Từ vai trò quan trọng nêu trên của điều ước quốc tế, việc nghiên cứu về điềitớc quốc tế thông qua nội dung của Công ước Viên 1969 về Luật điều ướciốc tế giữa các quốc gia trở thành yêu c
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC TổN G HỢP LUND
v ữ THỊ THANH LAN
CÔNG ƯỚC VIÊN 1969 VỂ LUẬT ĐIỂU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỂ KÝ KẾT THỰC HIỆN ĐIỂU ƯỚC QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Luật Quốc tế và So sánh
Mã số: 60 38 60 Ụ77.7 Víir R.I
1 HU V í N
TRUỚNG ĐẠI HỌC LÚẬT HÀ NỘI PHONG 5 0 C
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC i • • •
Người hướng dẫn khoa học:
HÀ NỘI - 2004
Trang 3MỤC LỤC
N&1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN c ơ BẢN VỀ ĐIÊÙ ƯỚC QUỐC TẾ
COCêNG u ớ c VIÊN 1969 VỂ LUẬT ĐIỂU ƯỚC QUỐC TẾ 8
ỵKMiiảệm Điều ước quốc tế theo Công ước Viên 1969 9
IMáầìg đặc trưng cơ bản của Điều ước quốc tế 14
iKý kết điều ước quốc t ế 20
ỊỊiếỊMữ l»u Điều ước quốc t ế 25
|s5 Hận lực của Điều ước quốc tế 26
liên Điều ước quốc tế 32
íi qụan hệ giữa ĐƯQT và một số hình thức pháp luật khác 34
2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỂ KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN ĐIỀU ƯỚC .! 39
lí triển của pháp luật Việt nam về ký kết và thực hiện ĐƯQT 39
2$2.<C|c quy định pháp lý cơ bản về ký kết điều ước quốc t ế 42
Ipidlc quy định pháp lỷ cơ bản về thực hiện điều ước quốc t ế 54
\m z quy định về mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và ĐUQT 56
m ĩ' HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỂ KÝ KẾT VÀ THựC ►liu ƯỚC QUỐC T Ế ’ ! 64
u Tllic trạng ký kết và thực hiện ĐUQT ở VN 64
.2 Pknrơng hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật VN về ký kết và p iÌĩệ n Đ Ư Q T . J 7 ,87 m OỆU THAM KHẢO 89
Trang 4MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỂ TÀI
Hiện nay, các nhà hoạch định chính sách trong thế kỷ XXI đang theo đuổi ihững mục tiêu phát triển trong một thế giới đang biến đổi về chính trị,
kinh í và xã hội Hai thế lực chủ yếu sẽ định hình thế giới phát triển là toàn
cầu ba và khu vực hóa Từ cuối thế kỷ XX, toàn cầu hóa đã chứng minh được rằng,ihững quyết định về kinh tế, dù được đưa ra ở đâu trên thế giới cũng
phải 'ĩih đến các nhân tố quốc tế Thế giới không còn là tập hợp các nước ,
láng ,iềng tương đối tự trị, chỉ liên quan đến nhau ở ngoài biên giới Trật tự kinh í quốc tế đang chuyển thành một hệ thống thống nhất cao và gắn bó với nhauỊua mạng điện tử Trong đó, các mối liên hệ chặt chẽ đến mức, người
bán 1 ở một nước có thể miêu tả những sản phẩm mà người tiêu dùng nước
mìnltra thích cho các nhà sản xuất ở nhiều nước khác, và thế giới khởi động ngayiến trình lục tìm mẫu mã và sản xuất Tất cả những điều mô tả trên đây đang'ận hành trong một khuôn khổ chung là hệ thống quốc tế toàn cầu Hệ thốn này bao trùm toàn bộ đời sống quốc tế, gồm rất nhiều bộ phận Trong
đó, ổu ước quốc tế được sử dụng làm công cụ pháp lý hữu hiệu để điều chỉnh trật Iquan hệ quốc tế cũng như quá trình hợp tác quốc tế trong điều kiện và môi ường toàn cầu hóa
Từ vai trò quan trọng nêu trên của điều ước quốc tế, việc nghiên cứu về điềitớc quốc tế thông qua nội dung của Công ước Viên 1969 về Luật điều ướciốc tế giữa các quốc gia trở thành yêu cầu cần thiết đối với quá trình thựcii nghĩa vụ thành viên các điều ước và cam kết quốc tế củaViệt Nam,Các quy định pháp luật điều chỉnh việc ký kết và thực hiện điều ước quốtế tại Việt Nam nằm rải rác trong các văn bản luật và dưới luật Việc hìnĩnành các quy định này chủ yếu được tiến hành dựa trên cơ sở các quy
Trang 5định của Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế do Uỷ ban Thường
vụ quốc hội ban hành năm 1998 Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Pháp lệnh này đã bộc lộ những bất cập cần sớm được khắc phục, nhất là sau khi Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi bổ xung vào năm 2001 và từ khi Việt Nam gia nhập Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế Nhận thức trên đây đồng nghĩa với việc cần sớm hoàn thiện pháp luật quốc gia về ký kết, thực hiện điều ước quốc tế theo hướng tương thích với các quy định pháp luật quốc
tế về ký kết điều ước quốc tế trong các quy định của Cồng ước Viên 1969 Làm tốt công tác này chính là góp phần vào sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Với những căn cứ khoa học và thực tiễn nói trên, tác giả đã lựa chọn đề
tài: "Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam
về ký kết, thực hiện điều ước quốc tế" làm đề tài luận án thạc sỹ luật,
chuyên ngành Luật Quốc tế
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u ĐỂ TÀI
Pháp luật về ký kết và thực hiện Điều ước quốc tế đã được nhiều nhà nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn ở Việt Nam tiếp cận nghiên cứu với những khía cạnh khác nhau Một số các đề tài khoa học đã được nghiên cứu như : " Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp với nước ngoài" của Bộ Tư pháp (1998); "Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế của CHXHCN Việt Nam và pháp luật Việt Nam" (mã số 95-98-113/DT) hay chương trình toạ đàm khoa học về "Thực trạng thi hành pháp lệnh ký kết và thực hiện điều ước quốc tế"(3/2004); hay tọa đàm khoa học thảo luận về
“Thực trạng thi hành Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế năm 1998” được tổ chức tháng 3/2004 tại Hoà bình Bên cạnh đó, một số bài viết của nhiều tác giả đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật của Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật; tạp chí Luật học, chuyên đề thông tin khoa học
Trang 6pháp lý của trường Đại học Luật Hà nội, Báo cáo nghiên cứu tổng kết của các
cơ quan chức năng cũng đã nghiên cứu vấn đề này ở những cấp độ, phạm vi
và những bình diện khác nhau Cụ thể như:
- Đoàn Năng (2001), Vấn đề quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia trong pháp luật và thực tiễn của Việt Nam, Chuyên đề Cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng luật quốc tế, Tư liệu khoa học, Trường Đại học Luật
Hà nội
- Đoàn Năng (1997), Một số ý kiến về mối quan hệ giữa pháp luật quốc
tế và pháp luật quốc gia”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 97 (12)
- Lê Mai Anh (2003), Cơ sở lý luận của hoạt động chuyển hoá Điều ước quốc tế, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 3(179)
- Lê Mai Anh (2004), Các vấn đề pháp lý cơ bản của Công ước Viên
- Nguyễn Văn Luật (2000), Pháp luật nước ta trước nhu cầu hội nhập và hợp tác quốc tế, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6
- Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Pháp lệnh về ký kết và thực hiện ĐƯQT năm 1998 (1998-2003), Bộ Ngoại giao, Vụ Pháp luật quốc tế(5/2004)
Trang 7- Báo cáo nghiên cứu về thực trạng thi hành Pháp lệnh về ký kết và thực hiện ĐƯQT năm 1998, Văn phòng Quốc hội, Trung tâm thông tin thư viện và nghiên cứu khoa học (2004)
- Phạm Trường Giang(1998), Vấn đề hoàn thiện pháp lệnh ký kết và thực hiện ĐƯQT của Việt Nam, Đề tài khoa học: Mối quan hệ giữa ĐƯQT và pháp luật Việt Nam- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản (mã số 95-98-113/DT)
- Nguyễn Thị Kim Ngân (2001), Mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia -M ột số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật, Hà nội
Nhưng về tổng thể, chưa có công trình khoa học nào ở cấp độ thạc sĩ, tiến
sĩ Luật học nghiên cứu một cách có hệ thống về Công ước Viên 1969 cũng như pháp luật và thực tiễn ký kết, thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM v ụ CỦA LUẬN VĂN
Trước hết, luận văn tập trung làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý cơ bản về điều ước quốc tế quy định trong nội dung Công ước Viên 1969 với tính chất là luật hình thức Trên cơ sở đó, luận văn phân tích các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn ký kết, thực hiện điều ước quốc tế tại Việt Nam hiện nay Bằng phương pháp và các luận cứ khoa học rút ra từ những kết quả thực tế của quá trình nghiên cứu trên, luận văn đưa ra nhận xét, đánh giá về việc thực hiện nghĩa vụ thành viên Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế của Việt Nam Từ đó đề xuất các kiến nghị thiết thực, nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về ký kết, thực hiện điều ước quốc tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế trước mắt cũng như trong tương lai
Để thực hiện được mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau chính sau đây:
Trang 8- Phân tích các đặc trưng pháp lý cơ bản của điều ước quốc tế và những hành vi pháp lý cơ bản của hoạt động ký kết và thực hiện điều ước quốc tế theo Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế, qua đó khẳng định vai trò của điều ước quốc tế trong việc điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia.
