là chủ thể của quyền tác giả10 Kể từ đó thuật ngữ ―Author’s right‖
(Quyền tác giả) bắt đầu được sử dụng
Thứ hai, bảo hộ quyền tác giả là bảo hộ tự động Để được bảo hộ quyền
tác giả đối với một tác phẩm, tác giả của tác phẩm đó không phải đăng ký với bất
kỳ cơ quan nhà nước nào Sự bảo hộ của một quốc gia đối với tác giả của một tác phẩm mang tính đương nhiên, tự động miễn là tác phẩm được công bố trên lãnh thổ của quốc gia đó Đây là đặc thù của việc bảo hộ quyền tác giả Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp, như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, để được bảo hộ, người chủ của các đối tượng sở hữu công nghiệp này phải đăng ký đối tượng sở hữu công nghiệp của mình tại các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền và sau đó nhận được một khoảng thời gian bảo hộ nhất định Đối
10
Xem Nguyễn Vân Nam, Quyền tác giả - Đường hội nhập không trải hoa hồng, NXB Trẻ,
2016, trang 38-40
Trang 2618
với quyền tác giả, không những không cần đăng ký mà thời gian bảo hộ cũng không bị giới hạn ít nhất là trong suốt cuộc đời của tác giả (trừ một số trường hợp ngoại lệ)
Thứ ba, bảo hộ quyền tác giả mang tính lãnh thổ Việc bảo hộ quyền tác
giả là sự cam kết của một Nhà nước bảo vệ các quyền của người đã sáng tạo ra sản phẩm Sự bảo hộ đó được quy định trong hệ thống pháp luật của quốc gia và được hiện thực hóa thông qua các thiết chế pháp lý của quốc gia Vì hệ thống pháp luật của quốc gia chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ thuộc chủ quyền của quốc gia nên sự bảo hộ quyền tác giả cũng luôn mang tính lãnh thổ Điều đó
có nghĩa là một tác phẩm được bảo hộ với nội dung các quyền và cơ chế bảo hộ như thế nào chỉ có hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ của quốc gia mà thôi Một hành vi có bị coi là vi phạm quyền tác giả đối với một tác phẩm hay không tùy thuộc vào quy định của hệ thống pháp luật có hiệu lực trên phạm vi lãnh thổ của quốc gia nơi có yêu cầu bảo hộ chứ không phải của quốc gia nơi tác phẩm được công bố lần đầu hoặc nơi tác giả đang sinh sống
1.3 Môi trường kỹ thuật số và thách thức của nó tới vấn đề bảo hộ quyền tác giả
1.3.1 Sự hình thành và đặc điểm của môi trường kỹ thuật số
Từ cuối Thế kỷ 20 sang Thế kỷ 21 xuất hiện một làn sóng công nghệ - làn sóng công nghệ số với sự ra đời và phổ cập của máy tính cá nhân và mạng thông tin toàn cầu Internet Môi trường kỹ thuật số đã và đang đem đến sự thay đổi một cách căn bản về cách thức sao chụp, sử dụng, trao đổi, lưu hành, phổ biến các tác phẩm văn học, nghệ thuật Điều này hứa hẹn thúc đẩy sự thay đổi lớn tới pháp luật và cách thức tiếp cận đối với bảo hộ quyền tác giả
Không giống môi trường tự nhiên hay môi trường văn hóa, môi trường kỹ thuật số không phải là môi trường mà con người đã quen thuộc từ lâu Môi trường kỹ thuật số mới chỉ được hình thành từ khoảng vài thập kỷ trở lại đây Tuy nhiên, môi trường kỹ thuật số đã nhanh chóng trở thành môi trường kỹ thuật
Trang 2719
sống, sinh hoạt, làm việc thiết yếu của con người hiện đại Hàng ngày chúng ta
sử dụng điện thoại thông minh, kết nối vào Internet tra cứu, tìm kiếm, đọc lượng thông tin trực tuyến khổng lồ Dù ở bất cứ đâu chúng ta cũng có thể sử dụng máy tính để bàn, máy tính xách tay cho công việc, liên lạc qua thư điện tử, xem phim, nghe ca nhạc giải trí … Có thể nói cuộc sống hiện đại không thể thiếu việc sử dụng các công cụ trao đổi, tìm kiếm thông tin Môi trường kỹ thuật số được tạo thành bởi hai nhân tố chính, đó là máy tính cá nhân và Internet11