- Phân tích vai trò và những quy định pháp lý cơ bản của pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiện điều ước và đánh giá về thực trạng ký kết và thực hiện điều ước quốc tế ở Việt Nam hiện nay
- Đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, đặc biệt đối với việc xây dựng một khung pháp lý hoàn thiện ngang tầm với tính quan trọng của hoạt động này trong việc thúc đẩy các quan hệ hợp tác đối ngoại
4 PHẠM VI NGHIÊN c ứ u CỦA LUẬN VĂN
Điều ước quốc tế và pháp luật về điều ước quốc tế là một vấn đề phức tạp, cả về lý luận lẫn thực tiễn thực hiện không chỉ đối với Việt Nam mà cả đối với nhiều nước trên thế giới Trong phạm vi luận văn thạc sỹ, tác giả chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất về điều ước quốc tế và việc ký kết thực hiện điều ước quốc tế trên cơ sở các quy định của Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế giữa các quốc gia (không đề cập tới Công ước Viên 1986 về Luật Điều ước quốc tế giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức quốc tế với nhau) Luận văn cũng chỉ đề cập tới những vấn đề cơ bản nhất của pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiện ĐƯQT và thực trạng thi hành, từ đó góp phần làm sáng tỏ vai trò, ý nghĩa pháp lý của công tác ký kết
và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam nói riêng và các nước nói chung
Trang 95 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
Luận văn vận dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng một số phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, kết hợp lý luận với thực tiễn
6 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Luận văn phân tích tổng thể, hệ thống các vấn đề pháp lý cơ bản của điều ước quốc tế theo quy định của Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế
- Phân tích tổng thể những vấn đề cơ bản nhất của hoạt động ký kết và thực hiện điều ước quốc tế trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành và thực trạng công tác ĐƯQT ở Việt Nam
- Trên cơ sở các nguyên lý, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và kinh nghiệm của một số nước, luận văn đưa ra những kiến nghị hợp lý, khoa học và có tính khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, tạo cơ sở pháp lý cho Việt Nam chủ động tham gia vào các mối quan hệ song phương cũng như đa phương, đấu tranh cho quyền lợi và sự phát triển của dân tộc, cho sự dân chủ và tiến bộ của pháp luật quốc tế trong bối cảnh hội nhập toàn cầu
7 Ý NGHĨA CỦA LUẬN VĂN
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu giảng dạy, công tác nghiên cứu khoa học, có thể xem như tài liệu phục vụ cho công tác tuyên truyền nhằm nâng cao hiểu biết về điều ước quốc tế và pháp luật về điều ước quốc tế theo pháp luật quốc tế và
pháp luật quốc gia Luận văn có thể cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho
việc xây dựng Luật về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của nhà nước CHXHCN Việt Nam hiện đang được thúc đẩy triển khai
Trang 108 KẾT CẤU CỦA LUẬN VÃN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về điều ước quốc tế theo Công ước Viên 1969 về Luật điều ước quốc tế
- Chương 2: Pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế
- Chương 3: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế
Trong quá trình viết luận văn, mặc dù tác giả đã có rất nhiều cố gắng, song bản luận văn này khó tránh khỏi những điểm hạn chế, thiếu sót Rất mong có sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 11CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỂ LÝ LUẬN c ơ BẢN VỂ ĐIỂU ƯỚC QUỐC TÊ THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1969
VỂ LUẬT ĐIỂU ƯỚC QUỐC TÊ
Trong Luật Quốc tế hiện đại, Công ước Viên 1969 về Luật ĐƯQT ký kết giữa các quốc gia (gọi tắt là Công ước Viên 1969) ngày 23 tháng 5 năm
1969 do Liên hợp quốc thông qua (có hiệu lực ngày 27 tháng 1 năm 1980) giữ
vị trí hết sức quan trọng Công ước Viên 1969 không chỉ là kết quả của quá trình pháp điển hóa thành công các quy phạm của Luật Tập quán quốc tế về
ký kết và thực hiện điều ước quốc tế mà còn xây dựng được khung pháp lý quốc tế cơ bản để điều chỉnh hiệu quả quan hệ ký kết và thực hiện điều ước quốc tế phát sinh giữa các chủ thể Luật Quốc tế
Tuy nhiên, Công ước Viên 1969 không phải là khung pháp lý duy nhất
đẻ điều chỉnh quan hệ ký kết và thực hiện điều ước quốc tế phát sinh giữa các chủ thể Luật Quốc tế với nhau, mặc dù Công ước đã có sự bao trùm phần lớn các vấn đề quan trọng về lĩnh vực này [37,6] Sự hình thành Công ước Viên
1969 đã tăng cường tính hiệu quả của việc sử dụng điều ước quốc tế làm công
cụ pháp lý điều chỉnh các quan hệ hợp tác quốc tế giữa các quốc gia Đồng thời là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định nghĩa vụ pháp lý quốc tế của một
I quốc gia trước các thoả thuận và cam kết quốc tế đã được xác lập một cách
hợp pháp Điều này tạo nên một trong những điều kiện chủ yếu về phương diện pháp lý để một quốc gia có thể hội nhập vào xu thế toàn cầu hóa và liên kết khu vực Quá trình ký kết và thực hiện điều ước quốc tế luôn tạo ra những tác động đa chiều đến lợi ích thiết thực của mỗi một quốc gia trong hợp tác quốc tế
Trang 121.1 KHÁI NIỆM ĐIỂU ƯỚC QUỐC TẾ THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1969
1.1.1 Khái niệm Điều ước quốc tế trong Công ước Viên 1969 nhìn từ góc độ khoa học Luật Quốc tê
Trong khoa học Luật Quốc tế, thuật ngữ “Điều ước quốc tế”(viết tắt là
ĐƯQT) được sử dụng phổ cập để chỉ loại nguồn thành văn của Luật Quốc tế,
được hình thành theo trình tự, thủ tục xác định, với nội dung bao gồm các
nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế, nhằm ấn định, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý giữa các chủ thể Luật Quốc tế khi
tham gia quan hệ pháp luật quốc tế
Lịch sử hình thành và phát triển của Luật Quốc tế cho thấy, ĐƯQT tồn
tại dưới rất nhiều tên gọi khác nhau, như Hiệp ước, Hiệp định, Nghị định thư,
Tuyên bố, Hiến chương, Thoả ước, Công ước v ề phương diện lý luận và
pháp lý quốc tế, thuật ngữ Điều ước quốc tế được tiếp cận với tính chất là sự
khái quát hóa về một trong những hình thức pháp lý thành văn của Luật Quốc
tế (nguồn pháp lý), có giá trị là công cụ pháp lý điều chỉnh các quan hệ hợp
tác quốc tế giữa các quốc gia và các chủ thể khác của Luật Quốc tế Song, nếu
chỉ đơn thuần xem xét điều ước quốc tế từ góc độ là nguồn thành văn của Luật
Quốc tế thì khó có thể lìình dung đầy đủ các tiêu chí khoa học pháp lý để nhận
biết đâu là một văn bản ĐƯQT, từ đó phân biệt với các văn kiện quốc tế và
các hình thức pháp lý quốc tế khác Vì vậy, Công ước Viên 1969 đã định
nghĩa ĐƯQT như sau:
“Điều ước là một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các
quốc gia và được pháp luật quốc tếđiều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thoả
thuận đó được ghi nhận trong văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn
, kiện có quan hệ với nhau cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của
các văn kiện đó
Nội hàm khái niệm ĐƯQT nêu trên cho phép khẳng định rằng, ĐƯQT
Trang 13là “thoả thuận” có yếu tố quốc tế Vậy, yếu tố quốc tế gắn với thỏa thuận có giá trị là ĐƯQT cần được hiểu theo những tiêu chí nào?
Không thể đơn thuần viện đến một số quy định trong Hiến pháp hay Luật thực định của quốc gia với việc phân loại ĐƯQT như điều ước nhân danh nhà nước, điều ước nhân danh chính phủ, điều ước do các cơ quan quản lý ký kết để làm sáng tỏ nội dung của các yếu tố quốc tế trong các thỏa thuận mang danh nghĩa của một ĐƯQT Bởi vì, cách phân biệt này không chỉ ra được bản chất pháp lý quốc tế của ĐƯQT, càng không có cơ sở để phân biệt văn bản pháp luật quốc tế và văn bản pháp luật quốc gia Như vậy, yếu tố quốc
tế của loại hình văn bản pháp lý có giá trị của một ĐƯQT phải được xem xét trong mối quan hệ pháp luật phát sinh giữa các quốc gia với nhau, thông qua quá trình ký kết, thực hiện hoặc hủy bỏ một ĐƯQT Nói cách khác, tính quốc
tế của một thỏa thuận điều ước là tổ hợp của tổng thể các yếu tố về hình thức, nội dung và trình tự, thủ tục pháp lý quốc tế nhất định, liên quan đến việc hình thành văn bản ĐƯQT
Dù tiếp cận theo góc độ lý luận hay thực tiễn thực thi, khi đề cập đến khái niệm ĐƯQT, việc chỉ ra bản chất pháp lý của ĐƯQT là cực kỳ quan trọng Trong cách xác định của Công ước Viên 1969, ĐƯQT là một thoả thuận dưới dạng văn bản, được ký kết bởi các quốc gia Định nghĩa này của Công ước Viên 1969 đã chỉ ra phạm vi điều chỉnh của Công ước là quan hệ điều ước phát sinh giữa các quốc gia Trên thực tế, quan hệ điều ước không chỉ phát sinh giữa các quốc gia mà còn hoàn toàn có thể phát sinh giữa các chủ thể khác của Luật Quốc tế với nhau và với quốc gia Việc Công ước giới hạn phạm vi điều chỉnh chỉ đối với quan hệ điều ước phát sinh giữa các quốc gia như vậy có lý do từ hoàn cảnh lịch sử hình thành của Công ước Quyết định không mở rộng Công ước 1969 về điều ước tới các tổ chức quốc tế được Uỷ
ban Luật quốc tế giải thích: “ các điều ước được kỷ kết giữa các tổ chức quốc
tế có rất nhiều những đặc thù riêng; và Uỷ ban cho rằng sẽ quá phức tạp và
Trang 14sẽ làm chậm việc dự thảo các điều khoản của Công ước này nếu đưa vào đó điều khoản thoả đáng liên quan đến ĐƯQT của các tổ chức quốc tế ”
[46,187] Vì vậy, Công ước minh thị khẳng định việc giới hạn đó không ảnh hưởng đến giá trị pháp lý quốc tế của các thỏa thuận hình thành bởi các tổ chức quốc tế hoặc giữa tổ chức quốc tế với chủ thể khác của Luật Quốc tế Với sự phát triển của Luật Quốc tế nói chung và điều ước quốc tế nói riêng, quy định này là một trong những hạn chế của Công ước Viên 1969
Khi xác định ĐƯQT là thỏa thuận thành văn giữa các quốc gia, Công ước đã ngầm định chỉ rõ bản chất pháp lý quốc tế của ĐƯQT là kết quả của sự thỏa thuận về ý chí của các quốc gia Đặt trong quan hệ quốc tế, thỏa thuận là
sự gặp gỡ, trao đổi, thương lượng, nhân nhượng lẫn nhau để đạt đến sự nhất trí
về các vấn đề mà các bên chủ thể Luật Quốc tế cùng quan tâm Như vậy, quan
hệ điều ước phải có sự tham gia ít nhất từ hai chủ thể Luật Quốc tế trở lên Tính pháp lý của các thỏa thuận này được thể hiện ở kết quả là các thỏa thuận
đã thành công, về hình thức, kết quả đó đươc ghi nhận dưới dạng các quy phạm pháp luật quốc tế, trực tiếp điều chỉnh quyền, nghĩa vụ pháp lý của chủ thể đã tham gia kết ước
Điều lý giải như trên cho phép phân biệt ĐƯQT với cam kết quốc tế, vốn là sự tự ràng buộc của chủ thể Luật Quốc tế vào nghĩa vụ pháp lý quốc tế nhất định Sự ràng buộc đó được thực hiện thông qua hành vi pháp lý đơn phương hoặc thỏa thuận của chủ thể Luật Quốc tế Trong một ĐƯQT, các nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ điều ước được các chủ thể kết ước cam kết thực hiện trên cơ sở của nguyên tắc Pacta sunt servanda và các nguyên tắc khác mà Công ước Viên 1969 đã ghi nhận
Có thể thấy, tuy cùng là sự thể hiện ý chí quốc gia, nhưng về mọi phương diện, quá trình đưa ý chí quốc gia vào nội dung của điều ước khác với quá trình đưa ý chí quốc gia vào văn bản pháp luật trong nước Sự thỏa thuận
về ý chí giữa các chủ thể ký kết hoặc gia nhập để hình thành ĐƯQT có sự độc
Trang 15lập tương đối so với các quy định của pháp luật quốc gia, nhưng lại có mối quan hệ biện chứng với các quy định đó, do sự ràng buộc của lợi ích quốc gia đối với cả hai quá trình lập pháp trong nước và quốc tế v ề điều này, Công ước Viên đã đề cập khá cụ thể trong một số quy định pháp lý về mối quan hệ giữa ĐƯQT và các văn bản pháp luật quốc gia.
Trong sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, việc ký kết và thực hiện ĐƯQT là một trong số hoạt động pháp lý cơ bản, thuộc lĩnh vực thực thi quyền năng chủ thể Luật Quốc tế của quốc gia về phương diện đối nội và đối ngoại Với khái niệm “điều ước quốc tế”, Công ước Viên 1969 đã đặt nền móng cho việc xác định giá trị pháp lý của ĐƯQT, đồng thời có ý nghĩa xây dựng khung pháp luật về điều ước quốc tế với tư cách là một ngành luật độc lập, thuộc hệ thống pháp luật quốc tế hiện đại
1.1.2 Phân loại Điều ước quốc tê
Công ước Viên 1969 tiếp cận một cách thận trọng khi phân loại ĐƯQT, nhất là né tránh bất cứ một sự phân loại mang tính hệ thống nào, đồng thời hạn chế cả sự phân biệt về phạm vi giữa các điều ước với nhau [40,35] Nhưng vẫn có thể theo cách làm truyền thống là đưa ra những tiêu chí chung để phân loại một cách tương đối các ĐƯQT hiện hành trên thế giới như căn cứ vào số lượng chủ thể, nội dung, đối tượng, thời điểm
Trong số các tiêu chí mà dựa vào đó, có thể phân loại điều ước thì số lượng và tính chất chủ thể kết ước được xem là một trong những tiêu chí cơ bản [40,78] Theo cách này, ĐƯQT được phân biệt thành ĐƯQT song phương
và ĐƯQT đa phương
ĐƯQT song phương được được ký kết giữa hai quốc gia với nhau Tuy nhiên, cũng có trường hợp, ĐƯQT song phương có nhiều hơn hai chủ thể tham gia, như ĐƯQT giữa EU và Switzerland
Trang 16ĐƯQT đa phương luôn có từ ba chủ thể tham gia trở lên, thiết lập nên các quyền vằ nghĩa vụ giữa một chủ thể với các chủ thể khác ĐƯQT đa phương thường mở để các Nhà nước hoặc các chủ thể Luật Quốc tế khác có thể ký kết hoặc gia nhập.
Công ước Viên 1969 không phân biệt cụ thể sự khác biệt giữa ĐƯQT song phương và đa phương Nhưng hoàn toàn có căn cứ để đưa ra cách phân loại trên khi dựa vào các quy định của Công ước về việc hình thành văn bản điều ước, ký kết ĐƯQT và đặc biệt bảo lưu, gia nhập, những vấn đề chỉ áp dụng đối với ĐƯQT đa phương
Tiêu chí phân loại ĐƯQT dựa vào đặc điểm nội dung và mục đích của ĐƯQT Tuy nhiên, việc xác định nội dung và mục đích của ĐƯQT là rất khó khăn, cho nên việc phân loại ĐƯQT dựa trên tiêu chí này thường không thể đạt được[40,36] Nhưng từ đặc điểm nội dung của ĐƯQT, lại có thể phân loại ĐƯQT với tiêu chí mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nghĩa vụ pháp lý được đặt ra trong ĐƯQT đó với các ĐƯQT tương tự
Căn cứ vào lĩnh vực điều chỉnh, ĐƯQT có thể phân loại ĐƯQT về chính trị, kinh tế, xã hội, khoa học, kỹ thuật, văn hóa Căn cứ vào phạm vi áp dụng ĐƯQT có thể phân chia thành điều ước song phương, điều ước khu vực
và điều ước toàn cầu Căn cứ vào thời điểm ban hành có thể phân thành điều ước thời chiến và điều ước thời bình Căn cứ vào tính chất, có thể có điều ước khế ước và điều ước luật Tất cả các tiêu chí phân loại trên thể hiện cách nhìn phong phú về ĐƯQT
Pháp luật mỗi quốc gia lại có sự phân loại ĐƯQT khác nhau Ví dụ, pháp luật về ĐƯQT của Việt Nam chia ĐƯQT thành bốn loại, đó là ĐƯQT được ký kết với danh nghĩa Nhà nước; ĐƯQT được ký kết với danh nghĩa Chính phủ; ĐƯQT được ký kết với danh nghĩa các Bộ, Ngành và ĐƯQT do Toà án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ký kết, trong phạm
vi thẩm quyền của các cơ quan này v ề tổng thể, việc phân loại ĐƯQT theo
Trang 17pháp luật quốc gia chủ yếu tạo cơ sở dễ dàng cho công tác ký kết, thực hiện và quản lý nhà nước đối với ĐƯQT Còn trong cách tiếp cận của Công ước Viên
1969, dù là ĐƯQT được ký kết ở cấp nào thì vẫn mang danh nghĩa của quốc gia, tức quốc gia mới là thành viên của ĐƯQT đó
1.2 NHỮNG ĐẶC TRƯNG c ơ BẢN CỦA ĐlỂU ƯỚC QUỐC TẾ
1.2.1 Hình thức của Điều ước quốc tế
ĐƯQT là nguồn pháp luật thành văn của Luật Quốc tế Theo quy định của Công ước Viên 1969 cũng như pháp luật và thực tiễn ký kết ĐƯQT của các quốc gia, hình thức ĐƯQT được khẳng định là thỏa thuận bằng văn bản Nói cách khác, ĐƯQT phải được thể hiện dưới hình thức văn bản, với mẫu truyền thống là văn kiện dưới dạng viết hoặc in ấn Công ước Viên 1969 về Luật ĐƯQT không điều cKĩĩĩh nhứngThõathuận miệng (mà Luật cổ gọi là điều ước Quân tử) Những hình thức mới xuất hiện như fax, telex, thư điện tử, kết quả của sự phát triển công nghệ thông tin, không được Công ước Viên
1969 quy định là hình thức có giá trị pháp lý ghi nhận kết quả thoả thuận giữa các quốc gia Việc không ghi nhận những hình thức khác ngoài hình thức văn bản viết một phần nhằm tránh sự hiểu lầm khi trao đổi thông tin bằng giao tiếp
và một phần vì tại thời điểm ban hành, Công ước không thể trù tính được sự phát triển của khoa học như ngày nay Tuy nhiên, phải thừa nhận những ưu điểm vượt trội của hình thức văn bản với công năng trong việc xác nhận sự ràng buộc các quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể một cách chính xác, rõ ràng, đồng thời có thể lưu giữ, bảo quản như một bằng chứng xác thực của việc ký kết hoặc gia nhập ĐƯQT
ĐƯQT là một văn kiện duy nhất, nhưng cũng có thể là hai hay nhiều văn kiện có liên quan với nhau và không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của các văn kiện đó v ề vấn đề này, Khuyến nghị của u ỷ ban Luật Quốc tế của Liên hợp quốc đã khẳng định rõ ràng rằng, không có sự khác biệt nào về hiệu lực
Trang 18pháp lý của một ĐƯQT được chứa đựng trong một văn bản duy nhất hay một ĐƯQT được hình thành bởi một tập hợp các văn kiện có quan hệ với nhau, v ề
cơ bản, thỏa thuận thành văn này có các dấu hiệu sau:
* Tên gọi của văn bản điều ước
ĐƯQT rất đa dạng về tên gọi và việc đặt tên cho văn bản thỏa thuận hoàn toàn tùy thuộc vào ý chí của các bên ký kết Không có sự phân biệt giá trị hiệu lực giữa các ĐƯQT theo tên gọi Trong thực tiễn, rất nhiều các ĐƯQT
có cùng nội dung và tính chất, nhưng có thể được đặt theo các tên gọi khác nhau, ví dụ, ở quan hệ điều ước này gọi là Hiệp ước, ở quan hệ điều ước khác lại được gọi là Định ước, Hiệp ước, Công ước, Nghị định thư Các danh pháp này hầu như không thể giới hạn được
* Về cơ cấu của ĐƯQT
Hầu hết các ĐƯQT thường được xây dựng thành ba phần: Phần lời nói đầu; phần nội dung; phần các điều khoản sau cùng Với phần lời nói đầu, văn bản ĐƯQT không chia thành điều, khoản, chương và không chứa đựng những quy phạm cụ thể có giá trị xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia Lời nói đầu chỉ nêu lý do, mục đích hoặc tên của các bên ký kết
Phần nội dung của điều ước là phần quan trọng nhất, được cơ cấu thành các phần, các chương, các điều, nhằm điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kết ước trong các lĩnh vực hợp tác quốc tế phát sinh giữa các chủ thể với nhau
Phần cuối cùng bao gồm các điều khoản về điều kiện, thời điểm, thời hạn có hiệu lực của điều ước, ngôn ngữ soạn thảo, cơ quan lưu chiểu điều ước
Mặc dù ĐƯQT thường được bố trí theo các chương, mục, điều khoản cụ thể, nhưng đây cũng không phải là yêu cầu bắt buộc về mặt hình thức thể hiện đối với mọi ĐƯQT Chẳng hạn, một số điều ước về thành lập tổ chức quốc tế, như Tuyên bố Băng cốc 1967 về thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Trang 19Á (ASEAN) là một trong số những ĐƯQT không có kết cấu như thường gặp của ĐƯQT.