Ra đời và được phổ biến qua con đường thương mại hóa vào những năm
1980, máy tính cá nhân thực sự là khởi nguồn cho sự hình thành môi trường kỹ thuật số Với những chiếc máy tính cá nhân, con người có một môi trường tương tác mới, với giao diện tương tác mới Con người soạn thảo văn bản, lập bản vẽ thiết kế, sáng tác âm nhạc, làm phim với một cách thức hiệu quả và nhanh chóng chưa từng có tiền lệ trước đó Cùng với máy tính cá nhân là một hệ thống vô tận các phần mềm giúp cho con người thực hiện các công việc, đặc biệt là công việc sáng tác, ngày càng hiệu quả hơn Nhà văn có thể soạn tác phẩm của mình trong một thời gian ngắn hơn và ít công sức vật chất hơn; kiến trúc sư có thể tạo ra thiết kế của mình mà tốn ít công tẩy, xóa hay xé bỏ những bản vẽ lỗi để rồi bắt đầu lại từ đầu sau mỗi lần như vậy Các máy tính cá nhân ngày càng hiện đại hơn, mạnh mẽ hơn, chuyên nghiệp hơn Các biến thể của máy tính ngày càng phong phú hơn, có những loại máy tính chuyên để bàn, có những loại máy tính xách tay, máy tính bảng mà con người có thể sử dụng hầu như ở bất kỳ nơi nào, trong bất kỳ tình huống nào và phục vụ các nhu cầu đa dạng của mình Các phần mềm cũng ngày càng phức tạp hơn, hỗ trợ người dùng thực hiện những thao tác ngày càng khó hơn với chất lượng cao hơn Hệ thống gần như vô tận các phần
Trang 2820
mềm có thể đáp ứng gần như mọi nhu cầu của con người, từ làm việc tới giải trí,
từ giao tiếp, trao đổi thông tin tới phổ biến thông tin, ý tưởng, quan điểm cá nhân Máy tính và các phần mềm trong đó tạo ra một môi trường mà hàng ngày con người làm việc, sinh hoạt, học tập, nghiên cứu, giải trí trong đó Đó chính là một phần của môi trường kỹ thuật số
Phần còn lại, quan trọng hơn, chiếm vai trò nổi bật hơn, của môi trường kỹ thuật số là Internet Internet bao gồm một số mạng khác nhau có liên kết với nhau và cùng nhau kết nối hàng trăm triệu máy tính trên toàn thế giới Một tên
gọi khác của Internet là Siêu xa lộ thông tin (Information Supershighway)
Internet bắt đầu được định hình từ năm 1969 bởi một dự án của Chính phủ Hoa Kỳ, ARPNET, được thiết kế để hỗ trợ thông tin liên lạc khi diễn ra thảm họa hạt nhân ở Hoa Kỳ Từ năm 1980, mạng ARPNET kết nối với một số mạng khác
và mở rộng phạm vi người sử dụng theo phương thức TCP/IP.12 Năm 1993,
1994, Mạng toàn cầu (World Wide Web (WWW)) chính thức được thiết lập cùng với các tổ chức vận hành Internet Vào những năm 1970 mới chỉ có 3 mạng vận hành trên Internet thì cho tới năm 1996 con số đó đã tăng lên 50.000 Ngày nay, con số đó đã trở thành không đếm được Không có một tổ chức đơn lẻ nào kiểm soát hoàn toàn Internet và Internet cũng không có một cơ sở tập trung dữ liệu duy nhất Vì vậy, không ai có thể kiểm soát được dữ liệu cũng như nội dung thông tin trên Internet.13
Thông thường, Internet được biết đến như một không gian mà ở đó con người có thể trao đổi, tìm kiếm thông tin, gửi thư tín, xem phim, nghe nhạc, bày
tỏ quan điểm cá nhân…Tuy nhiên, công năng của Internet còn lớn hơn rất nhiều
12
TCP/IP là viết tắt của cụm từ Transmission Control Protocol/Internet Protocol TCP/IP
điều khiển truyền thông giữa tất cả các máy tính trên Internet Cụ thể hơn, TCP/IP chỉ rõ cách thức đóng gói thông tin (hay còn gọi là gói tin), được gửi và nhận bởi các máy tính có kết nối
với nhau TCP/IP được phát triển vào năm 1978 bởi Bob Kahn và Vint Cerf
13
Ủy ban Châu Âu, Green paper on copyright and related rights in the information society
(Sách xanh về quyền tác giả và quyền liên quan trong xã hội thông tin), Brussels, 19/7/1995,
trang 19, 20
Trang 2921
những gì có thể liệt kê ra Ngay từ những năm đầu tiên khi Internet trở nên phổ biến, Liên minh Châu Âu đã đánh giá Internet sẽ là nơi cung cấp các dịch vụ mang tính cách mạng, bao gồm tất cả các tính năng của công nghệ thông tin, liên lạc viễn thông và công nghệ truyền hình Internet có thể phát huy những tính năng cơ bản sau14
:
- Trên Internet có thể lưu trữ lượng dữ liệu khổng lồ và truy cập, truy cứu kho dữ liệu đó là hết sức dễ dàng, nhanh chóng Dữ liệu được lưu trữ rất phong phú, bao gồm cả các loại tác phẩm truyền thống và phi truyền thống (ví dụ phần mềm) Dữ liệu cũng có thể bao gồm cả các sản phẩm đa phương tiện, tức là kết hợp các loại hình văn học, nghệ thuật khác nhau, từ hội họa, tranh ảnh, âm nhạc
- Phạm vi dịch vụ có thể cung cấp từ Internet là vô cùng phong phú, từ làm việc từ xa, ngân hàng trực tuyến, mua bán trực tuyến, báo chí điện tử, giải trí, thư viện, chương trình giáo dục từ xa, cá cược trực tuyến, du lịch từ xa …
- Các lĩnh vực có thể sử dụng Internet rất đa dạng, bao gồm hầu hết lĩnh vực mà con người tham gia trong cuộc sống hàng ngày, ví dụ làm việc, thông tin
và đào tạo, mua hàng trực tuyến, theo dõi, chăm sóc sức khỏe, vui chơi, giải trí
14
Ủy ban Châu Âu, Green paper on copyright and related rights in the information society
(Sách xanh về quyền tác giả và quyền liên quan trong xã hội thông tin), Brussels, 19/7/1995,
trang 19, 20
Trang 3022
1.3.2 Thách thức của môi trường kỹ thuật số với vấn đề bảo hộ quyền tác giả
Với những đặc điểm như trên, thực sự môi trường kỹ thuật số đã và đang
có tác động sâu sắc tới lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả Những tác động đó có cả hai chiều Ở chiều tích cực, có thể nói môi trường kỹ thuật số có thể góp phần quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật một cách rộng rãi và trực tiếp hơn tới công chúng Với các tính năng phong phú của Internet và phần mềm máy tính, các tác phẩm văn học, nghệ thuật cũng có thể được chuyển thể một cách thuận tiện và đầy sáng tạo, qua đó đem lại lợi ích nhiều hơn cho người sáng tạo
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tích cực, môi trường kỹ thuật số cũng đặt
ra nhiều thách thức từ nhiều chiều, nhiều khía cạnh đối với vấn đề bảo hộ quyền tác giả, từ việc xác định tính chính thống của quyền tác giả, đến sự điều chỉnh các khái niệm truyền thống về quyền tác giả, sự xuất hiện của các tác phẩm mới cần bảo hộ quyền tác giả, cho đến vấn đề khó khăn đặt ra khi bảo vệ quyền tác giả
* Thách thức đối với mục đích của việc bảo hộ quyền tác giả
Như trên đã đề cập, việc bảo hộ quyền tác giả nhằm hai mục đích: khuyến khích sự sáng tạo của tác giả và hỗ trợ sự tiếp cận của công chúng đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật Sự ra đời của Internet đã khơi gợi những luồng quan điểm thách thức trực tiếp mục đích của việc bảo hộ quyền tác giả
Luồng quan điểm thứ nhất của những người theo lý thuyết về tự do Luồng quan điểm này cho rằng Internet là môi trường trao đổi thông tin, đó là siêu xa lộ thông tin Trên Internet, thông tin được trao đổi với tốc độ nhanh và với sự thuận tiện chưa từng có Nếu quá coi trọng bảo hộ quyền tác giả trên Internet thì sẽ dẫn tới hậu quả hạn chế sự trao đổi thông tin, bởi vì sự phát tán thông tin trên Internet cũng có thể được coi là sao chép bất hợp pháp thông tin Trong khi đó, nhu cầu trao đổi thông tin là nhu cầu cơ bản của con người, quyền được trao đổi thông tin đã trở thành quyền con người Vì vậy, sự thuận lợi và tự do trong việc