* Về ngôn ngữ dùng để soạn thảo ĐƯQT
Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản ĐƯQT cũng do sự thoả thuận của các quốc gia thành viên, trên cơ sở phù hợp và đảm bảo có sự bình đẳng giữa các quốc gia Tuy nhiên, cách thỏa thuận sử dụng ngôn ngữ trong điều ước song phương có thể có sự khác biệt với điều ước đa phương
Chẳng hạn, với điều ước song phương, hai bên kết ước thông thường thỏa thuận sử dụng ngôn ngữ của cả hai bên hoặc ngôn ngữ quốc tế Ngược lại, đối với điều ước đa phương, ngôn ngữ được lựa chọn là ngôn ngữ làm việc chính thức của Liên hợp quốc, như các tiếng Anh, Pháp, Nga, Tây ban nha, Ả Rập và Trung quốc Các văn bản ĐƯQT soạn thảo bằng ngôn ngữ được lựa chọn đều là văn bản gốc và có giá trị pháp lý như nhau Ngôn ngữ của văn bản ĐƯQT có thể được quy định ngay trong các điều khoản của điều ước, ví dụ như cách quy định tại Điều 111 Hiến chương Liên hợp quốc, Điều 53 Công ước Viên 1961 về Quan hệ Ngoại giao
1.2.2 Chủ thể của Điều ước quốc tế
Ký kết ĐƯQT là một trong quyền năng chủ thể quan trọng đối với một quốc gia độc lập và có chủ quyền Khi tham gia quan hệ điều ước, quốc gia có đầy đủ quyền năng trong việc tiến hành các hành vi ký kết, như hành vi đàm phán, ký, phê chuẩn, phê duyệt, đình chỉ, bãi bỏ ĐƯQT Trong Luật Quốc tế,
tư cách chủ thể ký kết là một trong những yếu tố quyết định đến giá trị pháp lý của văn bản được ký kết Luật Quốc tế khẳng định ĐƯQT là nguồn pháp luật thành văn, điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các quốc gia đã quy định tư cách chủ thể ký kết điều ước quốc tế phải là quốc gia (hoặc ngoài phạm vi điều chỉnh của Công ước Viên 1969 là các tổ chức quốc tế ) Do đó, những thoả thuận giữa một bên là nhà nước và một bên là thể nhân hay pháp nhân như
Trang 20một công ty quốc tế hoặc một công ty đa quốc gia không làm phát sinh quan
hệ ĐƯQT [42,112] Quan hệ pháp luật liên quan đến việc hình thành và thực hiện các văn bản này thuộc phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật khác, không phải quy phạm pháp luật điều chỉnh ĐƯQT Từ đây, có thể khẳng định, thoả thuận có yếu tố quốc tế với ý nghĩa là ĐƯQT phải là thoả thuận giữa các quốc gia, để phân biệt với loại hình thỏa thuận quốc tế mà quốc gia là một bên kết ước, nhưng có giá trị là hợp đồng quốc tế
Các quốc gia thực hiện các quyền năng của chủ thể quan hệ điều ước thông qua các cơ quan được uỷ quyền thay mặt quốc gia để tiến hành các hoạt động ký kết ĐƯQT Liên quan đến vấn đề này, Điều 7 Công ước Viên 1969
đã phân biệt đại diện của một quốc gia trong ký kết ĐƯQT bao gồm: Chủ thể đương nhiên theo luật, không cần có uỷ quyền và chủ thể khi ký kết ĐƯQT phải có ủy quyền
Các chủ thể trong phạm vi chức năng và quyền hạn của mình không cần xuất trình giấy uỷ quyền là Nguyên thủ quốc gia, người đứng đầu chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao trong việc thông qua văn bản của một ĐƯQT giữa quốc gia nhận cử và quốc gia tiếp nhận; người được uỷ quyền đại diện cho các quốc gia tại một hội nghị quốc tế hoặc một tổ chức quốc tế hoặc một cơ quan của tổ chức này để thôngqua văn bản của một điều ước tại hội nghị (ĩó, trdĩíg ĩổ #]hí§ẹ.;4ó háy trong cơ
TRƯỞNG OẠ: HỌC i.ÙÁĨ HÁ NÔ! Ị
1 1 i A _ A í _ /
quan đó
Ngoài những người thuộc diện quy định như trên, một cá nhân chỉ được coi là đại diện cho một quốc gia để thông qua hoặc xác thực văn bản của một ĐƯQT hay để biểu thị việc quốc gia đó đồng ý chấp nhận sự ràng buộc của một điều ước khi có giấy uỷ quyền hợp pháp, trừ khi các quốc gia hữu quan có thoả thuận khác
Như vậy, căn cứ vào giá trị pháp lý của từng hành vi ký kết mà Công ước Viên 1969 đưa ra yêu cầu đại diện cần có uỷ quyền và, đại diện không cần có
Trang 21uỷ quyền trong khi tiến hành các trình tự, thủ tục ký kết ĐƯQT Quy định về đại diện hợp pháp trong quan hệ điều ước nhằm đảm bảo sự an toàn cần thiết cho ĐƯQT ở cấp độ quốc tế cũng như trong cấp độ quốc gia Bên cạnh đó, Điều 46 của Công ước Viên 1969 cũng một lần nữa khẳng định, một quốc gia không thể viện dẫn một hành động biểu thị chấp nhận ràng buộc đối với một ĐƯQT là vi phạm thẩm quyền ký kết điều ước theo pháp luật quốc gia để từ bỏ những nghĩa vụ pháp lý đã cam kết, trừ khi việc vi phạm này quá rõ ràng và liên quan đến một quy định có tính chất cơ bản của pháp luật trong nước.
Đánh giá quy định của Công ước Viên 1969 về thẩm quyền ký kết ĐƯQT, Uỷ ban luật pháp quốc tế của Liên hợp quốc nêu rõ Công ước đã cố gắng dung hòa hai khía cạnh liên quan đến vấn đề thẩm quyền ký kết ĐƯQT,
đó là: công nhận và tôn trọng quyền tự do trong việc xác định đại diện ký kết ĐƯQT của mỗi quốc gia; đồng thời, Công ước vẫn bảo đảm các ĐƯQT không
bị giảm giá trị bởi chính sự phức tạp và không rõ ràng trong việc quy định và giới hạn thẩm quyền về ký kết ĐƯQT cho các chủ thể đại diện trong pháp luật các quốc gia
Từ những quy định về thẩm quyền nêu trên dẫn tới một khía cạnh pháp
lý cần phải quan tâm, pháp luật quốc tế không phân biệt giá trị pháp lý giữa một ĐƯQT do người đứng đầu nhà nước ký với một ĐƯQT do các Bộ trưởng
ký Sự thay đổi chính phủ của các quốc gia thành viên cũng không ảnh hưởng đến hiệu lực của các ĐƯQT đã được ký kết Tựu chung, danh nghĩa ký kết ĐƯQT về phương diện quan hệ quốc tế là danh nghĩa quốc gia hay tổ chức quốc tế (tức danh nghĩa của chủ thể Luật Quốc tế)
1.2.3 Nội dung của Điều ước quốc tế
Vấn đề nội dung của ĐƯQT có liên quan chặt chẽ với việc khẳng định
ý chí thỏa thuận giữa các chủ thể kết ước, cơ sở cho việc thiết lập các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý quốc tế của thành viên ĐƯQT Các chủ thể kết ước thỏa thuận với nhau về nội dung quyền, nghĩa vụ theo điều ước thông
Trang 22qua xây dựng các quy phạm điều ước Tùy thuộc vào đối tượng và lĩnh vực ký kết mà nội dung của điều ước có các loại quy phạm khác nhau, như quy phạm Jus cogens, quy phạm tùy nghi, quy phạm xung đột.
Về cơ bản, nội dung của ĐƯQT chủ yếu chứa đựng loại quy phạm trực tiếp điều chỉnh quyền, nghĩa vụ của chủ thể tham gia quan hệ điều ước, kết quả của các thỏa thuận thành công giữa các bên Tuy nhiên, trong một số văn bản điều ước, như điều ước ký kết trong lĩnh vực tư pháp quốc tế, bên cạnh quy phạm điều chỉnh quyền nghĩa vụ của chủ thể còn tồn tại loại quy phạm mang tính chất dẫn chiếu hoặc chọn luật (quy phạm đặc thù) Tính pháp lý của văn bản điều ước được đặc trưng bởi nội dung chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc tế nêu trên Dựa vào dấu hiệu nội dung, có thể phân biệt được ĐƯQT với các văn kiện chính trị mà các quốc gia tuyên bố trong các quan hệ hợp tác quốc tế
1.2.4 Luật điều chỉnh quan hệ ký kết và thực hiện ĐƯQT
Những yếu tố về hình thức, nội dung của ĐƯQT, chủ thể ký kết ĐƯQT
có quan hệ mật thiết với điều kiện về Luật áp dụng điều chỉnh quan hệ ký kết
và thực hiện ĐƯQT Một thỏa thuận quốc tế giữa hai quốc gia sẽ không có giá trị của một ĐƯQT, nếu quan hệ thỏa thuận đó không được điều chỉnh bằng Luật Quốc tế Quá trình hình thành các văn bản ĐƯQT phải được tiến hành
trên cơ sở các quy định của Luật Quốc tế, mà trực tiếp là các quy định trong
Công ước Viên 1969
Cùng với yếu tố chủ thể, điều kiện về luật áp dụng là dấu hiệu để phân biệt một thỏa thuận quốc tế là ĐƯQT với một văn bản thỏa thuận có giá trị là hợp đồng quốc tế Chẳng hạn, khi thỏa thuận được hình thành bởi các quốc gia nhưng Luật áp dụng điều chỉnh quan hệ đó là luật quốc gia của một trong các bên ký kết thì văn bản hình thành không có giá trị pháp lý của ĐƯQT
Trang 231.2.5 Vai trò của Điều ước quốc tế
Quan hộ quốc tế giữa các quốc gia diễn ra trong điều kiện hết sức đa dạng, khác biệt về bản sắc văn hoá cùng các điều kiện về chính trị-kinh tế-xã hội Hình thành và phát triển trong điều kiện quan hệ quốc tế đó, ĐƯQT có chức năng duy trì và ổn định tương đối trật tự pháp lý quốc tế, giữ gìn quan hệ bình đẳng giữa các quốc gia, đảm bảo hài hoà giữa lợi ích cộng đồng quốc tế
và lợi ích quốc gia, đồng thời đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc
tế được thực thi, tuân thủ
ĐƯQT được ký kết bởi các quốc gia nhằm hướng đến và bảo vệ những lợi ích của quốc gia nói riêng và lợi ích chung của cả cộng đồng quốc tế nói chung Những thoả thuận của các quốc gia thể hiện trong nội dung của ĐƯQT
là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực thi nghĩa vụ thành viên ĐƯQT, kể
cả việc áp dụng các quy định của ĐƯQT để giải quyết những tranh chấp phát sinh trong quá trình thực thi, tuân thủ ĐƯQT và các nghĩa vụ thành viên
Trong mối quan hệ với các hình thức pháp luật khác, ĐƯQT ngày càng khẳng định vị trí nguồn cơ bản của Luật quốc tế, ảnh hưởng mạnh mẽ đến hệ thống pháp luật quốc gia Sự phát triển và vai trò của ĐƯQT đang chứng minh những thay đổi về cơ cấu trong hệ thống quy phạm pháp luật quốc tế, đồng
thời góp phần duy trì trật tự pháp lý quốc tế, thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc
tế nói chung và hội nhập pháp luật nói riêng
Ngày nay, ĐƯQT càng khẳng định vai trò là công cụ pháp lý quan trọng
mà cộng đồng quốc tế sử dụng để đặt nền móng và thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc tế phát triển mạnh mẽ và là cầu nối giữa các quốc gia, các dân tộc
1.3 KÝ KẾT ĐIỂU ƯỚC QUỐC TÊ
Hành vi pháp lý của chủ thể kết ước (hành vi ký kết) là xử sự của các đại diện ký kết ĐƯQT theo trình tự, thủ tục quy định trong Công ước Viên
1969 và pháp luật mỗi quốc gia, nhằm hình thành văn bản và tạo hiệu lực pháp
!