Trang 31Hai quan điểm này, tất nhiên, không phải là những quan điểm chủ đạo Thực tế là quyền tác giả vẫn đang ngày càng được coi trọng hơn trong môi trường kỹ thuật số Tuy nhiên, những ý kiến này cũng cho thấy sự ra đời của môi trường kỹ thuật số thực sự đã tác động tới tận nền tảng lý luận truyền thống của quyền tác giả
* Thách thức đối với một số khái niệm thông thường về quyền tác giả Pháp luật quốc gia và quốc tế về bảo hộ quyền tác giả được xây dựng dựa trên một hệ khái niệm riêng biệt, ví dụ tác phẩm, tác giả, thời hạn bảo hộ, quyền nhân thân, quyền tài sản v.v Sự hiện diện của môi trường kỹ thuật số khó có thể thay đổi nhận thức về bản chất của các khái niệm Tuy nhiên, như Ủy ban châu
Âu đã chỉ ra ngay trong những năm đầu khi mạng toàn cầu mới được hình thành,
15
Xem Tom Palmer, Are patents and copyrights morally justified? The philosophy of property
rights and ideal objects (Sáng chế và quyền tác giả có chính đáng không? Lý thuyết về quyền tài sản và các đối tượng lý tưởng), 13 Havard Journal of Law and Public Policy, 1990, trang
817-865; John Barlow, The Framework for economy of ideals: Rethinking patents and
copyrights in the digital age (Khuôn khổ cho tính kinh tế của các lý tưởng: Suy ngẫm về sáng chế và quyền tác giả trong thời đại số), WIRED, 1994, trang 83-97
16
Paul Goldstein, Copyright and the First Amendment (Quyền tác giả và Tu chính án thứ nhất), 70 Columbia Law Review, 1970, trang 983-1057; Neil Netanel, Copyright and a democratic civil society (Quyền tác giả và xã hội dân sự dân chủ), 106 Yale Law Journal,
1996, trang 283-287
Trang 3224
môi trường kỹ thuật số có thể tác động đáng kể đến phạm vi giải thích các khái niệm đó17
Thứ nhất, khái niệm ―tác giả‖ có thể được giải thích theo hướng mở rộng
hơn Theo cách tiếp cận truyền thống, người sáng tạo vẫn thường được hiểu là các thể nhân, ví dụ họa sĩ sáng tác một bức họa, nhà văn viết một cuốn tiểu thuyết, nhạc sỹ sáng tác một bài hát Nếu tác giả là một nhóm người thì đó cũng
là một tập hợp của các thể nhân Trong môi trường kỹ thuật số, rất có thể có tác phẩm được tạo ra bởi rất nhiều người và theo một dây truyền, một quy trình phức tạp chủ trì bởi một pháp nhân Trong quy trình sản xuất một phần mềm sẽ khó có thể phân định được công sức của các cá nhân tới đâu và sản phẩm cuối cùng khó
có thể tạo ra được nếu không có nỗ lực mang tính tổ chức của pháp nhân Một ví
dụ khác là các sản phẩm truyền thông đa phương tiện, những tác phẩm được tạo thành bởi nỗ lực và cách tổ chức của pháp nhân Do vậy, các pháp nhân cũng có thể trở thành tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật
Thứ hai, khái niệm ―tính nguyên gốc‖ (originality) thường được xác định
khá dễ dàng đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật truyền thống Một cuốn tiểu thuyết, một bức tranh, một bài hát đều gắn với tên tác giả và người ta dễ dàng xác định liệu tác giả có thực sự là người đã sáng tạo ra tác phẩm, hay nói cách khác toàn bộ tác phẩm là do tác giả sáng tạo ra hay không Tuy nhiên, các tác phẩm kỹ thuật số có thể không vận hành theo cách như vậy Một tác phẩm truyền thông đa phương tiện có thể được tạo ra trên cơ sở ghép các tác phẩm hoặc một phần của các tác phẩm khác Trong trường hợp đó vấn đề sẽ là xác định mức độ lắp ghép như thế nào thì tác phẩm được coi là có tính nguyên gốc Như vậy đặc điểm của tác phẩm kỹ thuật số đã ―gây khó‖ cho việc xác định tính nguyên gốc của chính nó
17
Ủy ban Châu Âu, Green paper on copyright and related rights in the information society
(Sách xanh về quyền tác giả và quyền liên quan trong xã hội thông tin), Brussels, 19/7/1995,
trang 25
Trang 3325
Thứ ba, khái niệm ―công bố lần đầu tiên‖ cũng khó xác định trong môi
trường kỹ thuật số Thông thường, tác phẩm được đưa ra công chúng ở một quốc gia nào đó, thậm chí một địa điểm thuộc một quốc gia nào đó sẽ được coi là tác phẩm được công bố ở quốc gia đó Tuy nhiên, môi trường kỹ thuật số lại là môi trường không biên giới và cũng không phải là môi trường vật chất thông thường Ranh giới không gian riêng và không gian công cộng trong môi trường kỹ thuật
số cũng khó xác định Vì vậy, khó có thể dùng phương pháp truyền thống để xác định một tác phẩm kỹ thuật số được ―công bố lần đầu tiên‖ trong môi trường kỹ thuật số
Khái niệm ―sử dụng vì mục đích cá nhân‖ cũng khó xác định được trong môi trường kỹ thuật số Một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, việc làm một bản sao sách gốc để phục vụ nhu cầu nghiên cứu khoa học của cá nhân không bị coi là vi phạm quyền tác giả Đối với một cuốn sách in, kiểm soát việc làm một bản sao là tương đối dễ dàng Tuy nhiên, trong môi trường kỹ thuật số thì việc làm một bản sao để phục vụ mục đích sử dụng của cá nhân hay không đôi khi khó xác định, ví dụ scan một cuốn sách để đưa lên trang web cá nhân, hay copy một bản sao của một sách điện tử để đưa lên trang web cá nhân Người scan sách
cá nhân đưa lên trang web của mình có thể chỉ để cho bản thân nghiên cứu chứ không nhằm mục đích để người khác có thể sao chụp lại Tuy nhiên nếu cách thức lưu trữ trên mạng làm cho người khác có thể đọc được hoặc sao chụp được thì việc lưu trữ ban đầu trên trang web cá nhân liệu có bị coi là vi phạm quyền tác giả hay không Trên thực tế thì việc lưu trữ như vậy cũng không khác việc mua một cuốn sách gốc rồi cho người khác mượn đọc Tuy nhiên, người có quan điểm bảo hộ quyền tác giả có thể lập luận rằng trong môi trường kỹ thuật số, việc lưu trữ như trên là quá rủi ro cho tác giả bởi nó cho phép người khác dễ dàng sao chụp tác phẩm mà không được phép của tác giả
* Tạo ra các sản phẩm mới cần bảo hộ quyền tác giả
Trang 3426
Cùng với sự phát triển của công nghệ analog, từ cuối Thế kỷ 19 đến cuối Thế kỷ 20 đã xuất hiện những loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật mới cần được bảo hộ quyền tác giả, ví dụ bài hát thu âm, chương trình phát thanh, truyền hình, tác phẩm nhiếp ảnh, điện ảnh … Tương tự như vậy, trong thời kỳ kỹ thuật
số cũng xuất hiện một số tác phẩm mới chưa từng có trước đó như các sản phẩm truyền thông đa phương tiện và phần mềm máy tính Các sản phẩm này rõ ràng
là các sản phẩm trí tuệ, có sự sáng tạo, có tính nguyên gốc và do đó phải được bảo hộ sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, việc xếp các đối tượng này vào loại tác phẩm văn học, nghệ thuật để được bảo hộ bởi quyền tác giả hay các sản phẩm sáng tạo mang tính kỹ thuật để được bảo hộ bởi sáng chế hay giải pháp hữu ích cũng không đơn giản
* Gây khó khăn lớn cho vấn đề bảo vệ quyền tác giả
Có thể nói trong môi trường kỹ thuật số, tất cả các quyền sở hữu trí tuệ đều dễ bị xâm phạm hơn trong môi trường thông thường Song quyền tác giả là quyền dễ bị tổn thương nhất Thách thức lớn nhất đối với bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số cũng là ở khía cạnh này