Trang 24lý cho văn bản ĐƯQT đó Quá trình hình thành một ĐƯQT thường được chủ thể kết ước tiến hành bằng nhiều hành vi pháp lý khác nhau như hành vi đàm phán, soạn thảo, thông qua, ký, phê chuẩn, phê duyệt Trên thực tiễn ký kết ĐƯQT, các hành vi pháp lý nêu trên có thể được phân biệt thành hai nhóm cơ bản và có giá trị pháp lý quốc tế khác nhau trong cùng một quan hệ ĐƯQT.
1.3.1 Nhóm hành vi xây dựng văn bản điều ước
Các hành vi đàm phán, soạn thảo, và thông qua văn bản điều ước quốc
tế là những hành vi pháp lý chính thức, thể hiện xử sự của chủ thể ký kết, nhằm hình thành hình thức vật chất để ghi nhận kết quả của các thỏa thuận song phương hoặc đa phương Hiệu lực pháp lý của nhóm hành vi này phụ thuộc một phần rất quan trọng vào việc từng chủ thể ký kết phải tuân thủ các quy định của pháp luật quốc tế và quốc gia về trình tự, thủ tục xác định thẩm quyền và tư cách đại diện hợp pháp khi tham gia các hoạt động ký kết điều ước quốc tế ở giai đoạn hình thành văn bản dự thảo điều ước quốc tế
Văn bản chính thức của một ĐƯQT được xây dựng sau khi đã được đàm phán, thông qua và được các quốc gia đàm phán xác thực văn bản Đàm phán được coi là giai đoạn đầu tiên của quá trình ký kết các ĐƯQT Văn bản
dự thảo ĐƯQT đã chuẩn bị từ trước do các bên tham gia đàm phán tự dự thảo
và sau khi đàm phán thành công thì các bên sẽ tiến hành soạn thảo văn bản chính thức để các bên thông qua Thực chất của đàm phán là quá trình thương lượng, đấu tranh để đi đến thoả thuận thống nhất [14,78], là việc các quốc gia thoả thuận một cách tự nguyện bình đẳng với nhau về các quyền và nghĩa vụ nhằm nắm bắt cái chung và bảo vệ lợi ích riêng của mỗi bên Quá trình đàm phán là một giai đoạn mang tính quyết định đến nội dung của các nghĩa vụ đã được trù tính trong văn bản dự thảo [45,29] Đây là một giai đoạn thường tốn nhiều thời gian Vì vậy, để tránh việc thoả thuận bị kéo dài hoặc bế tắc, đàm phán luôn đòi hỏi sự thiện chí rất lớn từ cả các bên tham gia Nếu đàm phán thành công, văn bản dự thảo sẽ soạn thảo chính thức để các bên thông qua
Trang 25Thông qua văn bản không phải là một hành vi thể hiện sự ràng buộc đối
với một ĐƯQT của các chủ thể thực hiện hành vi đó, trừ những trường hợp
được áp dụng theo nguyên tắc khác [37,66] Theo Chú thích của Uỷ ban Luật
quốc tế: “Thông qua văn bản của một ĐƯQT hầu như luôn diễn ra bằng sự
đồng ý của tất cả các quốc gia thảo luận và có thể nói rằng nhất trí là nguyên
tắc chung” Văn bản đã được các bên thống nhất thông qua là văn bản cuối
cùng Xác thực văn bản có thể là một hành động nhưng cũng có thể là một thủ
tục [37] Thực chất của hoạt động này nhằm công nhận một văn bản là xác
thực và sau đó nó không bị biến đổi
1.3.2 Nhóm hành vi nhằm thực hiện sự ràng buộc về pháp lý với tư cách là thành viên điều ước quốc tê
Theo điều 11 Công ước Viên 1969, hành vi nhằm ràng buộc với nghĩa
vụ thành viên ĐƯQT của chủ thể ký kết được quy định dưới những hình thức
pháp lý đa dạng, như Ký, Phê chuẩn, Phê duyệt, Chấp thuận, và trong nhiều
trường hợp, tư cách thành viên của điều ước quốc tế đối với một chủ thể còn
có thể hình thành theo cách thức Gia nhập điều ước Các hành vi trên cơ bản
có cùng chung bản chất pháp lý vì đều hướng đến cùng một mục đích là tạo
hiệu lực thi hành cho điều ước và hiệu lực thực hiện trên lãnh thổ của quốc gia
thành viên Tuy nhiên, trong quá trình thiết lập quan hệ điều ước quốc tế, hành
vi ký, phê chuẩn, phê duyệt, chấp thuận hoặc gia nhập mà các chủ thể tiến
hành, thể hiện mức độ chấp thuận của chủ thể ký kết đối với ĐƯQT, vẫn có sự
phân biệt nhất định về giá trị hiệu lực Chẳng hạn, hành vi ký chỉ có thể tạo
hiệu lực pháp lý cho điều ước, nếu điều ước đó không quy định phải qua thủ
tục phê chuẩn
* Ký là biểu hiện chung nhất cho việc thể hiện sự ràng buộc của điều ước đối với các chủ thể một cách chính thức Thực tiễn hoạt động ký kết
ĐƯQT cho thấy có 3 hình thức ký ĐƯQT là ký tắt, ký ad reíerendum và ký
đầy đủ Trong các hình thức ký đó, ký đầy đủ là hình thức phổ biến nhất và
Trang 26ĐƯQT song phương có thể phát sinh hiệu lực ngay sau khi ký đầy đủ nếu các
bên có thoả thuận như vậy Ký ad reíerendum cũng có thể được coi là ký cuối
cùng nếu được quốc gia có hành vi đó xác nhận (Điều 16 khoản 2 Công ước
Viên 1969) Trong quan hệ quốc tế hiện nay, xuất hiện ngày càng nhiều
những ĐƯQT, chủ yếu là các ĐƯQT song phương, quy định có hiệu lực ngay
sau khi ký đầy đủ [14,80]
Trường hợp điều ước quy định phải phê chuẩn hoặc các chủ thể ký kết
có thỏa thuận về việc phê chuẩn thì hành vi ký không phải là hành vi pháp lý
có giá trị cao nhất đối với việc tạo ra hiệu lực pháp luật cho một điều ước quốc
tế Công ước Viên 1969 về luật ĐƯQT đã coi phê chuẩn như là “một hành vi
quốc tế” được “các quốc gia thực hiện để xác nhận trên phương diện quốc tế
đồng ý chấp nhận sự ràng buộc của một điều ước” (điều 2 khoản 1) Hành vi
phê chuẩn làm phát sinh hiệu lực của ĐƯQT đối với quốc gia hay không phụ
thuộc vào chính quy định của ĐƯQT đó Ví dụ Công ước Viên 1969 về luật
ĐƯQT yêu cầu tại điều 82 “Công ước này sẽ phải được phê chuẩn bởi các
quốc gia” Phê chuẩn điều ước thường biểu hiện sự ràng buộc cao nhất của
chủ thể ký kết, do cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước (Quốc hội) hoặc
do người đứng đầu nhà nước (Chủ tịch nước hay Tổng thống ) tiến hành
Pháp luật các quốc gia có quy định rất khác nhau về thẩm quyền, thủ tục phê
chuẩn ĐƯQT
Hầu hết các ĐƯQT song phương đều quy định yêu cầu các quốc gia tiến
hành việc phê chuẩn bằng việc trao đổi những văn bản cần thiết Đối với các
ĐƯQT đa phương thủ tục liên quan đến phê chuẩn thường được giao cho một
quốc gia- cơ quan lưu chiểu- nhằm tập hợp việc phê chuẩn của tất cả quốc gia
khác và duy trì thông tin giữa các quốc gia thành viên trong mọi tình huống
* Phê duyệt hoặc chấp thuận ĐƯQT có hiệu lực pháp lý tương tự như phê chuẩn, trừ khi ĐƯQT có quy định khác Hoạt động phê duyệt, chấp thuận
Trang 27ĐƯQT với hoạt động phê chuẩn ĐƯQT, dưới góc độ khoa học và thực tiễn,
không có sự khác biệt về mặt nội dung và ý nghĩa pháp lý
* Gia nhập ĐƯQT là biểu thị sự đồng ý của một quốc gia chấp nhận sự ràng buộc đối với một ĐƯQT đa phương mà quốc gia đó không ký ĐƯQT
trong thời hạn điều ước đó mở ra cho các quốc gia ký Các chủ thể của luật
quốc tế cũng chỉ có thể tiến hành gia nhập vào một ĐƯQT nếu ĐƯQT cho
phép hoặc được các thành viên của ĐƯQT thoả thuận chấp nhận Hầu hết các
ĐƯQT đa phương đều cho phép các quốc gia nhập ngoại trừ một số trường
hợp nhất định Thủ tục gia nhập một ĐƯQT được quy định ngay trong nội
dung của ĐƯQT Việc gia nhập một ĐƯQT có thể tiến hành ngay cả trước
khi ĐƯQT có hiệu lực như Công ước Viên 1969 quy định “sẽ có hiệu lực vào
ngày thứ 30 kể từ ngày văn kiện phê chuẩn hoặc gia nhập thứ 35 được lưu
chiểu”(Điều 83 ,84)
Cách thể hiện của chủ thể ký kết hoặc gia nhập chấp nhận sự ràng buộc
đối với một ĐƯQT có thể thông qua các hình thức được quy định trong điều
16 của Công ước Viên 1969 như trao đổi các văn kiện, lưu chiểu các văn kiện
tại các cơ quan lưu chiểu hoặc thông báo về những văn kiện này cho các quốc
gia ký kết hoặc cho cơ quan lưu chiểu nếu ĐƯQT có thỏa thuận như vậy Điều