Lịch sử hình thành và phát triển của quyền tác giả như được trình bày trên đây cho thấy cứ mỗi khi khoa học công nghệ phát triển thì lại đặt ra thách thức mới đối với vấn đề bảo vệ quyền tác giả và luật bảo hộ quyền tác giả lại phải thay đổi để đáp ứng các thách thức mới Khi công nghệ in ra đời cũng là lúc phát sinh nhu cầu bảo hộ quyền tác giả; khi công nghệ analog được áp dụng rộng rãi, máy photocopy, máy ghi âm ra đời cũng là lúc vấn đề bảo vệ quyền tác giả được nâng lên một tầm mức mới, không chỉ trong lãnh thổ quốc gia mà trên cả phạm
vi quốc tế Khi công nghệ số được áp dụng và Internet ra đời, thách thức đối với vấn đề bảo vệ quyền tác giả lại được đặt ra với mức độ quan ngại chưa từng có
Vi phạm quyền tác giả giờ đây có thể được thực hiện một cách vô cùng dễ dàng, với mức độ phát tán lớn và rất khó bị phát hiện Một cuốn sách giờ đây có thể được scan và sau đó phát tán một cách không giới hạn trên Internet Một bài hát
Trang 3527
thu âm có thể được sao chép trong thời gian chưa tới một giây Một bộ phim với dung lượng nhiều lần lớn hơn nhưng cũng chỉ cần chưa tới 5 phút để tạo một bản sao, các chương trình phần mềm máy tính cũng vậy Internet hiện nay có hàng tỷ người dùng, chỉ bằng một cú nhấp chuột, vô vàn người dùng có thể tiếp cận tới các bản sao trên mạng Hoạt động sao chụp có thể được thực hiện vừa rất nhanh
và bí mật mà không ai có thể phát hiện để ngăn chặn
Ngoài việc cho phép sao chép đúng với bản gốc, công nghệ kỹ thuật số còn cho phép người sử dụng có thể chỉnh sửa, chuyển thể tác phẩm mà khó có thể nhận ra được khi các tác phẩm gốc và tác phẩm chỉnh sửa lưu hành tự do trên mạng Internet Do đó, các tác giả rất khó có thể đảm bảo được tính toàn vẹn của tác phẩm do mình sáng tạo ra Ngoài ra, sự có mặt rộng khắp của mạng Internet
và công nghệ kỹ thuật số cũng gây không ít khó khăn cho các tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả trong việc kiểm soát việc sử dụng cũng như lưu trữ tác phẩm của các chủ thể khác Ví dụ, tại Hoa Kỳ, một sinh viên của trường Đại học Boston đã bị phán xét là người có hành vi xâm phạm quyền tác giả khi đưa 30 tác phẩm âm nhạc lên Internet bằng máy tính tại trường và nhà cha mẹ của mình Người này đã phải trả cho chủ sở hữu quyền tác giả 22.500 USD trên mỗi bài hát
bị xâm phạm18
Đặc biệt, trong môi trường kỹ thuật số còn xuất hiện những hành vi vi phạm quyền tác giả chưa từng tồn tại trước đây, qua đó gây khó khăn trong việc xây dựng pháp luật điều chỉnh, phát hiện và xử lý vi phạm Nếu một công ty mạng lập một trang web cho phép người dùng tự chia sẻ các file âm nhạc và phim ảnh thì đó có phải là vi phạm quyền tác giả? Một công ty dịch vụ Internet
có khách hàng là một tờ báo trực tuyến có máy chủ (sever) riêng Tờ báo trực tuyến đó dịch không phép một bài báo của một tờ báo trực tuyến khác ở nước
Trang 36tế cũng như pháp luật của các quốc gia cũng đã có những nỗ lực hoàn thiện nhất định để đáp ứng những thách thức này trong thời gian vừa qua Việc ra đời các điều ước quốc tế mới về bảo hộ quyền tác giả như Hiệp định quyền tác giả của
WIPO (Wipo Copyright Treaty – WCT) hay Hiệp định WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (WIPO Performance and Phonogram Treaty – WPPT) cùng với
những đạo luật mới ở các quốc gia là dấu hiệu cho thấy điều đó Việc ban hành những văn bản mới có thể bước đầu đáp ứng được các cách thức về mặt lý luận
và pháp lý Song, có những thách thức sẽ ngày càng trở nên khó giải quyết hơn trong tương lai, ví dụ các thách thức về bảo vệ quyền tác giả Điều đó đòi hỏi các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, tiếp tục có những biện pháp thích hợp để bảo vệ quyền tác giả một cách hiệu quả trong môi trường kỹ thuật số
19
Xem thêm Lewis a Kaplan, Copyright and the Internet (Quyền tác giả và Internet), 22
Temp Envtl L & Tech J (2003)
Trang 3729
CHƯƠNG 2 BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ
THEO QUY ĐỊNH CỦA CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
Với những thách thức không nhỏ đối với việc bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số, thực tiễn bảo hộ quyền tác giả tại các quốc gia đã cho thấy, nỗ lực của từng quốc gia riêng lẻ không thể ngăn cản một cách hiệu quả tình trạng vi phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số do Internet đã xoá nhoà biên giới giữa các quốc gia Chính vì vậy, nhiều điều ước quốc tế đã được các nước thông qua nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan trong môi trường kỹ thuật số Trong số đó, phải kể đến một số điều ước quốc tế quan trọng đó là: Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật, Công ước Rome năm 1961
về bảo hộ người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng, Công ước Geneva năm 1971 bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không được phép bản ghi âm của họ, Công ước Brussels năm 1974 liên quan đến việc phân phối tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh, Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ năm
1994 (TRIPs), Hiệp ước của WIPO về quyền tác giả năm 1996 (WCT), Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (WPPT) năm 1996, Hiệp ước Bắc Kinh năm 2012 về cuộc biểu diễn nghe nhìn (BTAP) Trong phạm vi đề tài này, các tác giả sẽ chỉ phân tích những điều ước quốc tế liên quan đến bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số, đó là: Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) và Hiệp ước của WIPO năm 1996
về quyền tác giả (WCT)
Trang 3830
2.1 Công ƣớc Berne năm 1886 về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn
học, nghệ thuật và khoa học (The Berne Convention for the Protection of Literary and Artistic Works)
Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học là điều ước quốc tế đa phương đầu tiên về quyền tác giả được ký ngày 9 tháng 9 năm 1886 tại Berne, Thuỵ Sỹ20 Với 38 điều và một Phục lục gồm 6 điều dành cho các nước đang phát triển, Công ước đã quy định
ba nguyên tắc cơ bản trong bảo hộ quyền tác giả cũng như các quyền tối thiểu
mà các tác giả được hưởng Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc bảo hộ quyền tác giả nói chung và bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số nói riêng
Công ước Berne quy định ba nguyên tắc bảo hộ cơ bản đó là nguyên tắc đối xử quốc gia, nguyên tắc bảo hộ tự động và nguyên tắc bảo hộ độc lập
Nguyên tắc đối xử quốc gia được quy định tại Điều 5 khoản 1 của Công ước, theo đó, đối với một tác phẩm được công ước Berne bảo hộ, các tác giả sẽ
―được hưởng quyền tác giả ở các nước Liên hiệp, ngoại trừ quốc gia gốc của tác
phẩm, những quyền lợi do luật quốc gia liên quan dành cho công dân nước đó trong hiện tại và trong tương lai (…)‖
Theo nguyên tắc bảo hộ tự động, quyền tác giả phát sinh ngay khi tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định mà không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục hay hình thức nào như đăng ký hoặc các thủ tục tương tự21
Nguyên tắc bảo hộ độc lập được quy định tại Điều 5 khoản 2 của Công ước Berne Cụ thể, việc hưởng và thực thi các quyền theo Công ước là độc lập với những gì hiện được hưởng tại nước xuất xứ của tác phẩm22