lưu ý quan trọng mà Công ước Viên 1969 đặt ra cho mỗi thành viên liên quan
đến quá trình thực hiện các hành vi ràng buộc với ĐƯQT là nghĩa vụ không
làm trái với đối tượng và mục đích của một ĐƯQT trước khi điều ước này có
hiệu lực Cần thiết phải nhấn mạnh điều quy định này trong Công ước vì “sự
kiềm ch ế của các quốc gia ký kết đ ể không thực hiện các hành vi có thể hủy
hoại đối tượng hay mục tiêu của điều ước trong trường hợp điều ước đó chưa
có hiệu lực hoặc chưa phát sinh hiệu lực đối với quốc gia gia nhập, chấp
thuận điều ước là một sự bảo đảm cần thiết cho lợi ích chung của các quan hệ
điều ước đang hoặc s ẽ hình thành ”[2,46]
Trang 281 4 BẢO LƯU ĐIỂU ƯỚC QUỐC TÊ
Phù hợp với mục đích ký kết ĐƯQT, lợi ích của các nước thành viên, Công ước Viên 1969 thừa nhận bảo lưu là biểu hiện cụ thể của việc thực hiện chủ quyền quốc gia trong hoạt động ký kết ĐƯQT Điều 2 Công ước định
nghĩa “Bảo lưu ĐƯQT là hành động đơn phương bất kể cách viết hoặc tên gọi
như th ế nào của một quốc gia đưa ra khi ký, phê chuẩn, phê duyệt hoặc gia nhập điều ước đố, nhằm qua đó loại trừ hoặc thay đổi hiệu lực của một hoặc một sô'quy định của điều ước trong việc áp dụng chúng đối với quốc gia đ ó ”
Thực chất của hành vi bảo lưu ĐƯQT là việc giải thoát cho quốc gia ký kết khỏi nghĩa vụ thực thi một số các điều khoản của điều ước do việc thực thi một
số điều khoản đó dẫn tới khả năng gây bất lợi cho quốc gia thành viên [2,46]
Mặc dù Công ước Viên 1969 không phân biệt cũng như không chỉ ra bảo lưu được áp dụng cho loại ĐƯQT nào, nhưng rõ ràng vấn đề bảo lưu chỉ đặt
ra đối với các ĐƯQT đa phương Quyền bảo lưu không phải là tuyệt đối mà nó
bị hạn chế Các quốc gia có quyền bảo lưu khi tiến hành ký kết ĐƯQT đa phương, trừ khi ĐƯQT đó cấm bảo lưu hoặc hạn chế bảo lưu ĐƯQT đa phương có điều khoản cấm bảo lưu thì quốc gia thành viên của ĐƯQT không thể tiến hành quyền bảo lưu như quy định của điều 309 Công ước luật Biển
1982 Trong một số trường hợp khác, các quốc gia thành viên chỉ có thể tiến hành bảo lưu đối với những điều khoản nhất định mà ĐƯQT cho phép ví dụ Điều 24 Công ước Chicago về Hàng không dân dụng Hoạt động bảo lưu ảnh hưởng trực tiếp tới giá trị hiệu lực của ĐƯQT nên việc tuyên bố bảo lưu, rút bảo lưu, chấp thuận hoặc phản đối bảo lưu đều phải được trình bày bằng văn bản và thông báo cho các bên liên quan
ĐƯQT song phương không thể đặt ra vấn đề bảo lưu vì nó là kết quả của
sự thoả thuận thành công giữa hai chủ thể Những bất đồng giữa chủ thể của
Trang 29ĐƯQT song phương phải được các bên thống nhất thoả thuận để ĐƯQT có thể
ra đời
Ý nghĩa của mỗi hành vi khác nhau trong hoạt động bảo lưu, từ việc đưa
ra bảo lưu đến việc rút bảo lưu, chấp thuận hoặc phản đối bảo lưu sẽ đưa tới những hệ quả pháp lý khác nhau, nhưng đều có một mục đích chung là đảm bảo quyền tự quyết của các quốc gia trong việc tham gia vào ĐƯQT, cũng như chứng minh ĐƯQT là sự thoả thuận tự nguyện giữa các quốc gia
1.5 HIỆU L ự c CỦA ĐIỂU ƯỚC QUỐC TÊ
Vẩn đề hiệu lực của ĐƯQT chiếm một vị trí khá quan trọng trong nội dung của Công ước Hiệu lực của ĐƯQT gắn liền với hoạt động thực hiện ĐƯQT
1.5.1 Điều kiện có hiệu lực của một điều ước quốc tế
Về khách quan, một ĐƯQT chỉ phát sinh hiệu lực khi đáp ứng được điều kiện tiên quyết là tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế Theo tinh thần các nguyên tắc trong Công ước Viên 1969, việc ký kết và thực hiện ĐƯQT không được trái với quy phạm jus congens của Luật Quốc tế và các quy phạm pháp luật về ĐƯQT Quy phạm jus congens của pháp luật quốc tế được hiểu là một quy phạm được toàn thể cộng đồng các quốc gia chấp thuận và công nhận, là một quy phạm không cho phép bất kỳ vi phạm nào và chỉ được sửa đổi bằng một quy phạm có sau của pháp luật quốc tế chung có cùng một tính chất (Điều 53 Công ước Viên 1969) Theo quan điểm này, một ĐƯQT nếu
có nội dung xung đột với những quy phạm jus congens thì ĐƯQT đó sẽ không
có hiệu lực pháp lụât
Như vậy, tuy Công ước Viên 1969 không liệt kê cụ thể các quy phạm Jus cogens của Luật Quốc tế nhưng bất cứ một điều ước nào, dù chỉ chứa đựng trong nó một điều khoản trái với quy phạm jus congens cũng sẽ vô hiệu (vô hiệu tuyệt đối) Bên cạnh đó, một ĐƯQT chỉ có hiệu lực pháp luật khi quan hệ điều ước được thực hiện thông qua hành vi pháp lý quốc tế của các chủ thể có
Trang 30thẩm quyền theo quy định của Công ước Viên 1969 và pháp luật quốc gia các nước thành viên Điều 46 Công ước Viên 1969 chỉ rõ: một ĐƯQT sẽ có thể không có giá trị ràng buộc đối với một quốc gia, nếu khi ký kết đã có sự vi phạm “quá rõ ràng” và liên quan đến một quy tắc “có tính chất cơ bản” của pháp luật quốc gia Nói cách khác, ĐƯQT sẽ không có hiệu lực pháp luật nếu
nó không thoả mãn những quy định về thẩm quyền ký kết, sự tự do ý chí của chủ thể kết ước và tuân theo những trình tự, thủ tục ký kết ĐƯQT mà Luật Quốc tế nói chung, Luật Điều ước quốc tế nói riêng và pháp luật của quốc gia thành viên đã quy định
Để một ĐƯQT phát huy được vai trò điều chỉnh có hiệu quả, theo đúng mục đích đã đặt ra thì cần phải xác định giới hạn hiệu lực của ĐƯQT Hiệu lực của một ĐƯQT là phạm vi tác động của ĐƯQT, được giới hạn theo không gian, thời gian và đối tượng tác động
1.5.2 Hiệu lực theo thời gian và không gian của Điều ước quốc tế
* Hiệu lực của điều ước về thời gian
Về nguyên tắc, một ĐƯQT có hiệu lực theo thể thức và thời gian được quy định trong ĐƯQT, do thoả thuận giữa các quốc gia thành viên Thời gian tồn tại của một ĐƯQT được đánh dấu từ thời điểm khi ĐƯQT bắt đầu có hiệu lực cho đến khi ĐƯQT chấm dứt hiệu lực hoặc bị huỷ bỏ Thời điểm có hiệu lực của ĐƯQT được các quốc gia thoả thuận và có thể được quy định ngay trong điều ước Nếu các bên tham gia không có sự thoả thuận về hiệu lực thì
cơ quan lưu chiểu thường xác định hoặc tư vấn cho các nước có lợi ích liên quan về thời điểm phát sinh hiệu lực của ĐƯQT
Đối với ĐƯQT song phương, hiệu lực của ĐƯQT được xác định từ thời điểm mà hai bên ký hoặc theo ngày thỏa thuận như đã ghi nhận tại văn bản trao đổi việc phê chuẩn ĐƯQT
Trang 31Đối với trường hợp ĐƯQT đa phương, thời điểm có hiệu lực của ĐƯQT sẽ là ngày cụ thể, kể từ khi các quốc gia nộp những văn bản lưu chiểu cuối cùng thể hiện việc phê chuẩn hoặc gia nhập theo quy định của ĐƯQT Trên cơ sở thoả thuận của các bên, ĐƯQT có thể có hiệu lực khi có một số lượng nhất định các thành viên tham gia hoặc được quy định cụ thể trong điều ước, (ví dụ thời điểm có hiệu lực của Công ước Viên 1969 được quy định tại Điều 84) Mặt khác, các quốc gia có thể trở thành thành viên của ĐƯQT đa phương theo cách thức không hoàn toàn giống nhau Do đó, thời điểm phát sinh hiệu lực của ĐƯQT với từng thành viên cũng có thể không tại cùng một thời điểm Trong trường hợp, ĐƯQT đa phương yêu cầu các quốc gia thành viên phải thực hiện thủ tục phê chuẩn thì hiệu lực của ĐƯQT có thể được ấn định trong văn bản hoặc được xác định thời gian cụ thể sau đó (Điều 45, Công ước Châu Âu 1995) Trong trường hợp ĐƯQT không có điều khoản quy đinh hiệu lực và các bên không có thoả thuận gì về vấn đề này thì ĐƯQT sẽ phát sinh hiệu lực ngay sau khi các nhà nước thể hiện chấp nhận sự ràng buộc đối với điều ước theo quy định của Điều 24 khoản 2 Công ước Viên 1969.