Trang 3931
Theo quy định tại Điều 1 và Điều 2 khoản 1 của Công ước Berne, việc bảo
hộ ―tác phẩm văn học và nghệ thuật‖ trong Công ước Berne bao gồm ―tất cả các
sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào‖23
Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được Công ước Berne bảo hộ bao gồm các tác phẩm do tác giả là công dân của một trong những nước thành viên của Công ước Berne hoặc có nơi cư trú thường xuyên tại một trong các nước trên dù tác phẩm đó đã công bố hay chưa công bố Đối với các tác phẩm do tác giả là công dân của một nước không phải thành viên của Công ước Berne, tác phẩm chỉ được bảo hộ nếu tác phẩm đó đã công bố lần đầu tiên hay công bố
đồng thời tại một nước thành viên ―Tác phẩm đã công bố‖ là những tác phẩm
đã được phát hành với sự đồng ý của tác giả, không phân biệt phương pháp cấu tạo các bản sao, miễn là các bản đó đủ để đáp ứng nhu cầu hợp lý của quần chúng, tuỳ theo bản chất của tác phẩm24
Đối với các tác phẩm được bảo hộ, tác giả sẽ được hưởng quyền kinh tế và quyền tinh thần Quyền tinh thần của tác giả được quy định tại Điều 6bis Công
ước Berne, theo đó, tác giả được ―quyền được đòi thừa nhận mình là tác giả của
tác phẩm và phản đối bất kỳ sự xuyên tạc, cắt xén hay sửa đổi hoặc những vi phạm khác đối với tác phẩm có thể làm phương hại đến danh dự và tiếng tăm của tác giả,‖ kể cả sau khi đã chuyển nhượng các quyền kinh tế khác
Các quyền kinh tế của tác giả được quy định tại Điều 8, 9, 11, 11bis, 11ter,
12, 14 của Công ước, bao gồm quyền dịch thuật25, quyền sao chép26, quyền thực
23 Công ước Berne 1886 về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật Nguồn:
nghe-thuat-60106.aspx
26
Tác giả được toàn quyền cho phép sao in các tác phẩm được bảo hộ dưới bất kỳ phương thức, hình thức nào – Điều 9.1 Công ước Berne năm 1886
Trang 4032
hiện phóng tác, cải biên, chuyển thể tác phẩm27, quyền trình diễn công cộng tác phẩm kịch, nhạc kịch và âm nhạc28, quyền thuật lại và truyền phát tới công chúng tác phẩm văn học29, quyền phóng tác điện ảnh và sao chép, phân phối, trình diễn công cộng và truyền thông công cộng tác phẩm đã phóng tác hoặc sao chép, quyền phát sóng30, quyền ―droit de suit‖ 31
Thời hạn bảo hộ các quyền trên là suốt cuộc đời tác giả và không ít hơn 50 năm sau khi tác giả qua đời32
Công ước Berne, kể từ khi được thông qua vào năm 1886, đã được sửa đổi, bổ sung thường xuyên (trung bình khoảng 20 năm một lần) nhằm đáp ứng với sự phát triển của nền kinh tế cũng như khoa học công nghệ (như công nghệ điện ảnh, nhiếp ảnh, truyền hình…) Đạo luật hiện hành là Đạo luật Paris ngày 24/7/1971, được bổ sung ngày 2/10/197933
Kể từ sau lần sửa đổi cuối cùng năm
1979, do không thể đạt được sự đồng thuận của các nước thành viên, mà cụ thể
là giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển, WIPO đã không tổ chức bất kì Hội nghị nào để sửa đổi Công ước Berne Trong khi đó, vào giai đoạn những năm 1970 và 1980, khoa học công nghệ đã có nhiều bước tiến đáng kể như sự phát triển của truyền hình cáp, truyền hình vệ tinh, chương trình máy
31
Đối với bản gốc các tác phẩm nghệ thuật và bản thảo gốc của nhà văn và nhà soạn nhạc mà tác giả đã chuyển nhượng, thì tác giả hoặc sau khi tác giả chết, những cá nhân hoặc đoàn thể được sở hữu quyền tác giả theo Luật pháp Quốc gia được hưởng quyền không được chuyển nhượng đối với lợi nhuận khi bán các tác phẩm đó sau khi tác giả đã chuyển nhượng lần đầu – Điều 14 ter
Công ước Bern năm 1886