Tuy nhiên, hiệu lực thực tế của một ĐƯQT có thể phát sinh trước khi điều ước chính thức có hiệu lực pháp luật Từ thời điểm mà văn bản được thông qua, một số chế định về việc xác thực văn bản, biểu thị sự đồng ý của quốc gia chấp nhận sự ràng buộc, quyền của quốc gia thành viên, thể thức và thời gian có hiệu lực của điều ước, vấn đề bảo lưu, chức năng của những cơ quan lưu chiểu hay tất cả những vấn đề tất yếu khác đã được các bên ký kết thực hiện ngay trước thời điểm ĐƯQT có hiệu lực chính thức theo quy định của Điều 24 khoản 4 Công ước Viên 1969 Hiệu lực thực tế của ĐƯQT phát sinh khi điều ước có điều khoản quy định về việc thi hành tạm thời trong lúc chờ đợi ĐƯQT hiệu lực chính thức
ĐƯQT hết hiệu lực là những ĐƯQT không còn giá trị ràng buộc đối với các bên ký kết Việc chấm dứt hiệu lực của ĐƯQT có thể là vĩnh viễn, có
Trang 32thể là tạm thời, có thể đối với toàn bộ hay chỉ một phần nội dung của điều ước
Cơ sở của việc kết thúc hiệu lực của ĐƯQT rất đa dạng, có thể dựa trên căn cứ
sự thoả thuận của các bên hoặc do hành vi đơn phương của một bên, có thể được quy định trước hoặc không, có thể do nguyên nhân khách quan cũng có thể do nguyên nhân chủ quan Phần thứ năm của Công ước Viên 1969 (từ Điều 42 đến Điều 45; Điều 54 đến Điều 64) đã chỉ ra những điều kiện, hoàn cảnh mà một ĐƯQT có thể bị bãi bỏ, chấm dứt, rút khỏi điều ước hoặc đình chỉ thi hành và vô hiệu Điều 42 của Công ước Viên 1969 về Luật ĐƯQT là
cơ sở pháp lý chỉ ra những nguyên tắc cơ bản cho việc chấm dứt hiệu lực của một điều ước Điều 65 đến Điều 68 của Công ướcViên 1969 chỉ ra thủ tục cần thiết phải tiến hành trong trường hợp ĐƯQT vô hiệu, chấm dứt, rút khỏi hoặc tạm đình chỉ thi hành
Hầu hết các ĐƯQT nói chung đều quy định về thời gian có hiệu lực và việc chấm dứt hiệu lực của ĐƯQT Các ĐƯQT đa phương phần lớn đều quy định vấn đề hiệu lực theo thời gian của điều ước Ngược lại, có rất nhiều các ĐƯQT song phương lại không quy định thời gian có hiệu lực của ĐƯQT, bởi hiệu lực của ĐƯQT song phương thường chấm dứt khi có một bên yêu cầu Còn khi các bên không chắc chắn trong việc trù tính ĐƯQT sẽ tồn tại được bao lâu thì trong điều ước cũng có thể có một điều khoản được xây dựng kèm theo quy định ĐƯQT có thể được mở rộng khi hết hiệu lực như quy định của Thoả thuận hợp tác văn hoá giữa Slovenia và Vương quốc Anh
Công ước Viên 1969 quy định không áp dụng hiệu lực hồi tố (Điều 4) Liên quan đến vấn đề này, Điều 28 Công ước Viên khẳng định quy tắc
“ĐƯQT không có hiệu lực hồi tố, trừ khi các bên ký kết có ý định khác hoặc được xác nhận bằng một cách khác” Căn cứ vào quy tắc này, một ĐƯQT sẽ không quy định trách nhiệm pháp lý đối vói bất cứ một quốc gia thành viên nào về một hành vi thực tế vi phạm nội dung điều ước của quốc gia đã xảy ra
và chấm dứt trước thời điểm điều ước đó có hiệu lực
Trang 33* Hiệu lực của ĐƯQT theo không gian
Phạm vi tác động của ĐƯQT rộng hay hẹp tuỳ thuộc vào ĐƯQT song phương hay đa phương tức là tuỳ thuộc vào số lượng các nước thành viên tham gia, trừ khi ĐƯQT có quy định khác (Điều 29 Công ước Viên 1969) Giới hạn tác động theo không gian của ĐƯQT được xác định là phạm vi toàn bộ lãnh thổ của các quốc gia thành viên
Tuy nhiên, theo Công ước Viên 1969 và thực tiễn ký kết, thực hiện ĐƯQT thì không phải mọi ĐƯQT đều chỉ có hiệu lực pháp lý trong phạm vi lãnh thổ của các quốc gia thành viên Có những ĐƯQT (như ĐƯQT về vấn đề liên minh giữa các quốc gia) thì hiệu lực của ĐƯQT được áp dụng đối với các hoạt động của quốc gia thành viên cả ở bên ngoài lãnh thổ quốc gia của nó Một ĐƯQT song phương có thể có quy định hiệu lực mở rộng ra ngoài biên giới quốc gia của các nước thành viên khi ĐƯQT liên quan tới vấn đề như thuế quan, buôn bán ma tuý, vấn đề bảo hộ đầu tư, vấn đề dẫn độ tội phạm Mặt khác, dù không thường xuyên, nhưng nhiều ĐƯQT đa phương như Điều lệ của
Tổ chức Lao động quốc tế cũng cho phép các quốc gia được giới hạn phạm vi lãnh thổ hải ngoại chịu sự tác động của ĐƯQT (Điều 35) Trong trường hợp ĐƯQT không có hoặc không quy định một cách rõ ràng việc áp dụng đối với tất cả các vùng lãnh thổ của các quốc gia thành viên, thì mỗi quốc gia thành viên có thể chỉ ra giới hạn hiệu lực của nó đối với lãnh thổ hải ngoại của quốc gia mình một cách rõ ràng khi ký hoặc phê chuẩn ĐƯQT [37,165]
Công ước Viên 1969 cũng không xác định rõ hiệu lực giới hạn về không gian của từng ĐƯQT Vấn đề này được quyết định bởi các bên tham gia các ĐƯQT, dựa trên cơ sở ý chí thoả thuận của các quốc gia thành viên
1.5.3 Hiệu lực của Điều ước quốc tê theo đối tượng tác động
Đối tượng tác động của văn bản pháp luật nói chung bao gồm các cá nhân, tổ chức và các mối quan hệ mà văn bản đó cần phát sinh hiệu lực Thông
Trang 34thường, các vãn bản pháp luật tác động đến tất cả mọi đối tượng trong phạm vi lãnh thổ mà văn bản đó phát huy hiệu lực về thời gian và không gian [14,371].
Về nguyên tắc, ĐƯQT chỉ phát sinh hiệu lực đối với những quốc gia đã chấp thuận sự ràng buộc của điều ước Việc thể hiện sự ràng buộc của quốc gia đó đối với ĐƯQT không phải chỉ bằng hành vi ký mà còn bằng rất nhiều hành vi khác như phê chuẩn, chấp thuận, trao đổi văn kiện cấu thành điều ước, gia nhập
Xuất phát từ thực tiễn pháp lý, Công ước Viên 1969 đã quy định một ĐƯQT có thể tác động đến các quốc gia không phải là thành viên của ĐƯQT nếu quốc gia đó tự nguyện chấp nhận Điều 34 nhấn mạnh ĐƯQT song phương cũng như đa phương không hình thành bất cứ một quyền hoặc nghĩa
vụ nào đối với một quốc gia không phải là thành viên của điều ước (hay còn gọi là bên thứ ba) nếu không có sự đồng ý của bên đó Ngược lại, quyền và nghĩa vụ của nước thứ ba không thể phát sinh từ ĐƯQT nếu ĐƯQT không đưa ra quy định đối với các bên thứ 3 này Điều 35 và 36 của Công ước Viên
1969 về luật ĐƯQT đã làm sáng tỏ những nguyên tắc chung trong việc đặt ra những hoàn cảnh, điều kiện mà một ĐƯQT có thể áp dụng đối với bên thứ ba, mặc dù không phải là thành viên của điều ước nhưng vẫn chấp thuận gánh vác quyền và nghĩa vụ một cách tự nguyện Nghĩa vụ của quốc gia thứ ba chỉ hình thành khi các bên thành viên của điều ước đã có thoả thuận như vậy và quốc gia thứ ba có văn bản chấp thuận rõ ràng nghĩa vụ này Việc quốc gia thứ ba
có chấp thuận nghĩa vụ của điều ước cũng không có nghĩa là quốc gia đó đã trở thành thành viên của điều ước
Bên cạnh đó, không có bất cứ một quy tắc nào của Luật Quốc tế loại trừ việc hai hoặc nhiều nước ký kết một điều ước với những quy định dành quyền
ưu đãi cho một quốc gia khác, nếu những quyền này không trái với những quy tắc chung của Luật Quốc tế và không xâm phạm tới an ninh toàn cầu Đây là trường hợp điều ước tạo ra quyền cho một quốc gia thứ ba hoặc một nhóm các
Trang 35quốc gia nếu được các quốc gia thành viên thoả thuận và nếu quốc gia hoặc nhóm các quốc gia thứ ba đồng ý chấp thuận Công ước Viên 1969 cũng điều chỉnh vấn đề khi các nước thành viên điều ước quyết định huỷ bỏ hoặc sửa đổi các nghĩa vụ đối với quốc gia thứ ba, trừ khi có xác nhận là các quốc gia này
có thoả thuận khác thì quyền của quốc gia thứ ba phát sinh từ điều ước cũng không thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ, nếu không có sự đồng ý của quốc gia thứ ba (Điều 37 khoản 1,2 Côngước Viên 1969)
Ngoài ra, đối tượng tác động của ĐƯQT không chỉ bó hẹp trong phạm
vi tác động là các nước thành viên mà còn mở rộng ra đối với các nước không phải là thành viên của ĐƯQT Công ước Viên 1969 không ngăn cản việc các nước không phải là thành viên viện dẫn bất cứ một quy định nào của ĐƯQT với tính chất của Luật Tập quán quốc tế Trên thực tế, các quy định của Công ước Viên 1969 đã được các quốc gia thứ ba viện dẫn rất nhiều trong hoạt động
ký kết và thực hiện ĐƯQT dưới góc độ tập quán pháp lý quốc tế
1.6 THỰC HIỆN ĐIỂU Ước QUỐC TẾ
ĐƯQT đã được ký kết phải được thực thi trên thực tế bởi các quốc gia thành viên Cho đến nay, Luật pháp quốc tế và Luật điều ước quốc tế nói chung cũng như Công ước Viên 1969 nói riêng chỉ quy định nghĩa vụ thực hiện các ĐƯQT mà không quy định về cách thức, trình tự tổ chức triển khai thực hiện ĐƯQT cho các chủ thể cam kết Pháp luật quốc tế không thể xây dựng một quy trình chung cho vấn đề này vì không thể dự liệu hết các vấn đề phát sinh phong phú và đa dạng trong điều kiện hoàn cảnh khác nhau của các nước thành viên Do vậy, pháp luật quốc tế chỉ yêu cầu các quốc gia thành viên đảm bảo ghi nhận việc thực hiện ĐƯQT trong Hiến pháp của mình [40,23] Nguyên tắc cơ bản cho việc tổ chức thực hiện ĐƯQT này là các quốc gia phải tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế
Trang 36Nội dung của đa số các ĐƯQT đều không quy định cụ thể cách thức thực hiện ĐƯQT tại các quốc gia thành viên nên việc thực hiện ĐƯQT thuộc thẩm quyền nội bộ của mỗi quốc gia Tuy nhiên, cũng có ĐƯQT lại quy định
rõ ràng cách thức thực hiện thông qua yêu cầu nội luật hoá các quy định của ĐƯQT vào trong pháp luật quốc gia, ví dụ như đối với loại công ước quốc tế được ký kết trong lĩnh vực về quyền con người hay Công ước CEDAW Một
số ĐƯQT đa phương quy định yêu cầu báo cáo định kỳ về các biện pháp mà quốc gia thành viên đã sử dụng nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các điều khoản của điều ước, ví dụ như Điều 44 Công ước quốc tế về quyền trẻ em, Điều 9 Công ước về Loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc
Thực hiện ĐƯQT thể hiện dưới rất nhiều hoạt động, được điều chỉnh trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Những hành vi pháp lý cơ bản nhất thể hiện việc thực hiện ĐƯQT của các chủ thể ký kết là đăng ký ĐƯQT, giải thích ĐƯQT, xây dựng cơ chế pháp lý quốc gia về chuyển hoá ĐƯQT
Đăng ký điều ước đã được các bên thoả thuận thành công là một trong những yêu cầu của pháp luật quốc tế được ghi nhận trong Hiến chương của Liên Hợp quốc Trường hợp nếu điều ước có sửa đổi bổ^ung trong quá trình thực hiện thì việc sửa đổi bổ ^ung cũng phải được đăng ký Điều 80 Công ước Viên 1969 yêu cầu các quốc gia thành viên phải đăng ký bất cứ một ĐƯQT nào nếu nó đã phát sinh hiệu lực đối với quốc gia đó v ề nguyên tắc, hiệu lực của ĐƯQT không bị ảnh hưởng bởi việc đăng ký Nếu không được đăng ký thì không quốc gia thành viên nào của điều ước được quyền viện dẫn điều ước
đó trước các cơ quan của LHQ (Điều 102, Hiến chương Liên hợp quốc) Như vậy, pháp luật quốc tế không đặt ra nghĩa vụ của việc đăng ký ĐƯQT nhưng chỉ ra những hậu quả pháp lý của việc không đăng ký này
Giải thích ĐƯQT là yêu cầu của hoạt động thực hiện ĐƯQT Vấn đề giải thích ĐƯQT là trách nhiệm của các bên tham gia Vai trò của việc giải thích ĐƯQT không chỉ là việc kiểm tra nghĩa thông thường của thuật ngữ
Trang 37trong văn bản mà còn là việc hướng đến sự logic vốn có của điều ước nhằm
xác nhận và làm sáng tỏ những điều mà các quốc gia tham gia mong muốn đạt
được Công ước Viên 1969 quy định các quy tắc chung trong việc giải thích
điều ước tại Điều 31,32, 33 Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động giải thích là
sự thiện chí của các quốc gia thành viên
Cơ chế và việc triển khai cụ thể nhằm thực hiện các nghĩa vụ pháp lý đã
cam kết trong ĐƯQT hoàn toàn do quốc gia thành viên tiến hành, xuất phát từ
điều kiện kinh tế- xã hội, chính trị- pháp lý của mỗi quốc gia Biểu hiện rõ nét
nhất của thực hiện ĐƯQT là việc các quốc gia xử lý mối quan hệ giữa ĐƯQT
và pháp luật quốc gia
1.7 MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐlỂU ƯỚC Quốc TẾ VÀ MỘT s ố HÌNH THỨC PHÁP LUẬT KHÁC
1.7.1 Mối quan hệ giữa ĐƯQT và tập quán quốc tế
Nhìn từ góc độ khoa học Luật Quốc tế, tập quán quốc tế là hình thức
pháp lý chứa đựng quy tắc xử sự chung, hình thành trong thực tiễn quan hệ
quốc tế và được các chủ thể Luật Quốc tế thừa nhận là luật Cũng như ĐƯQT,
tập quán quốc tế tồn tại và có thể bị thay đổi nếu nó không thích hợp với thực
tiễn điều chỉnh quan hệ quốc tế hoặc có sự xuất hiện tập quán mới
Điều 38(1) của Quy chế Tòa án quốc tế đã công nhận rộng rãi việc Tòa
án quốc tế (với chức năng của mình là cơ quan đưa ra các quyết định giải
quyết tranh chấp trên cơ sở pháp luật quốc tế), sẽ áp dụng tập quán quốc tế
như những bằng chứng được công nhận trong thực tiễn chung và được coi như
luật Quan niệm về tập quán quốc tế của Quy chế Tòa án quốc tế giúp làm
sáng tỏ các yếu tố pháp lý hình thành tập quán quốc tế Thứ nhất, đó là quy
tắc xử sự chung trong quan hệ của các quốc gia và được các quốc gia tuân thủ,
áp dụng một cách tự nguyện Thứ hai, quy tắc xử sự này được các quốc gia
thừa nhận có hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với mình [39,58]
Trang 38“ĐƯQT và tập quán quốc tế là những nguồn cơ bản của Luật Quốc tế” [37,10] Việc hình thành, tồn tại và huỷ bỏ các quy tắc của tập quán hay điều ước không phụ thuộc vào nhau và vào các nguồn khác của Luật quốc tế Lời
mở đầu của Công ước Viên 1969 khẳng định "những quy phạm của Luật Tập
quán quốc tế sẽ tiếp tục điều chỉnh những vấn đề chưa được quy định trong các điều khoản của công ước này Vì vậy, các quốc gia chưa gia nhập Cổng
ước vẫn có thể viện dẫn các quy phạm của Công ước dưới dạng các quy phạm tập quán Tính truyền thống, tính mềm dẻo là những ưu điểm riêng của tập quán quốc tế, vốn được các chủ thể Luật Quốc tế quan tâm khi lựa chọn nguồn luật áp dụng Điều này phần nào lý giải cho giá trị pháp lý và thực tiễn của tập quán quốc tế
Tuy nhiên, áp dụng loại nguồn nào của pháp luật quốc tế phụ thuộc vào
sự thoả thuận của các bên khi tham gia các quan hệ quốc tế Trong đó, việc ưu tiên áp dụng ĐƯQT như hiện nay là hoàn toàn phù hợp So với tập quán quốc
tế, ĐƯQT có nhiều ưu điểm vuợt trội Ưu thế của ĐƯQT so với tập quán quốc
tế thể hiện ở phương thức đạt được thoả thuận, hình thức vật chất hữu hiệu ghi nhận rõ ràng ý chí mức độ của sự ràng buộc về quyền và nghĩa vụ được thoả thuận giữa các quốc gia Đồng thời hình thức văn bản có giá trị lưu giữ lâu dài
và là căn cứ để viện dẫn một cách thuyết phục các quy phạm pháp luật Ưu tiên áp dụng ĐƯQT đã phản ánh sự thay đổi về cơ cấu thành phần quy phạm của luật quốc tế hiện đại, Nhưng, không vì vậy mà làm suy giảm đi vai trò của tập quán quốc tế trong điều chỉnh quan hệ quốc tế hiện đại
Tham gia điều chỉnh các quan hệ pháp luật quốc tế, ĐƯQT và tập quán quốc tế có mối quan hệ biện chứng với nhau Mối quan hệ này biểu hiện qua một số nét cơ bản sau:
Thứ nhất, sự tồn tại của một điều ước quốc tế không có ý nghĩa loại bỏ giá trị áp dụng của tập quán pháp lý quốc tế tương đương về nội dung, mặc dù điều ước quốc tế có những ưu thế so với tập quán quốc tế (như tính rõ ràng,
Trang 39khả năng hình thành nhanh và áp dụng thuận lợi) và nhiều trường hợp điều ước quốc tế có giá trị ưu thế hơn.
Thứ hai, tập quán quốc tế có ý nghĩa là cơ sở để hình thành điều ước quốc tế và ngược lại Các quy phạm tập quán quốc tế (qua quá trình pháp điển hóa) sẽ trở thành một phần quan trọng trong nội dung của ĐƯQT Ngược lại, nhiều quy phạm của ĐƯQT được viện dẫn áp dụng với tính chất của luật tập quán Như vậy, về thực chất, tập quán quốc tế có thể tạo điều kiện mồ rộng hiệu lực của ĐƯQT
Thứ ba, quy phạm tập quán có thể bị thay đổi, hủy bỏ bằng con đường điều ước quốc tế và cá biệt, điều ước có thể bị thay đổi hay hủy bỏ bằng con đường tập quán pháp lý quốc tế, ví dụ đối với trường hợp xuất hiện quy phạm Jus cogens mới của Luật Quốc tế dưới dạng tập quán quốc tế
1.7.2 Mối quan hệ giữa Điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia
Mối quan hệ giữa ĐƯQT với pháp luật quốc gia trong ký kết và thực hiện ĐƯQT là vấn đề mang tính lý luận cơ bản và luôn là đề tài khoa học pháp lý mang tính thời sự, gây nhiều tranh luận Vấn đề này là cơ sở cho việc giải quyết vị trí của ĐƯQT, đồng thời gắn liền với việc thực hiện các ĐƯQT
đã ký kết của các quốc gia thành viên bởi “các ĐƯQT được tạo ra để thực hiện”[40, para 44]
Thực hiện ĐƯQT tại mỗi quốc gia thành viên trực tiếp liên quan đến phản ứng về mặt pháp luật của một quốc gia đối với vấn đề mang tính lý luận
và thực tiễn về ĐƯQT Đây là cơ sở của cơ chế thực hiện ĐƯQT và xác định
vị trí của các quy phạm điều ước trong mối quan hệ với hệ thống văn bản và quy phạm pháp luật quốc gia
Xem xét mối quan hệ giữa ĐƯQT và pháp luật quốc gia, không thể phủ nhận những tác động của ĐƯQT tới pháp luật quốc gia ĐƯQT có hiệu lực ràng buộc quốc gia trong các nghĩa vụ pháp lý quốc tế Vì vậy, các hành vi lập
Trang 40pháp của quốc gia như việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, sửa đổi hoặc bổ sung pháp luật quốc gia phải đảm bảo phù hợp với ĐƯQT Một đạo luật của quốc gia được ban hành mới hay được sửa đổi, bổ sung cần phải xây dựng theo yêu cầu của những nghĩa vụ thành viên ĐƯQT Thậm chí, một ĐƯQT chưa phát sinh hiệu lực tại thời điểm mà quốc gia đã biểu thị sự ràng buộc đối với điều ước thì ngay sau đó, pháp luật quốc gia cũng cần phải có những điều chỉnh cần thiết nhằm đạt đến sự tương thích với ĐƯQT đã ký kết Hoàn thiện pháp luật quốc gia trong yêu cầu đáp ứng những đòi hỏi của điều kiện trong nước, đồng thời phù hợp với các chuẩn mực quốc tế là sự thể hiện tác động sâu sắc của ĐƯQT Nói cách khác, ĐƯQT đã và đang thúc đẩy sự phát triển của pháp luật quốc gia và tạo thuận lợi cho việc hội nhập pháp luật giữa các nước trong quá trình toàn cầu hoá.
Hiện tại, không ít quốc gia có quan điểm cho rằng, ĐƯQT có vị trí xác định trong hệ thống văn bản pháp luật quốc gia Chẳng hạn, nhiều nước chính thức quy định ĐƯQT có vị trí sau Hiến pháp và trên các Đạo luật khác do quốc hội ban hành, như ở Pháp, Đức Ngược lại, một số quốc gia không công nhận ĐƯQT là một bộ phận của pháp luật quốc gia như Anh Quan điểm về vị trí của ĐƯQT theo pháp luật các nước có khác nhau, nhưng xuất phát từ bản chất pháp lý của ĐƯQT, có thể khẳng định, ĐƯQT vẫn có vị trí độc lập so với các văn bản pháp luật quốc gia Tính độc lập của ĐƯQT thể hiện ở hiệu lực thi hành trên lãnh thổ các nước thành viên theo cách ưư tiên áp dụng quy phạm ĐƯQT nếu có sự khác biệt giữa quy phạm trong ĐƯQT với quy phạm trong văn bản pháp luật quốc gia
Giải quyết vấn đề chuyển hoá và cách thức chuyển hoá các quy phạm ĐƯQT vào pháp luật trong nước tuỳ thuộc khá nhiều vào việc giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Chính vì vậy, các quốc gia cũng có những cách tiếp cận khác nhau về vấn đề chuyển hóa các quy định của ĐƯQT Có quốc gia quy định ĐƯQT có hiệu lực trực tiếp đối với tất cả